1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở việt nam – thực trạng và một số kiến nghị

83 297 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian thì việc tách bạch các công việc GVGĐ đôi khi không đơn giản, việc phân định rõ như vậy thường chỉ áp dụng trong trường hợp người SDLĐ thuê

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

NGUYỄN THANH MAI

Hà Nội, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

NGUYỄN THANH MAI

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HIỀN PHƯƠNG

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hiền Phương Khoa pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội

Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Người thực hiện

Nguyễn Thanh Mai

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Viện Đại học Mở hà Nội – Khoa sau đại học, Khoa Luật kinh tế đã giúp đỡ em, cung cấp các kiến thức cần thiết, hướng dẫn em học tập, nghiên cứu trong suốt quá trình tham gia chương trình học tập tại nhà trường và thực hiện luận văn thạc sỹ này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến Cô giáo, PGS.TS Nguyễn Hiền Phương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn thạc sỹ này

Ngày……tháng …… năm 2017

Học viên

Nguyễn Thanh Mai

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình 7

1.1.1 Khái niệm lao động giúp việc gia đình 7

1.1.2 Phân loại lao động giúp việc gia đình 12

1.2 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình 14

1.3 Nội dung pháp luật về lao động giúp việc gia đình 16

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 25

2.1 Các quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình 25

2.1.1 Việc làm và học nghề đối với lao động giúp việc gia đình 25

2.1.2 Quy định về hợp đồng lao động giúp việc gia đình 27

2.1.3 Các điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình 32

2.1.4 Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp lao động giúp việc gia đình 42

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam 43

2.2.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về việc làm, học nghề đối với lao động giúp việc gia đình 45

2.2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động giúp việc gia đình 49 2.2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình 52

2.2.4 Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp lao động giúp việc gia đình 57

Trang 6

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59 CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 60 3.1 Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật lao động giúp

việc gia đình 60 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình 62 3.3 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động

giúp việc gia đình 68 KẾT LUẬN 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, lao động giúp việc gia đình tại nhiều quốc gia trên thế giới đã được coi là một nghề chính thức Theo thống kê năm 2010 của Tổ chức Lao động quốc tế, có ít nhất 52 triệu người trên thế giới, trong đó 83% là phụ nữ đang làm giúp việc gia đình Họ chiếm tới 7,5% lao động nữ được trả lương trên toàn thế giới

và chiếm một bộ phận còn lớn hơn nhiều ở một số khu vực, đặc biệt là châu Á - Thái Bình Dương, châu Mỹ La tinh và vùng Caribe Mặc dù đây là một nhóm lao động chiếm số lượng lớn nhưng rất nhiều lao động giúp việc gia đình phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo và không được pháp luật bảo vệ đầy đủ[18] Công ước số 189 về “Việc làm bền vững cho lao động giúp việc gia đình” đã được Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua ngày 16/6/2011 tại Hội nghị thường niên lần thứ

100 đã đánh dấu sự kiện lịch sử đối với lao động giúp việc gia đình trên thế giới Đây là khung pháp lý quốc tế đầu tiên về tiêu chuẩn lao động nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích tại nơi làm việc cũng như cải thiện các điều kiện làm việc cho lao động giúp việc gia đình

Ở Việt Nam, Nghị định 27/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình được ban hành ngày 7/4/2014 đã “gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng nghề giúp việc gia đình, khi đảm bảo các yêu cầu quy định, là một nghề chuyên nghiệp, mang lại những lợi ích đáng kể về kinh tế và xã hội cho các gia đình thuê người giúp việc, cho bản thân người giúp việc và cả xã hội Việt Nam” Điều đó thể hiện sự ghi nhận của Chính phủ rằng nghề giúp việc gia đình mang ý nghĩa quan trọng để các thị trường lao động có thể vận hành hiệu quả bằng cách tạo điều kiện để phụ nữ làm việc và duy trì năng suất lao động ngoài gia đình [351] Cùng với sự phát triển khá nhanh về kinh tế, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao trong những năm gần đây, lực lượng lao động giúp việc gia đình ở nước ta đang có xu hướng tăng, dự báo đến

Trang 9

năm 2020 cả nước có 350.000 lao động giúp việc gia đình [32] Thực tế người làm công việc giúp việc gia đình ở nước ta không chỉ có phụ nữ mà còn có trẻ em, đa số xuất thân từ nông thôn và có trình độ học vấn thấp Ở nước ta, giúp việc gia đình đã được công nhận là một nghề, sự phát triển của lực lượng này có ảnh hưởng đến cơ cấu lao động, đặc biệt là ở thành thị nhưng trên thực tế họ phải chịu nhiều thiệt thòi, chưa được bảo đảm các quyền của mình, chưa được đảm bảo các điều kiện phát triển nghề nghiệp và bản thân theo quy định của pháp luật lao động Nhiều lao động giúp việc gia đình làm việc theo hợp đồng lao động nhưng không đầy đủ nội dung quy định, tiền lương bị cắt xén và việc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn rất hạn chế Trong những năm gần đây, các vụ việc hình sự, xử phạt hành chính và tranh chấp liên quan đến giúp việc gia đình ngày càng nhiều, nảy sinh nhiều vấn đề trong xã hội liên quan đến lao động giúp việc gia đình cho thấy công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này cần được quan tâm thực hiện tốt hơn Mặc dù các quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình đã có những tiến bộ, tạo điều kiện để lực lượng lao động này phát triển, đóng góp ngày càng nhiều hơn cho xã hội song vẫn còn những hạn chế, chưa phù hợp với thực tế

Do đó, tác giả chọn đề tài “Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam –

thực trạng và một số kiến nghị” cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo khảo cứu của tác giả, lao động giúp việc gia đình đã được quan tâm nghiên cứu ở nhiều công trình khoa học, trong đó:

Các ấn phẩm, báo cáo:

- Khoa tâm lý học – Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học

Quốc gia Hà Nội (2000), “Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình ở Hà Nội”, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại Việt Nam (2015), “Xu hướng gia

tăng lao động Việt Nam đi làm giúp việc gia đình ở nước ngoài”, Hà Nội

- Gyorgy Sziraczki – Giám đốc Văn phòng Tổ chức Lao động Quốc tế tại

Trang 10

Việt Nam, “Bàn về vấn đề quyền lợi tối thiểu đối với lao động giúp việc gia đình

Việt Nam”

- Yoshiteru Uramoto – Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế tại Châu Á –

Thái Bình Dương, “Giúp việc gia đình, việc làm như những công việc khác”

- Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Phát triển cộng đồng (2015), “Báo

cáo tóm tắt Tổng quan tình hình lao động giúp việc gia đình tại Việt Nam từ năm

2007 đến nay”

Các bài viết đăng trên các tạp chí:

- Chu Mạnh Hùng, “Vấn đề trẻ em gái giúp việc gia đình tại các thành phố

lớn”, Tạp chí luật học Trường Đại học Luật Hà Nội số 5, năm 2005;

- Phạm Thị Huệ và Lê Việt Nga, “Trẻ em làm thuê giúp việc gia đình và thái

độ cộng đồng”, Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới thuộc Viện Gia đình và giới, số

6, năm 2008;

- Trần Thị Hồng, “Một số vấn đề xã hội của lao động giúp việc gia đình ở đô

thị hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu gia đình và giới thuộc Viện Gia đình và giới số 2

năm 2011

- Nguyễn Thị Vân Anh, “Lao động giúp việc gia đình và những vấn đề đặt ra”,

Tạp chí Lao động và xã hội số 476, năm 2014

- Lã Trọng Đại, “Những vấn đề nảy sinh trong quan hệ lao động giúp việc gia

đình và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Lao động và xã hội số 487, năm 2014

- Đào Mộng Điệp, “Pháp luật về lao động là người giúp việc gia đình và kiến

nghị hoàn thiện”, Tạp chí Luật học số 12 năm 2014

Các luận án, luận văn, khóa luận:

- Nguyễn Thị Lam (2013), Thực trạng lao động là người giúp việc gia đình ở

Việt Nam và một số kiến nghị”, Luận văn thạc sĩ luật học

- Nguyễn Hữu Long (2014), “Lao động là người giúp việc gia đình theo Bộ

Trang 11

luật Lao động 2012”, Luận văn thạc sĩ luật học

- Phạm Trung Giang (2015), “Lao động giúp việc gia đình theo pháp luật Việt

Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học

- Sầm Thu Lan (2012), “Địa vị pháp lý của người lao động giúp việc gia

đình theo pháp luật lao động Việt Nam và giải pháp hoàn thiện”, Khóa luận

tốt nghiệp

- Lê Thị Thu Trang (2016), “Pháp luật về bảo vệ người lao động giúp việc gia

đình - Thực trạng và một số kiến nghị”, Khóa luận tốt nghiệp

Các công trình khoa học nói trên đã tiếp cận nghiên cứu về lao động giúp việc gia đình từ nhiều góc độ khác nhau song những vấn đề pháp lý đặt ra đối với lao động giúp việc gia đình và người sử dụng lao động giúp việc gia đình và thực tiễn thực hiện vẫn còn rất ít, có một vài công trình nghiên cứu dừng lại ở hình thức là

các khóa luận tốt nghiệp

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề pháp lý về lao động giúp việc gia đình, tìm hiểu pháp luật hiện hành về lao động giúp việc gia đình và thực tế tình hình lao động giúp việc gia đình ở nước ta Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động giúp việc gia đình và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Các nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình, sự điều chỉnh của pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình Cụ thể là làm rõ về khái niệm lao động giúp việc gia đình, sự cần thiết và nội dung pháp luật về lao động giúp việc gia đình

