Theo cách tiếp cận quyền con người của khoa học pháp lý thì quyền con người được chia thành những nhóm chính sau: i Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: Quyền tham gia quản lý n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được
thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Minh Hằng Các thông tin, số liệu,
các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng Kết quả nghiên cứu của luận
văn hoàn toàn trung thực
XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Nguyễn Minh Hằng
HỌC VIÊN
Lương Thị Duyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Luật, Khoa sau đại học, Viện Đại học Mở đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới TS Nguyễn Minh Hằng, người đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Đồng thời, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hành thành luận văn
Mặc dù đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên vì trình độ lý luận
và khả năng lĩnh hội còn nhiều hạn chế mà luận văn không thể tránh khỏi những thiết sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và các bạn
Hải Phòng, ngày 06 tháng 9 năm 2017
Học viên
Lương Thị Duyên
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Nội dung của luận văn 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 6
1.1 Khái quát chung về quyền của phụ nữ 6
1.1.1 Khái niệm quyền của phụ nữ 6
1.1.2 Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội 7
1.1.3 Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ 9
1.2.Khái quát chung về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 122
1.2.1 Khái niệm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 12 2 1.2.2 Các loại quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 13 3 1.2.3 Các yếu tố bảo đảm việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai……… 14
1.3.Sơ lược về việc ghi nhận quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai qua các thời kỳ lịch sử 188
1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 18
1.3.1.1 Thời kỳ phong kiến 1 8 1.3.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc 21
1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980 22
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay 25 5 Kết luận chương 1……… 30
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI QUẬN DƯƠNG
KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 31
2.1 Các quyền chung của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất 31
2.1.1 Quyền được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 31
2.1.2 Quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất 34
2.1.3 Quyền được hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp 36
2.1.4 Quyền được nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp 37
2.1.5 Quyền được nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình 39
2.1.6 Quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất 40
2.1.7 Quyền được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai 42
2.2 Các quyền riêng của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất tương ứng với các hình thức sử dụng đất 44
2.2.1 Quyền của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm 44
2.2.1.1 Quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất 46
2.2.1.2 Quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất 47
2.2.1.3 Quyền cho thuê quyền sử dụng đất 49
2.2.1.4 Quyền thừa kế quyền sử dụng đất 50
2.2.1.5 Quyền tặng cho quyền sử dụng đất 55
2.2.1.6 Quyền thế chấp quyền sử dụng đất 56
2.2.1.7 Quyền góp vốn quyền sử dụng đất 58
Trang 62.2.2 Quyền của phụ nữ được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng
năm 60
2.3 Thực tiễn thực thi pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 62
2.3.1 Đôi nét về quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 62
2.3.2 Tình hình thực thi pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng 62
2.3.2.1 Kết quả đạt được 62
2.3.2.2 Tồn tại, hạn chế 68
2.3.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế 73
Kết luận chương 2……… 78
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ………79
3.1 Một số định hướng chủ yếu cho việc hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 79
3.3 Một vài kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 80
3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật 81
3.2.2 Giải pháp nhằm bảo đảm công tác thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 83
3.2.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đảm bảo thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai 83
3.2.2.2 Nâng cao nhận thức và ý thức của người sử dụng đất 86
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy định của pháp luật đất đai, phụ nữ nói riêng và cá nhân nói chung
là một trong những chủ thể sử dụng đất cơ bản, quan trọng và chiếm số lượng đáng
kể trong các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai Để bảo đảm nguồn tài nguyên đất đai khi trao cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nói chung và phụ
nữ nói riêng được khai thác có hiệu quả, phát huy hết tiềm năng và thế mạnh vốn có của đất Pháp luật đất đai quy định các quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể sử dụng đất trong đó bao gồm cả phụ nữ Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại
trao quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua các hình thức pháp lý nhất định Vì vậy tổ chức, hộ gia đình và cá nhân chỉ có quyền tiếp cận đất đai với vai trò là người sử dụng đất Dựa trên nguyên tắc công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội2 Theo lẽ đó, phụ nữ được nhà nước trao quyền sử dụng đất bình đẳng với các chủ thể khác Do đó khi bàn đến quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai chính là quyền của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất
Quyền của người sử dụng đất nói chung và quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói riêng đã được ghi nhận theo hướng ngày càng mở rộng các quyền không chỉ trong mối quan hệ với Nhà nước mà cơ bản là quyền trong quá trình vận hành quyền sử dụng đất trong đời sống thực tế Mặc dù các văn bản pháp ý đều khẳng định sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa nam và nữ, trong lĩnh vực đất đai cũng vậy, pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung cho người sử dụng đất, không phân biệt nam hay nữ Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này trên thực tế chưa thực sự đạt hiệu quả Ở nhiều địa phương, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau mà vấn đề thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực
1 Điều 53 Hiến pháp năm 2013
Trang 9đất đai hay quyền của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất vẫn bị hạn chế hơn so với nam giới Chẳng hạn về vấn đề đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nam giới đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lớn hơn nhiều so với phụ nữ…
Do vậy việc nghiên cứu và đánh giá “Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai và tình hình thực thi tại địa bàn Quận Dương Kinh, thành phố Hải phòng” –
nơi tác giả sinh sống, học tập và làm việc là vấn đề hết sức cấp thiết
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề nghiên cứu pháp luật về quyền của phụ nữ đã được các nhà nghiên cứu, các chuyên gia đề cập đến ở các góc độ khác nhau Có rất nhiều chương trình, dự án cũng như các đề tài khoa học viết
về quyền của phụ nữ, bình đẳng giới Đặc biệt trước khi xây dựng và ban hành Luật Bình đẳng giới, các tổ chức, cá nhân của các cơ quan như Hội Liên hiệp phụ
nữ Việt Nam, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ, các trường đào tạo đã có nhiều bài viết, hội thảo chuyên đề về quyền của phụ nữ và bình đẳng giới Các bài viết, tham luận tại các hội thảo chuyên đề cũng đã trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến quyền của phụ nữ ở từng lĩnh vực hoặc đưa ra những giải pháp về khía cạnh pháp luật để thực thi các quyền này của phụ nữ Việt Nam cũng đã có nhiều chương trình, dự án tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phân tích chính sách về
quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai Chẳng hạn, dự án “Tăng cường quyền về đất đai của phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua hỗ trợ pháp lý” do Chương trình Quản trị Đất đai Mekong (MRLG) tài trợ, Dự án “Tiếp cận Đất đai cho Phụ nữ”
