GDHN, TVHN đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với HS, là giúp các em chọn được nghề phù hợ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
VŨ THỊ HỒNG KHANH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP - HƯỚNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT - QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ THUẬT VÀ NGHỀ NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS PHẠM VĂN SƠN
Hà Nội - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thị Hồng Khanh
Trang 313 GD&ĐT Giáo dục & đào tạo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ xi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Trong nước 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 8
1.2.1 Hướng nghiệp, tư vấn, tham vấn, tư vấn hướng nghiệp 8
1.2.1.1 Hướng nghiệp 8
1.2.1.2 Khái niệm về tư vấn 9
1.2.1.3 Tư vấn hướng nghiệp 9
1.2.2 Quản lý, quản lý hướng nghiệp 11
1.2.2.1 Quản lý 11
1.2.2.2 Quản lý hướng nghiệp 12
1.3 Giáo dục hướng nghiệp và quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về giáo dục hướng nghiệp 17
1.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới tư vấn hướng nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của giáo dục phổ thông 17
1.3.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục hướng nghiệp 19
1.3.3 Sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ đối với hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông 22
Trang 61.4 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 24
1.4.1 Nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động TVHN cho học sinh phổ thông 25
1.4.2 Các hình thức tư vấn hướng nghiệp 25
1.4.3 Vai trò của hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 26
1.5 Nội dung quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 27
1.5.1 Xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình TVHN cho học sinh phổ thông 27 1.5.2 Tổ chức đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 28
1.5.3 Tổ chức tập huấn bồi dưỡng đội ngũ GV và cán bộ tư vấn hướng nghiệp 29
1.5.4 Quản lý hoạt động học của học sinh trong công tác TVHN 29
1.5.5 Khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị tư vấn hướng nghiệp 30
1.5.6 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động tư vấn hướng nghiệp 31
1.5.7 Phối hợp giữa Trung tâm KTTH-HN tỉnh với các trường phổ thông để TVHN cho học sinh 32
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động TVHN tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ 32
1.6.1 Yếu tố thuộc về nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về quản lý hoạt động TVHN trong trường phổ thông 33
1.6.2 Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tư vấn hướng nghiệp 33
1.6.3 Yếu tố tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị tư vấn hướng nghiệp 33
1.6.4 Phụ huynh học sinh 34
1.6.5 Các tổ chức xã hội 34
Chương 2 36
THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP – HƯỚNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ 36
2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 36
2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Việt Trì 36
2.1.2 Tình hình giáo dục phổ thông trung học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 37
Trang 72.1.3 Tình hình thực hiện hoạt động TVHN tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp -
Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ trong các năm học gần đây 39
2.1.3.1.Thuận lợi: 39
2.1.3.1.Khó khăn 39
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 40
2.2.1 Mục đích khảo sát 40
2.2.2 Nội dung khảo sát 40
2.2.3 Yêu cầu khảo sát 40
2.2.4 Đối tượng khảo sát 41
2.2.5 Phương pháp khảo sát 41
2.3 Thực trạng về hoạt động tư vấn hướng nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ 41
2.3.1 Tổ chức hoạt động TVHN cho học sinh phổ thông 41
2.3.2 Thực trạng nhận thức về hoạt động TVHN 45
2.3.3 Thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp hoạt động TVHN 49
2.3.4 Các hình thức tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp 53
2.3.5 Đội ngũ giáo viên và cán bộ tư vấn hướng nghiệp 53
2.3.6 Những khó khăn bất cập hiện nay của hoạt động TVHN 54
2.4 Thực trạng về quản lý hoạt động TVHN cho học sinh tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ 56
2.4.1 Thực trạng về quản lý hoạt động TVHN cho học sinh tại Trung tâm KTTH – HN tỉnh Phú Thọ 56
2.4.2 Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và và quản lý hoạt động dạy của cán bộ tư vấn 56
2.4.3 Quản lý khai thác cơ sở vật chất, thiết bị tư vấn hướng nghiệp 57
2.4.4 Thực hiện việc kiểm tra đánh giá hiệu quả tư vấn hướng nghiệp đối với học sinh 57
2.4.5 Quản lý phối hợp giữa Trung tâm KTTH-HN tỉnh Phú Thọ với các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì 58
Trang 82.5 Đánh giá chung về hoạt động quản lý hoạt động TVHN cho học sinh tại Trung
tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ 59
2.5.1 Những ưu điểm, hạn chế 59
2.5.2 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 60
Chương 3 63
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP – HƯỚNG NGHIỆP TỈNH PHÚ THỌ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 63
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 63
3.1.1 Nguyên tắc đảm báo tính mục tiêu 63
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và hệ thống 63
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và phù hợp 64
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ 65
3.2.1 Tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV tham gia TVHN về nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng TVHN cho học sinh phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục 65
3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp 65
3.2.1.2 Nội dung và cách thức tiến hành 65
3.2.1.3 Điều kiện thực hiện 67
3.2.2 Quản lý việc xây dựng kế hoạch, phát triển chương trình tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông 67
3.2.2.1 Mục tiêu 67
3.2.2.2 Nội dung và cách thực hiện 68
3.2.2.3 Điều kiện thực hiện 68
3.2.3 Quản lý khai thác hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị tư vấn hướng nghiệp 68
3.2.3.1 Mục tiêu của biện pháp 68
3.2.3.2 Nội dung của biện pháp 69
Trang 93.2.3.3 Tổ chức thực hiện 70
3.2.3.4 Điều kiện thực hiện 70
3.2.4 Quản lý phương pháp và hình thức TVHN đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông 70
3.2.4.1 Mục tiêu của biện pháp 71
3.2.4.2 Nội dung của biện pháp 71
3.2.4.3 Tổ chức thực hiện 72
3.2.4.4 Điều kiện thực hiện 73
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra đánh giá hoạt động TVHN cho học sinh phổ thông 73
3.2.5.1 Mục tiêu của biện pháp 73
3.2.5.2 Nội dung của biện pháp 74
3.2.5.3 Tổ chức thực hiện 75
3.2.5.4 Điều kiện thực hiện 75
3.2.6 Đổi mới cơ chế phối hợp quản lý giữa Trung tâm KTTH-HN tỉnh Phú Thọ với các trường phổ thông trên địa bàn thành phố Việt Trì trong tư vấn hướng nghiệp cho học sinh 76
3.2.6.1 Mục tiêu của biện pháp 76
3.2.6.2 Nội dung của biện pháp 76
3.2.6.3 Tổ chức thực hiện 77
3.2.6.4 Điều kiện thực hiện 77
3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 78
3.3.1 Các bước khảo nghiệm 78
3.3.2 Kết quả khảo nghiệm 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1 Số liệu phân luồng sau THPT năm học 2016-2017 38
Bảng 2.2 Số liệu phân luồng sau THCS năm học 2016-2017 38
Bảng 2.3 Tổng hợp phân tích số liệu TVHN khối 9, 11 42
Biểu đồ 2.1 Ttổng hợp kết quả hứng thú nghề nghiệp QIP lớp 11 43
Bảng 2.4 Nhận thức của CBQLGD về tầm qua trọng của hoạt động TVHN 45
Biểu đồ 2.2 Nhận thức của CBQLGD về tầm qua trọng của hoạt động TVHN 46
Bảng 2.5 Nhận thức của GV trong trung tâm và một số GVCN các trường phổ thông về tầm quan trọng của hoạt động TVHN 46
Biểu đồ 2.3 Nhận thức của GV trong trung tâm và một số GVCN các trường phổ thông 47
Bảng 2.6 Nhận thức của PHHS về tầm quan trọng của hoạt động TVHN 47