Trang 12

- Phân tích, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về lao động giúp việc gia đình theo Bộ luật lao động năm 2012

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng tình hình lao động giúp việc gia đinh ở nước

ta hiện nay

- Đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về lao động giúp việc gia đình và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về lao động giúp việc gia đình trên thực tế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình, các quy định của pháp luật Việt Nam theo Bộ luật lao động năm 2012 về lao động giúp việc gia đình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành (Bộ luật lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn) về lao động giúp việc gia đình Trong giới hạn cho phép, để phục vụ mục đích nghiên cứu, luận văn có thể có sự tiếp cận văn bản pháp luật trong lĩnh vực khác, ở phạm vi quốc tế

và mức độ nhất định

Việc thống kê, theo dõi về lao động giúp việc gia đình ở nước ta còn chưa đầy

đủ, lực lượng lao động giúp việc gia đình lại chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn

Do đó các nội dung nghiên cứu, đánh giá gắn với thực tiễn thực hiện chủ yếu là các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh từ khi Bộ luật lao động được ban hành năm 2012 cho đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin,

sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng,

Trang 13

Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan hệ lao động Trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng hoặc kết hợp nhằm làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu, làm rõ mục đích và nhiệm

vụ nghiên cứu của luận văn

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Nghiên cứu đề tài “Pháp luật về lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam –

Thực trạng và một số kiến nghị” có ý nghĩa về cả khoa học và thực tiễn Về mặt

khoa học, luận văn góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình Về mặt thực tiễn, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu

về thực trạng pháp luật về lao động giúp việc gia đình sẽ giúp các cơ quan lập pháp có thêm nguồn tư liệu để hoàn thiện pháp luật Đồng thời cũng là tư liệu phục vụ cho công tác các cán bộ quản lý lao động và các vấn đề xã hội liên quan đến lao động giúp việc gia đình

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có

Trang 14

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG

GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

1.1 Một số vấn đề lý luận về lao động giúp việc gia đình

1.1.1 Khái niệm lao động giúp việc gia đình

Lao động GVGĐ là loại hình lao động xuất hiện trên thế giới từ thời kỳ chiếm

hữu nô lệ, khi mà ngoài những người nô lệ làm việc trong các đồn điền, công xưởng thì những nô lệ nữ, nô lệ có sức khỏe không phù hợp làm những công việc nặng nhọc sẽ được giao làm các công việc nhẹ nhàng hơn ở trong nhà của người chủ nô Ngày nay, ở các nước phát triển nền kinh tế thị trường đều tồn tại loại hình lao động GVGĐ và đã trở thành một nghề được xã hội thừa nhận Trong mối quan hệ đó, người GVGĐ và người SDLĐ có địa vị pháp lý bình đẳng, quan hệ được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, tôn trọng danh dự và nhân phẩm của nhau Tuy nhiên cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về lao động GVGĐ

Tại Công ước số 189 được ILO đã thông qua ngày 16/6/2011 tại Geneva -

Thụy Sĩ về “Việc làm bền vững cho lao động GVGĐ” đã nêu “lao động GVGĐ là

bất cứ người nào được thuê để làm công việc GVGĐ trong mối quan hệ thuê mướn” Theo đó, lao động GVGĐ trước hết phải là người thực hiện công việc gia

đình, cũng theo Công ước này, “công việc GVGĐ nghĩa là công việc được thực hiện

trong hoặc cho một hộ gia đình hoặc các hộ gia đình ”, đó có thể là: chăm sóc trẻ em; chăm sóc người bị ốm đau, bị khuyết tật thể xác hoặc tinh thần hoặc suy yếu do tuổi già; quét dọn, lau chùi, giặt giũ;… Đây đều là những công việc gắn liền với cuộc sống sinh hoạt của bất cứ hộ gia đình nào Do đó đặc trưng quan trọng của lao động GVGĐ đó là phải thực hiện công việc một cách thường xuyên và mang tính

nghề nghiệp, được nêu tại Điều 1 Công ước số 189 của ILO là “một người thực hiện

Trang 15

công việc gia đình một cách thất thường hoặc không thường xuyên và không mang tính nghề nghiệp không phải là một người lao động gia đình”

Các quốc gia trên thế giới cũng có các định nghĩa khác nhau, thể hiện cách tiếp cận chính sách và luật pháp khác nhau đối với lao động GVGĐ, chủ yếu ở phạm vi công việc của lao động GVGĐ và tính chất hỗ trợ thương mại trong việc sử dụng lao động GVGĐ Một số quốc gia như Uruguay, Thụy Sĩ đưa những tiêu chuẩn lao động GVGĐ tập trung vào nhiệm vụ dẫn đến “lợi ích trực tiếp” của người

sử dụng lao động, bao gồm cả lợi ích thương mại Một số quốc gia như Argentina, Malaysia, Brazil, Việt Nam loại trừ sử dụng lao động GVGĐ trong công việc tìm kiếm lợi nhuận của người SDLĐ mà tập trung vào công việc của lao động GVGĐ là công việc trợ giúp người sử dụng lao động và các công việc gia đình nằm trong Tiêu chuẩn quốc tế về phân loại nghề (ISCO) [12] Hầu hết pháp luật các nước chưa quy định cụ thể về bản chất công việc của lao động GVGĐ, chưa coi công việc gia đình như một nhóm nghề riêng biệt, có tiêu chuẩn của nghề nghiệp mà chỉ đưa ra danh mục công việc Ví dụ như ở Costa Rica, tại Điều 139 của Nghị định No 19010-G of 1999 liệt kê công việc của lao động GVGĐ là dọn dẹp, nấu ăn, là quần

áo, giặt giũ và trợ giúp; Bồ Đào Nha, tại Điều 2 (2) của Nghị định pháp lý No.235/92 liệt kê công việc của lao động GVGĐ là giặt giũ và dọn dẹp, chăm sóc người già và người ốm, chăm sóc động vật trong nhà, chăm sóc vườn cây [12] Điều này phản ánh thực tế ở các quốc gia trên thế giới, không chỉ chưa đồng nhất trong quan điểm về bản chất công việc của lao động GVGĐ mà còn chưa chặt chẽ trong việc quy định về nhóm nghề và nhiệm vụ của lao động GVGĐ

Ở Việt Nam, loại hình lao động GVGĐ cũng có từ rất lâu với những tên gọi khác nhau như con sen, con ở, gia nô trong thời kỳ phong kiến, phong kiến nửa thực dân, khi những người nghèo bán mình cho những người giàu, quan lại khá giả và làm không công, chỉ để được nuôi ăn, nuôi ở Khi nước ta mở cửa hội nhập nền kinh tế thế giới, thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, loại hình lao động GVGĐ có cơ hội phát triển, phổ biến hơn, tuy nhiên những người lao động GVGĐ vẫn ở thế yếu trong xã hội Tại BLLĐ năm 1994, vẫn chưa có quy định cụ

Trang 16

thể về lao động GVGĐ, lao động GVGĐ nằm trong “một số loại lao động khác” tại Điều 139 của Bộ luật này Cho đến khi BLLĐ năm 2012 ra đời, lao động GVGĐ

được định nghĩa tại khoản 1 Điều 179: “Lao động là người giúp việc gia đình là

người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều

hộ gia đình” Như vậy, trước hết đó là người lao động mà theo Điều 3 BLLĐ năm

2012 “là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người SDLĐ”, đồng thời

đó là nhưng người làm công việc trong gia đình một cách thường xuyên Có thể thấy pháp luật lao động Việt Nam đưa ra quy định về lao động GVGĐ tương đối phù hợp với quan điểm của ILO về lao động GVGĐ

* Đặc điểm của lao động giúp việc gia đình

Thứ nhất, lao động GVGĐ là người làm công việc gia đình một cách thường

xuyên trong hộ gia đình

Công việc mà lao động GVGĐ làm có phạm vi thực hiện trong hộ gia đình Công việc gia đình được hiểu là các công việc chăm sóc gia đình Pháp luật mỗi quốc gia có thể quy định khác nhau về công việc mà lao động GVGĐ làm trong hộ gia đình Theo Đạo luật về việc làm số 265 năm 1955 của Malaysia thì “Họ có thể là người nấu cơm, lau dọn nhà cửa, quản gia, chăm sóc trẻ, làm vườn, giặt giũ, bảo vệ, lái xe hoặc là rửa xe của gia đình đó”[11, tr7] Trong Quy chế tiền lương của bang California, Mỹ thì đưa ra những ví dụ về “những nghề trong hộ gia đình” như: nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa, bảo mẫu, chăm sóc bệnh nhân, v.v Đạo luật về việc làm số 265 năm 1955 của Malaysia đưa ra định nghĩa về lao động GVGĐ (theo cách gọi của nước này là

