MỞ ĐẦU Chitin CT/Chitosan CS là một polysacarit mạch thẳng nguồn gốc thiên nhiên, tập trung nhiều chủ yếu ở vỏ các loài thuỷ sản giáp xác như: tôm, cua, mai mực [12]… CT/CS có khả năng
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ HOÁ HỌC
……***……
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CHẾ TẠO POLIME TƯƠNG THÍCH
SINH HỌC CHITOSAN CẤU TRÚC NANÔ ỨNG
NGUYỄN THỊ THÚY NGA
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐẠI LÂM
Hà Nội 2005
Trang 2
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Bộ môn Hoá Vô cơ & Đại
cương-Khoa Công nghệ Hoá học-Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn vô cùng sâu sắc đến Tiến sĩ
Trần Đại Lâm-người đã rất tận tình và tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn
thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Liên và các cán bộ nghiên cứu
phòng Công nghệ các hợp chất Sinh học-Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và cố vấn cho tôi trong quá trình thực
hiện đề tài
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Việt
Hùng-Viện kiểm nghiệm-Bộ Y tế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về cơ sở vật
chất và cố vấn cho tôi để hoàn thiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin cám ơn các đồng nghiệp trong Bộ môn Hoá Vô
cơ & Đại cương đã tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, giúp đỡ và
động viên tôi hoàn thành tốt luận văn
Tác giả
NGUYỄN THỊ THUÝ NGA
Trang 3
MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 10
1.1 Giới thiệu chung về Chitin (CT)/Chitosan (CS) 10
1.1.1 Nguồn gốc CT/CS 10
1.1.2 Cấu trúc và tính chất của CT/CS 11
1.1.3 Một số phương pháp xác định độ deaxetyl hóa (DD) của CT/CS 15
1.1.4 Xác định khối lượng phân tử trung bình của CT/CS 16
1.1.5 Một số dẫn xuất chủ yếu của CT/CS 17
1.1.6 Hoạt tính sinh học và ứng dụng của CT/CS trong Y Dược 19
1.2 Một số phương pháp sản xuất CT/CS và chế tạo nanô CS 21
1.2.1 Một số phương pháp sản xuất CT/CS 21
1.2.2 Phương pháp chế tạo CS có cấu trúc nano 23
1.3 Ứng dụng CS làm chất mang polime để gắn thuốc 25
1.4 Sơ lược một số thuốc gắn lên chất mang CS 28
1.4.1 Axit salixylic (Sa) 28
1.4.2 Artesunat (ART) 28
CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM 31
2.1 Các phương pháp vật lý 31
2.1.1 Phương pháp phổ hồng ngoại ( IR) 31
2.1.2 Phương pháp phổ nhiễu xạ tia X (XRD) 32
2.1.3 Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM) và hiển vi điện tử quét (SEM) 33
2.1.4 Phương pháp phân tích nhiệt (TA) 35
2.1.5 Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) 36
Trang 4
NguyÔn ThÞ Thuý Nga 2.1.6 Phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại- khả kiến ( UV-vis) 39
2.2 Các phương pháp hóa học 41
2.2.1.Chiết xuất và chuyển hoá CT/CS từ vỏ tôm 41
2.2.2 Xác định các thông số của CS nguyên liệu 43
2.2.3 Chế tạo vật liệu CS có cấu trúc nanô 45
2.2.4 Nghiên cứu gắn axit Sa lên chất mang CS 47
2.2.5 Nghiên cứu gắn thuốc sốt rét ART vào chất mang CS 48
2.2.6 Khảo sát khả năng gắn ART vào chất mang CS cấu trúc nanô 50
2.2.7 Khảo sát khả năng phân giải ART sau khi gắn lên chât mang CS theo thời gian trong môi trường giả dịch ruột và dịch dạ dày theo thời gian bằng HPLC và UV-vis 50
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 53
3.1 Tổng hợp và đặc trưng CS nguyên liệu từ vỏ tôm 53
3.1.1 Chiết xuất CT/CS từ vỏ tôm 53
3.1.2 Xác định các thông số đặc trưng của CS nguyên liệu 55
3.2 Tổng hợp và đặc trưng chất mang nanô CS 58
3.2.1 Tổng hợp chất mang nanô CS 58
3.2.2 Nghiên cứu đặc trưng của chất mang nanô CS 59
3.3 Nghiên cứu quá trình gắn thuốc vào chất mang nanô CS 64
3.3.1 Nghiên cứu khả năng gắn Sa (thuốc mô hình) lên chất mang CS 65
3.3.2 Nghiên cứu khả năng gắn ART lên chất mang CS 68
3.3.3 Nghiên cứu khả năng gắn ART lên chất mang nanô CS 72
3.4 Nghiên cứu động học quá trình phân giải ART trên chất mang CS trong môi trường giả dịch ruột và dịch dạ dày 76
3.4.1 Nghiên cứu sự phân huỷ chậm của chất mang CS theo thời gian trong các môi trường bằng HPLC 76
Trang 5
3.4.2 Khảo sát khả năng phân giải ART từ CS-ART trong các môi
trường giả dịch ruột và dịch dạ dày bằng HPLC 81
3.4.3 Khảo sát khả năng phân giải ART từ CS-ART trong các môi
trường giả dịch ruột và dịch dạ dày bằng UV-vis 83
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 6
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
MỘT SỐ KÝ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN VĂN
ART – Artesunat
CS – Chitosan
CS-ART – Sản phẩm Artesunat gắn lên chất mang Chitosan
CS-TPP - Phức hợp Chitosan và Tripolyphotphat (nanô Chitosan)
CS-TPP-ART - Sản phẩm gắn Artesunat lên chất mang nanô Chitosan
DD - Độ deaxetyl hoá
Sa – Axit Salixylic
CS-Sa – Sản phẩm Salixylic gắn lên chất mang Chitosan
TPP - Tripolyphotphat
Trang 7
MỞ ĐẦU
Chitin (CT)/Chitosan (CS) là một polysacarit mạch thẳng nguồn gốc
thiên nhiên, tập trung nhiều chủ yếu ở vỏ các loài thuỷ sản giáp xác như: tôm,
cua, mai mực [12]…
CT/CS có khả năng hoà hợp và phân huỷ sinh học [16], độc tính thấp,
có hoạt tính đa dạng: kháng khuẩn, kháng nấm [11], [8], tăng sinh tế bào, tăng
cường miễn dịch của cơ thể với các tác dụng kích thích sản sinh bạch cầu,
giảm cholesterol trong máu, hạn chế sự phát triển khối u, có tác dụng tốt trên
các vết thương, vết bỏng [12]… CT/CS có ứng dụng rất rộng rãi trong nhiều
lĩnh vực như: nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm, mỹ phẩm, xử lý nước
thải và y dược học…
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đánh giá cao vai trò của CT/CS và
chính thức cho phép sử dụng trong Y Dược học và thực phẩm [16], [38]
Người ta đã phát hiện được một số tác dụng của các sản phẩm CT/CS trong Y
Dược học như: làm thuốc điều trị vết thương, giảm colesterol trong máu và