(LAW) được tài trợ bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID ) được đánh giá là các chương trình, đề tài lớn nghiên cứu mang tính khái quát, tổng hợp nhiều vấn đề nhằm xây dựng và đào tạo một đội ngũ tình nguyện viên về bình đẳng giới ở cấp cơ sở để giúp nông dân - đặc biệt là phụ nữ nông dân thực hiện quyền sử dụng đất của họ Công trình “Tiếp cận đất đai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện
nay” do Chương trình phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNDP) thực
hiện năm 2013 tại 10 tỉnh/thành phố, công trình này đã phân tích khoảng cách đáng
Trang 10kể giữa các quy định của luật pháp và việc thực thi đảm bảo quyền của phụ nữ trong việc sở hữu đất đai
Ngoài ra, khi đi nghiên cứu chủ đề này, còn các bài viết đăng trên các
phụ nữ trong Luật Đất đai” 4, cả hai công trình này mới chỉ đề cập đến quyền có tên của người phụ nữ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa hệ thống hóa hết các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Một số công trình nghiên cứu khác có liên quan như: “Quyền của phụ nữ trong hệ thống pháp luật Việt Nam” 5 , bài viết này mặc dù đề cập đến quyền của phụ nữ trong một số văn bản pháp luật như Luật bảo hiểm xã hội, Luật hôn nhân và gia đình, Luật lao động, Luật bình đẳng giới… nhưng lại chưa đề cập đến quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Như vậy, có thể thấy trên thực tế, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai rất được nhiều luật gia, các cơ quan, tổ chức và đoàn thể quan tâm tới Trong các công trình của mình, mỗi tác giả đều có những phân tích, nhận định vấn đề quyền của phụ nữ ở những khía cạnh khác nhau nhưng chưa khái quát được dưới góc độ chung nhất các vấn đề về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai và chưa có công trình nghiên cứu nào đi tìm hiểu tình hình thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực này tại Quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
3 Mục đích nghiên cứu
Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận sự bình đẳng của nam nữ trong mọi lĩnh vực, đồng thời ghi nhận Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội Tuy nhiên, trên thực tế quyền của phụ nữ trong mọi lĩnh vực nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực đất đai
3 Xem tại website: can-dat-dai-cua-phu-nu-48766.html
http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/bat-dong-san/bao-dam-quyen-tiep-4 Xem tại: phu-nu-trong-luat-dat-dai truy cập ngày 03/7/2017
https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/nha-dat/7212/bao-dam-quyen-loi-5 Xem tại: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=2059 truy cập ngày
Trang 11nói riêng vẫn chưa thực sự được đảm bảo một cách triệt để Do đó đề tài nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu các quy định của pháp luật quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai đặt trong mối quan hệ bình đẳng với nam giới và tình hình thực thi các quy định này của pháp luật tại địa bàn quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng Qua đó đánh giá những mặt tích cực và những tồn tại của chính sách, pháp luật hiện hành và đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện các quy định về vấn đề này
Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai hay nói cách khác đó chính là quyền sử dụng đất của phụ nữ;
- Đánh giá các quy định pháp luật về quyền của phụ nữ trên những tiêu chí nhất định và quá trình thực hiện chúng trên thực tế để làm sáng tỏ nội dung cũng như chỉ ra những hạn chế, những điểm bất hợp lý trong các quy định của pháp luật
và việc thực hiện chúng trên thực tế;
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm đảm bảo quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài có đối tượng nghiên cứu là quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai (quyền sử dụng đất của phụ nữ)
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu quyền sử dụng đất của phụ nữ
trên địa bàn quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong thời điểm hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn đã sử dụng một số phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp phân tích để làm sáng tỏ những nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu;
Trang 12- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan giữa những quy định của pháp luật qua các thời kỳ lịch sử và đặc biệt là thông qua phương pháp này để có được những đánh giá khách quan giữa quy định của pháp luật với thực tiễn thực hiện các quy định đó;
- Phương pháp tổng hợp và thống kê được sử dụng để khái quát hoá nội dung nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu Đồng thời phương pháp này được dùng để thu thập và cung cấp một
số số liệu liên quan đến việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai trên thực tiễn;
- Phương pháp xã hội học được dùng để đánh giá, phân tích những điều kiện kinh tế, chính trị xã hội với việc thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai…;
6 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương được kết cấu chi tiết như sau:
Chương 1: Tổng quan về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai tại Quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Một vài kiến nghị nhằm nâng cao hiêu quả thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai tại Quận Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
1.1 Khái quát chung về quyền của phụ nữ
1.1.1 Khái niệm quyền của phụ nữ
Phụ nữ là một con người thực thể, do đó khi tiếp cận vấn đề quyền của người phụ nữ, thì khái niệm quyền phụ nữ trước hết phải được hiểu trên cơ sở quyền con người, phụ nữ cũng như nam giới họ phải được hưởng tất cả những quyền con người mà pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền phụ nữ là một khái niệm dùng để chỉ các quyền con người của phụ nữ do đó quyền của phụ nữ không thể tách rời quyền của con người Quyền của phụ nữ là một bộ phần của quyền con người, do vậy làm sáng tỏ thuộc tính của quyền con người sẽ giúp hiểu rõ bản chất của quyền của phụ nữ
Theo lí luận nhà nước và pháp luật thì quyền chủ thể được hiểu “là cách xử
sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách nhất định được pháp luật cho phép Nó là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách thức mà mó
Quyền con người là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến Tuy nhiên trong các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia chưa có một định nghĩa chính thức về quyền con người mà chỉ dừng lại ở việc liệt kê các quyền con người Trên cơ sở nghiên cứu của các nhà luật học khi tiếp cận về vấn đề này thì có thể hiểu quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên
hệ với Nhà nước và với những cá nhân con người khác
6 Xem: Trường Đại học Luật hà Nội, Giáo trình lí luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Công an
Trang 14Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là giá trị nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế
độ chính trị, pháp luật cụ thể Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể có nhiều cách phân loại nội dung quyền con người Theo cách tiếp cận quyền con người của khoa học pháp lý thì quyền con người được chia thành những nhóm chính sau: (i) Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: Quyền tham gia quản
lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự
do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí… (ii) Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: Quyền tự do đi lại cư trú trú trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được an toàn về thư tín, điện thoại, quyền khiếu nại, tố cáo… (iii) Các quyền trong lĩnh vực kinh tế – xã hội bao gồm: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền được bảo hộ hôn nhân và gia đình, quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế, được bảo vệ sức khoẻ, quyền được giáo dục đào tạo, quyền nghiên cứu, phát minh…
Từ khái niệm quyền con người có thể hiểu quyền của phụ nữ là những đặc quyền được pháp luật công nhận, điều chỉnh, hay nói cách khác, quyền của phụ nữ chính là những xử sự pháp lý được pháp luật quy định cho phép phụ nữ được thực hiện
1.1.2 Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc ở nước