“domestic servant”), theo đó “Họ có thể là người nấu cơm, lau dọn nhà cửa, quản gia, chăm sóc trẻ, làm vườn, giặt giũ, bảo vệ, lái xe hoặc là rửa xe của gia đình đó” [10,tr.7] Công việc mà lao động GVGĐ có tính chất thường xuyên, tức là được lặp đi lặp lại theo một khoảng thời gian nhất định, có thể là hằng giờ, hằng ngày, hằng tuần hoặc hằng tháng tùy theo thỏa thuận giữa người lao động và chủ hộ gia đình khi ký kết hợp đồng lao động Lao động GVGĐ có thể là lao động làm việc toàn

Trang 17

thời gian hoặc bán thời gian Những người GVGĐ làm việc toàn thời gian sẽ sống cùng với hộ gia đình thuê giúp việc, do đó họ phải làm các công việc gia đình hằng giờ, hằng ngày Những lao động GVGĐ bán thời gian thì tùy thuộc vào nhu cầu thuê giúp việc của từng hộ gia đình mà họ có thể làm việc tính theo số tiếng trong ngày hoặc số tiếng, số ngày trong tuần, tính chất thường xuyên làm các công việc gia đình của họ khác so với những lao động GVGĐ toàn thời gian

Hai là, hoạt động của lao động GVGĐ không liên quan đến hoạt động

Ba là, lao động GVGĐ làm việc cho người SDLĐ là hộ gia đình hoặc nhiều hộ gia đình

Người SDLĐ trong các quan hệ lao động thông thường có thể là cá nhân, cơ

Trang 18

qua nhà nước, doanh nghiệp… còn trong quan hệ lao động GVGĐ thì người SDLĐ lại là hộ gia đình Đó có thể là một hộ gia đình hoặc nhiều hộ gia đình Xuất phát từ đặc điểm lao động GVGĐ có thể làm việc toàn thời gian hoặc làm việc bán thời gian, theo giờ trong một gia đình nên người lao động GVGĐ có thể làm việc trong một hoặc nhiều hộ gia đình nếu như họ có thể sắp xếp, đảm bảo được công việc theo thỏa thuận với người SDLĐ Đây cũng là quyền tự do lao động của lao động GVGĐ, họ có thể lựa chọn thỏa thuận với nhiều hộ gia đình để đáp ứng nhu cầu của người SDLĐ đồng thời có nhiều cơ hội tăng thu nhập Có những người SDLĐ không có nhu cầu thuê lao động GVGĐ toàn thời gian vì khối lượng công việc không nhiều, có thể sắp xếp thu gọn để giảm mức tiền lương phải trả cho NLĐ Thậm chí, có những người SDLĐ lại không cảm thấy thoải mái, tự nhiên trong ngôi nhà của mình khi có sự xuất hiện của lao động GVGĐ một cách thường xuyên vì dù sao họ vẫn là người lao động làm thuê Do đó, những người này thường ưu tiên lựa chọn lao động GVGĐ bán thời gian

Bốn là, lao động GVGĐ chủ yếu là nữ, có trình độ học vấn thấp, xuất thân từ

nông thôn

Công việc của lao động GVGĐ là những việc phục vụ sinh hoạt hàng ngày trong gia đình, vì thế nó thường không phải là các công việc nặng nhọc, thậm chí còn đòi hỏi sự khéo léo, tỷ mẩn, phù hợp với lao động nữ Điều này phù hợp với lý thuyết về phân công lao động xã hội và quan niệm của nhiều người trong xã hội rằng công việc trong gia đình là công việc của phụ nữ Thực tế theo thống kê của ILO, trong khoảng 53 triệu người làm nghề GVGĐ thì phụ nữ chiếm đến 83% [33] Công việc phục vụ sinh hoạt trong gia đình có tính chất không quá phức tạp do

đó thông thường không đòi hỏi người lao động GVGĐ phải có trình độ chuyên môn

kỹ thuật Đa số vẫn coi lao động GVGĐ là công việc thấp hèn, thường chỉ có những người sống ở nông thôn và có trình độ học vấn thấp mới chấp nhận làm Cũng vì quan niệm này mà nhiều người sống tại các thành thị dù khó khăn về kinh tế cũng không chấp nhận làm công việc GVGĐ Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên

Trang 19

cứu xã hội, trường Đại học Chulalongkom năm 2008 cho thấy chủ yếu người lao động GVGĐ là phụ nữ và chủ yếu có trình độ học vấn bậc tiểu học Hiện nay, với sự thay đổi trong quan niệm về nghề GVGĐ và cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, nhiều người SDLĐ có yêu cầu cao về học vấn, trình độ chuyên môn của lao động GVGĐ, họ chấp nhận trả lương cao để có được người GVGĐ ưng ý, có trình độ học vấn cao Chính vì vậy trong xã hội xuất hiện một số người lao động GVGĐ có trình độ cao Tuy nhiên số lượng người lao động GVGĐ có trình độ học vấn cao vẫn rất ít, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong lực lượng lao động GVGĐ

1.1.2 Phân loại lao động giúp việc gia đình

Lao động GVGĐ có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như thời gian làm việc, nhóm công việc, cách thức tính tiền thù lao, Lao động GVGĐ thường được phân loại theo thời gian làm việc và nhóm công việc gia đình mà họ đảm nhiệm

* Theo thời gian làm việc

Lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian: Đây là những người lao động

GVGĐ sống tại gia đình người SDLĐ, họ cùng sinh hoạt và làm các công việc theo yêu cầu của người SDLĐ Đối với các loại hình lao động khác làm việc trọn thời gian sẽ là thời gian làm việc theo ngày theo quy định, ví dụ như ở Việt Nam là 8 tiếng/ngày nhưng đối với người lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian thì người lao động có mặt tại gia đình người SDLĐ, ăn, ngủ tại đó và thực hiện công việc của mình theo thỏa thuận với người SDLĐ Chính vì thế, đối với lao động GVGĐ toàn thời gian thì thời gian biểu thực hiện công việc của họ thường linh hoạt hơn Việc phân biệt thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thường không rõ ràng Trong thời gian làm việc, họ có thể vừa làm vừa được nghỉ ngơi nhưng cũng có khi phải làm việc một cách bất chợt theo yêu cầu của chủ nhà Cũng chính vì sống tại gia đình người SDLĐ nên giữa người SDLĐ và lao động GVGĐ thường có mối quan hệ gắn

bó, dễ cảm thông cho nhau hơn Đây vừa là yếu tố tích cực, giúp lao động GVGĐ

Trang 20

tránh được những tâm lý khi phải xa gia đình nhưng cũng là yếu tố khó khăn, tạo nên sự thiếu rõ ràng, rành mạch trong công việc, việc xác định thời giờ làm việc,

- Lao động GVGĐ làm việc bán thời gian (theo giờ, theo buổi): Căn cứ thỏa

thuận với người SDLĐ, lao động GVGĐ có thể làm việc một vài giờ trong một ngày, vài buổi trong một tuần hay thậm chí chỉ một buổi trong một tuần Công việc này được lặp lại thường xuyên, liên tục trong một khoảng thời gian nhất định Lao động GVGĐ bán thời gian thường là những người nhanh nhẹn, làm việc cho nhiều

hộ gia đình do đó họ phải có khả năng sắp xếp công việc, đảm bảo hoàn thành công việc theo đúng thời gian thỏa thuận với từng hộ gia đình Lao động GVGĐ bán thời gian phải tự lo nơi ăn, chốn ngủ cho mình nên thường là những người có nhà ở, gia đình gần nơi làm việc hoặc ở trọ, là những người ưa tự do, tự chủ trong công việc

và sinh hoạt Ưu điểm của lao động GVGĐ bán thời gian là ít xảy ra những xung đột hay mâu thuẫn giữa hộ gia đình SDLĐ và người giúp việc, bởi lẽ thời gian làm việc, thời gian tiếp xúc với các thành viên trong hộ gia đình ít hơn so với lao động GVGĐ toàn thời gian Hạn chế của lao động GVGĐ bán thời gian là đòi hỏi cả hai bên tham gia quan hệ lao động phải luôn có kế hoạch, công việc cụ thể rõ ràng cho thời gian làm việc của người lao động, hạn chế sự tùy tiện

* Theo nhóm công việc gia đình

Tùy thuộc vào phạm vi công việc GVGĐ theo pháp luật mỗi nước mà có thể phân nhóm công việc gia đình khác nhau Có quốc gia coi bảo vệ là công việc GVGĐ nhưng có quốc gia lại coi đây là một loại công việc, nghề nghiệp riêng, có quốc gia lại coi công việc quản gia đồng nghĩa với công việc nội trợ… Phân loại về Việc làm theo tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO năm 1988 (ISCO-88) đưa ra một danh sách công việc cụ thể mà người lao động giúp việc gia đình đảm nhiệm thuộc các nhóm công việc 5121 (quản gia), 5122 (nấu ăn), 5131 (chăm sóc trẻ em), 5133 (chăm sóc thành viên tại nhà), 5169 (bảo vệ), 9152 (trông coi nhà cửa), 6113 (làm vườn) Trong mỗi nhóm này sẽ bao gồm một số công việc Tuy nhiên, trong cách phân loại này các công việc không dễ tách rời nhau, một số công việc còn gần như