giảm cân cho người béo phì, ức chế u và ung thư, làm tá dược trong thuốc
viên, làm chất mang trong thuốc polime để kiểm soát liều phân giải, làm vật
liệu Y sinh học [12]…
Nhờ có những tính chất như trên, hiện nay CT/CS được một số nhà
khoa học nghiên cứu với mục đích chế tạo các vật liệu tiên tiến có cấu trúc
nanô Các vật liệu có cấu trúc nanô này ngày nay được cho là rất có triển vọng
trong Y-Dược học: trong đó phải kể đến tác dụng làm chất dẫn thuốc nhằm
kéo dài thời gian tác dụng và tăng hiệu quả của việc sử dụng thuốc – chất
mang thuốc; là polime dẫn điện có thể dùng để chế tạo các cảm biến sinh học
(cảm biến ADN, cảm biến enzim) hoạt động theo nguyên lý điện hoá rẻ tiền
và đơn giản
Trang 8
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
Trên thế giới hiện nay, hướng nghiên cứu áp dụng công nghệ nanô vào
lĩnh vực Y học, Sinh học, Dược phẩm như chẩn đoán bệnh, chữa trị bệnh, bào
chế thuốc và sản xuất các sản phẩm Y Dược khác là một trong những hướng
nghiên cứu mũi nhọn, thu hút sự quan tâm lớn của các nhà khoa học Trên
thực tế, hâù hết các dược phẩm ngoài tác dụng dược lý còn có những tác dụng
phụ không mong muốn Chính vì vậy, các hệ thống đặc hiệu và dẫn chuyển
dược phẩm trên cơ sở công nghệ nanô ngày càng thu hút được nhiều sự quan
tâm nghiên cứu và triển khai Các hệ thống này bao gồm các hạt nanô, vectơ
điều khiển dược phẩm tác dụng trực tiếp tới tế bào đích mà không gây ảnh
hưởng đến các tế bào xung quanh
Ở nước ta, nhờ có vị trí địa lý và khí hậu thuận lợi nên hàng năm sản
lượng đánh bắt thuỷ, hải sản rất lớn Đây là nguồn nguyên liệu phong phú cho
việc điều chế CT/CS.Việc điều chế CT/CS từ nguyên liệu vỏ tôm, cua, mai
mực…còn có một mục đích nữa là tận dụng những phế thải từ các nhà máy
chế biến thuỷ, hải sản (vỏ tôm, cua, mai mực…) để làm sạch và bảo vệ môi
trường – một vấn đề cũng đang được toàn thế giới quan tâm hàng đầu
Với mục đích tận dụng nguồn nguyên liệu rẻ tiền, sẵn có, bảo vệ môi
trường và nâng cao ứng dụng của CT/CS trong Y, Dược học và đóng góp một
phần vào việc phát triển công nghệ nanô ứng dụng trong Y – Sinh học và
công nghệ Dược phẩm, trong phạm vi luận văn này chúng tôi đã đặt ra những
nhiệm vụ sau:
• Chiết xuất CT/CS từ vỏ tôm
• Xác định các thông số đặc trưng của CS nguyên liệu
- Xác định độ deaxetyl hoá (DD) của CS nguyên liệu
- Xác định khối lượng phân tử trung bình của CS nguyên liệu
• Tổng hợp và đặc trưng chất mang CS có cấu trúc nanô dùng
trong Y, Dược học
Trang 9- Thử khả năng phân giải chậm của thuốc sau khi đã gắn và so
sánh với khả năng phân giải của thuốc khi không gắn với chất mang CS bằng một số phương pháp HPLC, UV-vis
nhằm tạo ra sản phẩm mới có tác dụng kéo dài thời gian phân giải và tăng
hiệu quả sử dụng thuốc
Trang 10CT/CS có chủ yếu trong vỏ cứng của các loài động vật giáp xác như:
tôm, cua, mai mực, tảo biển, vỏ của bọ cánh cứng [12]…vì vậy trong số các
polime nguồn gốc tự nhiên sản lượng của CT/CS rất lớn (chỉ đứng thứ hai sau
xenlulo)
Trong mỗi loại nguyên liệu ta thu được những dẫn xuất khác nhau
Bằng phương pháp nhiễu xạ tia X, người ta đã chứng minh được CT tồn tại ở
ba dạng cấu trúc , và , cả ba dạng này đều có cấu trúc tinh thể rất chặt chẽ
và đều đặn chỉ khác nhau ở sự sắp xếp các mạch phân tử trong tinh thể (hình
1.1) Từ vỏ tôm, cua ta thường thu được - CT, - CT có cấu trúc mạch
ngược chiều nhau đều đặn nên ngoài liên kết hiđro trong một lớp và hệ chuỗi,
nó còn có lực liên kết hiđro giữa các lớp, do các chuỗi thuộc lớp kề nhau nên
rất bền vững Loại CT này là loại phổ biến nhất trong tự nhiên - CT thường
được tách ra từ mai mực ống, loại này trong tự nhiên ít hơn rất nhiều so với
- CT - CT được tách ra từ sợi kén của bọ cánh cứng, mai mực nang, - CT
có trữ lượng rất ít - CT có thể chuyển về - CT nhờ quá trình axetyl hoá
cho cấu trúc tinh thể bền vững hơn
- CT - CT - CT
Trang 11
Hình 1.1: Các kiểu sắp xếp trong mạch đại phân tử của CT
- CT: Các mạch được sắp xếp ngược chiều nhau đều đặn
- CT: Các mạch được sắp xếp song song
- CT: Hai mạch song song rồi đến một mạch ngược chiều
Ở nước ta vị trí địa lý và khí hậu rất thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi
trồng thuỷ, hải sản Hàng năm sản lượng đánh bắt tôm, mực từ biển là rất lớn,
ngoài ra chúng ta còn nuôi trồng các loại tôm, cua nước ngọt và nước mặn
(sản lượng tôm, cua, mực của ta đứng hàng thứ ba trên thế giới sau Trung
Quốc và Mỹ) Cụ thể là sản lượng của Việt nam và Ấn Độ đạt 9,3% so với
sản lượng toàn thế giới (sản lượng đánh bắt các loài giáp xác trên thế giới
khoảng 6 triệu tấn/ năm) [30] Cùng với sản lượng đánh bắt thuỷ, hải sản cao
như vậy là một con số khổng lồ các phế thải từ các nhà máy chế biến Đó là
vỏ tôm từ các nhà máy tôm đông lạnh, vỏ tôm, cua, mai mực từ chất thải sinh
hoạt do sử dụng trực tiếp các loài thuỷ, hải sản này làm thức ăn Nếu không
được xử lý kịp thời nó sẽ là nguồn gây ô nhiễm, ảnh hưởng lớn tới vệ sinh
môi trường Tuy nhiên đây lại là nguồn nguyên liệu rất phong phú cho công
nghiệp sản xuất CT/CS, nó là những nguyên liệu tái sinh, hoàn toàn con người
có thể khai thác nó mà không ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững
Như vậy sản xuất CT/CS đi từ các phế thải của các nhà máy chế biến
thuỷ, hải sản như vỏ tôm, cua…có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển công
nghệ mới, công nghệ sạch, tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có và bảo vệ
môi trường, bảo vệ sự phát triển bền vững
1.1.2 Cấu trúc và tính chất của CT /CS
Bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR), phổ hồng ngoại (IR) và một
số phương pháp khác đã xác định được cấu trúc Hoá học của CT/CS rất giống
của Xenlulo Trong Xenlulo nhóm –OH ở vị trí C2 của mỗi đơn vị D–
Glucoza Khi thay nhóm –OH trong Xenlulo bằng nhóm –NHCOCH3 ta được
