Hay Điều 175 Luật đất đai năm 2013 quy định: Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, thế chấp, góp vốn bằng tà
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PH¸P LUËT VÒ THõA KÕ QUYÒN Sö
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3HÀ NỘI - 2017
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thị Lan Hương
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến về đề tài luận văn:
"Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình" Để hoàn
thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp
đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường
Trước hết, tôi xin chân thành tới các thầy, cô giáo của Viện Đại học Mở
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Viện
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình
Hà N ội, ngày 29 tháng 9 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Thị Lan Hương
Trang 6quyền sử dụng đất ở Việt Nam
22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH NINH BÌNH
31
2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất 31 2.1.1 Các quy định của Luật đất đai năm 2013 về thừa kế quyền sử dụng đất 31 2.1.2 Các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về thừa kế quyền sử
2.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng
kinh tế, du lịch và sự ảnh hưởng đến việc thi pháp luật về thừa kế
quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
38
2.2.2 Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
tại tỉnh Ninh Bình
43
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI TẠI
TỈNH NINH BÌNH
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và
nâng cao hiệu quả thực thi tại tỉnh Ninh Bình
60
Trang 73.1.1 Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói
chung và các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng
60
3.1.2 Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đi đôi
với việc cải tiến mạnh mẽ các thủ tục về thừa kế quyền sử dụng đất
theo hướng đơn giản, công khai và minh bạch
61
3.1.3 Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thừa kế quyền sử
dụng đất tập trung vào việc bảo vệ quyền thừa kế quyền sử dụng đất
của phụ nữ và của người nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam
62
3.1.4 Giải quyết nhanh chóng, dứt điểm, khách quan, đúng pháp luật các
khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất nhằm
bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cho người sử dụng đất và góp
phần duy trì sự ổn định chính trị - xã hội
63
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và
nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Ninh Bình
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 So sánh các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất giữa Luật
đất đai năm 1993 và Luật đất đai năm 2013
30
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Thừa kế tài sản là một chế định pháp luật quan trọng trong Bộ luật dân
sự Việt Nam năm 2015, thể hiện sự bảo hộ của Nhà nước đối với quyền sở hữu tài sản riêng của cá nhân Di sản thừa kế của cá nhân được để lại rất phong phú về chủng loại, đa dạng về tính năng sử dụng; bao gồm: động sản, bất động sản) Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quyền sử dụng đất cũng được xác định là di sản thừa kế khi người sử dụng đất chết Tính nhân văn trong các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất thể hiện; nước ta là quê hương của nghề trồng lúa nước truyền thống Đã bao đời nay, con người Việt Nam gắn bó máu thịt với mảnh đất canh tác Họ sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ chính mảnh đất đó Cha mẹ nuôi dưỡng con cái; lớn lên con cái
có nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc ông bà, cha mẹ cũng chính từ mảnh đất này Vì vậy, việc pháp luật công nhận thừa kế quyền sử dụng đất là sự ghi nhận truyền thống mang đậm tính nhân văn tốt đẹp của người Việt Nam Đó là, đất đai được chuyển giao
từ thế hệ này sang thế hệ khác tiếp tục sử dụng là sự tiếp nối truyền thống cần cù, chăm chỉ lao động của người nông dân và đảm bảo cho đất đai được sử dụng ổn định, liên tục, lâu dài và có hiệu quả, tránh gây xáo trộn trong quá trình sử dụng đất
Sau hơn 30 năm đổi mới (1986 - 2017), Nhà nước ta đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai; trong đó có chế định về thừa kế quyền sử dụng đất nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý và sử dụng đất trong điều kiện kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường chỉ có thể vận hành và phát triển đồng bộ, thông suốt và có hiệu quả khi quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ Một trong những thay đổi tư duy rất quan trọng đưa đến những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; đó là, sự công nhận địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai và cho phép họ có quyền sử dụng đất lâu dài Trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, chế định về thừa kế quyền sử dụng đất được xây dựng và hoàn thiện Luật đất đai
Trang 10năm 2013 có các quy định về quyền thừa kế quyền sử dụng đất; trình tự, thủ tục thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất Tiếp đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã dành một phần (Phần thứ tư: Từ Điều 609 - Điều 662) đề cập đến thừa kế nói chung
và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng dưới góc độ quyền tài sản tư của cá nhân Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế, đất đai ngày càng trở lên có giá và người dân nhận thức được sâu sắc về giá trị của đất; dẫn đến việc thừa kế quyền sử dụng đất cũng phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện phức tạp Hậu quả của tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất để lại rất nặng nề
Nó không chỉ phá vỡ sự ổn định, không khí hòa thuận, đầm ấm trong gia đình, gây
ra sự mâu thuẫn, mối bất hòa giữa anh, chị em ruột, họ hàng với nhau mà còn lôi kéo cả gia đình, dòng họ lao vào cuộc chiến pháp lý tàn khốc, kéo dài làm tổn hao sinh lực, sức khỏe, tiền bạc vật chất của các bên Bên cạnh đó, tranh chấp về quyền
sử dụng đất còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình ổn định chính trị, trật tự an toàn
xã hội ở địa bàn cộng đồng dân cư Mặt khác, việc quản lý đất đai có sự xáo trộn qua các thời kỳ do chính sách, pháp luật đất đai có những nét đặc thù ở từng giai đoạn lịch sử, hệ thống hồ sơ đất đai không đầy đủ, đồng bộ Đất đai có nguồn gốc lịch sử phức tạp Một số vấn đề về đất đai do lịch sử để lại chưa giải quyết được nay lại phát sinh những vấn đề mới trong quản lý đất đai trong bối cảnh kinh tế thị trường v.v Đây là những rào cản, khó khăn cho thực tiễn giải quyết các tranh chấp
về thừa kế quyền sử dụng đất Trong nhiều vụ việc giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn có những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng pháp luật hoặc do các quy định của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất thiếu chi tiết, cụ thể; mâu thuẫn, chồng chéo hay do pháp
luật còn có những "khoảng trống" v.v Đây là một trong những nguyên nhân khiến
công tác giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất đạt hiệu quả chưa cao Để khắc phục hạn chế này, chúng ta cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất Đây là một việc làm có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn đặt trong bối cảnh Luật đất đai năm 2013 đang trong quá trình thực thi
Trang 111.2 Ninh Bình là một tỉnh nằm ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ Tăng trưởng kinh tế trong những năm gần đây của tỉnh Ninh Bình đạt mức độ khá cao so với mức bình quân của cả nước Kinh tế - xã hội phát triển kéo theo giá trị của đất đai ngày càng tăng Bên cạnh những mặt tích cực, dưới tác động của cơ chế thị trường khiến các quan hệ xã hội càng trở lên đa dạng, phức tạp Các lợi ích đan xen, mâu thuẫn; thậm chí, đối lập nhau… trong những quan hệ xã hội Quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai cũng không phải là một ngoại lệ Thừa kế quyền sử dụng đất tiềm
ẩn nguy cơ tranh chấp, xung đột nếu các bên không thỏa hiệp, dung hòa lợi ích với nhau; bởi, quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn Để hướng dẫn người sử dụng đất nói chung và các đối tượng thụ hưởng thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng ứng
xử văn minh trong phân chia tài sản thừa kế; pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất được ban hành Mặc dù, đã được sửa đổi, bổ sung cùng với việc ban hành Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành song việc