ta hiện nay, tính đến giữa năm 2014 tổng dân số Việt Nam đạt gần 90,5 triệu người, trong đó nam chiếm hơn 49 %, nữ chiếm gần 51 % và chiếm khoảng 50 % lực lượng lao động Phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong xã hội Có thể thấy, phụ nữ ngày càng tham gia tích cực vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chẳng hạn, trong lĩnh vực chính trị, xã hội của đất nước, phụ nữ tham gia và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước, hiện có tới 33,1 % đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên
20 % (theo số liệu của Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam) Bên
Trang 15cạnh việc tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, phụ nữ Việt Nam còn tham gia tích cực vào các hoạt động ngoại giao, hiện nay nữ cán bộ làm công tác ngoại giao chiếm tỷ lệ gần 40 %, trong đó 01 nữ Thứ trưởng, 07 đại sứ, 11 vụ trưởng và tương đương, 51 Phó Vụ trưởng là nữ Về học vị, có 26 cán bộ nữ có trình độ Tiến sĩ (chiếm 32,9 % trong tổng số 79 Tiến sĩ của Bộ Ngoại giao), 267 cán bộ nữ có trình
Vai trò của người phụ nữ trong xã hội còn được thể hiện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo Hiện nay, phụ nữ chiếm tỷ lệ 61% những người có trình độ cao đẳng, 34% những người có trình độ đại học, 30% những người có trình độ thạc sĩ,
độ học vấn ngày càng được nâng cao đã giúp phụ nữ tham gia ngày càng tốt hơn công tác quản lý nhà nước Theo đánh giá của Văn phòng quốc hội, việc tham gia xây dựng pháp luật và chính sách, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước
và tọa đàm với cử tri của các nữ đại biểu quốc hội ngày càng có chất lượng
Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ
11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) diễn ra vào tháng 9 năm 2006 tại Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳng định: Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò của phụ nữ trong phát triển
và hội nhập quốc tế Chủ tịch nêu rõ: "Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động Trong thời kỳ hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Vai trò của phụ nữ
7
Cán b ộ ngoại giao nữ: “Đều tay” cùng đồng nghiệp nam xem tại:
http://songoaivu.bacgiang.gov.vn/vi/c%C3%A1n-b%E1%BB%99-ngo%E1%BA%A1i-giao-n%E1%BB%AF-%E2%80%9C%C4%91%E1%BB%81u-tay%E2 truy c ập ngày 04/7/2017
8 Nguyễn Quốc Tuán, Nguyễn Hải Hà, Vai trò của phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, Học viện
hành chính qu ốc gia đăng tại
http://www.haugiang.gov.vn/portal/data/sites/10/chuyende/phunu/phan2/vaitrophunuthamgiaquanl
Trang 16hoàn toàn xứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"9
Ngoài việc làm tốt các công tác trong xã hội, phụ nữ vẫn giữ được vai trò quan trọng trong gia đình như thực hiện thiên chức của người mẹ: Chăm sóc, nuôi dạy con cái và xây dựng hạnh phúc gia đình Ngoài thiên chức làm vợ, làm mẹ, người phụ nữ hiện đại còn có vai trò không nhỏ trong việc xây dựng, phát triển kinh
tế, tham gia lao động sản xuất tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho hộ gia đình Một điều dễ nhận thấy đối với những hộ sản xuất nông nghiệp thì phụ nữ là lực lượng lao động chủ yếu trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất
Có thể thấy người phụ nữ Việt Nam có vị trí và vai trò hết sức quan trọng đối với gia đình và xã hội Chính vì vậy, họ phải được hưởng các quyền bình đẳng so với nam giới trên mọi phương diện, tạo điều kiện cho họ phát huy khả năng của bản thân mình và đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của xã hội Đặc biệt đối với lĩnh vực đất đai được coi là tư liệu sản xuất quan trọng, do vậy quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai càng phải được bảo đảm
1.1.3 Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ
Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương chính sách quan trọng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ
Đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ là mục tiêu chiến lược của đất nước
trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh đã từng nói: “Bình đẳng nam nữ là một cuộc cách mạng, nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có một nửa” Trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng và Nhà
nước ta hết sức quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ và có những chủ trương,
9 Lê Thị Linh Trang, Vị trí, vai trò của phụ nữ trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước, xem tại:
http://www.haugiang.gov.vn/portal/data/sites/10/chuyende/phunu/phan2/vitrivaitrocuaphunutrongx
Trang 17chính sách cụ thể được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật của nhà nước Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam có nêu "Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản
lý ở các cấp, các ngành, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc" Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
X đã xác định: "Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người" Văn kiện Đại hội XII của Đảng (tháng 01 năm 2016) xác định phương hướng: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội
và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”
Bình đẳng nam nữ và vì sự tiến bộ của phụ nữ còn được ghi nhận trong Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản pháp luật khác Khi chưa có công ước của Liên hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ở Châu Á sớm công nhận và thể chế hóa một cách chính thức các quyền cơ bản của phụ nữ như quyền kinh tế chính trị, văn hóa, xã hội và gia đình Ngay trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp, quyền bình đẳng nam nữ được khẳng định và nhất quán thực hiện Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp năm 1946 – Bản hiến pháp đầu tiên
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông
về mọi phương diện”(Điều 9) Quy định này đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về
địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên
tất cả các lĩnh vực Tiếp đó, Hiến pháp năm 1959 ghi nhận “Phụ nữ Việt nam dân
Trang 18chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về mặt sinh hoạt kinh tế, chính trị, văn hóa , xã hội và gia đình” (Điều 24) Điều này tiếp tục được kế thừa trong Hiến pháp 1980: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình” (Điều 63) Đến Hiến pháp 1992 quy định “Công dân
nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt, nghiêm cấm mọi hành vi đối xử với phụ nữ, xâm phạm nhân phẩm phụ nữ” (Điều 63)
Đặc biệt, các quy định về quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong Hiến pháp 2013 đã có nội dung toàn diện hơn, đáp ứng nguyện vọng chung của xã hội, phù hợp với công cuộc đổi mới đất nước và các tiêu chuẩn được ghi nhận trong các công ước quốc tế mà nước ta tham gia Điều 26 Hiến pháp 2013 quy định:
“Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội, Nghiêm cấm phân biệt đối
xử về giới” So với Hiến pháp năm 1992, nội dung không phân biệt đối xử chuyển
từ “không phân biệt đối xử với phụ nữ” đã mở rộng sang “không phân biệt đối xử
về giới” Các quy định này đã bảo đảm được các nguyên tắc của Công ước
CEDAW về loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
Bên cạnh đó quyền bình đẳng giữa nam và nữ còn được cụ thể hóa trong các đạo luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động và đặc biệt là Luật Bình đẳng giới, luật này quy định nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó Trong lĩnh vực đất đai, quyền của người sử dụng đất không có sự phân biệt về giới tính, nam nữ mà chỉ quy định các quyền chung của người sử dụng đất
Có thể thấy, Đảng và nhà nước ta luôn đề ra các chủ trương, chính sách đường lối nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó bao gồm cả lĩnh vực đất đai
Trang 191.2 Khái quát chung về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
1.2.1 Khái niệm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Theo quan niệm về sở hữu tài sản truyền thống trong dân luật được các nước Châu Âu lục địa thừa nhận, quyền sở hữu bao gồm 3 nhóm quyền năng: Nhóm
Hiến pháp năm 2013 quy định: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" (Điều 53), theo quy định này, ở nước ta chế độ
sở hữu đất đai có tính chất đặc thù, chỉ tồn tại một hình thức sở hữu duy nhất về đất đai, đó là sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Với vai trò đại diện chủ sở hữu, Nhà nước trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để họ trở thành chủ thể có quyền sử dụng đất mà không phải là chủ sở hữu đất đai Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nói chung và phụ nữ nói riêng chỉ được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và được thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định trong pháp luật đất đai với tư cách