Trang 12
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
cấu trúc của CT, còn khi thay bằng nhóm –NH2 ta được cấu trúc của CS (công
n (ct1.1)
Công thức tổng quát của Xenlulo, CT, CS
R = OH: Xenlulo R = NHCOCH3: CT R = NH2: CS
CS là dẫn xuất deaxetyl hoá của CT, trong thực tế sự deaxetyl hoá xảy
ra không hoàn toàn vì vậy người ta quy ước:
- Độ deaxetyl hoá (degree of deacetylation) (DD) > 50% gọi là CS
- DD 50% gọi là CT
1.1.2 1 Cấu trúc và tính chất của CT
Tên Hoá học của CT: Poly - - (1→4) – N axetyl – D – glucozamin
Hay còn gọi là Poly (1→4) – 2 axetamit – 2 – desoxyl – D
o
ch2oh
hoh
nhcoch3
h
h
ohh
nhcoch3
n (ct1.2)
Công thức lý thuyết của CT
Trang 13
Kết cấu bề mặt của CT khá chặt chẽ, phẳng lỳ, điều này đã được khẳng
định nhờ kính hiển vi điện tử quét Chính vì kết cấu bề mặt như vậy nên nó
rất khó tham gia vào các phản ứng Hoá học và không tan trong các dung môi
thông thường
Tính chất Hoá học của CT
Nhìn vào cấu trúc của CT ta thấy nó có chứa các nhóm chức: OH,
-CH2OH, -NHCOCH3 vì vậy CT sẽ có tính chất Hoá học của các nhóm chức
này Có thể biểu diễn công thức cấu tạo của CT một cách tượng trưng như
sau: -CH2OH, -OH, -NHCOCH3
• Phản ứng deaxetyl hoá CT thành CS trong môi trường kiềm đặc để
biến đổi nhóm axetyl thành nhóm amin Sơ đồ phản ứng như sau:
-CH2OH, -OH, -NHCOCH3 ⎯ ⎯ NaOHdÆ c ⎯ ⎯ →-CH2OH, -OH, -NH2
• Phản ứng thuỷ phân: CT bị thuỷ phân trong axit Clohiđric đậm đặc ở
nhiệt độ cao gây cắt mạch tạo ra glucosamin
• Phản ứng este hoá: CT tác dụng với axit nitric đậm đặc cho sản phẩm
CT nitrat; tác dụng với anhiđric sunfuric trong pyriđin, đioxan và N,
N-dimetyl anilin cho sản phẩm CT sunfonat.; tác dụng với axit cloaxetic tạo ra
o
ch2oh
hoh
nh2
h
h
ohh
nh2
n (ct1.3)
Trang 14
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
Công thức lý thuyết của CS
Tên Hoá học của CS là: Poly - - (1→4) - D – Glucosamin
Hay còn gọi là Poly - - (1→4) – 2- amino – 2 –desoxyl - D – Glucoza
CS là dẫn xuất của CT, sau khi deaxetyl hoá CT ta được CS Sơ đồ
phản ứng:
-CH2OH, -OH, -NHCOCH3 ⎯ ⎯ NaOHdÆ c ⎯ ⎯ →-CH2OH, -OH, -NH2
Như đã nói ở trên, phản ứng deaxetyl hoá CT thành CS xảy ra không
hoàn toàn nên với DD > 50% gọi là CS và DD < 50% gọi là CT Vì vậy công
o
ch2oh
hoh
nhcoch3
h
h
ohh
nh2
n m (ct1.4)
Công thức chính xác của CT/CS
CS được Rouget phát hiện lần đầu tiên vào năm 1859, khi ông đun sôi
CT trong dung dịch KOH đặc
Do CS có nhóm amin nên tính chất của nó khác rất nhiều so với CT
CS tan được trong xít loãng, đây cũng chính là đặc điểm dễ nhất để ta phân
biệt CT và CS
Tính chất vật lý của CS
CS ở thể rắn tồn tại dưới hai dạng: dạng tinh thể và dạng vô định hình
CS không tan trong nước, kiềm đặc và loãng, không tan trong cồn, axeton và
Trang 15
các dung môi hữu cơ khác CS tan trong dung dịch axit loãng tạo dung dịch
keo trong suốt Độ nhớt của CS trong dung dịch axit loãng liên quan tới kích
thước và khối lượng phân tử trung bình của CS (đây cũng chính là tính chất
chung của tất cả các dung dịch polime)
Tính chất hoá học của CS
CS có nhóm NH2 nên tính chất hoá học của nó có mang tính chất hoá
học của một amin, một bazơ, và nhất là có khả năng tạo phức với các ion kim
loại Một số phản ứng của CS:
- CS có thể bị cắt mạch bởi axit, enzim, hoặc bằng bức xạ để tạo
oligome
- Phản ứng Van – Wisselingh [12]: CS tác dụng với dung dịch lugo
cho màu nâu, chuyển sang đỏ tím khi có mặt axit sunfuric
- Phản ứng Alternative: CS tác dụng với axit H2SO4 tạo tinh thể hình
cầu CS sunfat, chất này làm mất màu dung dịch fucsin 1% hay dung
dịch axit picric 1%
- Nhóm amin trong phân tử có thể bị khử do một số tác nhân oxy hoá
như Ba(BrO)2, AgNO3, N2O3, HNO2, [12]…
1.1.3 Một số phương pháp xác định độ deaxetyl hoá (DD) của CT/CS
1.1.3.1 Phương pháp dựa vào phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton (H 1 -
NMR)
Đây là phương pháp cho độ chính xác cao nhất Dựa vào giá trị tích
phân phổ H1- NMR ở các tín hiệu pic của nhóm CH3 và H ở vị trí 2,3,4,5,6 và
6’ (vị trí C thứ 6 của nhân thứ hai) ta có thể xác định được độ deaxetyl hoá
CT/CS [19]
1.1.3.2 Phương pháp dựa vào phổ hồng ngoại (IR)
Từ phổ IR người ta xác định độ hấp thụ A của các đỉnh tại số sóng xác
định.Với mẫu CT /CS có DD cao khoảng 90% trở lên người ta xác định A1655
Trang 16
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
(amit 1) và A2867 (CH) theo phổ IR Tính tỷ lệ A1655 / A2867 và theo đồ thị
tương quan chuẩn để xác đinh độ DD trong mẫu CT /CS
Với mẫu CT /CS có độ DD thấp người ta có thể xác định độ DD dựa
trên dải hấp thụ ở 1550 cm-1 (amit II).Tính tỷ lệ A1550/A2867 và theo đồ thị
tương quan chuẩn để xác định độ deaxetyl hoá của mẫu CT/CS [12]
1.1.3.3 Phương pháp chưng cất CT/CS với axit phosphoric
Tách gốc axetyl trong CT/CS ra dưới dạng axit axetic bằng axit
phosphoric ở nhiệt độ cao Sau đó định lượng axit axetic bằng phương pháp
chuẩn độ thể tích [25]
1.1.3.4 Phương pháp dựa vào phản ứng của CT/CS với ninhyđrin
Cho CT/CS tạo màu với ninhyđrin và định lượng bằng phương pháp đo
quang đối chiếu với mẫu chuẩn [12]
1.1.3.5 Phương pháp nhiệt phân - sắc ký khí với sự có mặt axit oxalic
Phương pháp nhiệt phân kết hợp với sắc ký để xác định DD của mẫu
liên quan đến tỷ lệ của cường độ pic của sản phẩm, cụ thể là axit axetic và các
sản phẩm chứa nitơ.Axit oxalic được dùng làm chất phản ứng để thuỷ phân
CT/CS [36]
1.1.3.6 Phương pháp xác định theo nitơ
Xác đinh độ deaxetyl hoá CT/CS bằng tỷ lệ của lượng aminonitrogen
[N]am và tổng số nitơ [N]tot Tổng số nitơ [N]tot được xác địmh bằng phân tích
nguyên tố, amin/nitơ [N]am được xác định bởi Phương pháp chuẩn độ Hoá học
của dung dịch polymer trong HCl với NaOH [34]
Người ta còn xác định DD của CT/CS theo phương pháp định lượng
nitơ toàn phần theo công thức tính 1.1[7]:
x 100
8 1
89 6 c DD
,
, (%)= −
Trang 17
Trong đó c là hàm lượng (%) Nitơ toàn phần đo được trong mẫu CT/CS
đem kiểm nghiệm
Phương pháp này thường cho sai số cao
1.1.4 Xác định khối lượng phân tử trung bình của CT/CS
Khối lượng phân tử trung bình của CT/CS (M) chỉ mang ý nghĩa là
một đại lượng thống kê Không giống như những hợp chất có khối lượng phân
tử thấp nó là hằng số, CT/CS phải lấy khối lượng phân tử trung bình do các
nguyên nhân như: sự deaxetyl hoá luôn xảy ra không hoàn toàn nên trong
phân tử có lẫn cả nhóm axetyl và nhóm amin; các mạch đại phân tử có kích
thước dài ngắn khác nhau; các liên kết ngang tạo thành giữa các mạch đại
phân tử…
Theo các tài liệu thì có một số cách xác định khối lượng phân tử trung
bình như sau:
• Phương pháp đo khối lượng phân tử trung bình trực tiếp như:
- Phương pháp tán xạ ánh sáng (light scattering)
- Phương pháp xác định khối lượng phân tử theo độ tăng điểm sôi
(ebulioscopy)
- Phương pháp xác định khối lượng phân tử trung bình theo độ hạ
nhiệt độ đông đặc (cryoscopy)
- Phương pháp xác định khối lượng phân tử trung bình theo áp
suất thẩm thấu (osmometry)
• Phương pháp xác định khối lượng phân tử trung bình gián tiếp
- Phương pháp xác định khối lượng phân tử trung bình theo độ
nhớt của dung dịch polyme
- Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
- Phương pháp ghép sắc ký lỏng hiệu năng cao với tán xạ ánh
sáng nhiều góc (HPLC - MALLS)
Trang 18
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
1.1.5 Một số dẫn xuất chủ yếu của CT/CS
1.1.5.1 CT tan trong nước
Là CT/CS có độ DD 50% [12].Để tổng hợp được CT này có hai
cách: Deaxetyl hoá CT có kiểm soát các thông số phản ứng để thu được sản
phẩm có độ DD 50% hoặc axetyl hoá CS thành CT có độ DD 50%
1.1.5.2 N,O – Cacboxylmetyl CT/CS
Khi tham gia các phản ứng thế CT/CS hay xảy ra đồng thời ở cả hai
nhóm chức – OH và - NH2 Kết quả của phản ứng là hỗn hợp của nhiều loại
sản phẩmthế ở vị trí – O hay – N hoặc cả hai – O và - N Ví dụ: CS phản ứng
với hỗn hợp NaOH và ClCH2COONa thu được sản phẩm có chứa N,O –
Cacboxylmetyl CT/CS theo phương trình:
n NaOH/ClCH2 COOH
O
Ch2och2cooh h
h och2cooh h
h nhch2cooh h o
n (ct1.5)
Bằng phổ cộng hưởng từ hạt nhân, người ta đã thấy khả năng
cacboxylmetyl hoá CS giảm theo thứ tự từ – C6 > - C3 > - N Muốn thu được
sản phẩm là O – Cacboxylmetyl CS, người ta phải bảo vệ nhóm NH2 bằng
Cu2+, còn muốn tạo ra sản phẩm N – Cacboxylmetyl CS thì cho CS tác dụng
với axit glioxylic (OHC – COOH)
Trang 19
- CH2OH
CS - OH NaBH4 - NH-CH-(CH2)2COOH
CH3 N–[(4-metyl) cacboxybutyl] CS
Sản phẩm CS với axit levulinic để tạo thành dẫn xuất của CS tan trong
nước và có tác dụng kháng khuẩn, chữa liền vết thương [12]
-Phản ứng này có thể thực hiện với CS có độ deaxetyl hoá cao và môi
trường NaOH loãng để tránh hiện tượng cắt mạch CS
1.1.5.5 Một số dẫn xuất của CT/CS không tan trong nước
O – Acy CT, O – Akyl CT, Akali CT, CT xanthogenat, O –
Hidroxyalkyl CT, O – Cacboxymetyl CS, N – Acyl CS, N – Cacboxylacyl
CS, N – Alkyliden CS, N – Alkyl CS, N – Cacboxyalkyliden CS, N –
Hidroxyalkyl CS, N – Cacboxyalkyl CS [12]
1.1.6 Hoạt tính sinh học và ứng dụng của CT/CS trong Y Dựơc
1.1.6.1 Độc tính của CT/CS và ứng dụng trong Y Dược
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu và đều đi đến kết luận
CT/CS không độc đối với người và động vật thí nghiệm [14] Độc tính thứ
cấp thấp và không đáng kể [12], có thể sử dụng an toàn trên người theo con
đường ăn, uống, tiêm, bôi ngoài da và ghép mô
Chính vì vậy CT/CS được phép sử dụng trong thực phẩm và dược
phẩm Những ứng dụng của CT/CS trong các lĩnh vực này được thừa nhận
rộng rãi trong những năm gần đây [16], [38]
Trang 20
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
Năm 1983 cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm của Mỹ (United States
Food and Drug Administration – FDA) đã chấp nhận dùng CS làm chất phụ
gia trong thực phẩm và dược phẩm
CS chính thức được WHO cho phép sử dụng trong Y, dược [13]
Trong thuốc – thực phẩm CT/CS có thể dùng cho bổ dưỡng sức khoẻ,
giảm cân nặng, giảm cholesterol xấu trong máu, bảo quản thực phẩm
Ngoài ra nhờ tính chất này CT/CS còn được sử dụng làm tá dược trong
bào chế thuốc, làm vật liệu y sinh…
1.1.6.2 Một số hoạt tính sinh học và ứng dụng của CT/CS trong Y-Dược
a Khả năng kháng nấm, kháng khuẩn của CT/CS và ứng dụng trong Y Dược
Qua khảo sát khả năng kháng nấm, kháng khuẩn của CT/CS người ta
thấy nó có tính chất kháng nấm, kháng khuẩn Với nhiều mức độ khối lượng
phân tử trung bình khác nhau các nhà khoa học đi đến kết luận: CS có khối
lượng phân tử trung bình khoảng 100.000 –300.000 có tác dụng kháng khuẩn
cao nhất [26] Cơ chế kháng này của CT/CS được đưa ra bởi nhiều giả thiết
khác nhau như: Sự tương tác giữa các điện tích dương của phân tử CS với
điện tích âm của màng tế bào vi khuẩn gây thẩm thấu protein và các thành
phần nội bào khác làm tiêu diệt vi khuẩn CS mang điện tích dương trên
cacbon ở vị trí số 2 ở pH<6 cho khả năng hoà tan và hoạt tính kháng khuẩn
cao hơn hẳn CT [12]
Nhờ có khả năng này CT/CS được sử dụng để làm thuốc chống nấm
gây bệnh cho cây trồng, làm chất bảo quản thực phẩm, chế tạo các màng băng
có tác dụng kháng khuẩn và liền vết thương, vết bỏng [12]…
b Khả năng hoà hợp và phân huỷ sinh học của CT/CS và ứng dụng trong Y
Dược
CT/CS có khả năng hoà hợp và phân huỷ sinh học tốt đối với cả động
vật và mô thực vật [16]
Trang 21
CT/CS có thể làm băng vết thương, thức ăn để chống cholesterol và
thuốc giải phóng chất chống viêm Nhờ có nhiều tính chất cơ học tốt nên
CT/CS được sử dụng nhiều trong công nghệ vật liệu Y sinh:
• Kính áp tròng được chế tạo từ CS
• Chế tạo chỉ phẫu thuật tự tiêu, mô xương giả [12]
• Chế tạo màng lọc máu, vật liệu chỉnh hình, cơ quan nhân tạo trong cơ