Biểu đồ 2.4 Nhận thức của PHHS về tầm quan trọng của hoạt động TVHN 48
Bảng 2.7 Nhận thức của HS sau khi tham gia hoạt động TVHN 48
Biểu đồ 2.5 Nhận thức của HS sau khi tham gia hoạt động TVHN 49
Bảng 2.8 Mục tiêu của hoạt động TVHN có phù hợp với định hướng lựa chọn nghề nghiệp tương lai của HS 50
Bảng 2.9 Nội dung hoạt động TVHN có phù hợp với mục tiêu 51
Bảng 2.10 Mức độ hứng thú của học sinh đối với phương pháp, kỹ thuật TVHN 52
Bảng 2.11 Các hình thức tổ chức GDHN, TVHN 53
Bảng 2.12 Chủ thể thực hiện GDHN, TVHN 54
Bảng 2.13 Những khó khăn, bất cập trong hoạt động TVHN hiện nay 54
Trang 11Bảng 2.14 Hiệu quả hoạt động TVHN với học sinh 58
Bảng 2.15 Sự phối hợp giữa các trường phổ thông và Trung tâm 58
Bảng 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động TVHN ở trường phổ thông 79
Bảng 3.2 Mức độ khả thi của các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động TVHN cho học sinh phổ thông 81
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1 Quy trình tư vấn hướng nghiệp 10
Sơ đồ 1.2 Miền chọn nghề tối ưu 10
Sơ đồ 1.3 Những yếu tố trong QLHN 12
Sơ đồ 1.4 Chu trình quản lý hướng nghiệp 14
Sơ đồ 1.5 Xây dựng kế hoạch GDHN [13, tr.103 15
Trang 13ương khóa (XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ “Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông”, “Đảm bảo cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng nhu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; Trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng”
Hướng nghiệp là hoạt động giáo dục quan trọng của bậc giáo dục phổ thông Thực hiện hoạt động hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lý và nội dung giáo dục; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực Hiện nay, giáo dục hướng nghiệp được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau với
nhiều đối tượng tham gia GDHN trong và ngoài nhà trường Kết quả đạt được của
GDHN ở trường phổ thông chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như mục tiêu, nội dung, phương pháp HN, các nguồn lực cho GDHN, sự phối hợp, hỗ trợ của các lực lượng tham gia HN trong và ngoài nhà trường Những năm qua GDHN của tỉnh Phú Thọ đã đạt được những kết quả nhất định, đồng thời cũng gặp những khó khăn, bất cập nên chất lượng và hiệu quả GDHN chưa cao Một trong những nguyên nhân đưa đến tình trạng này là công tác quản lý hoạt động GDHN chưa khoa học và nghiêm túc Vì vậy, phải nghiên cứu tìm biện pháp quản lý tốt hoạt động tư vấn hướng nghiệp là nhiệm vụ của các cấp quản lý, các trung tâm hướng nghiệp và các
trường phổ thông Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: Quản lý hoạt động tư vấn
Trang 14hướng nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát làm rõ thực trạng về hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động TVHN tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng
nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
4 Giả thuyết khoa học
Quá trình học sinh lựa chọn được nghề nghiệp trong tương lai phù hợp với bản thân hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có sự tác động đáng kể của công tác tư vấn hướng nghiệp Tuy nhiên quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp tại
Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ trong những năm gần
đây còn một số bất cập, chưa đạt được kết quả như mong muốn Do đó nếu đề xuất
và áp dụng đồng bộ các biện pháp đề xuất thì sẽ làm cho công tác tư vấn hướng nghiệp đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học
5.2 Điều tra, khảo sát làm rõ thực trạng về quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ
5.3 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ; tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Trang 156.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu quản lí hoạt
động tư vấn cho học sinh phổ thông và biện pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp, trong đó chủ thể là Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ
6.2 Phạm vi đối tượng khảo sát: Ban Giám đốc Trung tâm, các giáo viên tổ
Tư vấn, các giáo viên tham gia công tác tư vấn hướng nghiệp tại Trung tâm KTTH -
HN tỉnh Phú Thọ, các học sinh phổ thông được TVHN trên địa bàn thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ năm học 2016-2017
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Bộ GD&ĐT, của ngành, của trường về công tác hướng nghiệp Phân tích, tổng hợp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết các văn bản, tài liệu liên quan đến đề tài
Phân tích và tổng hợp các quan niệm về quản lý, QLHN, công tác quản lý tư
vấn hướng nghiệp ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ
Phân tích, tổng hợp các số liệu, tư liệu về TVHN ở Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
+ Bảng hỏi cha mẹ về sự phối kết hợp giữa giáo viên với cha mẹ học sinh, cộng đồng trong quá trình TVHN
+ Bảng hỏi giáo viên về những công việc TVHN; những biện pháp QL TVHN + Bảng hỏi Ban Giám đốc của Trung tâm về công tác quản lý TVHN và những biện pháp quản lý có hiệu quả đối với TVHN trong Trung tâm
+ Bảng hỏi học sinh khi tham gia buổi TVHN
- Phương pháp quan sát: Quan sát TVHN và công tác quản lý đối với TVHN
- Phương pháp phỏng vấn:
+ Phỏng vấn HS, cha mẹ HS để làm rõ thực trạng QLTVHN
Trang 16+ Phỏng vấn GV và cán bộ quản lý để làm rõ thực trạng quản lý TVHN -Phương pháp chuyên gia: Xin tư vấn thêm từ các chuyên gia có kinh nghiệm về TVHN và CBQL có kinh nghiệm quản lý TVHN
- Nghiên cứu sản phẩm: Phân tích những sáng kiến về QLTVHN và kế hoạch TVHN của một số Trung tâm
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí và phân tích các số liệu thu được từ khảo sát thực tế, tạo cơ sở cho việc phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu của đề tài về mặt định tính
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phần nội dung nghiên cứu chính gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học
sinh trung học
Chương II: Thực trạng về quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
trung học tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ
Chương III: Các biện pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học
sinh trung học tại Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp tỉnh Phú Thọ
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Để có đánh giá khái quát về lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học về GDHN, TVHN trên thế giới và Việt Nam rồi từ đó xác định cơ sở lý luận về quản lý TVHN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.1.1 Ở nước ngoài
Trong hệ thống giáo dục, hoạt động TVHN là một bộ phận của GDHN và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội, thị trường lao động Trong thời đại hội nhập và cạnh tranh thì giáo dục hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh
ở các quốc gia đều theo xu hướng nghề nghiệp và nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường lao động của quốc gia đó Xuất phát từ thực tiễn như vậy, trong xã hội có giai cấp,
đã có các nhà tư tưởng và giáo dục học tiến bộ đưa ra những hình thức gắn giáo dục với lao động nghề nghiệp, với cuộc sống Dưới đây là một số nội dung lược thuật về vấn đề nghiên cứu
Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) có từ lâu đời và thường gắn liền với cải cách và chấn hưng giáo dục của các quốc gia Mỗi quốc gia, với những đặc điểm và điều kiện khác nhau đều có cách thực hiện các hoạt động tư vấn và cách thức giáo dục hướng nghiệp khác nhau Ở nhiều nước, công tác hướng nghiệp được đặc biệt chú trọng bao gồm cả tư vấn hướng nghiệp và giáo dục nghề nghiệp Ngành giáo dục của mỗi quốc gia đều chủ động tổ chức hướng nghiệp ngay từ bậc Trung học cơ
sở, thậm chí ngay cả những bậc học thấp hơn Cùng với nó, hoạt động tư vấn hướng nghiệp đã được định hướng từ việc thiết kế chương trình giáo dục trong nhà trường của mỗi quốc gia Việc giảng dạy các môn năng khiếu, phát triển thiên hướng thuộc