Trang 21

cùng tồn tại một lúc, hơn nữa, chưa có nhiều quốc gia trên thế giới đưa ra một tiêu chuẩn cụ thể nào cho các nội dung công việc này [12, tr.6,7] Thông thường, công việc gia đình được chia thành 03 nhóm là trông coi trẻ em, chăm sóc người già, người đau yếu, công việc nội trợ

Đối với lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian thì việc tách bạch các công việc GVGĐ đôi khi không đơn giản, việc phân định rõ như vậy thường chỉ áp dụng trong trường hợp người SDLĐ thuê nhiều lao động GVGĐ để đảm nhiệm các công việc khác nhau trong gia đình hoặc các bên có thỏa thuận cụ thể về phạm vi công việc của lao động GVGĐ

1.2 Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với lao động giúp việc gia đình

Pháp luật lao động GVGĐ là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa người lao động là người GVGĐ và người SDLĐ về hợp đồng lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các điều kiện làm việc, trách nhiệm vật chất và giải quyết tranh chấp lao động Mối quan hệ giữa người lao động GVGĐ và người SDLĐ là quan hệ giữa người làm thuê và người chủ, đó cũng là quan hệ lao động nhưng có những đặc điểm riêng mà pháp luật cần có những quy định riêng để điều chỉnh Sự cần thiết điều chỉnh pháp luật đối với lao động GVGĐ vì những lý do sau đây:

Một là, lao động GVGĐ là một bộ phận của lực lượng lao động và có tiềm năng phát triển, đóng góp vào sự phát triển của xã hội

Lao động GVGĐ đã trở thành một phần quan trọng của lực lượng lao động toàn cầu Theo Thống kê của ILO, tính đến năm 2010 thế giới đã có 52,6 triệu lao động GVGĐ trên toàn thế giới, tăng 19 triệu lao động từ giữa thập kỷ 90 đến năm

2010 Lực lượng lao động GVGĐ đã chiếm một tỷ trọng đáng kể trong lực lượng lao động, đặc biệt là ở các nước phát triển và có xu hướng gia tăng thậm chí cả ở những nước công nghiệp hiện đại [23] Ở nước ta, theo dự báo của Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng, năm 2020 thị trường lao động GVGĐ nội địa có thể lên tới 350.000 người [31]

Trang 22

Sự phát triển của lực lượng lao động GVGĐ cũng giải phóng cho nhiều người lao động khác Khi người SDLĐ thuê mướn lao động GVGĐ, nhờ có người GVGĐ đảm nhận các công việc gia đình, họ có nhiều sức khỏe và thời gian hơn để tham gia các hoạt động tạo ra thu nhập, cùng với đó cũng tạo ra lợi ích cho sự phát triển cá nhân của họ và xã hội Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của lao động GVGĐ, nhà nước cần có chính sách bảo vệ, tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quan hệ lao động, tận dụng mọi tiềm năng lao động và hơn nữa là góp phần tăng thu nhập cho bản thân người lao động GVGĐ và gia đình họ trong điều kiện trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội còn hạn chế Việc thực thi pháp luật về lao động GVGĐ một cách nghiêm túc sẽ góp phần tạo sự phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Các quy định pháp luật về lao động GVGĐ tạo cơ sở tạo việc làm cho một bộ phận người lao động không có cơ hội, khả năng tìm được việc làm ổn định, đặc biệt là lao động ở nông thôn, trình độ thấp, vốn hiểu biết hạn chế

Hai là, xuất phát từ vị trí và tính chất công việc GVGĐ, pháp luật cần có những quy định riêng cho lao động GVGĐ khi tham gia quan hệ lao động

Lao động GVGĐ ở khu vực việc làm phi chính thức nhưng lại thuộc một trong những nhóm người lao động yếu thế nhất Trong quan hệ lao động nói chung, người lao động đã ở vị trí yếu thế so với người SDLĐ nhưng đối với lao động GVGĐ, vị thế của họ lại càng yếu thế hơn Làm việc trong phạm vi hộ gia đình, bị giới hạn về phạm vi không gian nên điều kiện làm việc, an toàn lao động, hay các tiêu chuẩn lao động khác đối với lao động GVGĐ được đảm bảo ở mức độ nào phụ thuộc nhiều vào người SDLĐ và khó có thể nắm bắt được Pháp luật về lao động GVGĐ là cơ

sở để đảm bảo việc thực hiện các cam kết giữa người SDLĐ và người lao động GVGĐ Đồng thời nó ủng cố thêm hành lang pháp lý, đảm bảo một số quyền của lao động GVGĐ, bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa người lao động GVGĐ và người SDLĐ trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã được pháp luật quy

định Pháp luật lao động GVGĐ là công cụ điều chỉnh mối quan hệ xã hội giữa hộ

gia đình SDLĐ và người lao động GVGĐ vào một khung pháp lý nhất định khiến cho lợi ích trong các mối quan hệ trở nên cân bằng, hạn chế tối đa sự bất bình đẳng

Trang 23

trong quan hệ lao động, khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của lao động GVGĐ trong xã hội

1.3 Nội dung pháp luật về lao động giúp việc gia đình

Pháp luật có các quy định về lao động GVGĐ một cách toàn diện, trên các lĩnh vực của quan hệ lao động: việc làm, tiền lương, an toàn và vệ sinh lao động, tiền lương và thu nhập, nhân thân…Các quy định lại được đưa ra trên nguyên tắc bảo đảm quyền tự do lao động của người lao động, bảo vệ người lao động nhưng cũng phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDLĐ, tôn trọng thỏa thuận hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động và phù hợp tiêu chuẩn quốc

tế về lao động

* B ảo vệ lao động GVGĐ về việc làm và học nghề

Quyền việc làm (hay quyền được làm việc) là nhóm quyền cơ bản trong pháp luật lao động và là một trong rất nhiều quyền khác của người lao động Việc làm luôn là một trong những vấn đề quan trọng của các quốc gia Căn cứ điều kiện kinh

tế - xã hội trong từng thời kỳ, nhà nước xây dựng các chương trình về việc làm nhằm giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm Đối với mỗi loại hình lao động thì lại có một chính sách điều chỉnh riêng để phù hợp với đặc điểm chung và riêng biệt Đối với lao động GVGĐ cũng vậy, trường hợp đã công nhận đây là một nghề riêng biệt, đặc biệt là trong tình hình hiện nay khi mà số lao động đảm nhận công việc này có xu hướng tăng lên, nhà nước ban hành chính sách về việc làm cho lao động GVGĐ nhằm giải quyết những khó khăn, tạo sự ổn định cho lực lượng lao động này

Ngay cả khi công việc lao động GVGĐ được công nhận là một nghề thì những

kỹ năng nghề của họ cũng bị đánh giá thấp Không ít người cho rằng khả năng làm việc nhà là thiên chức tự nhiên của phụ nữ, và những kỹ năng đó không cần phải học, cũng không mấy giá trị Điều này có nguồn gốc sâu xa từ nhận thức mang tính truyền thống

và định kiến về vai trò của phụ nữ và việc nhà Nhằm giúp lao động GVGĐ thực hiện được quyền làm việc, phát triển nghề nghiệp, pháp luật còn quy định về đào tạo nghề

Trang 24

đối với GVGĐ “Học nghề được hiểu là quá trình trong đó diễn ra các hoạt động học tập, làm quen, rèn luyện của người học (theo sự hướng dẫn của người dạy nghề) nhằm đạt được trình độ nhất định về nghề nghiệp, nắm bắt kỹ năng thực hành một nghề nhất định, nâng cao trình độ tay nghề ”[8, tr 203] Vấn đề học nghề cho lao động GVGĐ bao gồm học nghề để làm công việc GVGĐ và cả học nghề để làm công việc không phải là công việc GVGĐ Học nghề để làm công việc GVGĐ được hiểu là người lao động được đào tạo các kỹ năng để làm công việc GVGĐ, được diễn ra trước khi người lao động làm việc cho người SDLĐ Học nghề để làm công việc không phải công việc GVGĐ có thể diễn ra trong quá trình lao động GVGĐ làm việc cho người SDLĐ Đối với những lao động GVGĐ làm toàn thời gian, việc

họ tham gia học một nghề khác phải căn cứ vào thỏa thuận, được sự chấp thuận của người SDLĐ Đối với lao động GVGĐ bán thời gian, theo giờ thì họ có thể tham gia học nghề để làm công việc khác theo nguyện vọng cá nhân và khả năng thu xếp tài chính, thời gian để theo học