thể [30],…
• Chế tạo màng băng giúp nhanh liền vết thương vết bỏng [29]
c Tác dụng tăng sinh tế bào, kích thích sự liền vết thương và ứng dụng trong
Y Dược
Theo [30] CT/CS trên vết thương có tác dụng kích thích mô tái sinh,
hạn chế việc để lại sẹo
CT/CS có tác dụng kích thích mô phát triển, kích thích sự sinh trưởng
tế bào, có vai trò quan trọng trong sự phát triển tái tạo và phục hồi các tổ chức
mô [12]
Qua nghiên cứu cho thấy CS DD 65–80% có tác dụng kích thích mô
hạt phát triển tốt nhất, rất thuận lợi cho quá trình liền vết thương [12]
Vì vậy CS được sử dụng để chế tạo màng băng vết thương, thuốc kiểm
soát liều phân giải…
Ngoài ra CT/CS còn có tác dụng chống viêm, tăng cường miễn dịch
của cơ thể, hạn chế phát triển khối u và ung thư, bảo vệ tế bào và điều trị thận
trên bệnh nhân bị bệnh thận mãn tính [35], [12] Nhờ tính chất này người ta
đã bào chế ra thuốc chống ung thư, tăng cường miễn dịch…CS có tác dụng
làm giảm cholesterol trong máu, giảm hấp thụ lipit qua đường tiêu hoá, giúp
điều trị các bệnh về tim mạch và béo phì [12]
1.2.1 Một số phương pháp sản xuất CT/CS
Trang 22
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
Tuỳ từng nguyên liệu mà hàm lượng CT/CS khác nhau [12]
Hàm lượng CT trong vỏ một số loài động vật giáp xác
CT tồn tại trong tự nhiên thường có DD < 10%, chúng thường ở dạng
kết hợp với protein (thịt các động vật mà ta lấy vỏ) và một số muối vô cơ
(chẳng hạn muối cacbonat) Vì vậy phương pháp sản xuất CS dựa trên nguyên
tắc loại protein, các muối vô cơ và các tạp chất…ra khỏi CT, rồi deaxetyl hoá
để thu được CS
1.2.1.1 Phương pháp thuỷ nhiệt
Phương pháp này giúp ta điều chế được trực tiếp CS từ nguyên liệu ban
đầu không qua giai đoạn điều chế CT Ưu điểm của phương pháp này là thời
gian thực hiện ngắn, sử dụng các hoá chất thông dụng và phù hợp khi muốn
thu được CS trong thời gian ngắn Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm
là tiêu tốn nhiều năng lượng cho các giai đoạn sản xuất
1.2.1.2 Phương pháp sử dụng enzim để thuỷ phân protein
Trang 23
Một số enzim thường được sử dụng để thuỷ phân protein như: proteaza,
proteolytic, papain, trypsin,…Người ta sử dụng các enzim này để tách CT,
sau đó dùng NaOH đặc để deaxetyl hoá CT thành CS [12]
Ban đầu nguyên liệu chứa CT được rửa sạch, xay nhỏ, nấu sôi Sau đó
thuỷ phân protein bằng enzim Thu dịch thuỷ phân, loại bỏ dịch, sau đó xử lý
bằng HCl thu được phức CT – protein Xử lý tiếp bằng NaOH loãng, sau đó
rửa sạch thu được CT thô Đem deaxetyl hoá bằng NaOH đặc ta thu được CS
CS này đem tinh chế và kiểm nghiệm ta thu được CS dựơc dụng [12]
Phương pháp này có ưu điểm thu được CS có khối lượng phân tử trung
bình lớn nhưng có nhược điểm là mất nhiều thời gian và quá trình thuỷ phân
protein gây mùi khó chịu làm ô nhiễm môi trường, sản phẩm có độ tinh khiết
không cao và không ổn định do hàm lượng men biến đổi
1.2.1.3 Phương pháp thu nhận đồng thời protein , CT và CS
Phương pháp này đã được áp dụng cho quy trình sản xuất với quy mô
công nghiệp lớn 100.000 tấn/năm [31] Theo phương pháp này nguyên liệu
sau khi đã loại bỏ tạp chất, sấy khô và nghiền nhỏ được đưa vào quạt gió
Phần nhẹ là CT và Canxi (có lẫn ít protein), phần nặng là protein có lẫn ít
canxi và CT Lấy phần nhẹ loại protein và Canxi ta thu được CT Deaxetyl
hoá CT ta thu được CS, tinh chế CS này ta thu được CS tinh sạch
Phương pháp này có ưu điểm là thu nhận được đồng thời cả protein, CT
và CS, tận dụng được protein để làm thực phẩm và các sản phẩm có giá trị
dinh dưỡng và chữa bệnh
1.2.2 Phương pháp chế tạo CS có cấu trúc nanô
Theo [23]: CS được pha trong dung dịch axit axetic 0,5 hoặc 1% về
khối lượng Axetaminophen (thuốc mô hình được gắn lên CS) nồng độ 1 hoặc
2% Trộn hai dung dịch với nhau bằng máy khuấy trong 20 phút thu được hệ
huyền phù của CS và axetaminophen Cho từ từ dung dịch TPP nồng độ 1%
Trang 24
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
vào hệ huyền phù trên cũng khuấy với tốc độ trên trong vòng 20 phút thu
được hệ huyền phù CS-TPP- Axetaminophen Dùng máy đông khô để thu
Thuốc gắn trên CS có cấu trúc nanô
Hình 1.2: Sơ đồ tổng hợp thuốc Axetaminophen có cấu trúc nanô
Theo tài liệu [43] có thể chế tạo nano CS bằng một số cách sau:
• Phương pháp trùng ngưng
Hạt nano CS –PAA (Poly axit acrylic) được tạo thành do sự trùng hợp
của AA (axit acrylic) và CS Theo phương pháp này, CS được hoà tan trong
-OOC
Trùng hợp
CS
Hạt nanô CS-PAA
Trang 25
50ml dung dịch AA với tỉ lệ 1:1 đặt trên máy khuấy từ, cho đến khi dung dịch
trở nên trong suốt Cho tiếp K2S2O8 vào và tiếp tục khuấy, điều chỉnh pH
khoảng bằng 4 Sau đó sự trùng hợp được thực hiện ở trên 700C có luồng khí
N2 và đặt trên máy khuấy từ Đến khi xuất hiện các hạt lơ lửng màu trắng đục
thì làm lạnh hệ thống Các hạt lơ lửng được lọc bằng giấy lọc để thu được các
hạt keo Cuối cùng, các monome được di chuyển bằng sự thẩm thấu trong
dung dịch đệm có pH = 4,5 trong 24 giờ, dùng túi màng thẩm thấu với khối
lượng nhỏ 10KDa
Hình 1.3: Phản ứng tạo hạt nanô CS – PAA
• Phương pháp nhỏ giọt
CS-PAA cũng được tạo ra do trộn CS vào PAA bằng cách nhỏ giọt
Cho 1 ml dung dịch CS 0,02% (CS có DD=80KDa hoà trong axit
axetic 1%) vào 5 ml dung dịch PAA 0,02% đặt dưới máy khuấy Các hạt keo
được tạo thành, dùng giấy lọc để lọc lấy hạt keo Dùng túi màng thẩm thấu
bọc sản phẩm trong dung dịch đệm có pH=4,5 trong vòng 24 giờ
Theo [18], [20], [41], thì CS có cấu trúc nanô được tạo ra bằng cách tạo
phức giữa CS và Tripolyphosphate (TPP) CS được hoà tan trong dung dịch
axit loãng, TPP được hoà tan trong nước Cho từ từ dung dịch TPP vào dung
dịch CS được đặt trên máy khuấy từ và khuấy với tốc độ lớn Lọc thu được
chất rắn, đem sấy khô, nghiền nhỏ thu được CS dạng nanô
1.3 Ứng dụng CS làm chất mang polyme để gắn thuốc