về ưu thế của mỗi cá nhân ở các bậc học, việc phân luồng chuyên môn, phân ban trong giáo dục… xét về bản chất cũng là những biện pháp hướng nghiệp
Trang 18Các tác giả nước ngoài trong quá trình bàn về hướng nghiệp và GDHN cấp trung học đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là
hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN
Tư vấn hướng nghiệp được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, trong nửa đầu thế kỉ 20, do tăng trưởng nền công nghiệp hóa, nhiều tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1900, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉ năm 1911,1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả (1964) những nỗ lực ban đầu trong thiết lập TVHN ở Hoa Kì và Châu Âu” [31]
Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thế giới về tư vấn và hướng nghiệp, họ khảo sát so sánh các quốc gia ở Châu Âu, châu Á Ở một số quốc gia, các thuật ngữ như “hướng dẫn nghề - vocational guidance” , “tư vấn nghề - vocational counselling”, “thông tin, tư vấn và hướng dẫn – information, advice ad guidance” đều chỉ các hoạt động tư vấn và hướng nghiệp [12-13] Suốt thế kỉ 20 và đầu thập kỉ thế kỉ 21, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục Ngoài bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, giáo dục hướng nghiệp ở các nước đều xuất hiện các vấn đề chung cả lí luận và thực tiễn cần làm rõ nhằm tìm ra con đường khả thi và hiệu quả cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp [31, tr.33-34] GDHN, TVHN đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với HS, là giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, tham quan, thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề Nhìn chung, ở các nước trên thế giới, công tác giáo dục nghề nghiệp, giáo dục hướng nghiệp và các hình thức giáo dục hướng nghiệp trong đó có tư vấn hướng nghiệp, quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp trong nhà trường đã được quan tâm thực hiện từ sớm
Trang 19Quá trình tổ chức hoạt động tư vấn hướng nghiệp cũng được quản lý dưới vai trò của nhà nước, bộ giáo dục và được sự phối hợp của các lực lượng xã hội có chuyên môn về vấn đề này
1.1.2 Trong nước
Về lĩnh vực hướng nghiệp dạy nghề phổ thông, trước hết phải kể đến quan điểm mang tính định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh Theo Bác, một nhà trường
vì nhu cầu “học, làm, sống tốt” của xã hội học tập là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”:
“Học đi với lao động Lý luận đi với thực hành Cần cù đi với tiết kiệm”: học tốt (học đi với lao động, với thực hành), làm tốt (lao động, thực hành đi với học), sống tốt (cần, kiệm)
Đầu những năm 80, khi xuất hiện nhu cầu đẩy mạnh giáo dục lao động, KTTH - HN nhằm chuẩn bị kĩ năng cho HS đi vào cuộc sống thì hướng nghiệp mới thực sự được nhà nước chú trọng đến Trong thời gian này có các bài viết của 15 các tác giả Phạm Tất Dong, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ… đã đề cập đến trách nhiệm của nhà trường trong việc định hướng nghề cho HS, biện pháp hướng nghiệp cho HS và xây dựng một số cơ sở lí luận nền tảng về hướng nghiệp
Từ năm 2003 - 2010, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên trên giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho HS ở trường phổ thông và đã đưa ra những giải pháp về công tác GDHN ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, và sau này có Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Phạm Văn Sơn, Bùi Văn Quân
Theo tác giả Phạm Tất Dong, đa số thanh niên không kiếm được việc làm là
do không biết nghề (67,4%) [6, tr.25] và nhấn mạnh: “Chú trọng hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự họ tìm ra việc làm” [6, tr.19], đồng thời:
“tiếp sau quá trình hướng nghiệp dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh Đây sẽ là một nguyên tắc cơ bản” [6, tr 40]
Công trình khoa học của tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề: “ Thiết
Trang 20lập và phát triển hệ thống giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” Tác giả
đã xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, cơ sở sản xuất, cơ sở giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, dạy nghề cho học sinh phổ thông
Như vậy: Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lí luận
chung về hướng nghiệp và GDHN, đã khái quát mục tiêu, nội dung, con đường hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông Khẳng định vị trí và vai trò của hướng nghiệp và GDHN, TVHN đối với học sinh phổ thông, hướng nghiệp phân luồng học sinh theo định hướng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đến năm 2020 Chính các nghiên cứu của các tác giả trên là cơ sở lí luận, thực tiễn cho việc thực hiện GDHN, TVHN trong nhà trường phổ thông hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Hướng nghiệp, tư vấn, tham vấn, tư vấn hướng nghiệp
1.2.1.1 Hướng nghiệp
Theo UNESCO, “Hướng nghiệp là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp”
Quan niệm mới về hướng nghiệp: “Hướng nghiệp (orientation) là một quá trình liên tục giúp đỡ mọi người suốt cả cuộc đời để họ thực hiện được dự án cá
nhân cũng như nghề nghiệp của mình bằng cách xác định những mong muốn và năng lực của mình thông qua thông tin và TV về thực tế thế giới công việc, sự phát triển của nghề nghiệp, thị trường lao động, thực tiễn kinh tế và nhu cầu trong đào
tạo” (Sách trắng về GD&ĐT ở châu Âu)
Theo quan niệm mới, hướng nghiệp là một quá trình, không chỉ diễn ra ở một thời điểm của cuộc đời mà diễn ra trong suốt đời người Mục đích không chỉ giúp
con người lựa chọn nghề nghiệp phù hợp mà còn hỗ trợ con người vượt qua khó khăn, thích ứng với hoàn cảnh của một xã hội phát triển và có nhiều thay đổi, phát huy được tối đa năng lực của mình để đạt được thành công trong nghề nghiệp, có được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Trang 21“Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội
Như vậy hướng nghiệp không phải là sự quyết định nghề mà là giúp các em
có được những hiểu biết cần thiết về bản thân, về thế giới nghề nghiệp xung quanh,
về những yếu tố ảnh hưởng/tác động tới bản thân trong việc chọn nghề để lựa chọn nghề phù hợp và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa cá nhân với nghề, giữa cá nhân với xã hội Hướng nghiệp không chỉ được thực hiện trong nhà trường bởi các thầy, cô giáo mà còn được tiến hành tại gia đình và cộng đồng với sự tác động, hỗ trợ của các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, đặc biệt là cha mẹ HS
1.2.1.2 Khái niệm về tư vấn
Có nhiều cách hiểu về khái niệm tư vấn nhưng cách chung nhất có thể hiểu:
Tư vấn là tiến trình tương tác giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn, trong đó chủ thể tư vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của mình giúp đối tượng tư vấn thấu hiểu và giải quyết tốt vấn đề đang gặp phải Tư vấn là “phát biểu ý kiến về một vấn đề gì đó nhưng không có quyền quyết định” Hiệu quả của tư vấn chính là tính thuyết phục trong lí lẽ, cách luận giải phù hợp với tâm lí, nhu cầu tìm hiểu của đối tượng cần tư vấn giúp đối tượng tư vấn quyết định cách giải quyết tình huống, vấn đề gặp phải Hoạt động tư vấn thường gần với hoạt động giáo dục [17, tr 379]
1.2.1.3 Tư vấn hướng nghiệp
Là một hệ thống những biện pháp tâm lý - giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực đó với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về chọn nghề
có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề
Trang 22Công tác TVHN là một quá trình lâu dài, với mục đích giúp cho HS tìm ra câu trả lời cho ba câu hỏi quan trọng: “Em là ai? Em đang đi về đâu? và Làm sao để đi đến nơi
em muốn tới?” Quá trình này có thể được trình bày theo quy trình sau:
Sơ đồ 1.1 Quy trình tư vấn hướng nghiệp