là người sử dụng đất Do vậy, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được hiểu là quyền của người sử dụng đất
Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai chính là quyền của người sử dụng đất, là khả năng mà pháp luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện những hành vi nhất định trong quá trình sử dụng đất nhằm sử dụng đất đúng mục đích, hợp
lí và tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao Tùy thuộc vào hình thức trao quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, pháp luật sẽ quy định quyền cụ thể của người sử dụng đất để từ đó người sử dụng đất nói chung và phụ nữ nói riêng thực hiện các quyền năng của sử dụng đất một cách thuận lợi và hiệu quả nhất
10 Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Xuân Trọng, “Bàn về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”,
http://land.hcmunre.edu.vn/Files/QLDD/34_Tuyen_Trong.pdf?AspxAutoDetectCookieSupport=1
Trang 201.2.2 Các loại quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Khi được Nhà nước trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất nói chung và phụ nữ nói riêng sẽ được thực hiện các quyền năng của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đồng thời được pháp luật bảo vệ khi quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm phạm, các chủ sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền năng của người sử dụng đất và được pháp luật bảo hộ trong thời hạn sử dụng đất, và không phải trường hợp nào chủ sử dụng đất cũng có các quyền năng giống nhau, có những trường hợp chủ sử dụng có quyền năng này nhưng lại không
có một số quyền năng khác mà chủ sử dụng đất khác có, điều này phụ thuộc vào hình thức trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước Pháp luật hiện hành ghi nhận nhiều hình thức trao quyền khác nhau như: Giao đất (giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không thu tiền sử dụng đất), cho thuê đất (cho thuê đất trả tiền một lần, cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm), công nhận quyền sử dụng đất Tùy thuộc vào hình thức trao quyền mà người sử dụng đất sẽ có các quyền năng khác nhau, tuy nhiên, có thể phân loại quyền năng của người sử dụng đất nói chung hay quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói riêng thành 02 nhóm chính sau:
Thứ nhất, nhóm quyền chung của người sử dụng đất, đây là những quyền
năng mà người sử dụng đất được hưởng không phụ thuộc vào hình thức trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất và những quyền năng này chủ thể chỉ được thực hiện và bảo hộ trong thời hạn sử dụng đất, theo đó các quyền chung của người sử dụng đất gồm: Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; quyền được hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục
vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; quyền được Nhà nước hướng dẫn và giúp
đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; quyền được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai; quyền
Trang 21khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm QSDĐ hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai
Thứ hai, nhóm quyền riêng của người sử dụng đất, bên cạnh việc quy định
các quyền chung, người sử dụng đất không phân biệt nam và nữ được pháp luật quy định những quyền năng riêng, đây là những quyền mà không phải chủ sử dụng đất nào cũng được phép thực hiện mà phụ thuộc vào hình thức nhà nước trao quyền hoặc công nhận, nói cách khác quyền riêng mà người sử dụng đất mà Nhà nước cho phép phụ thuộc vào các hình thức trao quyền và công nhận quyền sử dụng đất như: Giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc được công nhận quyền sử dụng đất Theo đó, tùy thuộc vào hình thức trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất không phân biệt nam hay nữ sẽ có những quyền trong nhóm các quyền riêng sau: Quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất; quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quyền cho thuê quyền
sử dụng đất; quyền thừa kế quyền sử dụng đất; quyền tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất; quyền góp vốn quyền sử dụng đất…
Có thể thấy, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được pháp luật ghi nhận khá đa dạng, tùy thuộc vào hình thức trao quyền và công nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất nói chung hay phụ nữ sẽ được trao những quyền năng nhất định, đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong quan hệ pháp luật đất đai khi có hành vi xâm phạm
1.2.3 Các yếu tố bảo đảm việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Như đã phân tích ở trên, quyền của phụ nữ trong mọi phương diện nói chung
và trong lĩnh vực đất đai nói riêng được pháp luật ghi nhận bình đẳng với nam giới
và với các chủ thể sử dụng đất khác Tuy nhiên, việc thực thi các quyền này của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai có hiệu quả thì mới đem lại ý nghĩa lớn trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời mới phát huy được hết các ý nghĩa của các chính sách bình đẳng giới được ghi nhận trong các chủ trương, đường lối, chính
Trang 22ta phải tạo được môi trường thuận lợi cho các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được thực thi một cách hiệu quả và để có thể tạo ra môi trường thuận lợi đó, phải đảm bảo được các yếu tố về: Chính trị, pháp luật, quản lý hành chính nhà nước về đất đai, xã hội, đội ngũ cán bộ công chức
Trước hết, yếu tố bảo đảm về chính trị Đây là một trong những điều kiện
để đảm bảo hết sức quan trọng cho hoạt động thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai nói chung và trong mọi mặt của đời sống xã hội nói riêng Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược và các định hướng lớn; thống nhất quản lý công tác cán bộ; trong hoạt động của mình, Đảng không ngừng tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của nhà nước và công tác thuyết phục công dân Có thể nói, để bảo đảm việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện chính trị hết sức cơ bản Có thể thấy được điều này trong quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai, những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về đất đai luôn đảm bảo sự đúng đắn, khoa học và nhất quán, Đảng luôn xác định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân Quản lý và sử dụng đất đai là vấn đề rộng lớn, phức tạp, hệ trọng liên quan đến giữ vững thành quả cách mạng, ổn định chính trị, xã hội của đất nước Các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng luôn được quán triệt và cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật Thêm vào đó, trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai luôn có sự kiểm tra, giám sát của Đảng, thông qua công tác này, Đảng sẽ kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi sai phạm trong quá trình quản lý nhà nước
về đất đai
Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị - xã hội như: Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt
Trang 23Nam, Hội Nông dân Việt Nam luôn phát huy tốt vai trò của mình trong việc giám sát việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Có thể nói, ở nước ta, pháp luật được ban hành thể hiện ý chí của đại đa
số nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi cho người lao động, cộng với những
ổn định về tình hình chính trị, nhất là chủ trương, chính sách, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đã phát huy tốt vai trò của mình trong lĩnh vực của đời sống, đây là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo cho hoạt động thực thi quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai
Th ứ hai, yếu tố bảo đảm về pháp luật Cùng với sự bảo đảm về chính trị,
thì pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo cho việc thực thi quyền của phụ nữ nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng Có thể thấy được điều này bởi chúng ta biết rằng tất cả chủ thể thực hiện pháp luật đều hoạt động trên cơ sở pháp luật, giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội bằng pháp luật Cho nên, muốn giải quyết được tốt các vấn đề phát sinh trong xã hội thì phải đảm bảo được các điều kiện pháp luật mà trước hết hệ thống những quy định đó phải hoàn thiện, đảm bảo được tính toàn diện, tính đồng bộ, và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, bên cạnh đó, việc áp dụng pháp luật được tốt cần phải có cơ chế thực hiện đúng đắn Có thể nói, với hệ thống pháp luật hoàn thiện và cơ chế thực hiện đúng đắn sẽ góp phần đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật đạt chất lượng, hiệu quả cao