* Hợp đồng lao động giúp việc gia đình

Hợp đồng lao động giữa người GVGĐ và người SDLĐ là sự thỏa thuận về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động Hợp đồng lao động chính là căn cứ để các bên xác lập mối quan

hệ lao động cũng như giải quyết các quyền và nghĩa vụ khi tranh chấp phát sinh Pháp luật có quy định về hình thức và nội dung của hợp đồng lao động GVGĐ Ở các quốc gia khác nhau, hợp đồng lao động GVGĐ có thể bằng văn bản hoặc bằng lời nói Theo Công ước số 189 của ILO, mỗi thành viên sẽ có các biện pháp để đảm bảo rằng lao động GVGĐ được thông báo về điều khoản và điều kiện làm việc của mình một cách thích hợp, có thể kiểm chứng, dễ hiểu nhất và tốt nhất, nếu có thể, thông qua hợp đồng bằng văn bản theo quy định của luật pháp quốc gia, quy định hoặc thoả ước tập thể Thực tế hợp đồng lao động GVGĐ bằng lời nói thường dùng trong trường hợp các công việc mang tính chất đơn giản, tạm thời Nhiều nước quy định hợp đồng lao động GVGĐ phải được lập thành văn bản, thậm chí ban hành hợp đồng GVGĐ mẫu

Trang 25

Đối với lao động GVGĐ, đa số có trình độ học vấn thấp, công việc GVGĐ có những đặc điểm riêng nên các nội dung thỏa thuận trong hợp đồng, việc chấm dứt hợp đồng lao động và các vấn đề khác liên quan cần có những quy định riêng phù hợp Về nội dung hợp đồng lao động GVGĐ, pháp luật thường quy định hợp đồng phải có các nội dung chủ yếu là thông tin của các bên giao kết hợp đồng, công việc

mà người GVGĐ phải làm và địa điểm làm việc (nhà của hộ gia đình SDLĐ hoặc các hộ gia đình thuê GVGĐ), tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, thời hạn của hợp đồng Ngoài ra, căn cứ trường hợp cụ thể các bên có thể thỏa thuận những nội dung khác có liên quan

Pháp luật cũng quy định về việc tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động GVGĐ Do đặc điểm công việc GVGĐ, đặc biệt là GVGĐ làm việc toàn thời gian,

ở cùng với hộ gia đình SDLĐ thì việc người giúp việc gián đoạn công việc trong một khoảng thời gian sẽ ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt của những người trong hộ gia đình Bản thân lao động GVGĐ cũng có những trường hợp phải gián đoạn việc làm để giải quyết các công việc gia đình, cá nhân Do đó pháp luật phải có những quy định về việc tạm hoãn hợp đồng lao động GVGĐ Bên cạnh đó, pháp luật cũng phải quy định về việc chấm dứt hợp đồng lao động GVGĐ phù hợp với đặc điểm của quan hệ lao động GVGĐ, người lao động GVGĐ

* Quy định về điều kiện sử dụng lao động GVGĐ

Điều kiện sử dụng lao động là tổng hợp các yếu tố đảm bảo cho việc khai thác,

sử dụng lao động Điều kiện sử dụng lao động có tác động trực tiếp đến sức khoẻ người lao động, đến năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động Trên phương diện

lý luận, điều kiện sử dụng lao động được pháp luật lao động quy định trước tiên và chủ yếu bao gồm các nội dung về tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động GVGĐ

Điều kiện SDLĐ đối với lao động GVGĐ được quy định trên cơ sở các quy định chung về điều kiện sử dụng lao động áp dụng đối với mọi quan hệ lao động Tuy nhiên, pháp luật quốc tế cũng như quốc gia đều quy định những điều kiện riêng

Trang 26

cho việc sử dụng lao động GVGĐ Điều này xuất phát từ đặc điểm riêng của công

việc cũng như đặc điểm riêng của người lao động GVGĐ ở mỗi quốc gia khác nhau

Về tiền lương của lao động GVGĐ:

Khi tham gia vào quan hệ lao động, mục đích cơ bản nhất của người lao động chính là tiền lương Đặc biệt đối với lao động GVGĐ, thường là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, xuất phát từ nông thôn, khi nhận công việc GVGĐ làm toàn thời gian, họ không chỉ mong muốn được đảm bảo về các điều kiện sống tối thiểu cho mình mà còn có tiền lương cho gia đình Chính việc đánh giá thấp công việc GVGĐ đã dẫn tới mức lương của lao động GVGĐ thấp Mức lương thấp của nghề giúp việc có liên quan đến hình thức đền bù bằng hiện vật vốn đã tồn tại từ nhiều đời nay dưới dạng cung cấp bữa ăn và chỗ ở Việc đảm bảo cuộc sống cho người giúp việc thông qua những yếu phẩm đó, thay vì trả một mức lương đủ để họ

có thể lo cho cuộc sống của chính mình và gia đình, đã và đang tiếp tục là cách làm phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới Thậm chí, lao động GVGĐ lại chủ yếu là lao động nữ nên các quy định pháp luật về tiền lương không chỉ là bảo đảm để lao động GVGĐ được trả công tương xứng với sức lao động mà còn bảo đảm cho những lao

động GVGĐ là nữ được trả công bình đẳng với lao động nam Điều 11 Công ước số

189 của ILO quy định mỗi thành viên phải thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo rằng những lao động GVGĐ thuộc đối tượng hưởng tiền lương tối thiểu, nếu tồn tại mức tiền lương tối thiểu, và tiền công được xây dựng không có sự phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính

Về bảo hiểm cho lao động GVGĐ:

Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế là những chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hay khi hết tuổi lao động hoặc từ trần trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội và có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia Bảo hiểm y tế là chính sách an sinh xã hội do nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm

Trang 27

chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong xã hội, không nhằm mục đích lợi nhuận Người lao động GVGĐ thường là những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn trong xã hội nên phải chấp nhận, lựa chọn làm công việc GVGĐ Khi những rủi ro xảy ra ảnh hưởng đến sức khỏe, thu nhập của người lao động thì hậu quả lại càng trở nên nặng nề hơn Lao động GVGĐ thường ít trường hợp có sự gắn bó lâu dài với một người SDLĐ Do đó việc được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế luôn là nguyện vọng của người lao động GVGĐ, tạo cho họ sự yên tâm làm việc Lao động GVGĐ được bảo đảm các quyền về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cũng

sẽ có tác động tích cực đến hiệu quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội này Ngoài ra, theo quy định của từng quốc gia, người lao động GVGĐ còn có thể được hưởng các chính sách bảo hiểm mang tính chất an sinh xã hội khác iên quan đến công việc của mình

Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi:

Lao động GVGĐ cũng như những người lao động khác, họ cần được bảo vệ

về sức khỏe, tính mạng khi tham gia quan hệ lao động Việc bảo vệ sức khỏe cho người GVGĐ còn để bảo đảm khả năng tái sản xuất sức lao động của họ Đó cũng là những quyền con người cơ bản Bảo vệ về sức khỏe, tính mạng cho lao động GVGĐ, pháp luật quy định trách nhiệm của người SDLĐ phải bảo đảm về

an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động, thực hiện chế độ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phù hợp với đặc điểm của lao động GVGĐ theo quy định của pháp luật Đối với lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian, công việc cụ thể có thể thay đổi hoặc phát sinh đột xuất mặc dù vẫn trong phạm vi công việc gia đình nên sự đảm bảo thời giờ nghỉ ngơi, sự riêng tư của người lao động GVGĐ

có thể không đảm bảo Họ được kỳ vọng có thể sẵn sàng làm việc 24/7 để đáp ứng muôn vàn các yêu cầu khác nhau của người SDLĐ Do đó pháp luật cần có những quy định để người SDLĐ không được lạm dụng, buộc người GVGĐ phải làm việc quá sức

Trang 28

Về an toàn lao động, vệ sinh lao động và điều kiện sinh hoạt:

Pháp luật quy định người SDLĐ có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người GVGĐ Mỗi gia đình có những thói quen sinh hoạt, điều kiện về trang thiết bị sử dụng trong gia đình là khác nhau, do đó hộ gia đình khi thuê lao động GVGĐ cần phải hướng dẫn cho người giúp việc cách thức sử dụng, vận hành các trang thiết bị cần thiết cho công việc GVGĐ của người lao động để đảm bảo an toàn và vệ sinh, thực hiện các biện pháp hỗ trợ, đảm bảo an toàn sức khỏe cho người lao động GVGĐ Ngoài ra, pháp luật còn có những quy định về điều kiện sinh hoạt của người GVGĐ, đó là điều kiện về nơi ở, vệ sinh, Những quy định này là rất quan trọng đối với lao động GVGĐ ở cùng hộ gia đình SDLĐ

Về quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm của lao động GVGĐ:

Lao động GVGĐ chủ yếu là lao động nữ, quan niệm trọng nam, khinh nữ vẫn còn ở nhiều nơi, thêm vào đó trong không gian làm việc hạn chế tại hộ gia đình SDLĐ, tại nhiều nơi người GVGĐ vẫn bị coi thường, do đó họ dễ bị xâm hại về danh dự, nhân phẩm Các quy định pháp luật về bảo vệ lao động nữ về danh dự, nhân phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với lao động GVGĐ Bảo vệ danh dự, nhân phẩm cho lao động GVGĐ, pháp luật có những quy định yêu cầu người SDLĐ, không được xúc phạm, phân biệt đối xử, quấy rối tình dục đối với người lao động Thậm chí, pháp luật một số nước còn có thể quy định về các hành vi bị cấm đối với người SDLĐ đối với lao động GVGĐ cho mình