Khi TVHN giúp các em xác định miền chọn nghề tối ưu theo sơ đồ sau
Sơ đồ 1.2 Miền chọn nghề tối ưu
Mỗi cá nhân có một xu hướng (hứng thú) với một số nhóm nghề khác nhau, đồng thời họ lại có những khả năng, năng lực cá nhân (tính cách) để phù hợp với mỗi nhóm nghề khác nhau Hai yếu tố đó phải được kết hợp với nhu cầu xã hội, yêu cầu của thị trường lao động thì mới có sự lựa chọn phù hợp Miền chọn nghề tối ưu rất hẹp, chỉ là giao của 3 miền xu hướng, năng lực và nhu cầu nghề Vì thế khi chọn
Trang 23(sức học, đặc điểm tâm sinh lý, sức khỏe, hứng thú, sở thích, điều kiện gia đình, ); yêu cầu của nghề (các em có thể tham khảo trên bản họa đồ nghề, ngành học ở các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, ); thị trường lao động (sau khi
ra trường xã hội có nhu cầu tuyển dụng ngành nghề mình đang dự định học hay
không, mình có thể lập nghiệp và tự tạo việc làm cho mình hay không, )
1.2.2 Quản lý, quản lý hướng nghiệp
1.2.2.1 Quản lý
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý
được định nghĩa là: “Tổ chức điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”
Theo tác giả Trần Khánh Đức “Nghiên cứu về khái niệm quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lý” [11, tr 392]
“Quản lý là một hoạt động có chủ đích, có định hướng được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức chỉ đạo thực hiện, điều hòa, phối hợp, kiểm tra, đánh giá và huy động, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định” [11, tr 392]
Ông Frederck Winslow Talor đưa ra định nghĩa “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng học đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”
Henry Fayol (1841 - 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra Nghiên cứu của ông đã khẳng
Trang 24định rằng, khi con người lao động hiệp tác thì điều quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành Theo nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra
14 nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động quyền hạn, trật tự, bình đẳng,
ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội Những cống hiến của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn
Theo tác giả Trần Khánh Đức, từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta
có thể khái quát lại: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất trong bối cảnh và các điều kiện nhất định” [11, tr 393]
1.2.2.2 Quản lý hướng nghiệp
Theo hướng tiếp cận nội dung, QLHN là một bộ phận của quản lí GD, là hệ
thống những tác động có định hướng, có chủ đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí của CTHN nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu HN cho HSPT
QLHN gồm những yếu tố cơ bản sau:
Sơ đồ 1.3 Những yếu tố trong QLHN Chủ thể quản lí là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lí và
chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp lí và hiệu quả các nguồn lực cho CTHN tại địa bàn, đơn vị đang quản lí Trong QLHN, chủ thể quản lí là
lãnh đạo và hoặc chuyên viên phụ trách HN của Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Ban giám hiệu nhà trường và Giám đốc Trung tâm GD ở địa phương có
Chủ thể
quản lý
Mục tiêu hướng nghiệp
Công cụ quản lý
Phương pháp quản lý
Đối tượng quản lý
Trang 25chức năng HN cho HSPT cấp trung học trên địa bàn Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lí tác động lên đối tượng quản lí bằng các phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí
để đạt được mục tiêu HN
Đối tượng quản lí là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ HN, bao
gồm: các GV và CB phụ trách HN; tập thể HS ở các trường THCS, THPT; CB,
GV và HS các TT GDTX - HN, TT KTTH - HN; các tổ chức, đoàn thể xã hội (như Hội cha mẹ HS, Hội LHPN, các doanh nghiệp…) Đối tượng quản lí còn bao gồm các hình thức HN, ngân sách, cơ sở vật chất và thiết bị GD cho HN và
hệ thống TT cho CTHN
- Công cụ quản lí là những phương tiện mà cán bộ QLHN sử dụng trong quá
trình quản lí nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp HĐ của các tác nhân
HN và HSPT cấp trung học trong việc thực hiện mục tiêu CTHN Công cụ chủ yếu
để QLHN là các quy định của Nhà nước và Bộ GD&ĐT đối với CTHN, là các cơ chế và chính sách cho CTHN
- Phương pháp quản lí (PPQL) là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của cán bộ QLHN đến hệ thống bị quản lí nhằm đạt được mục tiêu
quản lí PPQL bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản lí (như quyền lực,
quyết định, cơ chế chính sách, tài chính, kĩ thuật - công nghệ…) và lựa chọn cách thức tác động (tác động bằng quyền lực; tác động bằng kinh tế; tác động bằng tư tưởng chính trị…) của cán bộ QLHN tới đối tượng quản lí
Theo hướng tiếp cận chức năng, chức năng quản lí là một thể thống nhất những HĐ tất yếu của các cán bộ QLHN Các chức năng này nảy sinh từ sự phân công và chuyên môn hóa trong quản lí nhằm đạt được mục tiêu quản lí Thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí, cán bộ QLHN hoàn thành các nhiệm vụ QLHN Khi QLHN, cán bộ QLHN cần thực hiện đầy đủ bốn chức năng quản lí sau:
- Chức năng kế hoạch hóa;
- Chức năng tổ chức;
- Chức năng chỉ đạo;
Trang 26- Chức năng kiểm tra, đánh giá
Bốn chức năng trên tạo thành một chu trình quản lí, trong đó yếu tố thông tin giữ vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các chức năng quản lí
Sơ đồ 1.4 Chu trình quản lý hướng nghiệp
- Chức năng kế hoạch hóa giáo dục hướng nghiệp Là quá trình người CBQL,
GV lập kế hoạch các hoạt động GDHN, TVHN thiết kế một cách khoa học, gắn với điều kiện thực tế đảm bảo kế hoạch được thực hiện có hiệu quả Khi quản lý hướng nghiệp, mỗi CBQL cần làm kế hoạch GDHN, TVHN nhằm biết được mục tiêu phải đạt tới là gì? Xác định được điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức bên trong và bên ngoài đối với GDHN Từ đó, đề ra biện pháp thích hợp để đạt mục tiêu đã định Lập kế hoạch GDHN tạo được tiền đề để thực hiên chức năng tiếp theo tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá hoạt động GDHN Người CBQL luôn phải nắm được chu trình này và khởi đầu là xây dựng kế hoạch GDHN, thông qua đó huy động các lực lượng tham gia để đảm bảo tính hiệu quả hoạt động GDHN Nội dung cơ bản chức năng kế hoạch GDHN phải thể hiện: Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của các hoạt động hướng nghiệp; thứ hai phải bảo đảm các điều kiện để thực hiện mục tiêu, sau cùng là xác định các biện pháp thực hiện để thành công hoạt động GDHN
Để xây dựng kế hoạch GDHN, TVHN, CBQL phải thực hiện sơ đồ sau:
\
Trang 27Sơ đồ 1.5 Xây dựng kế hoạch GDHN [13, tr.103
Bước 1 Phân tích hiện trạng GDHN, TVHN: dùng sơ đồ SWOT để phân tích các điểm mạnh (Strengths), các điểm yếu (Weaknesses), các cơ hội (Opportunities), các thách thức (Threats) về các điều kiện từ con người, tài chính, cơ sở vật chất, nhận thức, phối hợp các lực lượng tham gia hoạt động GDHN Từ đó, công tác quản lý GDHN mới có cơ sở đưa ra các giải pháp quản lý GDHN thích hợp
Bước 2 Xác định nhu cầu: Trước khi lập kế hoạch GDHN, CBQL hướng nghiệp phải xác định nhu cầu hướng nghiệp của học sinh thông qua các hình thức phiếu hỏi, hội thảo, tọa đàm từ phía lãnh đạo trường, giáo viên, học sinh
Bước 3 Nghiên cứu các quy định về GDHN của Chính phủ, của Bộ GD&ĐT, Chiến lược phát triển giái dục 2011-2020, để xây dựng kế hoạch GDHN
Bước 4 Xây dựng nguồn lực GDHN, TVHN: sử dụng công thức 5M, cụ thể; Nguồn nhân lực (Man); Nguồn tài chính (Money); Tài liệu (Materials), Máy móc, thiết bị (Machine), Phương pháp GDHN (Method) Trên cơ sở đó, CBQL hướng
Trang 28nghiệp gắn với thực tiễn địa phương và công tác phối hợp các tổ chức xã hội để đạt được mục tiêu GDHN
Bước 5 Lập kế hoạch GDHN, TVHN
Kế hoạch GDHN, TVHN phải trả lời được 5 câu hỏi theo công thức 5W và 1H: Làm cái gì (What)? Ai làm (Who)? Làm ở đâu (Where)? Khi nào làm
(When)?và Làm như thế nào (How)?