Ở nước ta, hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, các quy định không phù hợp luôn được sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình mới, liên quan đến quy định về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai, các quy định của Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới… luôn được sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện để đáp ứng với điều kiện kinh tế - xã hội trong tình hình mới, bên cạnh đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách đúng đắn về cơ chế thực hiện pháp luật, trong đó có công tác tuyên
Trang 24truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, cho nên nhận thức và ý thức của cán bộ, công chức cũng như công dân về các chính sách pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực, chính điều này
đã góp phần không nhỏ đảm bảo cho công tác thực thi quyền của phụ nữ đạt hiệu quả
Th ứ ba, yếu tố về quản lý hành chính nhà nước về đất đai Bên cạnh
những yếu tố đảm bảo về chính trị và pháp luật thì quản lý hành chính nhà nước về đất đai là một yếu tố bảo đảm cho hoạt động thực thi quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai Phụ nữ cũng như các chủ thể sử dụng đất khác, khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai, phụ nữ cũng được bình đẳng với các chủ thể khác trong các quan hệ pháp luật về đất đai như đăng ký quyền sử dụng đất, giải quyết tranh chấp đất đai… chính điều này đảm bảo cho người phụ nữ thực thi các quyền của mình trong lĩnh vực đất đai
Th ứ tư, yếu tố đảm bảo về xã hội Đây là một trong những yếu tố quan
trọng góp phần không nhỏ đảm bảo cho việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Trong những năm qua cũng với sự phát triển của đất nước, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao, các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước nhất là về lĩnh vực đất đai luôn được người dân quan tâm,
vì vậy, nhận thức và ý thức pháp luật nói chung và pháp luật về đất đai của người dân nói chung và phụ nữ nói riêng ngày càng được nâng cao Chính điều này đã góp phần đảm bảo việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai đạt hiệu quả Cùng với đó, trong những năm qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức chấp hành pháp luật đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng, cộng với sự tham gia của các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức chính trị - xã hội đã góp phần không nhỏ trong việc nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của người dân
Th ứ năm, yếu tố về tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có
Trang 25năng lực và đạo đức trong công tác thi hành pháp luật Có thể nói, trình độ năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ tới hoạt động áp dụng pháp luật Nếu cán bộ, công chức không có năng lực và đạo đức công vụ thì không thể hiểu đầy đủ bản chất của quy phạm pháp luật áp dụng cũng như bản chất của vụ việc cần giải quyết, do đó việc áp dụng pháp luật để giải quyết sẽ không đạt hiệu quả, và ngược lại nếu có một đội ngũ cán bộ công chức vừa có trình độ năng lực vừa có đạo đức công vụ thì việc áp dụng luật chính xác, giải quyết tranh chấp đất đai có lý, có tình là điều đương nhiên Qua đó, các tranh chấp đất đai liên quan đến phụ nữ hoặc các quan hệ pháp luật đất đai khác trong đó có liên quan đến phụ nữ sẽ được giải quyết một cách chính xác, thông qua đó quyền của phụ nữ cũng được bảo đảm
1.3 Sơ lược về việc ghi nhận quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai qua các thời kỳ lịch sử
Ở nước ta, các quy định của pháp luật hiện hành nói chung và pháp luật đất đai nói riêng không có sự phân biệt các chính sách theo giới nam hay nữ bình đẳng trước pháp luật trong việc sử dụng đất Tuy nhiên mỗi thời kỳ lịch sử, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được tiếp cận dưới góc độ khác nhau, tùy từng giai đoạn lịch sử mà quyền này có được ghi nhận bình đẳng với nam giới hay không, có thể thấy được điều này qua việc nghiên cứu các giai đoạn lịch sử về quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai trong các văn bản pháp luật
1.3.1 Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
1.3.1.1 Thời kỳ phong kiến
Trong thời kỳ phong kiến, pháp luật nước ta đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi
tư tưởng Nho giáo nên địa vị của người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới
Sự bất bình đẳng được thể hiện trước tiên chính là sự phân biệt đối xử giữa con trai
và con gái trong gia đình Với quan niệm cần phải có con trai để nối dõi tông đường
nên xã hội phong kiến cho rằng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, quan điểm
Trang 26này chính là khởi điểm cho sự bất bình đẳng mà phụ nữ ở chế độ phong kiến phải gánh chịu Đây chính là tư tưởng chủ đạo, căn bản của xã hội phong kiến và nguyên tắc bất bình đẳng nam nữ đã trở thành tư tưởng chỉ đạo trong cả hai văn bản pháp luật được đánh giá là thành tựu lập pháp của Nhà nước phong kiến Việt Nam là Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) dưới thời Nhà Lê và Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt Luật Lệ) dưới thời Nhà Nguyễn
Về hình thức sở hữu đất đai trong thời kì này chế độ sở hữu đất đai tồn tại hai hình thức sở hữu là chế độ công điền (ruộng công) và chế độ tư điền (ruộng tư) - nhưng thực chất đất đai thuộc sở hữu Nhà nước mà đại diện là nhà Vua Chế độ ruộng công tồn tại dưới hai hình thức Ruộng công thuộc sở hữu nhà nước và ruộng công thuộc sở hữu xã thôn (ruộng công xã thôn) Ruộng công thuộc sở hữu nhà nước gồm có ruộng quốc khố (đó là ruộng nhà nước trực tiếp kinh doanh) và ruộng công dùng để phân phong (vua chia đất mà phong cho chư hầu)
Mặc dù, pháp luật thời kỳ này quy định chế độ ruộng tư (tư điền) tuy nhiên Nhà nước dùng các chính sách tô thuế để quản lý ruộng đất, người sử dụng đất có nghĩa vụ lớn nhất là phải nộp thuế, thuế có sự phân biệt rõ ràng theo nguyên tắc: Sử dụng ruộng của Nhà nước thì nộp thuế cao, còn sử dụng ruộng tư thì nộp thuế thấp Dưới thời nhà Lê, Bộ luật Hồng Đức đã dành hẳn 59 điều (toàn bộ chương 6 về điền sản) để quy định một cách chi tiết chế độ sở hữu, sử dụng và bảo vệ ruộng đất Trong việc sở hữu và sử dụng ruộng đất, pháp luật thời kỳ này không có sự phân biệt nam và nữ
Tuy nhiên, trong quan hệ vợ chồng, sự bất bình đẳng giữa người vợ và người
chồng thể hiện rõ nét với quan niệm “chồng chúa vợ tôi” Một người chồng có quyền cưới nhiều vợ “trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng” Với
những tư tưởng, quan niệm như vậy mà quyền lợi của phụ nữ không được đảm bảo
như quy định “Nếu người chồng chết mà người vợ đi lấy chồng khác thì không được hưởng tài sản, hoa lợi từ tài sản do người chồng để lại, song nếu người vợ chết trước, nếu người chống đi lấy vợ khác thì vẫn được hưởng tài sản từ vợ để lại (Điều
375 Bộ Luật Hồng Đức) Tuy nhiên, Bộ luật Hồng Đức vẫn được đánh giá là Bộ
Trang 27luật có nhiều điểm tiến bộ trong việc ghi nhận và bảo hộ quyền của phụ nữ, điểm đáng chú ý trong Bộ luật này là ghi nhận quyền thừa kế ngang bằng giữa người con gái và người con trai, đây là điểm tiến bộ khó thấy ở các bộ luật khác trong thời kỳ phong kiến
Dưới thời Nguyễn, Bộ Luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt Luật Lệ), luật viết xây dựng khuôn mẫu gia đình theo mô hình gia đình phụ quyền Trung Quốc với chủ trương tôn vinh vai trò của người đàn ông hạ thấp vị trí, vai trò của người phụ nữ với những quy định phân biệt sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, việc thờ cúng tổ tiên giao cho con trai trưởng Nếu không có con trai, thì người chủ gia đình phải tiến hành lập tự bằng cách nhận con nuôi trong số các con trai của những người thân thuộc (nam) bên nội cùng vai vế với mình Hơn nữa, về vấn đề thừa kế
có sự phân biệt rõ ràng giữa con trai và con gái trong gia đình Tại Lệ 2 Điều 83 Hoàng Việt luật lệ còn nói rõ là trong trường hợp đối với hộ tuyệt tự, không có người đồng tông kế tự, thì con gái còn được hưởng tài sản hương hỏa để thờ cúng tổ