V ề kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất:

Trong quá trình thực hiện công việc, người lao động có thể vi phạm các quy định, thỏa thuận đã thống nhất về việc thực hiện công việc và phải chịu xử lý kỷ luật lao động Quan hệ giữa lao động GVGĐ và người SDLĐ vốn đã có những khác biệt về điều kiện kinh tế, hoàn cảnh gia đình Quan niệm xã hội có những định kiến về lao động GVGĐ Do đó khi người GVGĐ vi phạm các nội dung đã thỏa thuận, họ có thể bị người SDLĐ áp dụng các biện pháp xử lý một cách tùy tiện theo

Trang 29

ý muốn, thậm chí là đánh đập, phạt tiền Do đó pháp luật cần có những quy định

cụ thể về các hình thức xử lý kỷ luật áp dụng tương ứng với từng hành vi vi phạm của lao động GVGĐ, buộc người SDLĐ phải tuân thủ nhàm hạn chế xâm hại quyền, lợi ích chính đáng của lao động GVGĐ

Bồi thường thiệt hại là một biện pháp thuộc nhóm biện pháp kinh tế theo nghĩa hẹp Theo nghĩa hẹp, biện pháp kinh tế là các biện pháp tác động đến tài sản, lợi ích của người SDLĐ nhằm mang lại các lợi ích kinh tế trực tiếp cho người lao động được pháp luật ghi nhận Đối với quan hệ lao động giữa lao động GVGĐ và người SDLĐ thì biện pháp kinh tế chính là biện pháp bồi thường thiệt hại cho người lao động Bồi thường thiệt hại thường được áp dụng trong các trường hợp người lao động bị tai nạn lao động, người SDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

* Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp lao động GVGĐ

Để đảm bảo cho các quy định pháp luật về lao động GVGĐ được thực hiện, bảo đảm quyền lợi của các bên tham gia quan hệ lao động, tạo điều kiện để người lao động GVGĐ phát triển, đóng góp nhiều hơn cho xã hội, pháp luật quy định về vi phạm pháp luật lao động GVGĐ và xử lý vi phạm pháp luật về lao động GVGĐ Biện pháp hành chính bao gồm xử phạt hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với người SDLĐ có hành vi vi phạm pháp luật về lao động GVGĐ Biện pháp này tuy tác động đến tài sản, lợi ích của người SDLĐ nhưng không mang lại các lợi ích kinh tế trực tiếp cho lao động GVGĐ Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả như buộc trả đủ lương, phụ cấp cho người lao động, buộc phải nhận người lao động lại làm việc,

Trong quan hệ lao động thông thường đã dễ xảy ra tranh chấp do sự đối lập về lợi ích giữa người SDLĐ và người lao động Quan hệ lao động giữa lao động GVGĐ và người SDLĐ thì càng dễ xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp vì công việc gia đình không có những quy chuẩn nhất định mà phụ thuộc nhiều vào nhu cầu, quan

Trang 30

niệm của người chủ gia đình, quá trình làm việc trong môi trường giới hạn phạm vi

hộ gia đình Bên cạnh đó là sự khác biệt về văn hóa, nhận thức, thói quen giữa chủ SDLĐ và lao động GVGĐ Khi lao động GVGĐ được coi là một nghề, quan hệ giữa lao động GVGĐ và hộ gia đình thuê giúp việc được coi là quan hệ lao động thì tranh chấp được thực hiện theo quy định về giải quyết tranh chấp lao động

Ngoài ra, pháp luật một số nước còn quy định về việc quản lý lao động GVGĐ, các hiệp hội của người GVGĐ Lao động GVGĐ được tham gia sinh hoạt và bảo vệ bởi tổ chức có tên gọi là Hiệp hội lao động GVGĐ hoặc tổ chức những người làm nghề GVGĐ Nhu cầu mong muốn chủ yếu của lao động GVGĐ khi tham gia các tổ chức này là được bảo vệ quyền lợi bản thân theo quy định của pháp luật các nước sở tại Vì vậy, nếu thiếu pháp luật hoặc chính sách cần thiết cho lao động GVGĐ có nghĩa là các tổ chức này cần phải tham gia hoặc bắt đầu các chiến dịch vận động pháp lý Mạng lưới GVGĐ châu Á được thành lập năm 2004 đã có nhiều hoạt động

hỗ trợ cho các tổ chức lao động GVGĐ trong khu vực thông qua trao đổi, hội thảo

và đào tạo Tuy nhiên những hoạt động của mạng lưới này mới chỉ có ở một số nước như Indonexia, Philippines, Malaysia và Hồng Kông [17, tr.41]

Trang 31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Lao động GVGĐ đang ngày càng phát triển trên thế giới, trở thành một bộ phận của lực lượng lao động xã hội và GVGĐ được đa số các nước công nhận là một nghề Lao động GVGĐ làm các công việc gia đình, đặc điểm làm việc trong môi trường hộ gia đình lại chủ yếu là nữ, có trình độ học vấn thấp và chủ yếu xuất thân từ nông thôn nên so với các lao động khác, sự yếu thế của họ so với người SDLĐ thường là lớn hơn Do đó lao động GVGĐ dễ bị xâm hại các quyền và lợi ích, thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe, sự xung đột giữa lao động GVGĐ và người SDLĐ trở thành vấn đề xã hội cần được quan tâm Chính vì thế, pháp luật cần có những quy định bảo vệ cho lao động GVGĐ nhằm hạn chế sự bất bình đẳng giữa lao động GVGĐ và người SDLĐ, tạo điều kiện để lực lượng lao động này được phát triển, ổn định Pháp luật bảo vệ cho lao động GVGĐ khá đầy đủ, toàn diện trên các phương diện về việc làm, tiền lương và thu nhập, sức khỏe, danh dự và nhân thân, bảo hiểm Đi kèm với đó là các biện pháo bảo vệ lao động GVGĐ như bồi thường thiệt hại, xử phạt hành chính, giải quyết tranh chấp lao động

GVGĐ là công việc đã có từ lâu ở Việt Nam Cho đến nay công việc này vẫn được đảm nhiệm bởi một bộ phận phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn và mức sống nghèo hơn trong xã hội, hay có gia cảnh khó khăn Lao động GVGĐ đang phải đối mặt với những trở ngại về tâm lý, kiến thức pháp luật và kỹ năng làm việc Do đó pháp luật nước ta cũng có những quy định cần thiết bảo vệ cho lao động GVGĐ

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

VỀ LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH

2.1 Các quy định pháp luật về lao động giúp việc gia đình

2.1.1 Việc làm và học nghề đối với lao động giúp việc gia đình

* Quy định về việc làm đối với lao động GVGĐ

Theo Khoản 1 Điều 10 BLLĐ 2012, người lao động có quyền “được làm việc cho bất kỳ người SDLĐ nào và ở bất kỳ nơi nào mà pháp luật không cấm” Nói cách khác, người lao động có quyền được lựa chọn địa điểm làm việc và lựa chọn người SDLĐ để làm việc, họ có quyền làm việc ở một hoặc nhiều địa điểm hay một hoặc nhiều người SDLĐ Đối với lao động GVGĐ cũng vậy, họ

có quyền được lựa chọn hộ gia đình mà mình sẽ làm giúp việc và họ cũng có thể lựa chọn làm việc cho một hoặc nhiều hộ gia đình Việc lựa chọn người SDLĐ có ý nghĩa quan trọng đối với lao động GVGĐ bởi tính chất công việc GVGĐ liên quan nhiều đến thói quen sinh hoạt, yêu cầu cá nhân của hộ gia đình mà họ sẽ làm việc Thậm chí đối với các gia đình có đông thành viên thì vấn đề này lại càng phức tạp, việc phải đáp ứng nhu cầu công việc gia đình cho

hộ gia đình có đông người sẽ phức tạp hơn không chỉ là về khối lượng công việc mà còn là cách sắp xếp, giải quyết công việc Căn cứ tiêu chí về thời gian làm việc, lao động GVGĐ có thể làm việc toàn thời gian hoặc làm việc bán thời gian (theo giờ, theo buổi) Đối với những lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian thì việc lựa chọn hộ gia đình để làm việc lại càng quan trọng vì đa số lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian sẽ ăn, ngủ tại gia đình người SDLĐ Đối với người lao động GVGĐ làm việc bán thời gian, cùng một lúc họ có thể làm việc cho nhiều người SDLĐ nhưng phải lựa chọn được những hộ gia đình có yêu cầu công việc mà họ có thể sắp xếp được thời gian một cách hợp lý để đảm bảo thực hiện được đúng yêu cầu công việc thỏa thuận với người SDLĐ