áp dụng các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất vẫn gặp khó khăn, vướng mắc Bởi lẽ, đất đai là vấn đề nhạy cảm, phức tạp và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; nguồn gốc lịch sử; phong tục, tập quán, thị hiếu, ý thức pháp luật của người dân v.v Nên trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; số lượng các tranh chấp đất đai nói chung và tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng không chỉ gia tăng về số lượng mà còn gia tăng về tính chất phức tạp Việc giải quyết tranh chấp gặp nhiều khó khăn; thậm chí có vụ việc qua rất nhiều cấp giải quyết nhưng người dân vẫn tiếp tục khiếu kiện Có không ít bản án, quyết định xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm về giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất bị hủy, sửa v.v Điều này có nguyên nhân từ các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất vẫn còn bất cập, chưa phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội Muốn khắc phục những bất cập này thì cần thiết phải có
sự tiếp tục đánh giá, phân tích toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn đối với chế định pháp luật này tham chiếu với thực tiễn thi hành tại tỉnh Ninh Bình
Với những lý do chủ yếu trên, học viên lựa chọn đề tài: "Pháp luật về thừa
kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình" làm luận văn thạc sĩ luật học
Trang 122 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất không phải là một vấn đề mới mẻ Thời gian qua đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của giới luật học nước ta về chủ đề này đã được công bố mà tiêu biểu là
một số công trình cụ thể sau: i) Tưởng Duy Lượng (2005), Bình luận về một số vụ án
hôn nhân và gia đình, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; ii) Phùng Trung Tập (2004),
Th ừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Nxb Tư pháp,
Hà Nội; iii) Phạm Văn Tuyết (2004), Chế định thừa kế theo di chúc, Luận án Tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; iv) Phùng Trung Tập (2008), Luật thừa kế
Vi ệt Nam, Nxb Hà Nội; v) Dương Thị Liễu (2009), Thực trạng thi hành các quy định của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hà Nam, Luận
văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; vi) Đỗ Văn Đại (2016),
Bình lu ận khoa học một số nội dung mới của Bộ luật dân sự năm 2015; Nxb Hồng
Đức; vii) Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật dân sự, Hà Nội; viii)
Nguyễn Minh Tuấn (chủ biên) (2016), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm
2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội; ix) Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (chủ biên)
(2017), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Tư pháp, Hà Nội; x) Đỗ Văn Đại (2010), Tuyển tập các bản án quyết định của Tòa án Việt Nam về quyền sử
d ụng đất, Nxb Lao động, Hà Nội v.v
Các công trình nghiên cứu này đề cập đến chế định thừa kế tài sản (trong đó
có thừa kế quyền sử dụng đất) đã giải quyết được một số vấn đề lý luận và thực tiễn
cụ thể sau đây:
M ột là, phân tích những vấn đề lý luận về thừa kế bao gồm khái niệm, đặc
điểm và ý nghĩa của thừa kế (trong đó có thừa kế quyền sử dụng đất)
Hai là, phân tích một số vấn đề lý luận pháp luật về thừa kế như khái niệm, đặc điểm; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng; lịch sử hình thành và phát triển chế định về thừa kế quyền sử dụng đất…
Trang 13Ba là, bình luận, phân tích các vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản do Tòa
án nhân dân các cấp xét xử
B ốn là, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thừa kế nói
chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng
Tuy nhiên, nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất về lý luận và thực tiễn tham chiếu với quá trình thi hành Luật đất đai năm 2013 tại tỉnh Ninh Bình thì dường như vẫn còn thiếu một công trình khoa học như vậy Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố, luận văn tiếp tục tìm hiểu pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Ninh Bình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích nghiên cứu tổng quát là đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Ninh Bình
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phân tích, luận giải cơ sở lý luận của thừa kế quyền sử dụng đất thông qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất; ý nghĩa của thừa kế quyền sử dụng đất…
ii) Phân tích cơ sở lý luận pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất thông qua việc luận giải cơ sở xây dựng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất; khái niệm và đặc điểm pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất; các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất; lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
iii) Tìm hiểu nội dung pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh Ninh Bình
Trang 14iv) Đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Ninh Bình
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn khu trú vào các vấn đề cụ thể sau đây:
- Quan điểm, đường lối của Đảng về đổi mới chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới nói chung và việc mở rộng các quyền của người sử dụng đất nói riêng
- Các quy định của pháp luật đất đai hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất
- Các trường phái, quan điểm lý thuyết về thừa kế tài sản nói chung và thừa
kế quyền sử dụng đất nói riêng
- Thực tiễn thi hành pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất tại tỉnh Ninh Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất từ thực tiễn tại tỉnh Ninh Bình là đề tài nghiên cứu có phạm vi rộng Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu vào một số nội dung cụ thể sau:
- Gi ới hạn về nội dung Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung
ở các quy định của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về thừa kế quyền sử dụng đất; các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về thừa kế quyền sử dụng đất
- Giới hạn về thời gian Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu các quy định về
thừa kế quyền sử dụng đất từ năm 1993 (năm ban hành Luật đất đai năm 1993) đến nay
- Gi ới hạn về không gian Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở thực
tiễn thi hành pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra; trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 15ii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất;
- Phương pháp so sánh luật học, phương phân tích, phương pháp đánh giá v.v được sử dụng trong Chương 2 khi tìm hiểu thực trạng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh Ninh Bình;
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở Chương 3 khi nghiên cứu về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền
sử dụng đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Ninh Bình
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài đã được công bố, luận văn có một số đóng góp chủ yếu sau:
i) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất và pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất;
ii) Phân tích nội dung các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất và đánh giá thực tiễn thi hành chế định này tại tỉnh Ninh Bình nhằm nhận diện những kết quả và những tồn tại; đồng thời, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại này;
iii) Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Ninh Bình
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Ch ương 1: Tổng quan pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
Ch ương 2: Thực trạng pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và thực tiễn
thi hành tại tỉnh Ninh Bình
Ch ương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất và
nâng cao hiệu quả thi hành tại tỉnh Ninh Bình
Trang 16Chương 1
LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Lý luận về thừa kế quyền sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của quyền sử dụng đất
1.1.1.1 Quan ni ệm về quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất là một khái niệm được sử dụng rất phổ biến trong pháp luật đất đai Việt Nam quyền sử dụng đất được quan niệm theo hai phương diện:
i) Ph ương diện chủ quan Đây là một quyền năng của người sử dụng đất