- Chức năng tổ chức trong quản lý GDHN, TVHN chức năng tổ chức nhằm thực hiện quy trình sắp xếp, bố trí, sử dụng hợp lý các nguồn lực hợp lý sẽ phát huy khả năng của mỗi tổ thức, bộ phận, cá nhân trong hoạt động GDHN Chức năng tổ chức mang tính quyết định trong công việc nói chung, quyết định đến sự thành bại của việc thực hiện kế hoạch hoạt động GDHN, TVHN Các nội dung của chức năng
tổ chức bao gồm: xây dựng cơ cấu tổ chức; Phân công nhiệm vụ các thành viên; Xác định cơ chế quản lý và phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận, thành viên trong tổ chúc để thực hiện nhiệm vụ GDHN, TVHN
- Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là sự tác động giúp cho tập thể và cá nhân làm GDHN một cách tích cực nhằm đạt mục tiêu GDHN, TVHN Nhờ chức năng chỉ đạo, CBQL bảo đảm được kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động GDHN, TVHN Mặt khác, CBQL hướng nghiệp hướng dẫn, động viên người tham gia hướng nghiệp phát huy khả năng nhằm hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất Nội dung cơ bản chức năng chỉ đạo, đó là: sử dụng quyền hạn để thực hiện quyền điều hành; đôn đốc, động viên mọi người thực hiện; giám sát điều chỉnh khi cần; Ra các quyết định quản lý
- Chức năng kiểm tra, đánh giá Quá trình thu thập và trao đổi thông tin để xem xét, đánh giá các hoạt động GDHN, TVHN về kết quả hoạt động GDHN, TVHN có đảm bảo tiến độ và chất lượng của hoạt động GDHN Để xem xét hoạt động GDHN có phù hợp với nhiệm vụ đạt ra trong kế hoạch, những ưu điểm, khuyết điểm trong quá trình hoạt động GDHN để điều chỉnh kịp thời Kiểm tra, đánh giá thể hiện quyền lợi và trách nhiệm của người quản lý đối với GDHN, TVHN, qua đó cũng đánh giá được mức độ thực hiện mục tiêu GDHN, TVHN đạt đến đâu, chất lượng ra sao? Từ đó, cấp quản lý có giải pháp thích hợp thực hiện tốt
Trang 29nhiệm vụ GDHN Kiểm tra và đánh giá là 2 mặt song hành, sau kiểm tra là phải đánh giá mặt tích cực để phát huy nhưng đồng thời chỉ rõ mặt hạn chế để khắc phục giúp cho hoạt động GDHN đạt mục tiêu
1.3 Giáo dục hướng nghiệp và quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước
về giáo dục hướng nghiệp
1.3.1 Sự cần thiết phải đổi mới tư vấn hướng nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của giáo dục phổ thông
Tư vấn hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biện pháp tâm lí, giáo dục
và một số biện pháp khác được các chuyên viên tư vấn hướng nghiệp, các thầy/cô giáo làm nhiệm vụ tư vấn hướng nghiệp… sử dụng nhằm phát hiện, đánh giá sở thích nghề nghiệp, khả năng về thể chất, trí tuệ của học sinh, sinh viên, thiếu niên ; đối chiếu các khả năng thực có của mỗi em với những yêu cầu của cấp học, bậc học, cao hơn hoặc những yêu cầu của nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội Từ đó, giúp người được tư vấn tự tìm ra giải pháp và từng bước giải quyết vấn đề, để chọn được hướng học hoặc chọn nghề phù hợp
Trong tư vấn hướng nghiệp, điều cần lưu ý là con người có năng lực bẩm sinh nhưng cũng có năng lực tiềm năng, năng lực đó sẽ được phát huy khi hành nghề Mặt khác, năng lực tiếp tục được hình thành trong quá trình hoạt động nghề
nghiệp Vì vậy, tư vấn hướng nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi đánh giá năng lực sẵn có mà phải hỗ trợ, đánh giá năng lực cá nhân (tiềm năng) và tiến hành tổng kết năng lực, kỹ năng của người lao động ( ở Pháp có Trung tâm (CIBC) đảm trách
việc này) Trong bối cảnh toàn cầu hoá, công nghệ tin học phát triển hàng ngày,
hàng giờ Kinh tế phát triển mạnh, xã hội thay đổi, nhiều ngành nghề mới xuất hiện
và một số ngành nghề cũng mất đi Trước thực trạng này, con người đối diện với tương lai không chắc chắn: sự không ổn định trong nghề nghiệp Vấn đề đặt ra trong hướng nghiệp là : làm thế nào để giúp con người đối mặt và giải quyết những khó khăn trong nghề nghiệp, giúp họ dịch chuyển một cách tốt nhất? Tư vấn hướng nghiệp trong thời đại hiện nay phải giúp cá nhân đương đầu với những thay đổi
Trang 30bằng việc phân tích các tình huống… Nhà tư vấn có thể không đưa ra lời khuyên cụ thể mà giúp cá nhân thích ứng với hoàn cảnh mới, vượt qua khó khăn, hình thành lại niềm tin
“Trong môi trường việc làm thay đổi ngày càng nhanh chóng, chỉ dẫn (guidance) và tư vấn (counselling) giáo dục và nghề nghiệp là hết sức quan trọng và phải là một bộ phận cấu thành của tất cả các chương trình GDNN bởi nó góp phần nâng cao tính tương thích và hiệu quả của đào tạo
Hoạt động tư vấn nghề nghiệp cần phải hiểu và đánh giá đúng các năng lực của học viên và người được đào tạo, và phải giúp họ khám phá các lựa chọn nghề nghiệp Sự tích hợp các môn học về nghề nghiệp vào chương trình giáo dục phổ thông phải được đi kèm bởi các chỉ dẫn giúp khuyến khích học sinh có được thái độ tích cực đối với công việc Chỉ dẫn và tư vấn nghề nghiệp phải xác định việc phát triển nghề nghiệp là một quá trình mang tính hệ thống trong đó các cá nhân hình thành và phát triển ý thức nghề nghiệp, khả năng có việc làm và sự trưởng thành Chỉ dẫn và tư vấn nghề nghiệp phải theo sát các yêu cầu của thị trường lao động và giúp đỡ học sinh xây dựng và phát triển các kế hoạch nghề nghiệp sao cho phù hợp nhất với bản thân”
(theo văn kiện Hội nghị thế giới về Giáo dục nghề nghiệp-UNESCO-1999)
Những năm vừa qua, tư vấn hướng nghiệp và công tác phân luồng học sinh sau trung học đã được quan tâm và đã đạt được những kết quả ban đầu Giáo dục hướng nghiệp, tư vấn hướng nghiệp học sinh sau trung học đã được quán triệt trong các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành
Hệ thống các văn bản về giáo dục hướng nghiệp và công tác phân luồng học sinh sau trung học đã được ban hành; hệ thống cơ sở giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạy nghề đã được quan tâm đầu tư phát triển, thể hiện ở những thành quả đã đạt được về quy hoạch mạng lưới và xây dựng các trung tâm, từng bước phát triển đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, đầu tư kinh phí cho xây dựng và mua sắm trang thiết bị phục vụ tư vấn hướng nghiệp cho học sinh sau trung học Tuy nhiên,
do nhiều nguyên nhân, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh sau trung học chưa được
Trang 31sự quan tâm đúng mức và kết quả còn hạn chế Nguyên nhân chủ quan là nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh về tư vấn hướng nghiệp sau trung học chưa được quán triệt đầy đủ; mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tư vấn hướng nghiệp chưa đổi mới kịp thời theo yêu cầu đổi mới kinh tế - xã hội nói chung và đổi mới giáo dục - đào tạo nói riêng Cơ sở vật chất, trang thiết bị
và đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng về chất lượng Nguyên nhân khách quan là hệ thống giáo dục nghề nghiệp và thị trường lao động chưa phát triển lành mạnh; cơ chế, chính sách về thực hiện tư vấn hướng nghiệp học sinh sau trung học còn bất cập, chậm đổi mới; nhận thức về tầm quan trọng của tư vấn hướng nghiệp cho học sinh sau trung học của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể, cộng đồng xã hội và gia đình học sinh chưa được chú ý;…Do đó để có được lớp người đáp ứng xu thế hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế, với sự xuất hiện cuộc cách mạng 4.0 đầy thử thách sẽ dẫn đến sự chuyển đổi cơ cấu các ngành kinh tế, công nghiệp hóa - hiện đại hóa Nhìn từ góc độ người làm công tác tư vấn hướng nghiệp chúng ta phải đổi mới
về hình thức, kỹ thuật TVHN, phương pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp đáp ứng với đổi mới của giáo dục và nhu cầu của xã hội hiện nay
1.3.2 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo về giáo dục hướng nghiệp
GDHN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong phát triển sự nghiệp GD&ĐT Để thực hiện tốt công tác GDHN , ngày 19 tháng 3 năm 1981 Hội đồng chính phủ đã ra quyết định số 126/CP “về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý học sinh các cấp THCS và THPT tốt nghiệp ra trường” Trong đó khẳng định “các trường phổ thông phải tích cực tiến hành hướng nghiệp cho học sinh nhằm chuẩn bị mọi mặt cho học sinh sẵn sàng đi vào lao động sản xuất sau khi ra trường Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn việc chọn nghề của học sinh cho phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội đồng thời phù hợp với năng khiếu cá nhân
Công tác hướng nghiệp ở các trường gồm các nhiệm vụ sau đây:
Trang 32- Giáo dục thái độ lao động đúng đắn;
- Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề;
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất;
- Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hóa
Ngành giáo dục phổ thông trên cơ sở giáo dục toàn diện theo yêu cầu của chương trình phổ thông, cần tiến hành ngay một số biện pháp hướng nghiệp: Xây dựng chương trình, soạn tài liệu hướng nghiệp cho các trường phổ thông cơ sở và trung học; dành một số tiết học thích đáng để giới thiệu những nghề cơ bản đang cần phát triển, cho học sinh tham quan sản xuất, cải tiến giảng dạy các bộ môn khoa học theo tinh thần giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp; cải tiến cách dạy, cách học, cách đánh giá bộ môn lao động kỹ thuật tạo cho học sinh và biết lý thuyết, vừa được thực hành; tổ chức cho học sinh lao động sản xuất gắn với phương hướng sản xuất và các nghề đang cần phát triển ở địa phương; tổ chức các nhóm ngoại khoá để giúp học sinh phát triển hứng thú, năng lực nghề nghiệp”
Trong các văn kiện Đại hội Đảng đều xác định rõ tầm quan trọng của công
GDHN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng có ghi “Coi trọng công tác hướng nghiệp (HN) và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
cả nước và từng địa phương” Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên CNXH thông qua Đại hội đại biểu lần thứ XI của Đảng đã xác định:
"Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc
tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ qaủn lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp"
Nội dung giáo dục ở phổ thông được xác định bởi mục tiêu và các quy định
trong Luật Giáo dục là bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp,
Trang 33có hệ thống Về hướng nghiệp, nội dung giáo dục ở phổ thông cần cung cấp những hiểu biết ban đầu để giúp học sinh lựa chọn hướng đi phù hợp, góp phần phân luồng hợp lý học sinh sau THCS và THPT sau này
Tại điều 3 của chỉ thị 33-2003/CT – BGD&ĐT, ngày 23/7/2003 cũng đã chỉ rõ: “Nghiêm túc triển khai thực hiện sinh hoạt hướng nghiệp ở các trường THCS, THPT và Trung tâm KTTH – HN theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giúp học sinh, đặc biệt là học sinh cuối cấp, tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động và đánh giá năng lực bản thân, hướng dẫn học sinh lựa chọn nghề nghiệp hoặc lựa chọn trường học, ngành học phù hợp với năng lực cá nhân và yêu cầu của xã hội Để thực hiện tốt các yêu cầu trên, các Sở Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên được phân công hướng dẫn hoạt động giáo dục hướng nghiệp (sinh hoạt hướng nghiệp) Các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông
và trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cần phân công một đồng chí lãnh đạo phụ trách công tác giáo dục hướng nghiệp và cử giáo viên có năng lực tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh Nhà Xuất bản Giáo dục chịu trách nhiệm tổ chức biên soạn, phát hành đủ tài liệu hướng nghiệp để dùng trong nhà trường.” Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Đảng về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã khẳng định mục tiêu: “ Bảo đảm cho học sinh có trình độ THCS có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS, THPT phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng ”, Nghị quyết cũng chỉ rõ: “ Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp ” Như vậy, hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trong giai đoạn hiện nay góp phần rất lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Chỉ thị 3131/CT-BGDĐT “Về nhiệm vụ trọng tâm năm học 2015-2016 của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên” Trong đó nêu rõ
Trang 34nhiệm vụ chung của của các cấp học “Đẩy mạnh công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố và nâng cao kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở, kết quả xoá mù chữ; tăng cường công tác phân luồng, tư vấn hướng nghiệp và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông; đa dạng hóa hình thức học tập đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết và tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân”
Chỉ thị số 3031/CT BGD&ĐT ngày 26/8/2016 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục Trong các nhiệm
vụ chủ yếu nhiệm vụ số 3 đã nêu về “công tác phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông: Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh ở trong và ngoài nhà trường Cung cấp rộng rãi thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội nhu cầu của thị trường lao động, phục vụ nhu cầu của địa phương Hoàn thiện chương trình GDHN trong trường phổ thông Xây dựng chính sách, cơ chế phát triển phát triển đội ngũ giáo viên giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Biên soạn tài liêu giáo dục hướng nghiệp, khởi nghiệp kinh doanh và quản lý giáo dục hướng nghiệp…”
Hướng dẫn 4325/ /BGDĐT-GDTrH về “thực hiện nhiệm vụ giáo dục trung học năm học 2016 - 2017”, ngày 01 tháng 9 năm 2016 trong nhiệm vụ trọng tâm đã nêu rõ
“Tích cực rà soát, quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở giáo dục trung học phù hợp với điều kiện của từng vùng, địa phương; đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học; từng bước thực hiện mục tiêu phân luồng học sinh sau trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT).”