tiên “Hộ tuyệt tài sản vô đồng tông ứng kế chi nhân sở hữu thân nữ thừa thụ” Như
vậy, khác với quy định trong Bộ Quốc triều hình luật dưới thời Lê, pháp luật thời nhà Nguyễn chỉ cho phép con gái được thừa kế tài sản hương hỏa nếu trong trường hợp đồng tông bị tuyệt tự hoặc không có người nào đủ tư cách thừa kế nữa tức họ hàng nhà nội không còn ai nữa để thừa kế thì hương hỏa mới được giao cho người con gái Có thể thấy, pháp luật thời kỳ này ghi nhận sự phân biệt bất bình đẳng giữa nam và nữ Tuy nhiên, đối với tài sản do hai vợ chồng cùng góp sức tạo lập nên thì pháp luật triều Nguyễn vẫn tôn trọng sự đóng góp công sức của người vợ, và trước pháp luật, cả hai vợ chồng đều có quyền hưởng dụng và sở hữu như nhau Ngoài ra, pháp luật thời nhà Nguyễn còn cho thấy có sự tôn trọng những tài sản riêng của người vợ mang về nhà chồng, và nếu không có con chung thì lúc người này mệnh một phần tài sản riêng này sẽ truyền lại cho những người thừa kế khác của mình (đó
là cha mẹ, người thừa tự của người vợ trong họ hàng của người vợ) Trường hợp có con chung, thì chỉ con đẻ của bà ta mới được thừa hưởng phần tài sản riêng này, chứ không phải là người chồng hay gia đình chồng được hưởng
Trang 28Các quy định trong pháp luật thời kỳ phong kiến chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo, còn đặt ra các quy định phân biệt đối xử giữa nam và nữ, trong đó người phụ nữ ít nhiều chịu sự thiệt thòi và bất công hơn so với nam giới Mặc dù người phụ nữ vẫn toát lên vai trò quan trọng nhất là trong gia đình, tuy nhiên, chính sức ép của tư tưởng trong thời kỳ phong kiến khiến người phụ nữ giảm đi vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội
1.3.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc
Dưới thời Pháp thuộc, Việt Nam là nước thuộc địa nửa Phong kiến, do đó pháp luật dân sự ở Việt Nam bên cạnh những yếu tố tiến bộ (mang dấu ấn của Bộ Luật Dân sự Pháp) thì các tư tưởng lạc hậu của xã hội phong kiến Việt Nam vẫn được duy trì Luật được sử dụng trong thời kỳ này chủ yếu là Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 1936 Duy trì sự bất bình đẳng trong quan
hệ vợ chồng, tư tưởng trọng nam khinh nữ được duy trì và bảo vệ Vợ bị hạn chế quyền thừa kế, không được lập di chúc để lại tài sản riêng của mình nếu không được chồng đồng ý Nếu vợ chết trước, chồng được thừa kế tài sản riêng của vợ, nhưng nếu chồng chết trước thì vợ chỉ có quyền hưởng dụng tài sản riêng của mình Vị trí của con trai trưởng, cháu đích tôn vẫn được coi trọng, được quản lý hương hỏa để thờ cúng tổ tiên, con gái thì không có quyền này Các quy định về thừa kế nói chung
và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng chưa được đầy đủ, hoàn thiện Nhưng nhìn chung thì chế định về thừa kế đã rõ nét hơn với những quy định về di sản, thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, các chính sách về sở hữu ruộng đất vẫn được Thực dân Pháp kế thừa và áp dụng
Có thể thấy, trong giai đoạn này, do bị ảnh hưởng tư tưởng "trọng nam, khinh nữ" các quy định của pháp luật thời kỳ này ngoài việc bảo vệ quyền lợi của
giai cấp thống trị thì bảo vệ quyền lợi của người đàn ông, phụ nữ thường bị phân biệt đối xử, các quyền năng của người phụ nữ đối với đất đai bị hạn chế trong các quy định của pháp luật cũng như khi thi hành trên thực tế
Trang 291.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời, các quy định về ruộng đất trước đây bị bãi bỏ Thời kỳ này, Đảng và Nhà nước
ta luôn đề ra và thực hiện những chủ trương, chính sách pháp luật về bảo vệ quyền
sử dụng đất của công dân nói chung cũng như của người phụ nữ nói riêng Ở bất kỳ giai đoạn phát triển nào của Cách mạng, người phụ nữ vẫn luôn được bảo đảm có sự bình đẳng với nam giới về mọi mặt, trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội
Năm 1946, Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đã khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống
xã hội Trong lĩnh vực đất đai, hàng loạt các văn bản pháp luật ra đời quy định quyền của người dân nói chung và của phụ nữ nói riêng về ruộng đất, Nhà nước tạo điều kiện để người dân có đất ở và đất sản xuất, có thể kể đến một số văn bản như: Thông tư ngày 26 tháng 10 năm 1945 về phương pháp khẩn cấp chấn hưng nông nghiệp đã quy định “khuyến khích dân quê và thành thị ra sức giồng trọt không nên
bỏ một tấc đất nào", Sắc lệnh số 15/SL ngày 30 tháng 01 năm 1946 của Chủ tịch chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bãi bỏ thuế thổ trạch ở thôn quê, Sắc lệnh số 78/SL ngày 14 tháng 7 năm 1949 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về giảm 25 % địa tô trước ngày 19 tháng 8 năm 1945, Sắc lệnh số 90/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950 quy định về việc sử dụng đất bỏ hoang, Sắc lệnh
số 3/SL ngày 06/02/1951 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “Để đỡ đần dân nghèo tăng gia sản xuất, nay bãi bỏ, kể từ ngày 01/01/1951 khoản lương tính bằng 10% thu hoạch trong thể lệ tạm cấp ruộng đất các loại đã ban hành” (Điều 1) Điều lệ thuế nông nghiệp áp dụng ở những nơi đã cải cách ruộng đất
ngày 24/03/1956 Pháp luật thời kỳ này không có những quy định riêng về chính sách sử dụng đất của phụ nữ, mà quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai hay bất kỳ
lĩnh vực nào đều được ghi nhận và đảm bảo thực hiện trên cơ sở “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946
Ngày 04 tháng 12 năm 1953, Quốc hội nước Việt nam dân chủ cộng hòa ban hành Luật cải cách ruộng đất, đánh dấu bước phát triển trong các quy định của pháp
Trang 30luật về đất đai, Luật Cải cách ruộng đất năm 1953 ra đời nhằm mục đích thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp cải thiện đời sống của nông dân (Điều 1) Sau hai năm thực hiện luật cải cách ruộng đất đã chia 810.000 ha ruộng đất cho 2.104.138
hộ gia đình với 8.323.236 nhân khẩu chiếm khoản 72,87 % số hộ ở nông thôn Cuộc cải cách ruộng đất đã mang lại những biến đổi lớn trong cơ cấu sở hữu đất đai Sở hữu của người nông dân được tăng lên cùng với việc giảm dần và xóa bỏ sở hữu của địa chủ và quan lại phong kiến
Trong khi đó, ở miền Nam, sau khi thực đân Pháp rút khỏi Việt Nam, thì miền Nam Việt Nam rơi vào tay bọn xâm lược Mỹ, trong giai đoạn năm 1954 -1956, Tổng thống Cộng hòa việt Nam Ngô Đình Diệm cũng tiến hành cải cách điền địa bằng dụ số 2 ngày 08/01/1955, dụ số 7 ngày 05/02/1955 và sau đó là quy chế tá điền ban hành năm 1956 ấn định quyền lợi và nghĩa vụ của người thuê (mướn ) ruộng đất canh tác của chủ điền với mức tô do Luật định không được dưới 15% và trên 25% tổng số thu hoạch được trong năm Với việc xác lập “quy chế tá điền” chính quyền Ngô Đình Diệm đã hợp thức hóa việc địa chủ và thực dân chiếm đoạt
75 vạn ha mà chính quyền Cách mạng đã chia cho nông dân, bắt hàng chục vạn hộ gia đình nông dân lao động trở lại vị trí tá điền
Đạo sự số 57 được ban hành ngày 22/10/1956 quy định cải cách điền địa, theo đó Nhà nước truất quyền sở hữu có bồi thường đối với điền chủ có trên 100 ha đất và mua lại ruộng đất của Pháp kiều để chuyển giao cho tá điền vô sản Tính đến năm 1961 chương trình này đã được cấp khoảng 350.000 ha ruộng đất cho 126.040 gia đình nông dân vô sản Tuy nhiên, đây là cách cải tiến lại chế độ sở hữu ruộng đất đã có từ thời Pháp thuộc nhằm mục đích thu phục nhân tâm – đặc biệt là tầng lớp nông dân đông đảo ở thôn quê thừa lòng yêu nước chống Mỹ Diệm nhưng đang thiếu ruộng cày
Đến năm 1959, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước phát triển sang một giai đoạn mới, với nhiệm vụ: Thực hiện công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thống nhất đất nước và đưa cả nước tiến lên con đường chủ nghĩa xã hội Trên cơ sở
Trang 31kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp 1959 ra đời và tiếp tục khẳng định quyền bình đẳng giữa nam giới và nữ giới trong xã hội nói chung cũng như trong quan hệ pháp luật đất đai nói riêng
Trong thời kỳ này, Nhà nước thừa nhận hình thức sở hữu của Nhà nước tức
là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc (Điều 11 Hiến pháp năm 1959), theo quy định này, pháp luật vẫn ghi nhận nhiều hình thức sở hữu về đất đai và quyền năng này được pháp
luật bảo hộ: “Nhà nước chiều theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân” (Điều 14 Hiến pháp năm 1959) Quy định