trong việc khai thác, sử dụng các thuộc tính có ích của đất để đem lại một lợi ích vật chất nhất định Quyền năng này của người sử dụng đất được pháp luật đất đai ghi nhận và bảo hộ Trên phương diện này, quyền sử dụng đất được các tài liệu, sách, báo pháp lý quan niệm như sau:
- Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn:
Quyền sử dụng đất: Quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho …
từ những chủ thể khác có quyền sử dụng đất;
Người sử dụng đất có các quyền: 1 Quyền được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 2 Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; 3 Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; 4 Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; 5 Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; 6 Khiếu nại,
tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm pháp luật đất đai Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất … theo quy định của pháp luật về đất đai [35, tr 655]
Trang 17- Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội:
Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất [29, tr 92]
Như vậy, xét trên phương diện chủ quan, quyền sử dụng đất là một quyền năng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân với tư cách là người sử dụng đất nhằm khai thác các thuộc tính có ích của đất đai và đem lại lợi ích vật chất nhất định cho họ
ii) Ph ương diện khách quan Quyền sử dụng đất là một chế định quan trọng
của pháp luật đất đai bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật đất đai do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất như quan hệ làm phát sinh quyền sử dụng đất; quan hệ về thực hiện các quyền năng của quyền sử dụng đất; quan hệ về bảo hộ quyền sử dụng đất (giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về quyền sử dụng đất)
Xét trên phương diện này, quyền sử dụng đất với tư cách là một chế định pháp luật bao gồm các quy định làm căn cứ pháp lý phát sinh quyền sử dụng đất; các quy định về thực hiện quyền sử dụng đất và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về quyền sử dụng đất Luật đất đai năm 2013 đã dành hẳn một chương (Chương XI - Từ Điều 166 đến Điều 194) quy định về quyền và nghĩa
vụ của người sử dụng đất; bao gồm các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đất và các quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng nhóm chủ thể sử dụng đất
1.1.1.2 Đặc điểm của quyền sử dụng đất
Quyền sử dụng đất ở nước ta có nội hàm rộng hơn quyền sử dụng thông
thường Nó vượt khỏi khuôn khổ "chật hẹp" của quyền khai thác công dụng, hưởng
hoa lợi, lợi tức từ tài sản để tham gia vào các giao dịch dân sự trên thị trường; được
sử dụng làm tài sản bảo đảm trong quan hệ thế chấp, bảo lãnh vay vốn tại ngân hàng, các tổ chức tín dụng; được sử dụng làm vốn góp liên doanh trong hoạt động sản xuất - kinh doanh Quyền sử dụng đất mang một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 18Th ứ nhất, như phần trên đã phân tích, quyền sử dụng đất là một loại tài sản
và được xác định giá trị và được phép chuyển đổi trên thị trường
Th ứ hai, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước
ta nên quyền sử dụng đất được hình trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài Tuy nhiên, do pháp luật cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất (bao gồm các quyền năng: quyền chuyển đổi, quyền tặng cho, quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, quyền bảo lãnh và quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất) nên quyền sử dụng đất tách khỏi quyền sở hữu đất đai
và trở thành một loại quyền tương đối độc lập so với quyền sở hữu
Mặc dù, quyền sử dụng đất được tham gia vào các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử dụng đất vẫn có sự khác nhau và chúng ta không thể đồng nhất giữa hai loại quyền này; bởi
lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể:
- Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn quyền sử dụng đất đai là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất
- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng đất đai là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ
Tính không trọn vẹn, không đầy đủ của quyền sử dụng đất thể hiện ở các khía cạnh sau:
M ột là, người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà nước
với tính cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
Hai là, không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng
có quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
Ví d ụ: theo Điểm b khoản 1 Điều 179 Luật đất đai năm 2013 thì chỉ có hộ
gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức mới
Trang 19có quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân khác Còn các chủ thể sử dụng đất khác không được pháp luật cho hưởng quyền năng này
Hay Điều 175 Luật đất đai năm 2013 quy định: Tổ chức kinh tế, tổ chức sự nghiệp công lập được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm chỉ có quyền bán, thế chấp, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với thuê
mà không được thực hiện các quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn bằng quyền
sử dụng đất thuê (trừ trường hợp cho thuê lại quyền sử dụng đất theo hình thức trả tiền thuê đất hàng năm đối với đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng đối với đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế)
Hơn nữa, không phải đối với bất cứ người sử dụng đất nào cũng có đầy đủ các quyền năng của chuyển quyền sử dụng đất (bao gồm quyền chuyển đổi quyền
sử dụng đất, quyền tặng cho quyền sử dụng đất, quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền cho thuê quyền sử dụng đất, quyền cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền thừa kế quyền sử dụng đất, quyền thế chấp quyền sử dụng đất, quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất) do pháp luật đất đai quy định Về cơ bản, chỉ những người sử dụng đất theo các hình thức: giao đất trả tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền thuê hàng năm sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mới được pháp luật cho hưởng các quyền năng của chuyển quyền sử dụng đất
Ba là, quyền sở hữu đất đai là một loại quyền tồn tại độc lập còn quyền sử dụng đất lại là một loại quyền phụ thuộc Tính phụ thuộc của quyền sử dụng đất thể hiện ở chỗ người sử dụng đất không được tự mình quyết định mọi vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng đất mà chỉ được quyết định một số vấn đề, còn cơ bản họ vẫn phải hành động theo ý chí của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu đối với đất được giao
Trang 20Ví d ụ: Sau khi làm xong các thủ tục pháp luật để chuyển nhượng hoặc chuyển
đổi quyền sử dụng đất… thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất phải sử dụng đất theo đúng mục đích ban đầu trước khi chuyển giao, không được tùy tiện thay đổi mục đích sử dụng Nếu làm trái quy định này được coi như là một hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật về đất đai và hậu quả của nó là Nhà nước sẽ thu hồi đất
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất
1.1.2.1 Quan ni ệm về thừa kế quyền sử đất
Trong đời sống thực tiễn, tài sản do cá nhân làm ra thuộc sở hữu của riêng
họ Pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản Điều này có nghĩa là chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình; thậm chí trong trường hợp chết, họ cũng có toàn quyền quyết định việc để lại tài sản của mình cho những người còn sống tiếp tục chiếm hữu, sử dụng Pháp luật gọi việc làm này là thừa kế Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ
Tư pháp) biên soạn: "Thừa kế: Sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống Thừa kế luôn gắn với sở hữu Sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế
là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu Pháp luật quy định hai hình thức
thừa kế: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật" [35, tr 754]
Trong lĩnh vực đất đai, vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất được đặt ra khi Luật đất đai năm 1993 được ban hành Việc ra đời chế định thừa kế quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo tính ổn định, lâu dài trong việc sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và gắn kết chặt chẽ người lao động với đất đai - tư liệu sản xuất quan trọng nhất Vậy thừa kế quyền sử dụng đất là gì?
- Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn:
Thừa kế quyền sử dụng đất: Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất của người chết cho người còn sống Ở Việt Nam, với đặc thù đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân Quyền sử dụng đất là quyền tài sản chung của hộ gia đình hoặc quyền tài sản riêng của cá nhân Bởi vậy, khi cá nhân hoặc thành viên trong hộ gia đình chết
Trang 21thì quyền sử dụng đất của họ được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật [35, tr 754]
- Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Thừa kế quyền sử dụng đất: Chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp với các quy định của
Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai" [28, tr 69]
Như vậy, thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật tuân theo các quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật đất đai
1.1.2.2 Đặc điểm của thừa kế quyền sử dụng đất
Tìm hiểu về thừa kế quyền sử dụng đất cho thấy dạng thừa kế này mang một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Th ứ nhất, cũng giống như thừa kế các tài sản khác, thừa kế quyền sử dụng
đất bao giờ cũng gắn liền với một sự kiện pháp lý, đó là người sử dụng đất chết Điều này có nghĩa là thừa kế quyền sử dụng đất chỉ đặt ra khi người có quyền sử dụng đất chết
Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy trong trường hợp này, di sản để lại thừa kế không phải là đất đai (vật) mà là quyền sử dụng đất (quyền sử dụng vật hay còn gọi là vật quyền) Hơn nữa, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nên việc để lại thừa
kế quyền sử dụng đất không chỉ tuân theo các quy định về thừa kế của Bộ luật dân
sự năm 2015 mà còn phải phù hợp với các quy định của pháp luật đất đai được đề cập tại khoản 1 Điều 179 Luật đất đai năm 2013
Th ứ hai, thừa kế quyền sử dụng đất là trường hợp đặc biệt của chuyển
quyền sử dụng đất Tính đặc biệt này thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Việc chuyển giao quyền sử dụng đất cho người khác luôn gắn liền với một
sự kiện pháp lý là người có quyền sử dụng đất chết
Trang 22- Người nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất không phải nộp bất kỳ một khoản tiền nào cho người có quyền sử dụng đất chuyển giao cho mình
- Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất trong trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện trong phạm vi và đối tượng hẹp; đó là những người có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hoặc có nghĩa vụ kinh
tế trực tiếp với nhau
Th ứ ba, không phải bất cứ chủ thể sử dụng đất nào cũng có quyền để thừa
kế quyền sử dụng đất mà chỉ các chủ thể sau đây mới được pháp luật cho hưởng quyền năng này:
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê
- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển từ hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm sang hình thức thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua nhà ở gắn liền với quyền
sử dụng đất ở tại Việt Nam
Th ứ tư, bên cạnh việc tuân thủ các quy định về thừa kế của Bộ luật dân sự
năm 2015, thừa kế quyền sử dụng đất còn phải thực hiện đúng các quy định tại khoản 1 Điều 179, Điều 188 Luật đất đai năm 2003
1.2 Lý luận pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
1.2.1 Cơ sở xây dựng pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất
1.2.1.1 Quan điểm, đường lối của Đảng về giao đất cho hộ gia đình, cá
nhân s ử dụng ổn định lâu dài và được để thừa kế quyền sử dụng đất
Nhận thức rõ việc duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sẽ cản trở sự phát triển của đất nước khi cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới: Giai đoạn thống nhất đất nước, xây dựng xã hội ấm no, hạnh phúc; Đại hội Đảng
Trang 23toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã phát động công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chuyển nền kinh tế sang cơ chế thị trường Công cuộc đổi mới đất nước được tiến hành với khâu đột phá là đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia đình, cá nhân đối với ruộng đất Các quan điểm, đường lối của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp nói chung và xác định vai trò của hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng lần lượt ra đời với việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; đồng thời mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất (trong đó có quyền thừa kế quyền sử dụng đất) Quan điểm xác lập
và mở rộng các quyền của hộ gia đình, cá nhân đối với đất đai (trong đó có quyền thừa kế quyền sử dụng đất) được ghi nhận trong các văn kiện sau đây của Đảng:
- Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/10/1981 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng
về "Cải tiến công tác khoán, mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người
lao động trong hợp tác xã nông nghiệp", trong đó xác định: "…tổ chức tốt việc giao
diện tích đất cho đội sản xuất, nhóm người lao động… khi diện tích giao khoán hợp
lý thì có thể ổn định để xã viên yên tâm thâm canh trên diện tích đất đó" [6] Chính
sách khoán và giao đất sử dụng ổn định đã bước đầu động viên nông dân hăng hái lao động, sản xuất và "bước đầu quá trình xác lập địa vị làm chủ ruộng đất thực sự của người lao động"
- Tiếp đó, ngày 05/04/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, đã khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và giao khoán ruộng đất ổn định, lâu dài cho hộ gia đình nông dân
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã ghi nhận:
"Trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng lâu dài Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề thừa kế, chuyển quyền
sử dụng ruộng đất" [10, tr 275] Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết các Hội nghị Trung ương tiếp theo, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung
Trang 24ương lần thứ 2 (khóa VII tháng 12 năm 1991) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992): "Ruộng đất được trao cho nông dân sử dụng lâu
dài Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất"
- Vấn đề sử dụng đất ổn định lâu dài nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng của hộ gia đình, cá nhân còn được ghi nhận trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận Luật pháp quy định cụ thể việc thừa kế và chuyển quyền sử dụng ruộng đất" [10, tr 343]
- Ngày 12/03/2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa IX ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã chỉ rõ: "Người được giao quyền sử dụng đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, được thực hiện quyền thừa
kế quyền sử dụng đất theo pháp luật về thừa kế như các tài sản khác" [9, tr 175]
- Ngày 06/11/2012, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa XI thông qua Nghị quyết 19-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã khẳng định:
Người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn và
có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, tùy theo từng loại đất và nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật [11]
Như vậy, quan điểm, đường lối của Đảng về giao ruộng đất sử dụng ổn định lâu dài cho hộ gia đình, cá nhân và trao cho họ quyền thừa kế quyền sử dụng đất được ghi nhận trong các văn kiện trên đây là những định hướng rất quan trọng để Nhà nước thể chế hóa thành các quy định của pháp luật Các quy định này khi đi
Trang 25vào cuộc sống đã làm cho người nông dân yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai và tạo
ra động lực mới trong sản xuất nông nghiệp
1.2.1.2 Ch ế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Các hình thức sở hữu khác về đất đai không được pháp luật thừa nhận Chính sự đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã chi phối mạnh mẽ đến quyền thừa kế quyền sử dụng đất của người sử dụng Sự chi phối này thể hiện:
Th ứ nhất, người sử dụng đất muốn để lại thừa kế quyền sử dụng đất thì
trước tiên họ phải có quyền sử dụng đất Tuy nhiên, do đất đai không thuộc sở hữu của người sử dụng đất mà thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; nên việc họ có được quyền sử dụng đất hay không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước đại diện chủ sở hữu
Ở khía cạnh khác, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Điều 4 Luật đất đai năm 2013); song Nhà nước lại không trực tiếp chiếm hữu và sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài hoặc công nhận quyền sử dụng đất đối với đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng Đi liền với đó, người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đối với diện tích đất được giao, cho thuê… Như vậy, người sử dụng đất chỉ có thể
để thừa kế quyền sử dụng đất khi chết chứ họ không được để thừa kế đất đai Trong trường hợp người sử dụng đất để thừa kế đất đai; họ đã vi phạm quyền sở hữu toàn dân về đất đai được pháp luật ghi nhận và bảo hộ (xâm phạm quy định của Điều 53 Hiến pháp năm 2013; xâm phạm quy định của Điều 4 Luật đất đai năm 2013)
Th ứ hai, do đất đai là tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
đại diện chủ sở hữu; nên khi người sử dụng đất thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất, họ không chỉ tuân thủ các quy định chung về thừa kế tài sản của Bộ luật dân
sự năm 2015 mà còn phải thỏa mãn các điều kiện về chuyển quyền sử dụng đất nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng do pháp luật đất đai quy định; cụ thể:
Trang 261 Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho; thế chấp quyền
sử dụng đất, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật đất đai năm 2103;
b Đất không có tranh chấp;
c Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d Trong thời hạn sử dụng đất [25, Khoản 1 Điều 188]
Tương tự người thuộc đối tượng thừa kế quyền sử dụng đất không những phải thỏa mãn các điều kiện về thừa kế tài sản do Bộ luật dân sự năm 2015 quy định
mà còn đáp ứng được các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất của pháp luật đất đai; theo đó: "Trường hợp người được thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất; nếu không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 186 của Luật này thì được hưởng giá trị của phần thừa kế đó" [24, Khoản 1 Điều 179]
1.2.1.3 Nh ận thức về quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Tài sản do con người tạo ra được chia thành hai loại: tài sản vật chất và tài sản phi vật chất Tài sản vật chất là tài sản tồn tại trong thế giới khách quan dưới dạng một hình thái vật chất nhất định và con người bằng các giác quan của mình có
thể nhận biết được Ví dụ: nhà cửa, ô tô, tiền, vàng, nhà máy v.v Tài sản phi vật
chất là tài sản tồn tại trong thế giới khách quan không dưới dạng một hình thái vật chất Con người nhận biết được nó thông qua tri thức, sự cảm nhận của trí óc, suy nghĩ Tài sản phi vật chất bao gồm uy tín, bí quyết kinh doanh, nhãn hiệu, thương hiệu, phát minh, sáng chế, quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, mối quan hệ quen biết, kinh nghiệm, kỹ năng v.v Đặc biệt khi nền kinh tế tri thức ra đời, loài người ngày càng nhận thức sâu sắc được giá trị và tầm quan trọng của loại tài sản này
Trang 27Trong lĩnh vực đất đai, đất đai được xác định là tài sản đặc biệt; bởi lẽ nó không do con người làm ra mà do tự nhiên tạo ra Đất đai là tặng vật của thiên nhiên ban tặng cho con người Xét trên phương diện đó, đất đai không thuộc về của riêng bất cứ ai mà thuộc về của chung cộng đồng Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng con người đã tác động, đầu tư vào đất đai thông qua các hình thức như xác định mục đích sử dụng cụ thể, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bồi bổ, cải tạo… đã biến đất đai từ dạng tài nguyên trở thành tài sản Như vậy, giá trị tăng thêm của đất đai do sự đầu tư của con người chính là kết tinh sức lao động của người sử dụng đất Vì vậy,
nó phải được coi là tài sản Ở nước ta do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, người sử dụng đất không có quyền sở hữu đất đai mà chỉ có quyền sử dụng đất thông qua việc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sử dụng đất được coi là một loại quyền về tài sản (vật quyền), có thể chuyển giao được và trị giá được bằng tiền (tài sản phi vật chất) Việc pháp luật thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản xuất phát
từ những lý lẽ sau đây:
Th ứ nhất, người có quyền sử dụng đất sẽ có điều kiện và cơ hội tiếp cận,
khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để mang lại một lợi ích vật chất nhất định cho mình
Th ứ hai, quyền sử dụng đất là quyền liên quan đến việc khai thác, sử dụng
một loại tài sản đặc biệt là đất đai
Th ứ ba, người sử dụng đất cũng có một số quyền năng nhất định đối với
đất đai Ví dụ: quyền chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền để thừa kế quyền sử dụng đất v.v
Như vậy, từ những phân tích trên đây cho thấy rằng đất đai mặc dù không
do con người tạo ra mà do tự nhiên tạo ra; song trong quá trình sử dụng con người bằng tác động của mình đã làm tăng giá trị của đất đai, cụ thể: do sự đầu tư của Nhà nước, của xã hội thông qua công tác quy hoạch sử dụng đất, xác định mục đích sử dụng của từng loại đất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…; do sự đầu tư, bồi bổ, cải