Những văn bản trên là những căn cứ pháp lý để các nhà trường xây dựng kế hoạch và các biện pháp thực hiện hoạt động tư vấn hướng nghiệp và quản lý tư vấn hướng nghiệp cho mỗi nhà trường
1.3.3 Sự chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ đối với hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII, Nghị quyết HĐND tỉnh Phú Thọ về kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015
Trang 35Quyết định số 26/2011/QĐ-UBND, ngày 28 tháng 12 năm 2011 của UBND tỉnh Phú Thọ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2020 “Phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng đồng bộ, toàn diện, chuẩn hóa và hiện đại, gắn giáo dục với đào tạo; phát triển giáo dục và đào tạo phải đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng với nhu cầu xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm
vụ trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ”
Hướng dẫn số 1539/SGD&ĐT-GDTrH của Sở Giáo dục và Đào tạo Phú Thọ, ngày 30 tháng 9 năm 2014 về “Thực hiện nhiệm vụ Giáo dục lao động - hướng nghiệp và Hoạt động giáo dục nghề phổ thông năm học 2014-2015” hướng dẫn chi tiết, cụ thể hoạt động này
Thực hiện Chỉ thị số 3031/CT-BGD&ĐT ngày 26/8/2016 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 - 2017 của ngành Giáo dục Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ yêu cầu Sở GD&ĐT, các Sở, Ban, Ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành, thị, các trường ĐH, CĐ, TCCN trên địa bàn tỉnh chỉ đạo, thực hiện tốt nhiệm vụ về công tác phân luồng và định hướng nghề nghiệp cho
HS phổ thông như sau:
- Tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng HS ở trong và ngoài nhà trường Cung cấp rộng rãi thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của thị trường lao động, nhằm định hướng các hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, phục vụ nhu cầu của địa phương
- Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông theo quy định Xây dựng chính sách, cơ chế phát triển đội ngũ GV giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông Biên soạn tài liệu giáo dục hướng nghiệp, khởi nghiệp kinh doanh và quản lý giáo dục hướng nghiệp gắn với đặc thù địa phương
Trang 36- Triển khai thí điểm mô hình giáo dục nhà trường gắn với thực tiễn sản xuất kinh doanh của địa phương, mô hình phối hợp giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
và các trường THCS, THPT đào tạo kỹ năng nghề trong chương trình hướng nghiệp Tăng cường huy động các nguồn lực tài chính và các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo cho việc tổ chức các hoạt động dạy học/giáo dục trong nhà trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn cuộc sống đảm bảo giáo dục cơ bản ở THCS, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả
Theo chỉ thị số 10/CT – UBND, ngày 30/8/2017 của UBND tỉnh về nhiệm vụ
chủ yếu của ngành Giáo dục tỉnh Phú Thọ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ yêu cầu Sở GD&ĐT chỉ đạo, thực hiện tốt nhiệm vụ về công tác phân luồng và định
hướng nghề nghiệp cho HS phổ thông như sau:
“Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng mô hình trường học gắn với thực tiễn, sản xuất, kinh doanh tại địa phương trên cơ sở đó để nhân rộng mô hình Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục hướng nghiệp gắn với thực hiện chương trình hiện hành theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới; tăng cường các giải pháp định hướng phân luồng học sinh trung học thông qua việc giao quyền cho các nhà trường chủ động điều chỉnh nội dung và phương thức giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề phổ thông phù hợp với điều kiện thực tiễn
Bố trí đủ số lượng và bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên làm công tác giáo dục hướng nghiệp trong các trường trung học phổ thông; từng bước nâng cao hiệu quả công tác giáo dục hướng nghiệp, giúp học sinh có nhận thức rõ về định hướng nghề nghiệp”
Trên cơ sở pháp lí các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Ngành giáo dục đều cho thấy sự cần thiết của hoạt động GDHN, TVHN là bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông Thực hiện công tác tư vấn hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết đáp ứng đổi mới giáo dục; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý nguồn nhân lực
1.4 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Trang 371.4.1 Nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động TVHN cho học sinh phổ thông
Mục tiêu cuối cùng của hoạt động TVHN đối với học sinh trung học là giúp các em xây dựng được mục tiêu kế hoạch nghề nghiệp tương lai trong suốt thời gian
đi học và ra được quyết định chọn ngành nghề phù hợp Kế hoạch này có thể thay đổi theo thời gian, tùy vào sự trưởng thành và kiến thức của các em về bản thân, về các cơ hội nghề nghiệp trong thị trường tuyển dụng cũng như những con đường khác nhau để thực hiện kế hoạch ấy Xuất phát từ mục tiêu đó đối với công tác TVHN thường chú trọng đến các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phát hiện và đánh giá được những sở thích và khả năng nghề nghiệp hiện
1.4.2 Các hình thức tư vấn hướng nghiệp
Công tác TVHN là một quá trình lâu dài, được thực hiện qua các loại hình như tư vấn nhóm lớn và tư vấn cá nhân
Tư vấn hướng nghiệp theo nhóm lớn: Là loại hình TVHN mà trong đó, nhiều học sinh cùng lớp hoặc cùng khối lớp được TVHN trong cùng một thời gian, không gian nhất định Tùy theo điều kiện, khả năng của từng cơ sở giáo dục và người làm TVHN, có thể tổ chức TVHN nhóm nhỏ hoặc nhóm lớn Nếu làm tốt loại hình tư vấn nhóm, có nghĩa là làm từ sớm, có chiến lược và lồng ghép được TVHN vào các hoạt động giáo dục khác để tận dụng ngân sách, nhân lực và làm cho hoạt động được phong phú mà vẫn đạt các mục tiêu đề ra Một mục tiêu trúng nhiều đích
Ví dụ: Lồng ghép TVHN vào một số chủ đề Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho toàn khối 9 như chủ đề “Chăm ngoan, học giỏi”, “Tôn sư trọng đạo” Qua tham gia hoạt động, học sinh có cơ hội tìm hiểu để nhận thức rõ hơn về sở thích, khả năng của bản thân, đồng thời có được một số nhận thức nghề nghiệp