Nói chung các loại thuốc tân dược cho đến nay thường được sản xuất
dưới dạng viên nén không có chất mang và có kích thước hạt lớn Chính vì
vậy thời gian tác dụng của thuốc ngắn, với cùng một tình trạng bệnh ta phải
dùng thuốc với liều lượng cao và tần suất sử dụng lớn Dùng thuốc dạng này
khả năng đào thải ra ngoài cơ thể lớn, gây lãng phí và tốn kém Để khắc phục
Trang 26
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
nhược điểm này các nhà Hoá Dược đã nghiên cứu và tìm cách gắn thuốc lên
một chất mang polyme với mục đích kéo dài thời gian tác dụng của thuốc (do
khả năng phân giải chậm của thuốc trong cơ thể sau khi đã được gắn với chất
mang) Việc dùng thuốc sau khi đã được gắn với chất mang sẽ giảm được liều
dùng trong ngày, tần suất sử dụng thấp hơn, đỡ tốn kém và lãng phí
Ngày nay, với mục đích tăng hiệu quả, hấp thụ chọn lọc, giảm nồng độ,
độc tính và tác dụng phụ của thuốc cũng như bảo vệ các phân tử hoạt động
khỏi bị enzim phân huỷ việc gắn thuốc lên chất mang polime có cấu trúc nanô
- công nghệ nanô sinh học được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi
Các hạt nanô là những hạt keo rắn có kích thước từ 10nm đến 1000nm
Chúng bao gồm các vật liệu đại phân tử trong đó nhân tố chủ động được hoà
tan, bao vỏ và/hoặc kết bám hay đính kèm vào Các hạt nanô này có những
đặc tính quý như độ bền cao và có khả năng thay đổi các đặc tính bề mặt của
chúng một cách dễ dàng
Trên thực tế, hầu hết dược phẩm không chỉ có tác dụng dược lý hữu ích
mà còn có những tác dụng phụ, vì vậy các hệ thống đặc hiệu và dẫn chuyển
dược phẩm trên cơ sở công nghệ nanô ngày càng thu hút sự quan tâm trong
nghiên cứu và triển khai Các hệ thống này bao gồm những hạt nanô, vectơ
điều khiển dược phẩm tác động trực tiếp vào tế bào đích và không gây ảnh
hưởng đến các tế bào xung quanh
Một vectơ lý tưởng cho hệ thống đặc hiệu và dẫn chuyển dược phẩm
cần thoả mãn những yêu cầu là thể mang có khả năng tăng cường sự tuần
hoàn máu, với kích thước đủ nhỏ để có thể tiếp xúc trực tiếp được với các mô
và tế bào đích, cũng như phải có tính hướng linh hoạt có thể ứng dụng được
trong nhiều loại bệnh và có thể dẫn chuyển phần có hoạt tính vào trong tế
bào… Có ba loại vec tơ chính: liposome, nanocapsule (pha nước hoặc dầu
Trang 27
bao bọc bởi polime phân huỷ sinh học) và nanosphere (polime phân huỷ sinh
học) Hai loại vectơ sau chính là các hạt nanô (hình 1.4)
Hình 1.4 Các hạt nanô của hệ thống đặc hiệu và dẫn chuyển dược phẩm
Hơn nữa, những polyme dùng để gắn thuốc phải có tính hoà hợp sinh
học với cơ thể, có đặc tính có thể phân huỷ được hay dễ bị thuỷ phân hoặc bị
enzim phân huỷ thành những phân tử nhỏ không độc Các polyme phải có
những nhóm chức hoạt động để dễ dàng gắn với thuốc bằng liên kết đồng hoá
trị, liên kết ion hoặc tạo phức
CS là một polyme có đầy đủ các yêu cầu của một chất mang thuốc: Nó
có tính hoà hợp sinh học với cơ thể, độc tính rất thấp, hơn nữa nó có các
nhóm chức hoạt động, đặc biệt là nhóm – NH2
Sự gắn adriamicin vào CS cho thấy thuốc phân huỷ chậm và có thể duy
trì, tập trung adriamicin ở mức nhất định trong một thời gian như mong
muốn.[44]
So sánh khi dùng thuốc Heparin gắn lên chất mang CS và dùng gel CS,
màng CS nguyên chất hoặc dung dịch Heparin không có CS người ta thấy
việc gắn thuốc lên chất mang có tác dụng hơn hẳn [12]
Một số ưu điểm của việc gắn thuốc vào chất mang polyme như sau
[13]:
Trang 28
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
- Thuốc gắn vào polyme được phân giải từ từ trong cơ thể nên duy trì
nồng độ thuốc trong máu liên tục, do đó chúng có hiệu lực điều trị kéo
dài, giảm số lần sử dụng thuốc trong một phác đồ điều trị
- Thuốc có khả năng kiểm soát đựơc sự phân liều, có thể điều chỉnh tốc
độ phân giải và định hướng tác dụng theo ý muốn
- Gắn thuốc vào chất mang polyme có thể thay đổi dược lực học, thuốc
được tăng cường tác dụng hoặc có tác dụng mới so với thuốc ban đầu
- Hạn chế sự kháng thuốc của vi khuẩn trong quá trình sử dụng
Đã gắn thuốc axetaminophen lên chất mang CS [23], lựa chọn thuốc để
gắn lên CS là doxorubicin [24] Tác giả tài liệu [20] đã gắn BSA (bovine
serum albumin) Trong một số tài liệu khác người ta còn dùng CS làm chất
mang cho thuốc amoxycilin…
Qua tham khảo các tài liệu và với những ưu điểm như trên của việc gắn
thuốc vào chất mang polyme chúng tôi lựa chọn nghiên cứu gắn một số chất
như axit salixylic (làm thuốc mô hình), Artesunat (thuốc chữa sốt rét), …lên
chất mang polyme CS với hy vọng sẽ làm tăng hiệu quả trong sử dụng thuốc
và giảm chi phí…
1.4 Sơ lược một số thuốc gắn lên chất mang CS
1.4.1 Axit salixylic (Sa)
Cấu trúc Hoá học của Sa
OH
OH C O
(ct1.6)
Trang 29
Do Sa có nhóm COOH, có khả năng tạo liên kết amit với nhóm NH2
của CS nên chúng tôi chọn axit Sa làm thuốc mô hình (model drug) để nghiên
cứu khả năng mang thuốc của CS
1.4.2 Artesunat (ART)
1.4.2.1 Nguồn gốc và một số dẫn xuất của ART
ART là dẫn xuất của Artemisinin Cùng với một số dẫn xuất khác của
Artemisinin như Artemether, Arte – ether là dẫn chất metyl và etyl của
hidroartemisinin, ART dễ tan trong nước, thuận tiện cho việc pha dung dịch
để tiêm và có hoạt lực mạnh hơn Artemisinin
Dihydroartemisinin (DHA) là một hợp chất trung gian để tổng hợp
nhiều dẫn xuất của artemesinin như artemether, arteether, artesunate, .DHA
được tổng hợp từ artemesinin (ct 1.7) Trong điều kiện tối ưu về nhiệt độ hiệu
suất phản ứng có thể đạt tới 90 – 92%
Sản phẩm DHA thu được tinh khiết đến trên 98%, độ ẩm dưới 0,5%
Artemisinin được chiết xuất từ cây Thanh Hao hoa vàng Thanh Hao
mọc hoang ở Trung Quốc, Liên Xô, Mông Cổ, ấn Độ, Nhật, Bắc Mỹ, và một
số nước Đông Nam á Năm 1982 Thanh Hao mới chính thức được phát hiện
mọc hoang ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam và sau đó được trồng ở hầu hết