Trang 28tạo của người sử dụng đất Vì vậy, như một lẽ tự nhiên, người sử dụng đất phải được hưởng các lợi ích được tạo ra từ chính sự đầu tư của mình đã làm tăng giá trị của đất đai Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, quyền sử dụng đất được coi là một loại quyền tài sản; nó được trị giá thành tiền và có thể chuyển nhượng trên thị trường Việc phát hiện và thừa nhận vai trò này của đất đai nói chung và quyền sử dụng đất nói riêng đã biến đất đai từ dạng tài nguyên trở thành tài sản, trở thành nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước; góp phần xác lập sự ra đời của thị trường bất động sản (trong đó có thị trường quyền sử dụng đất) ở nước ta Nhận thức về quyền sử dụng đất trong điều kiện kinh tế thị trường đã được Đảng ta chỉ rõ:
"Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất" [11] Với việc nhìn nhận vai trò của quyền sử dụng đất như vậy thì khi người sử dụng đất chết; họ có quyền để lại thừa kế quyền sử
dụng đất cho người khác tiếp tục sử dụng
1.2.1.4 C ơ sở thực tiễn của việc xác lập quyền thừa kế quyền sử dụng đất
Điểm khác biệt căn bản nhất giữa phương thức sản xuất nông nghiệp và phương thức sản xuất công nghiệp là ở chỗ: Trong sản xuất nông nghiệp, con người trực tiếp tiến hành các thao tác lao động trên đất đai nhằm tạo ra của cải vật chất Hay nói cách khác, đất đai đóng vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Do vậy, kỹ năng lao động, tình yêu lao động v.v được hình thành bởi các yếu tố phi vật chất và ra đời trên chính mảnh đất mà người nông dân canh tác Hơn nữa, nghiên cứu mô hình kinh tế hộ gia đình - mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệp hiện nay ở nước ta cho thấy mối quan hệ lao động giữa các thành viên trong hộ gia đình không chỉ được thiết lập trên cơ sở tình đồng nghiệp
mà còn gắn kết với nhau rất chặt chẽ bởi yếu tố huyết thống, quan hệ họ hàng Ông
bà, cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dạy con cái; lớn lên, con cái có bổn phận, trách nhiệm phụng dưỡng ông bà, cha mẹ cũng chính từ mảnh đất mà họ canh tác
Vì vậy, để duy trì sự ổn định của sản xuất kinh tế hộ gia đình; duy trì tính liên tục
Trang 29giữa các thế hệ trong hộ gia đình đối với việc sử dụng đất thì không thể không thừa nhận việc người sử dụng đất có quyền thừa kế quyền sử dụng đất Ở một khía cạnh khác, một khi pháp luật đã cho phép hộ gia đình, cá nhân được chuyển quyền sử dụng đất mà không thừa nhận cho họ có quyền thừa kế quyền sử dụng đất là một sự vô lý
và không phù hợp với thực tiễn Xét cả trên phương diện kinh tế và phương diện xã hội, việc pháp luật cho phép hộ gia đình, cá nhân có quyền thừa kế quyền sử dụng đất không chỉ khuyến khích họ đầu tư, bồi bổ, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất
mà còn đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu hộ gia đình nông dân; đồng thời góp phần củng cố tính bền vững của gia đình với tư cách vừa là tế bào của xã hội, vừa là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp ở nước ta hiện nay
1.2.2 Khái niệm pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
Trong đời sống thực tiễn, tài sản do cá nhân làm ra thuộc sở hữu của riêng họ Pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản Điều này có nghĩa là chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình; thậm chí trong trường hợp chết, họ cũng có toàn quyền quyết định việc để lại tài sản của mình cho những người còn sống tiếp tục chiếm hữu, sử dụng Pháp luật gọi việc làm này là thừa kế;
- Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn:
“Thừa kế: Sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống;
Thừa kế luôn gắn với sở hữu Sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế
là phương tiện để duy trì, củng cố quan hệ sở hữu Pháp luật quy định hai hình thức thừa kế: Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật”1;
- Theo Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1) của Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2008: “Thừa kế với tư cách là một quan hệ pháp luật dân sự trong
đó các chủ thể có những quyền và nghĩa vụ nhất định Trong quan hệ này, người có tài sản, trước khi chết có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác Những
Trang 30
người có quyền nhận di sản họ có thể nhận hoặc không nhận di sản (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác)”2;
Trong lĩnh vực đất đai, vấn đề thừa kế QSDĐ được đặt ra khi Luật đất đai năm 1993 được ban hành và tiếp tục được kế thừa trong Luật đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 Việc ra đời chế định thừa kế QSDĐ nhằm đảm bảo tính ổn định, lâu dài trong việc SDĐ của hộ gia đình, cá nhân và gắn kết chặt chẽ người lao động với đất đai - tư liệu sản xuất quan trọng nhất Vậy thừa kế QSDĐ là gì?; Câu hỏi này đã được BLDS năm 2005 và các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý khác trả lời cụ thể:
- Theo Điều 733 - BLDS năm 2005: “Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của
Bộ luật này và pháp luật về đất đai”;
- Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn:
“Thừa kế quyền sử dụng đất: Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất của người chết cho người còn sống Ở Việt Nam, với đặc thù đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu, Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân Quyền sử dụng đất là quyền tài sản chung của hộ gia đình hoặc quyền tài sản riêng của cá nhân Bởi vậy, khi cá nhân hoặc thành viên trong hộ gia đình chết thì quyền sử dụng đất của họ được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật”3;
- Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Thừa kế quyền sử dụng đất: Chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật phù hợp với các quy định của
Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai”4;
2008, tr.299
Trang 31Như vậy, thừa kế QSDĐ là việc chuyển QSDĐ của người chết cho người thừa
kế theo di chúc hoặc theo pháp luật tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật đất đai
Pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất là một chế định cơ bản của pháp luật đất đai Chế định pháp luật này ra đời cùng với việc ban hành Luật đất đai năm
2013 với việc quy định họ gia đình, cá nhân được giao đất, cho thuê đất ổn định lâu dài được chuyển quyền sử dụng đất nói chung và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng Nghiên cứu nội dung các quy định hiện hành về thừa kế quyền sử dụng đất, tác giả rút ra khái niệm pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất như sau: Pháp luật
về thừa kế quyền sử dụng đất bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực thừa kế quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình, cá nhân với nhau
Bên cạnh các đặc điểm của pháp luật về thừa kế tài sản, chế định thừa kế quyền sử dụng đất còn có một số đặc điểm riêng sau đây:
M ột là, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất được hình thành dựa trên
pháp luật về sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Điều này