Trang 38Hoặc lồng ghép TVHN vào nôi dung của hoạt động theo chủ đề của từng tháng trong năm học ở các khối lớp 10, 11, 12 để giúp học sinh tìm hiểu về thị trường lao động, thông tin tuyển sinh và đào tạo nghề Bên cạnh đó, có thể lồng ghép TVHN vào các hoạt động ngoại khóa khác
Tư vấn hướng nghiệp cá nhân: Là loại hình tư vấn dành cho một số ít em cần
hỗ trợ đặc biệt Khi TVHN cá nhân, TVV làm việc với từng học sinh có nhu cầu được tư vấn đặc biệt Thông thường, TVHN cá nhân đòi hỏi TVV phải có kiến thức, kinh nghiệm về tâm lí và tư vấn, có hiểu biết về văn hóa, phong tục của đối tượng tư vấn và có khả năng sư phạm Ở nước ta, số TVV được đào tạo chính quy còn ít
Tư vấn tuyển sinh: Là loại hình TVHN, trong đó học sinh được cung cấp thông tin về các cơ sở đào tạo sau THCS và sau THPT, từ trường nghề, TC nghề đến các trường CĐ, ĐH để các em có thêm thông tin trước khi đăng kí tuyển sinh vào các cơ sở đào tạo Hiện nay ở nước ta, tư vấn tuyển sinh thường được thực hiện theo hình thức toàn trường hoặc nhóm lớn vào trước thời gian học sinh đăng kí tuyển sinh Trong thực tế, còn rất nhiều người, nhiều tổ chức nhầm lẫn giữa hai cụm
từ “tư vấn tuyển sinh” và “tư vấn hướng nghiệp” Cần phân biệt rõ ràng tư vấn tuyển sinh chủ yếu là cung cấp thông tin về các cơ sở đào tạo Nhưng nếu làm tư vấn tuyển sinh có chất lượng thì sẽ có cả TVHN trong đó Còn TVHN chủ yếu là tư vấn hướng học và tư vấn chọn nghề, trong đó bao hàm cả tư vấn tuyển sinh để cung câp thông tin về thị trường đào tạo nghề để các em học sinh có cơ sở đối chiếu, lựa chọn hướng đi phù hợp Vì vậy, tư vấn tuyển sinh chỉ là một bước trong quy trình TVHN mà thôi
1.4.3 Vai trò của hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Trong nội dung của các Chỉ thị và Nghị quyết của Đảng và Nhà nước, trong luật giáo dục cho thấy CTHN có vai trò quan trọng và rất cần thiết nên phải được tổ chức một cách có chất lượng và hiệu quả cho HSPT các cấp, đặc biệt là cấp trung học
Lợi ích khi làm tốt công tác tư vấn hướng nghiệp:
Trang 39- Phát hiện và giúp các em đánh giá đúng sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân; hiểu rõ hơn yêu cầu của nghề và nhu cầu lao động của xã hội Góp phần xác định con đường tiếp tục phát triển nhân cách và sự phù hợp nghề của các em trong tương lai
- Làm tốt TVHN sẽ góp phần thiết thực giúp các em đạt được các năng lực hướng nghiệp trong Khung phát triển nghề nghiệp, phát huy được tối đa năng lực,
sở trường của bản thân trong quá trình học văn hóa, đào tạo nghề và hoạt động nghề nghiệp sau này
TVHN cho học sinh trung học có vai trò rất quan trọng đối với toàn xã hội, nhà trường, bản thân HS và gia đình HS Làm tốt TVHN cho HS không chỉ giúp nhà trường thực hiện được mục tiêu GD toàn diện mà còn góp phần quan trọng vào việc phân luồng hợp lí HSPT và phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước Việc thúc đẩy và cải thiện TVHN trong thời gian tới không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Nhiệm vụ của nhà trường là phải làm sao để huy động được sự đóng góp nhiều nhất, có hiệu quả nhất của xã hội cho TVHN, đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, tổ chức
xã hội, với phụ huynh học sinh để từng bước làm cho công tác TVHN đạt được hiệu quả theo mục đích HN
1.5 Nội dung quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
1.5.1 Xây dựng kế hoạch, nội dung chương trình TVHN cho học sinh phổ thông
Trọng tâm của lập kế hoạch hoạt động TVHN là chỉ ra phương hướng hành động và trả lời cho các câu hỏi: Mục tiêu chung cần đạt được của công tác TVHN là gì? Cần phải hoàn thành những nhiệm vụ cụ thể nào? Hoàn thành các nhiệm vụ đó như thế nào? Mức độ cần đạt của từng nhiệm vụ được xác định trong KHHĐ TVHN
là gì? Phân phối, sử dụng các nguồn lực như thế nào để đạt được mục tiêu chung của công tác TVHN và mục tiêu của từng nhiệm vụ TVHN? Biện pháp tổ chức và quản lí đối với từng nhiệm vụ là gì? Thời gian cần thiết để thực hiện từng nhiệm vụ như thế nào?
Trang 40Có thể ví việc lập KH cho TVHN như việc thiết kế ngôi nhà trong xây dựng Thiết kế hợp lí, logic, khoa học và phù hợp với điều kiện thực tế về các nguồn lực
và các tác động từ bên ngoài là cơ sở ban đầu rất quan trọng, mang tính định hướng cho việc xây dựng KH đạt kết quả như mong muốn Vì vậy, khi QL công tác TVHN, nhiệm vụ khởi đầu mang tính quyết định mà mỗi cán bộ QLHN cần làm là lập KHHĐ TVHN theo từng cấp quản lí nhằm giúp cán bộ QLHN và đối tượng quản lí biết được cái đích phải đạt tới của công tác TVHN; nhìn thấy trước những điểm mạnh, điểm yếu của CSGD cũng như các cơ hội, những mối đe dọa từ bên ngoài đối với công tác TVHN; biết trước các nguồn lực cần thiết cho công tác TVHN của CSGD Từ đó cán bộ QLHN đưa ra được định hướng và xác định được các biện pháp cần thiết để đạt được mục tiêu đã xác định
Việc lập KH còn giúp các CSGD có KH, biện pháp đối phó kịp thời với sự thay đổi của môi trường GD; đề ra được phương án tối ưu để phối hợp các nguồn lực và tạo ra sự thống nhất ý chí, hành động của các tác nhân HN vào việc thực hiện mục tiêu chung của công tác TVHN Lập KHHĐ TVHN tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng cho việc thực hiện các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá đối với công tác TVHN
1.5.2 Tổ chức đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Dựa trên các lí thuyết căn bản đã và đang được nhiều người người sử dụng, các kinh nghiệm trong quá trình thực hiện TVHN Để đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức TVHN trước hết các TVV phải hiểu rõ các LTHN Các LTHN phù hợp với văn hóa Việt Nam có thể nêu ra đó là: Lý thuyết mật mã Holland; Lý thuyết Cây nghề nghiệp; Mô hình lập kế hoạch nghề; Lý thuyết hệ thống; Lý thuyết phát triển nghề nghiệp theo các giai đoạn cuộc đời; Lý thuyết ngẫu nhiên có kế hoạch…
Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo tại các nhà máy, doanh nghiệp CSSX công nghiệp hoặc dịch vụ, thủ công nghiệp giúp học sinh tìm hiểu thêm thông tin về một số ngành nghề trên thực tế, từ đó xác định khả năng nghề nghiệp của bản thân