các tỉnh để chiết xuất Artemisinin Thanh Hao được sử dụng trong Y học cổ
truyền Trung Quốc làm thuốc chữa sốt rét vào năm 340, nhưng mãi đến năm
1967 mới được nghiên cứu và 1972 được chiết xuất dưới dạng tinh thể và
được các nhà khoa học Trung Quốc đặt tên là Qinghaosu
Trang 30(ct1.7)
Artemisinin có tác dụng đối với ký sinh trùng sốt rét Tác dụng nhanh
và thải trừ nhanh vì vậy ít gây kháng thuốc Hiện nay các chế phẩm bán tổng
hợp từ Artemisinin như Artesunat, dihidroartemisinin, arteether,
artemether,…đang được quan tâm nghiên cứu với mong muốn nâng cao hiệu
lực tác dụng, đặc biệt là ART Những dẫn chất này có thể tan trong nước hoặc
dầu, có thể sản xuất dưới dạng thuốc tiêm, thuốc uống dạng viên nén hay gắn
trên chất mang, để sử dụng trong điều trị các trường hợp sốt rét ác tính [4]
Trang 31O O
O O
(ct1.9)
Hình 1.5: Phổ 1 H NMR của ART trong CDCl 3 [40]
Hình 1.6: phổ 13 C NMR của ART trong CDCl 3 [40]
Trang 32
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng một số phương pháp vật
lý và hoá học sau:
2.1 Các phương pháp vật lý
2.1.1 Phổ hồng ngoại (Infrared spectroscopy - IR)
2.1.1.1 Cơ sở lý thuyết
Phổ hồng ngoại dùng để xác định cấu trúc phân tử của phân tử chất
nghiên cứu dựa vào các tần số đặc trưng trên phổ đồ của các nhóm chức trong
phân tử
Khi chiếu bức xạ hồng ngoại vào phân tử chất nghiên cứu, trong bản
thân các phân tử luôn có các trạng thái dao động phân tử
Đối với phân tử hai nguyên tử chuyển động dao động duy nhất là
chuyển động co dãn một cách tuần hoàn của liên kết giữa hai phân tử A-B
Loại dao động trên được gọi là dao động hoá trị (hình 2.1.a)
Hình 2.1: Dao động hoá trị và dao động biến dạng
Đối với những phân tử có số nguyên tử lớn hơn hai, trạng thái dao động
của phân tử phức tạp hơn nhiều Trong các phân tử này, ngoài các dao động
hoá trị như phân tử hai nguyên tử, ta còn gặp các dao động biến hình (hay dao
động biến dạng) (hình 2.1.b)
Trang 33
Với phân tử có N nguyên tử có 3N-6 dao động chuẩn (phân tử thẳng
hàng có 3N-5) Mỗi dao động chuẩn ứng với một tần số dao động cơ bản
Phương trình cơ bản của sự hấp thụ bức xạ điện từ là phương trình
Lambert-Beer:
A = lg(1/T) = lg(I0/It) = .l.C (ct 2.1)
Trong đó:
A – Mật độ quang; T- Phần trăm ánh sáng truyền qua; I0 – Cường độ
ánh sáng chiếu vào; It – Cường độ ánh sáng truyền qua; - Hệ số hấp thụ
phân tử; C – Nồng độ (mol.l-1); l – Chiều dày của cuvet (m)
Từ các số liệu của phổ dao động, người ta có thể đi đến một số đặc
trưng về cấu trúc phân tử Dựa vào tần số (hoặc số sóng) đặc trưng của các
nhóm chức người ta suy ra cấu trúc phân tử của chất cần nghiên cứu
2.1.1.2 Thực nghiệm
Mẫu được sấy khô đến khối lượng không đổi và ép viên với KBr
Trong luận văn này các phổ IR được đo trên máy FTR –Impact 410 của
hãng Nicolet, tại Viện Hoá học – Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Phương pháp nhiễu xạ tia X được sử dụng để xác định thành phần cấu
trúc mạng tinh thể của chất cần nghiên cứu
d
Trang 34
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
Hình 2.2: Sơ đồ tia tới và tia phản xạ trên tinh thể
Theo nguyên lý cấu tạo tinh thể, mạng tinh thể nguyên tử hay ion phân
bố đều đặn trong không gian theo một qui luật nhất định Khi chùm tia
Rơnghen (X) tới bề mặt tinh thể và đi sâu vào bên trong mạng lưới tinh thể thì
mạng lưới này đóng vai trò như một cách tử nhiễu xạ đặc biệt Các nguyên tử,
ion bị kích thích bởi chùm tia X sẽ thành các tâm phát ra các tia phản xạ
Hơn nữa các nguyên tử, ion này được phân bố trên các mặt song song
Do đó, hiệu quang trình của hai tia phản xạ bất kỳ trên hai mặt phẳng song
song cạnh nhau được tính như sau:
= 2.d.sin (ct 2.2)
Trong đó: d: khoảng cách giữa hai mặt song song
: góc giữa chùm tia X và mặt phẳng phản xạ
: hiệu quang trình của hai tia phản xạ
Theo điều kiện giao thoa, để các sóng phản xạ trên hai mặt phẳng cùng
pha thì hiệu quang trình phải bằng nguyên lần độ dài sóng (), theo hệ thức
Vulf – Bragg :
2.d.sin = n (ct 2.3)
Đây là phương trình cơ sở để nghiên cứu cấu trúc mạng tinh thể Căn
cứ vào cực đại nhiễu xạ trên giản đồ (giá trị 2), có thể suy ra d theo công
thức (2.3) So sánh giá trị d tìm được với d chuẩn sẽ xác định được thành
phần cấu trúc mạng tinh thể của chất cần nghiên cứu
Phổ nhiễu xạ tia X được chụp trên máy Siemens-D5000 của hãng
Siemens, sử dụng bức xạ CuK, = 1,5406 A0 Chế độ làm việc cho ống tia X
là: điện thế 30kV, cường độ dòng 30A
Trang 35
2.1.3 Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (Transmission Electron
Microscopy - TEM) và phương pháp hiển vi điện tử quét (Scanning
Electron Microscopy - SEM)
2.1.3.1 Cơ sở lý thuyết
Người ta sử dụng chùm tia điện tử để tạo ảnh mẫu nghiên cứu Ảnh đó
khi đến màn hình huỳnh quang có thể đạt độ phóng đại theo yêu cầu Chùm
tia điện tử được tạo ra từ catot qua hai “tụ quang” điện tử sẽ được hội tụ lên
mẫu nghiên cứu Khi chùm tia điện tử đập vào mẫu sẽ phát ra các chùm tia
điện tử phản xạ và điện tử truyền qua Các điện tử phản xạ và điện tử truyền
qua này được đi qua điện thế gia tốc vào phần thu và biến đổi thành một tín
hiệu ánh sáng, tín hiệu này được khuếch đại, đưa vào mạng lưới điều khiển để
tạo ra độ sáng trên màn ảnh Mỗi điểm trên mẫu cho một điểm tương ứng trên
màn Độ sáng tối trên màn ảnh phụ thuộc vào lượng điện tử phát ra tới bộ thu
và phụ thuộc vào hình dạng bề mặt mẫu nghiên cứu (hình 2.3)
I0 Mẫu nghiên cứu I1
I2 TEM
SEM
Hình 2.3: Nguyên tắc chung của phương pháp hiển vi điện tử
Phương pháp SEM, TEM cho ta biết kích thước hạt, đặc trưng bề mặt
và cấu trúc vật liệu
2.1.3.2 Thực nghiệm
Ảnh TEM được chụp trên kính hiển vi điện tử truyền qua JEM 1010,
điện thế gia tốc 100 kV và 80 kV, độ phân giải 0,2 nm, mẫu được đưa lên lưới