Trang 33

Cũng như những người lao động khác, theo khoản 1 Điều 10 BLLĐ năm

2012, lao động GVGĐ có thể tự mình “trực tiếp liên hệ với người SDLĐ hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khoẻ của mình” Hiện nay pháp luật công nhận và cho phép các doanh nghiệp, trung tâm giới thiệu việc làm thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp thực hiện các hoạt động cung ứng, tuyển lao động giúp việc theo yêu cầu của các hộ gia đình Đây cũng là một kênh hữu hiệu giúp những người có nhu cầu làm công việc GVGĐ có thể tìm kiếm việc làm một cách nhanh chóng Mặc dù người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm, lựa chọn

hộ gia đình để làm GVGĐ, họ được tự do giao kết hợp đồng lao động cũng như chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật Tuy nhiên vẫn có những trường hợp người SDLĐ tạo sức ép, gây khó khăn cho lao động GVGĐ để họ không thể tìm kiếm được công việc khác bằng các cách thức như ngăn cản sự giao tiếp, liên hệ giữa người giúp việc với người khác, giữ giấy tờ tùy thân của người giúp việc Theo khoản 3 Điều 183 BLLĐ năm 2012 một trong những hành vi bị cấm đối với người SDLĐ là giữ giấy tờ tùy thân của người lao động

* Quy định về học nghề đối với lao động GVGĐ

Khoản 5 Điều 181 BLLĐ năm 2012 quy định người SDLĐ có nghĩa vụ “tạo

cơ hội cho người GVGĐ được tham gia học văn hóa, học nghề” Điều 14 Nghị định

số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của BLLĐ về lao động là người GVGĐ cũng quy định:

“1 Người SDLĐ bố trí thời gian để người lao động học văn hóa, học nghề khi

người lao động yêu cầu

2 Thời gian cụ thể để người lao động tham gia học văn hóa, học nghề do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động.”

Pháp luật lao động quy định người SDLĐ phải tạo cơ hội cho lao động GVGĐ tham gia học nghề, đó có thể là học các kỹ năng thực hiện công việc GVGĐ do các trung tâm, trường đào tạo nghề tổ chức để lao động GVGĐ nâng cao kỹ năng, hiệu

Trang 34

quả làm việc để có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu công việc, tìm kiếm một công việc GVGĐ có mức lương cao hơn Tham gia học nghề của lao động GVGĐ cũng có thể

là học một nghề khác để dự phòng, tạo cơ hội cho họ có thể tìm kiếm công việc khác khi kết thúc hợp đồng lao động với người SDLĐ hiện tại Do tính chất công việc GVGĐ giản đơn, người lao động có thể tìm kiếm một công việc GVGĐ với sự

đa dạng về mức độ yêu cầu của các hộ gia đình nên hầu hết người chưa được đào tạo nghề mới lựa chọn công việc GVGĐ Tuy nhiên chỉ số ít trong số những người này xác định gắn bó lâu dài với công việc GVGĐ, đó thường là những người đã ly hôn, không kết hôn, có hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn Đa số lao động GVGĐ vẫn mong muốn được đào tạo về một nghề nào đó

Pháp luật quy định người SDLĐ tạo điều kiện cho GVGĐ học nghề nhưng để đảm bảo công việc thì họ phải thỏa thuận được với người SDLĐ về thời gian cụ thể

và ghi trong hợp đồng lao động Như vậy, trường hợp việc học nghề phát sinh trong quá trình làm việc thì hai bên vẫn phải ghi nhận thỏa thuận này vào hợp đồng lao động Về mặt lý thuyết và thực tế, quy định về học nghề chỉ áp dụng đối với lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian, đối với lao động GVGĐ thì họ tự lựa chọn và thỏa thuận với người SDLĐ về thời giờ làm việc trong được ấn định trong ngày hoặc tuần, tháng Ngoài thời gian này, họ được quyền làm những công việc khác, bao gồm cả học nghề mà không cần có sự thỏa thuận với người SDLĐ

2.1.2 Quy định về hợp đồng lao động giúp việc gia đình

Trên cơ sở các quy định của BLLĐ năm 2012, Nghị định số

27/2014/NĐ-CP và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP đã có những quy định cụ thể về hợp đồng lao động giữa người SDLĐ và lao động GVGĐ Các quy định về hợp đồng lao động GVGĐ giữa người SDLĐ và lao động GVGĐ có những điểm riêng phù hợp với đặc điểm của lao động GVGĐ nhằm đảm bảo những quyền lợi của người lao động GVGĐ:

Trang 35

Về việc ký kết hợp đồng lao động:

Theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP, người ký tên phía người SDLD trong hợp đồng lao động là một trong những người sau: chủ hộ; người được chủ hộ hoặc các chủ hộ ủy quyền hợp pháp; người được các thành viên trong hộ gia đình hoặc các hộ gia đình ủy quyền hợp pháp Chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình có thuê mướn, sử dụng lao động là người GVGĐ theo quy định của pháp luật, các trường hợp còn lại thì việc ủy quyền phải được lập thành văn bản theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH Đồng thời, trong các trường hợp này pháp luật không cho phép ủy quyền lại do công việc GVGĐ liên quan trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày của gia đình người SDLĐ Về người ký hợp đồng lao động phía người lao động, phải là người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên; người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có văn bản đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động Người đại diện theo pháp luật của người lao động là cha đẻ hoặc mẹ đẻ, cha nuôi hoặc mẹ nuôi hoặc người giám hộ hợp pháp của người lao động Văn bản đồng ý cũng phải được lập theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH Tại Khoản 4 Điều 3 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH cũng quy định đối với hợp đồng lao động GVGĐ, người ký kết hợp đồng về phía người SDLĐ luôn thể hiện yếu tố đại diện cho họ gia đình bởi lẽ người SDLĐ trong quan hệ lao động này là hộ gia đình hoặc nhiều hộ gia đình Người lao động khi thực hiện các công việc GVGĐ sẽ phải tiếp xúc, làm các công việc phục vụ sinh hoạt của nhiều người trong gia đình chủ sử dụng lao động Do đó việc ký kết hợp đồng lao động phải thể hiện sự đồng thuận của các thành viên trong gia đình, do chủ

hộ gia đình đại diện ký kết Điều này cũng là để đảm bảo thuận lợi cho cả hai bên khi thực hiện công việc theo hợp đồng Tuy nhiên cũng tránh tình trạng ai cũng là ông chủ và buộc lao động GVGĐ phải theo ý kiến của cá nhân mình mà không quan tâm đến việc dung hòa với các công việc phục vụ chung cho cả gia đình

Theo Điều 5 Nghị định số 27/20147/NĐ-CP, Điều 4 Thông tư số BLĐTBXH, trường hợp người lao động GVGĐ không biết chữ thì người SDLĐ đọc đầy đủ, rõ ràng toàn bộ nội dung hợp đồng lao động để người lao động nghe và

Trang 36

19/2014/TT-thống nhất nội dung trước khi ký hợp đồng lao động Người lao động thực hiện ký hợp đồng lao động với người SDLĐ bằng hình thức điểm chỉ Trường hợp cần thiết, người lao động có thể mời người thứ ba không phải là thành viên của hộ gia đình SDLĐ làm người làm chứng

Trước khi ký kết hợp đồng lao động, các bên phải cung cấp cho nhau thông tin liên quan đến việc thực hiện công việc và thông tin cá nhân về người lao động theo quy định tại Điều 19 BLLĐ năm 2012 Ngoài ra, theo Điều 6 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH, người SDLĐ còn phải cung cấp thông tin về điều kiện ăn,

ở của người lao động, đặc điểm của các thành viên, sinh hoạt của hộ gia đình hoặc các hộ gia đình Đây là quy định cần thiết phù hợp với tính chất, đặc điểm của công việc GVGĐ, đặc biệt là đối với lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian, ăn ngủ tại gia đình người SDLĐ Pháp luật cũng quy định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày

ký hợp đồng lao động, người SDLĐ gửi thông báo bằng văn bản tới Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người lao động làm việc về việc sử dụng lao động GVGĐ Quy định này không những để đảm bảo cho việc thực hiện các thủ tục hành chính về quản lý hộ tịch đối với người lao động GVGĐ, thực hiện thủ tục đăng ký tạm trú cho người lao động GVGĐ mà còn có ý nghĩa để cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương nắm bắt thông tin, trường hợp cần thiết có những can thiệp kịp thời bảo vệ cho người lao động Mặc dù vậy, quy định này chỉ phù hợp với hợp đồng lao động GVGĐ làm việc toàn thời gian và sống cùng với gia đình chủ

Về hình thức hợp đồng lao động:

Pháp luật quy định người giúp việc và người SDLĐ phải giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản, lập thành 02 bản và mỗi bên giữ một bản

Về nội dung của hợp đồng lao động:

Ngoài những nội dung đối với hợp đồng lao động nói chung theo quy định tại khoản 1 Điều 23 BLLĐ năm 2012, theo Điều 7 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP, hợp đồng lao động giữa người SDLĐ và lao động GVGĐ còn có những nội dung:

- Điều kiện ăn, ở của người lao động (nếu có);

Trang 37

- Tiền tàu xe về nơi cư trú khi chấm dứt hợp đồng lao động đúng thời hạn; thời gian và mức chi phí hỗ trợ để người lao động học văn hóa, học nghề (nếu có);