này có ý nghĩa rất lớn đối với người nông dân nói chung và phụ nữ nói riêng, làm thay đổi địa vị pháp lý từ người làm thuê trở thành người chủ tư liệu sản xuất là đất đai Tuy nhiên, đến những năm 1960, ở miền Bắc hình thức sở hữu tư nhân về đất đai lại dân bị thủ tiêu do phong trào “Hợp tác hóa nông nghiệp” Sở hữu tập thể đất đai phát triển và trở thành hình thức sở hữu đất đai chủ yếu ở nông thôn miền Bắc Sau năm 1975 phong trào này được tiến hành ở Miền Nam Do đó, đến cuối những năm 70, ở nước ta chỉ còn tồn tại hai hình thức sở hữu đất đai căn bản: Sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể
Ở miền Nam nhiều chính sách mới về ruộng đất được nhà nước ban hành và thực hiện như “chính sách người cày có ruộng” Chính sách ruộng đất ban hành
theo Nghị định số 75 ngày 05/3/1975 quy định: “Chia ruộng đất cho nhân dân, chánh quyền, các đoàn thể cách mạng, cần xác định cho nhân dân thấy rõ con đường tiến lên khẩn trương tổ chức làm ăn tập thể bằng hình thức đổi công, tạo điều kiện tương trợ từng bước tiến lên hợp tác hóa… Hết lòng giúp đỡ gia đình Cách mạng neo đơn, thiếu sức lao động bằng vần đổi công, lao động tập thể của đồng bào địa phương” Sau khi thống nhất đất nước, cơ cấu sở hữu đất đai và chế
độ sở hữu đất đai tồn tại ở miền Bắc được áp dụng với quy mô khá lớn ở Miền Nam Trong giai đoạn này, do nhà nước thừa nhận hình thức sở hữu tư nhân về đất đai cho nên quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực đất đai gắn với phần đất thuộc
Trang 32sở hữu của họ, tức là họ có các quyền năng của chủ sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt, đây là điểm khác biệt về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai so với những giai đoạn sau này khi nhà nước quy định quy định một hình thức sở hữu duy nhất về đất đai - sở hữu toàn dân, thời kỳ này, quyền bình đẳng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đất đai được Nhà nước ta đảm bảo, Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện cho người dân trong đó có phụ nữ có đất để sản xuất Cùng với nam giới, phụ nữ đã tham gia tích cực vào việc phát triển sản xuất, góp phần vào công cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, cải tạo và xây dựng chủ nghĩa
xã hội
1.3.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến nay
Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, với nhiệm vụ cách mạng là vừa hàn gắn vết thương chiến tranh, vừa kiến thiết xây dựng đất nước Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để thực hiện nhiệm vụ cách mạng này, và vấn đề thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ vẫn luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm
Năm 1980, bản Hiến pháp mới ra đời làm thay đổi căn bản chính sách chế độ
sở hữu đất đai ở nước ta Theo đó, ở nước ta chỉ thừa nhận một hình thức sở hữu duy nhất về đất đai, đó là sở hữu toàn dân (Điều 19) Trước đó, các thủ tục về quản
lý và sử dụng đất đai chủ yếu chỉ dựa vào một số văn bản như: Quyết định số
201-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất
và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước; Quyết định số 184/ HĐBT ngày 06 tháng 11 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng về việc giao đất, giao rừng cho tập thể và nhân dân trồng cây, gây rừng… vấn đề quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất chưa được quan tâm, các quy định không đầy đủ, chung chung và mới chỉ chú trọng đến các loại đất quan trọng khác như đất ở, đất xây dựng công trình, đất
an ninh quốc phòng
Ngày 29 tháng 12 năm 1987, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua, Trong quy định của Luật này không có sự phân biệt về quyền của nam giới hay nữ giới Bên cạnh việc khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
Trang 33quản lý thì Luật Đất đai năm 1987 đã có những quy định cụ thể về quyền của người
sử dụng đất, theo đó, cho phép người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyền chuyển nhượng, bán thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định (Điều 3), người sử dụng đất chỉ được thừa kế quyền sở hữu nhà ở trên đất mà không đặt ra quy định về quyền thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 17) Bên cạnh đó Luật đất đai năm 1987 còn
đề cập đến quyền chuyển quyền sử dụng đất trong một số trường hợp Cùng với đó
là một loạt các văn bản pháp luật mới về đất đai đã ra đời quy định cụ thể hơn quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Ngày 03/3/1983, Pháp lệnh thuế nông nghiệp ra đời, quy định quyền và nghĩa vụ của mỗi hộ gia đình, cá nhân bao gồm cả người phụ nữ phải nộp thuế và những chính sách miễn giảm thuế
Ngày 15 tháng 4 năm 1992, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, Kỳ họp thứ 11 đã biểu quyết nhất trí thông qua Hiến pháp năm
1992 được coi là bản Hiến pháp của thời kỳ “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Chính sách đất đai trong thời kỳ này có nhiều thay đổi, Hiến pháp 1992 ra
đời tiếp tục khẳng định nguyên tắc “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước
thống nhất quản lý” Đồng thời, Hiến pháp 1992 khẳng định: "Công dân nữ và nam
có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ"
(Điều 63) Đây là cơ sở quan trọng để thực hiện quyền của người phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã cụ thể hóa việc “Nhà nước giao đất cho các
tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” bằng 2 hình thức: (1) Nhà nước giao
đất, cho thuê đất cho các tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, hộ gia đình và cá nhân (không phân biệt nam hay nữ); (2) Nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất Các quyền của hộ gia đình, cá nhân được pháp luật quy định cụ thể với nhiều quyền năng mới như: Được cấp GCNQSD đất, được hỗ trợ, hướng dẫn sản xuất nông nghiệp đồng thời, phụ
Trang 34thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất… So với Luật đất đai năm 1987 thì quy định này mang tính đột phá trong quy định của pháp luật về QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân và đáp ứng đòi hỏi của việc sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam Việc giao đất được xác định trên cơ sở nhân khẩu mà không phân biệt nam hay nữ (Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân) Ngoài Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định thể hiện sự bình đẳng trong việc sử dụng đất của cá nhân bao gồm cả phụ nữ cũng được luật trong một số văn bản pháp luật khác: Bộ luật dân sự năm 1995, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định chế độ tài sản chung vợ chồng, đồng thời quy định đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử hữu phải ghi tên cả vợ và chồng Trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng đã đăng ký quyền sở hữu mà chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có thể yêu cầu cơ quan nhà nước cấp lại giấy tờ đăng ký quyền
sở hữu tài sản đó để ghi tên cả vợ và chồng Quy định này hiện thực hóa quyền bình đẳng nam nữ với tư cách là vợ chồng trong vấn đề về sở hữu tài sản chung
Kế thừa và phát huy các quy định của pháp luật đất đai của những thời kỳ trước, Luật Đất đai năm 2003 ra đời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về quyền của người sử dụng đất căn cứ vào hình thức sử dụng đất là giao đất hay cho thuê đất Bên cạnh các quyền chung, các quyền riêng của người sử dụng đất được mở rộng thêm 04 quyền năng mới: cho thuê lại, tặng cho quyền sử dụng đất; bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Cũng như pháp luật thời kỳ trước, pháp luật đất đai giai đoạn này không có sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ
Ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội ban hành Luật Bình đẳng Giới đánh dấu bước phát triển mới trong việc đảm bảo quyền bình đẳng giữa nam và nữ Luật này quy định những nguyên tắc quan trọng về bình đẳng giới: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình trong đó bao gồm cả lĩnh vực đất
Trang 35đai; Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới Đây là cơ sở quan trọng để phụ nữ thể hiện vị trí, vai trò của mình trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng quy định về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai, trước hết là Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã có những quy định rất rõ ràng về quyền của công dân nam
và nữ và bình đẳng giới, theo đó công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước
có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội; Hiến pháp nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới (Điều 26) Cùng với đó, Luật Đất đai năm 2013 ra đời, đã dành một chương riêng quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, bên cạnh các quyền chung của người sử dụng đất, Luật còn quy định các quyền riêng của người sử dụng đất và pháp luật hiện hành cũng không
có sự phân biệt về giới khi ghi nhận các quyền của người sử dụng đất Thêm vào đó, Luật HN&GĐ năm 2014 ra đời ghi nhận các nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng, các quy định nhằm bảo vệ quyền của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới trong gia đình Luật này cũng đưa ra các quy định chi tiết và cụ thể về tài sản chung của vợ, chồng nhằm đảm bảo quyền lợi của cả hai bên trong thời kỳ hôn nhân cũng như trong trường hợp ly hôn hoặc một bên chết trước Luật nhấn mạnh
vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập (Khoản 1, Điều 29) Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa
vụ của vợ, chồng xuyên suốt trong tất cả các điều khoản liên quan đến tài sản chung Điều 31 Luật Hôn nhân và Gia đình ghi nhận việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thoả thuận của vợ chồng Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng Những quy định này đảm bảo địa vị pháp
lý bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình
Có thể nói, quy định về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai thời kỳ này
Trang 36gắn với đất đai như trước đây mà gắn với quyền sử dụng đất, điều này xuất phát từ chế độ hữu về đất đai thời kỳ này ghi nhận một hình thức sở hữu về đất đai, đó là sở hữu toàn dân Trong giai đoạn này, pháp luật đất đai nước ta không phân biệt nam
nữ trong việc quy định quyền của người sử dụng đất, các chủ sử dụng đất đều bình đẳng với nhau Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người phụ nữ tham gia phát triển sản xuất, từ đó nâng cao vị trí, vài trò của phụ nữ trong đời sống xã hội
Trang 37Kết luận chương 1
Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương chính sách quan trọng nhằm bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ Quyền bình đẳng nam nữ được ghi nhận trong Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản pháp luật khác Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp năm 1946– Bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi
nhận: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện”(Điều 9) Tiếp đó, quy
định này đã được kế thừa và phát huy trong các bản Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp năm 2013 Bên cạnh đó quyền bình đẳng giữa nam và nữ còn được cụ thể hóa trong các đạo luật như: Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động và đặc biệt là Luật Bình đẳng giới, luật này quy định nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó Trong lĩnh vực đất đai, quyền của người sử dụng đất không có sự phân biệt về giới tính, nam nữ mà chỉ quy định các quyền chung của người sử dụng đất
Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được pháp luật ghi nhận khá đa dạng, tùy thuộc vào hình thức trao quyền và công nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất nói chung hay phụ nữ sẽ được trao những quyền năng nhất định, đây là cơ
sở quan trọng để Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ trong quan
hệ pháp luật đất đai khi có hành vi xâm phạm
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI QUẬN
DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Pháp luật về đất đai hiện hành quy định quyền của người sử dụng đất nói chung, gồm có cá nhân, hộ gia đình và tổ chức mà không có quy định riêng về quyền của phụ nữ, theo đó, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được xác định gồm các quyền năng của người sử dụng đất được pháp luật quy định Tuy nhiên, những quyền năng mà pháp luật cho phép trong lĩnh vực đất đai của phụ nữ không phải trường hợp nào cũng như nhau mà nó phụ thuộc vào hình thức trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, để có thể xem xét một cách toàn diện về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai, chúng ta có thể chia làm hai nhóm quyền chính, đó là các quyền chung và quyền riêng của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất
2.1 Các quyền chung của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất
2.1.1 Quyền được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là quyền năng của người sử dụng đất được quy định tại Khoản
1 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước – đại diện chủ sở hữu đất đai và người có thẩm quyền quản lý thống nhất đất đai với người sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với người sử dụng đất, nó chính là căn cứ pháp lý để người sử dụng đất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp từ đất, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là điều kiện cần thiết để người sử dụng đất thực hiện các quyền năng khác như việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thừa kế, thế chấp , đồng thời,
Trang 39chứng thư pháp lý này là cơ sở quan trọng để Nhà nước bảo hộ khi quyền, lợi của của họ bị xâm phạm
Dù quyền sử dụng đất được Nhà nước trao quyền bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng công đoạn cuối để hoàn tất thủ tục trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất là người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý, là cơ sở pháp lý quan trọng xác định tính hợp pháp cho người sử dụng đất nói chung và phụ nữ nói riêng để họ
có thể yên tâm sử dụng đất ổn định theo thời hạn được xác định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Pháp luật về đất đai hiện hành quy định quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất không có sự phân biệt về giới tính, nam hay nữ mà chỉ cần họ đáp ứng đủ các điều kiện mà pháp luật quy định thì sẽ được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất hợp pháp vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước vừa thực hiện việc quản lý Nhà nước về đất đai, vừa là quyền cơ bản của người sử dụng đất để từ đó họ được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp khác như chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, cho thuê quyền sử dụng đất
Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các chủ sử dụng đất, tuy nhiên, các văn bản pháp luật trước đây quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình thường chỉ cấp cho chủ hộ, có thể thấy điều này trong quy định tại Nghị định số 60-CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ quy định về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị Điều này, dễ dẫn đến sự bất bình đẳng trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, nhất là việc thực hiện quyền giữa vợ và chồng khi chồng là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Bởi vậy, Luật Đất đai năm 2013 đã giải quyết vấn đề này bằng việc quy định thửa đất có nhiều người chung quyền sử dụng đất, nhiều người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất thì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
Trang 40liền với đất phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, người sở hữu chung nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và cấp cho mỗi người 01 Giấy chứng nhận; trường hợp các chủ sử dụng, chủ sở hữu có yêu cầu thì cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện (khoản 2 Điều 98)
Cùng với đó, Luật Đất Đai năm 2013 đã quy định rõ nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng Theo đó trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ
và chồng có thỏa thuận ghi tên một người Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu (khoản 4 Điều 98) Theo quy định này, giữa vợ và chồng ngang quyền về việc đứng tên trong GCNQSDĐ, điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, nhất là đối với phụ nữ khi mà một số quy định pháp luật trước đây thường chỉ ghi tên chồng - chủ nhà trong giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ, chồng
Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 cũng ghi nhận trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác (Điều 34) Cụ thể hóa quy định này, Điều 12 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày
31 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình đã ghi nhận việc quy định tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình bao