đồng 200 mắt đã phủ màng cacbon tại Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương và
Trang 36
Nguyễn Thị Thuý Nga
ảnh SEM được chụp tại Khoa Vật lý – Trường Đại học khoa học Tự Nhiờn -
Đại học Quốc Gia Hà Nội Mẫu được rửa sạch, phõn tỏn mẫu và sấy khụ
trước khi chụp
2.1.4 Phương phỏp phõn tớch nhiệt DTA-TGA (DTA-Differential Thermal
Analysis-phõn tớch nhiệt vi sai; TGA-Thermogravimetry Analysis-phõn tớch
nhiệt khối lượng)
Nguyờn tắc của phương phỏp dựa trờn sự thay đổi tớnh chất của vật liệu
như: khối lượng, entanpi, kớch thước, tớnh chất từ, theo sự thay đổi nhiệt độ
của mẫu nghiờn cứu đó được chương trỡnh hoỏ
Phõn tớch nhiệt lượng quột DSC là kỹ thuật phõn tớch nhiệt dựng để đo
nhiệt độ và dũng nhiệt truyền trong vật liệu theo hàm của thời gian và nhiệt
độ Phộp đo này cung cấp thụng tin định tớnh và định lượng về cỏc quỏ trỡnh
hoỏ lý xảy ra thụng qua cỏc quỏ trỡnh toả nhiệt, thu nhiệt hoặc biến đổi nhiệt
dung TGA đo sự biến đổi khối lượng mẫu khi tăng nhiệt độ Độ ẩm và cỏc
thành phần cú thể bay hơi được xỏc định bằng kỹ thuật này
Hỡnh 2.4: Sơ đồ nguyờn lý của phương phỏp phõn tớch nhiệt vi sai
S- mẫu đo; R – mẫu so sỏnh
Hỡnh 2.5 là thiết bị phõn tớch nhiệt TA SDT 2960-USA
Cặp nhiệt điện Pt
Hai dây đốt
Trang 37
Thiết bị phân tích nhiệt TA SDT 2960 kết hợp đo đồng thời cả DSC và
TGA đến 15000C Đặc điểm nổi bật của thiết bị này là có thể phân tích định
lượng DSC cho dòng nhiệt được xác định rất chính xác nhờ kỹ thuật chuẩn
hoá động Số liệu DSC được chuẩn hoá liên tục bằng cách chia tín hiệu dòng
nhiệt cho khối lượng mẫu.Sự chuẩn hoá này cho phép định lượng được nhiệt
độ nóng chảy, nhiệt phản ứng Phần TGA có độ nhạy đến 0,1g và ổn định
trên toàn thang nhiệt độ đo
Hình 2.5: Thiết bị phân tích nhiệt TA SDT 2960-USA
2.1.5 Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC)
2.1.5.1 Cơ sở lý thuyết
Quá trình tách trong kỹ thuật tách HPLC là tổ hợp của nhiều quá trình
hoá lý Nó là sự vận chuyển và phân bố lại liên tục của các chất tan (hỗn hợp
mẫu phân tích) theo từng lớp qua chất nhồi cột (pha tĩnh) từ đầu cột tách đến
cuối cột tách Vì cấu trúc và tính chất của mỗi phân tử của chất tan là khác
nhau nên tốc độ dịch chuyển trung bình của mỗi chất tan là khác nhau trong
quá trình di chuyển đó Khi ở trong pha động, nó chuyển dịch theo tốc độ của
pha động, còn khi ở trên pha tĩnh nó lại không chuyển dịch, mà bị pha tĩnh
Trang 38
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
giữ lại Như vậy là có một thời gian nhất định, chất tan bị giữ lại trong cột sắc
ký Thời gian chất tan bị pha tĩnh lưu giữ là được quyết định bởi bản chất
sắc ký của pha tĩnh, cũng như cấu trúc và tính chất của mỗi chất tan khác
nhau Đồng thời cũng phụ thuộc vào bản chất và thành phần của pha động
dùng để rửa giải chất tan ra khỏi cột sắc ký (pha tĩnh) Vì thế trong quá
trình sắc ký có chất tan bị lưu giữ lâu trên cột, có chất tan ít bị lưu giữ Điều
đó dẫn đến kết quả là có quá trình tách của các chất xảy ra trong cột sắc ký,
khi chất tan đi từ đầu cột đến cuối cột sắc ký Nếu ghi lại quá trình tách sắc ký
đó của hỗn hợp chất mẫu phân tích, chúng ta sẽ có một sắc đồ gồm nhiều pic
Các pic có thể tách nhau hoàn toàn, hoặc cũng có thể chập vào nhau một phần
hay hoàn toàn Trong quá trình sắc ký, chất nào bị lưu giữ mạnh nhất sẽ được
rửa giải ra sau cùng, chất nào bị lưu giữ kém nhất sẽ bị rửa giải ra trước tiên
Từ đó người ta đo thời gian rửa giải của từng chất và so sánh với chất chuẩn
để phân tích mẫu
Nguyên tắc và cấu tạo của hệ thống máy HPLC
Bơm Van Cột Detector
Hình 2.6: Sơ đồ khối HPLC hoàn chỉnh
Hệ thống máy HPLC bao gồm các bộ phận chính sau đây:
Trang 39
- Bơm cao áp: Để bơm pha động vào cột tách, thực hiện quá trình sắc ký,
giửa rải chất tan ra khỏi cột sắc ký
- Van bơm mẫu: Để bơm mẫu phân tích vào cột tách theo những lượng
mẫu nhất định không đổi trong một quá trình sắc ký
- Cột tách: Là cột chứa pha tĩnh, trái tim của quá trình tách sắc ký, nó là
một yếu tố quyết định hiệu quả sự tách sắc ký của một hỗn hợp chất
mẫu
- Trang bị phát hiện chất phân tích: Đây thường là các Detector dựa
theo các tính chất của chất phân tích Tuỳ theo chất phân tích mà chọn
loại Detector phù hợp để đạt độ nhạy cao khi phát hiện các chất đo định
lượng chúng
- Trang bị chỉ thị kết quả: ở đây có nhiều loại, nhưng đơn giản và phổ
biến nhất là các máy tự ghi (recorder) để ghi tín hiệu đo dưới dạng các
pic của các chất, rồi đến bộ tích phân kế (Intergrator), sau đó máy tính và
máy in kèm theo để xử lý kết quả và in kết quả
Ngoài 5 bộ phận chính tối thiểu cần phải có trên, ngày nay các máy
HPLC hiện đại cón có thêm bộ chương trình gradient dung môi (pha động),
bộ bơm mẫu tự động và pha loãng mẫu, bộ gia nhiệt và ổn nhiệt độ cho cột
tách sắc ký, máy tính và các phần mềm điều khiển toàn bộ hệ thống HPLC và
xử lý kết quả tách, in kết quả tách, hay bộ phân tích kế (intergrator)
2.1.5.2 Thực nghiệm
Mẫu nghiên cứu được pha thành dung dịch với nồng độ cần thiết để
tiêm vào cột sắc ký
Trang 40
NguyÔn ThÞ Thuý Nga
cột Lichrosorb RP 18
Kết quả HPLC được sử dụng trong luận văn đo trên máy Agilent 1100,
detector Photo Diod Array (DAD), cột Lichrosorb RP 18, bộ môn Hoá phân
tích, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và máy Waters 1525 Binary HPLC
pump, Viện Kiểm Nghiệm, Bộ Y tế
2.1.6 Phổ tử ngoại và khả kiến (UV-Vis)
2.1.6.1 Cơ sở lý thuyết
Khi phân tử nhận năng lượng các phân tử sẽ chuyển từ trạng thái cơ
bản sang trạng thái kích thích, do đó các điện tử từ mức năng lượng thấp
chuyển lên mức năng lượng cao, trường hợp này ta gọi trong phân tử đã xảy
ra bước chuyển năng lượng điện tử
Theo quy tắc chọn lọc trong phổ điện tử khi phân tử nhận năng lượng
có thể xảy ra các bước chuyển năng lượng (hình 2.8) theo các mũi tên thẳng
đứng
*