- Trách nhiệm bồi thường do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại về tài sản của người SDLĐ;

- Những hành vi bị nghiêm cấm đối với mỗi bên

Khi ký kết hợp đồng lao động, lao động GVGĐ cần phải thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng về nội dung các công việc cần phải làm Các công việc này phải phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 179 BLLĐ năm 2012, bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn

và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại Các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại là các công việc quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP: Nấu ăn cho các thành viên trong hộ gia đình mà không phải bán hàng ăn; trồng rau, hoa quả, cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm phục vụ sinh hoạt của các thành viên trong hộ gia đình mà không phải để bán, trao đổi hàng hóa; lau dọn nhà ở, sân vườn, bảo vệ nhà cửa, tài sản của hộ gia đình mà không phải là nhà xưởng, cửa hàng, văn phòng, cơ sở sản xuất, kinh doanh; lái xe đưa đón các thành viên trong hộ gia đình hoặc vận chuyển các đồ đạc, tài sản của hộ gia đình mà không phải đưa đón thành viên trong hộ gia đình tham gia sản xuất, kinh doanh, vận chuyển hàng hóa, vật tư, nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh; kèm cặp thành viên trong hộ gia đình học văn hóa; giặt quần áo, chăn màn của các thành viên trong hộ gia đình mà không phải kinh doanh giặt là hoặc không phải giặt quần áo bảo hộ lao động của những người được thuê mướn sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình; công việc khác phục vụ đời sống, sinh hoạt của hộ gia đình, các thành viên trong

hộ gia đình và không trực tiếp hoặc góp phần tạo ra thu nhập cho hộ hoặc cá nhân trong hộ gia đình

Quy định về nội dung hợp đồng lao động giữa người SDLĐ và lao động GVGĐ phần lớn đều hướng tới bảo vệ cho người lao động nhưng vẫn đảm bảo cân bằng về lợi

Trang 38

ích cho người SDLĐ Các nội dung có thể bổ sung theo thỏa thuận giữa hai bên so với các hợp đồng lao động khác xuất phát từ đặc điểm của quan hệ lao động GVGĐ và công việc GVGĐ Tuy nhiên, kết quả thực tế lại phụ thuộc nhiều vào ý thức của các bên bởi việc GVGĐ mang tính chất đơn lẻ, không có quy chuẩn đánh giá thực hiện công việc Nội dung hợp đồng càng quy định cụ thể, chi tiết các vấn đề liên quan đến đặc điểm riêng về nhu cầu và hoàn cảnh của lao động GVGĐ càng hạn chế được mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh

Tạm hoãn, chấm dứt hợp đồng lao động:

Về lý thuyết, hợp đồng lao động giữa người SDLĐ và người GVGĐ có thể được tạm hoãn theo quy định tại Điều 32 BLLĐ năm 2012 tuy nhiên các trường hợp tạm hoãn do người lao động đi làm nghĩa vụ quân sự; người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; người lao động phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc trên thực tế sẽ khó xảy ra vì trong các trường hợp này thời gian tạm hoãn kéo dài, không phù hợp nhu cầu công việc GVGĐ liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của hộ gia đình Ngoài ra, đối với các trường hợp liên quan đến pháp luật hình sự, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện… thì không có hộ gia đình nào lại tin tưởng để tiếp tục thuê làm việc Do đó chỉ có trường hợp người lao động là nữ mang thai cần phải tạm hoãn theo chỉ định của cơ sở khám chữa bệnh và thỏa thuận của hai bên là có thể xảy ra

Tại Điều 10 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định về 6 trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động gồm: hết thời hạn hợp đồng; công việc giao kết trong hợp đồng lao động đã hoàn thành; người lao động chết; người SDLĐ là cá nhân chết; đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Trong các trường hợp này, hết thời hạn hợp đồng, hoàn thành công việc trong hợp đồng hoặc một trong các bên quan hệ chết thì hợp đồng sẽ mặc nhiên chấm dứt; đơn phương chấm dứt lao động xảy ra do ý chí của một trong hai bên, cũng là trường hợp thường gây ra mâu thuẫn giữa các bên, dẫn đến việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động có tranh chấp, các bên không giữ

Trang 39

được mối quan hệ tốt đẹp Trong khi đối với hợp đồng lao động nói chung, pháp luật quy định các trường hợp (căn cứ) đơn phương chấm dứt hợp đồng và thời hạn báo trước giữa các bên căn cứ vào loại hợp đồng lao động khá chặt chẽ thì đối với hợp đồng lao động giữa người SDLĐ và lao động GVGĐ pháp luật lại quy định đơn giản hơn Các bên có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần đưa ra lý do mà chỉ cần báo trước với thời hạn là 15 ngày và ít nhất là 03 ngày trong một số trường hợp hoặc không cần báo trước trong những trường hợp liên quan đến sức khỏe, danh dự, tính mạng và bất khả kháng Công việc GVGĐ liên quan trực tiếp đến sinh hoạt, tinh thần hàng ngày của các bên tham gia hợp đồng, do đó trong trường hợp các bên không còn phù hợp để tiếp tục thực hiện hợp đồng thì việc quy định thời hạn báo trước quá lâu như 45 ngày hay 30 ngày sẽ vô cùng nặng nề cho

cả hai bên, nhất là người lao động GVGĐ vì họ vẫn phải đảm bảo các công việc cho

đến khi hết thời hạn báo trước

2.1.3 Các điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình

* Quy định về tiền lương của lao động GVGĐ

Về mức tiền lương, pháp luật lao động hiện hành quy định mức tiền lương do người SDLĐ và lao động GVGĐ thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động Mức tiền lương (bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống tại gia đình người SDLĐ nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP, người SDLĐ và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), nhưng không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động Việt Nam quy định mức lương tối thiểu chung áp dụng với cả lao động GVGĐ mà không có

sự phân biệt theo loại hình công việc Hiện nay, mức lương tối thiểu chung được quy định theo vùng và theo Nghị định số 153/2016/NĐ-CP ngày 14/11/2016 của Chính phủ bao gồm 4 mức áp dụng cho vùng 1 là 3.750.000 đồng/tháng, vùng 2 là 3.320.000đồng/tháng, vùng 3 là 2.900.000đồng/tháng và vùng 4 là 2.580.000đồng/tháng Như vậy, người sử dụng lao động GVGĐ trên địa bàn vùng

Trang 40

nào thì phải áp dụng mức lương tối thiểu tương ứng cho họ Thông thường nơi ở và chi phí ăn uống được kết hợp hàng ngày cùng với gia đình thuê lao động giúp việc, sức ăn của mỗi người khác nhau, chất lượng bữa ăn của mỗi gia đình cũng khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và sinh hoạt của gia đình họ và vì vậy rất khó

có thể xác định một cách rạch ròi, chi tiết tiền ăn ở cho người giúp việc là bao nhiêu một tháng hoặc đưa ra một mức phí chung cho ăn ở Điều này có nguy cơ là cơ sở

để người SDLĐ lạm dụng tiền lương, không xác định rõ ràng giữa lương và chi phí

ăn ở khi thoả thuận hợp đồng, gây bất lợi cho người lao động Chính vì thế, pháp luật quy định mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động nhằm ngăn ngừa việc người SDLĐ viện lý

do chi phí ăn ở cho người lao động cao để giảm bớt số tiền mà họ được nhận

Về hình thức trả lương và thời hạn trả lương: hình thức trả lương, thời hạn trả lương do người SDLĐ và người GVGĐ thỏa thuận Trường hợp trả lương qua tài khoản ngân hàng thì người SDLĐ có trách nhiệm tạo điều kiện để người lao động

mở tài khoản ngân hàng Các loại phí liên quan đến mở, duy trì tài khoản do hai bên thỏa thuận Người SDLĐ không được thu phí chuyển khoản tiền lương vào tài khoản của người lao động GVGĐ Xuất phát từ đặc điểm của công việc GVGĐ, không phải là công việc có thể khoán cho người GVGĐ và cũng không phải là công việc tạo ra sản phẩm cho người SDLĐ hay liên quan đến hoạt động thương mại của người SDLĐ nên thực tế hình thức trả lương khoán và theo sản phẩm là không thể

áp dụng được Lao động GVGĐ có thể làm việc toàn thời gian, sống cùng với gia đình người SDLĐ hoặc làm việc bán thời gian, theo giờ Do đó tiền lương của lao động GVGĐ có thể tính theo tháng, theo giờ hoặc theo buổi, Chính vì vậy, tại Điều 13 Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH quy định người SDLĐ trả lương cho người lao động theo thời gian (theo tháng, tuần, ngày, giờ) do hai bên thỏa thuận, gồm: trả lương theo tháng là tiền lương được trả cho một tháng làm việc xác định trên cơ sở hợp đồng lao động; trả lương theo tuần là tiền lương được trả cho một tuần làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng nhân với 12 tháng và chia cho 52 tuần; trả lương theo ngày là tiền lương được trả cho một ngày làm việc xác định trên

Ngày đăng: 03/09/2018, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w