có nghĩa là pháp luật chỉ ghi nhận người sử dụng đất được để thừa kế quyền sử dụng đất chứ không được để thừa kế đất đai Bởi lẽ, đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà không thuộc sở hữu của người sử dụng đất, nên họ không được để thừa kế đất đai
Hai là, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất là lĩnh vực pháp luật có tính chất liên ngành luật Nó bao gồm các quy phạm pháp luật về thừa kế của Bộ luật dân sự năm 2015 và các quy phạm pháp luật của Luật đất đai năm 2013 về thừa kế quyền sử dụng đất
quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội - 1999, tr.69
Trang 32Các quy phạm pháp luật về thừa kế của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc, hình thức pháp lý của thừa kế tài sản (trong đó có quyền sử dụng đất); quy định điều kiện thừa kế, phân chi tài sản thừa kế
Các quy phạm của Luật đất đai năm 2013 quy định về điều kiện thừa kế quyền sử dụng đất, quyền thừa kế quyền sử dụng đất của người sử dụng đất; trình
tự, thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất v.v
Ba là, pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất thuộc lĩnh vực pháp luật tư
Nó bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội về thừa kế quyền sử dụng đất giữa hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất với những người được nhận thừa kế
mà không có sự tham gia của các cơ quan nhà nước mang tính quyền lực nhà nước
1.2.3 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất ở Việt Nam
1.2.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 - năm 1980
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 02/9/1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á Song song với củng cố chính quyền nhân dân non trẻ, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng đến việc phát triển nền kinh tế; trong đó, đặc biệt chú trọng đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu tài sản của người dân Điều thứ 12 Hiến pháp năm 1946 quy định: "Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm" Tiếp đó, Sắc lệnh số 97-SL ngày 22/05/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật (do Chủ tịch
Hồ Chí Minh kí, chiếu theo Sắc lệnh ngày 10/10/1945 tạm giữ những luật lệ hiện hành ở Việt Nam) để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam (sau đây gọi tắt là Sắc lệnh số 97-SL) Sắc lệnh số 97-SL quy định những nguyên tắc cơ bản được coi là nền tảng cho việc xây dựng pháp luật dân sự sau này; trong đó có Luật hôn nhân và gia đình, thừa kế di sản Các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận đó là: Quyền bình đẳng của vợ và chồng trong gia đình, vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau Con trai, con gái đều có quyền hưởng di sản thừa kế
Trang 33của cha mẹ Người chồng góa hay người vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết Sau khi đã thanh toán tài sản chung, quyền nhận hay không nhận di sản thừa kế của những người là con, cháu hoặc vợ hay chồng của người chết được bảo hộ Các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản của người đó để lại
Để hướng dẫn tòa án các cấp thống nhất trong việc giải quyết những tranh chấp về thừa kế trong giai đoạn này, căn cứ vào Hiến pháp năm 1946 và Sắc lệnh số 97-SL, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 1742-BTP ngày 18/09/1956 (sau đây gọi tắt là Thông tư 1742) quy định rõ vợ hoặc chồng của người chết có quyền thừa
kế ngang với các con Vợ lẽ và con nuôi chính thức của người thừa kế ngang với các con Vợ lẽ và con nuôi chính thức của người để lại di sản có quyền thừa kế như
vợ cả và con đẻ của người đó Vợ góa của người để lại di sản (kể cả vợ cả và vợ lẽ) đều có quyền thừa kế di sản của chồng và hưởng phần di sản ngang với các thừa kế cùng hàng khác Những quy định về thừa kế trên đây được áp dụng cho việc thừa kế đất đai; bởi lẽ, trong giai đoạn này, Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai Do đó, việc thừa kế đất đai được thực hiện tương tự như thừa kế các tài sản khác
Tiếp đó, để đáp ứng với các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng khi chuyển sang giai đoạn phát triển mới, Hiến pháp năm 1959 được ban hành thay thế Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận các hình thức sở hữu khác nhau về tài sản:
Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là: hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, và hình thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc [15, Điều 11];
và "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân" [15, Điều 14]; "Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của
Trang 34công dân về của cải thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở và các thứ vật dụng riêng khác" [15, Điều 18]; "Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của công dân" Như vậy trong thời kỳ này, pháp luật nước ta vẫn công nhận quyền sở hữu tư nhân của cá nhân người nông dân đối với đất đai và bảo hộ quyền thừa kế về đất đai của công dân Việc thừa kế đất đai được thực hiện tuân theo các quy định về thừa kế tài sản của pháp luật dân sự
Tóm l ại, trong giai đoạn này, pháp luật thừa nhận và bảo hộ các hình thức
sở hữu khác nhau đối với đất đai (trong đó có hình thức sở hữu tư nhân về đất đai) Các quy định được ban hành tại thời kỳ này đều công nhận và bảo hộ quyền thừa kế đất đai là tài sản riêng của công dân
1.2.3.2 Giai đoạn từ năm 1980 - năm 1993
Sự kiện nổi bật trong giai đoạn này, là việc Hiến pháp năm 1980 được ban
hành Điều 19 Hiến pháp năm 1980 quy định:
Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa, các xí nghiệp công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghiệp quốc doanh; ngân hàng
và tổ chức bảo hiểm; công trình phục vụ lợi ích công cộng; hệ thống đường sắt, đường bộ, đường sông, đường biển, đường không; đề điều và công trình thủy lợi quan trong; cơ sở phục vụ quốc phòng; hệ thống thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở nghiên cứu khoa học, kĩ thuật, cơ sở văn hóa và xã hội cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước; đều thuộc sở hữu toàn dân [16] Bằng quy định tại Điều 19 Hiến pháp năm 1980, Nhà nước chỉ thừa nhận một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai ở nước ta; đó là chế độ sở hữu toàn dân
về đất đai Các hình thức sở hữu khác về đất đai không được pháp luật thừa nhận Thể chế hóa Điều 19 Hiến pháp năm 1980, Luật đất đai năm 1987 đã được ban hành trong đó có các quy định:
Trang 35Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân,
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - dưới đây gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài Nhà nước còn giao đất để sử dụng
có thời hạn hoặc tạm thời Người đang sử dụng đất đai hợp pháp được tiếp tục sử dụng theo quy định của Luật này [17, Điều 1];
"Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai" [17, Điều 5]
Như vậy, trong giai đoạn này bằng việc ban hành Hiến pháp năm 1980, Nhà nước chỉ công nhận một chế độ sở hữu duy nhất đối với đất đai ở nước ta - Chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai - thì quyền sở hữu cá nhân đối với đất đai không còn tồn tại Điều này có nghĩa là công dân không có quyền sở hữu đối với đất đai Họ chỉ có quyền sử dụng đối với những mảnh đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý, không có quyền định đoạt đất đai Các quy định pháp luật ra đời tại thời kỳ này chỉ
đề cập đến việc để thừa kế đối với tài sản thuộc sở hữu riêng của cá nhân; bao gồm: nhà cửa, của cải để dành, thu nhập hợp pháp của công dân Việc để thừa kế đất đai
bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm thực hiện
1.2.3.3 Giai đoạn từ năm 1993 - nay
Nghị quyết 10 NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 05/04/1988 về "cơ chế khoán hộ" (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 10 NQ-TW) đã giải phóng mọi năng lực sản xuất cho người nông dân và tạo ra những động lực mới cho sản xuất nông nghiệp của nước ta Hạt nhân của cơ chế khoán hộ là xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và thực hiện việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Để phát huy những thành tựu mà Nghị quyết
10 NQ-TW mang lại và góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
Trang 36xã hội chủ nghĩa, ngày 14/07/1993, Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 đã thông qua Luật đất đai mới thay thế cho Luật đất đai năm 1987 (sau đây gọi là Luật đất đai năm 1993) và có hiệu lực kể từ ngày 15/10/1993 Luật đất đai năm 1993 ra đời đã chính thức ghi nhận việc Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (Điều 1); Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Các quyền nói trên chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất và đúng mục đích sử dụng của đất được giao theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật (khoản 2 Điều 2); đồng thời quy định cho phép hộ gia đình, cá nhân có quyền thừa
kế quyền sử dụng đất (Điều 76) Cụ thể hóa những quy định này của Luật đất đai năm 1993, Nhà nước đã lần lượt ban hành các nghị định: Nghị định số 64/CP ngày 27/09/1993 về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 về thực hiện chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999) Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/03/1999 có các quy định cụ thể về điều kiện, nội dung và trình tự, thủ tục
về thừa kế quyền sử dụng đất Tiếp đó, các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất được tiếp tục khẳng định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm
1998 và năm 2001 Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời có hiệu lực kể từ ngày 01/06/1996 đã dành hẳn Phần thứ V - Quy định về chuyển quyền sử dụng đất; trong
đó có các quy định đề cập đến vấn đề thừa kế quyền sử dụng đất;
Trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Luật đất đai năm 1993 đã bộc lộ rõ những nhược điểm, tồn tại không đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp phát triển đất nước Chính vì vậy, ngày 26/11/2003, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật đất đai mới (Luật đất đai năm 2003) và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2003 Đạo luật này thay thế Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998; Luật sửa đổi,
Trang 37bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 Luật đất đai năm 2003 ra đời tiếp tục ghi nhận quyền thừa kế quyền sử dụng đất song có các quy định cụ thể về thừa
kế quyền sử dụng đất gắn với hình thức sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân; "pháp điển hóa" trình tự, thủ tục đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 129) Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai đã có các quy định xác định thời điểm thực hiện các quyền của người sử dụng đất nói chung và quyền thừa
kế quyền sử dụng đất nói riêng (Điều 98); quy định thực hiện thủ tục hành chính trong việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất (Điều 117); quy định về trình tự, thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất (Điều 151) Khi Bộ luật dân sự năm 2005 ra đời thay thế Bộ luật dân sự năm 1995 cũng đã có các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất tại Chương XXXIII (từ Điều
733 - Điều 735); trong đó ghi nhận việc để thừa kế quyền sử dụng đất phải tuân theo các quy định chung về thừa kế tài sản do Bộ luật này và pháp luật đất đai quy định
Tiếp đó, trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới tạo nền tảng
để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, Luật đất đai năm 2013 ra đời thay thế thế Luật đất đai năm 2003 đã kế thừa quy định của Luật đất đai năm 2003 về thừa kế quyền sử dụng đất
Kết luận Chương 1
1 Do tính đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài và được để thừa kế quyền
sử dụng đất Việc pháp luật thừa nhận thừa kế quyền sử dụng đất nhằm tạo điều kiện để đất đai được sử dụng ổn định lâu dài và khuyến khích hộ gia đình, cá nhân đầu tư, bồi bổ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất
2 Thừa kế quyền sử dụng đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai góp phần đảm bảo sự ổn định lâu dài, tính liên tục trong sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Để tạo điều kiện cho hộ gia đình, cá nhân thực hiện thừa kế quyền sử
Trang 38dụng đất, Nhà nước ta đã ban hành các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất mà trước tiên phải kể đến sự ra đời của các đạo luật: Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001; Bộ luật dân sự năm 1995; Luật đất đai năm 2003;
Bộ luật dân sự năm 2005; Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành Việc ra đời các văn bản pháp luật này đã góp phần xác lập khung pháp lý để hộ gia đình, cá nhân thực hiện các quyền của người sử dụng đất nói chung và quyền thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH NINH BÌNH
2.1 Nội dung cơ bản của pháp luật về thừa kế quyền sử dụng đất
2.1.1 Các quy định của Luật đất đai năm 2013 về thừa kế quyền sử dụng đất
Chủ thể quan hệ thừa kế đất đai
Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai Chủ thể quan hệ thừa kế đất đai bảo gồm:
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền để
th ừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật Dân sự và
pháp lu ật về đất đai.”
Điều 735 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Hộ gia đình được Nhà nước giao
đất nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được
để lại cho những người thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và
pháp lu ật về đất đai ”
Như vậy, người để lại thửa kế có thể là bất kỳ cá nhân nào được nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận quyền sử dụng đất thỏa mãn điều kiện thực hiện quyền thừa kế
Người nhận thừa kế:
Bao gồm người được nhận thừa kế theo ý chí của người để lại thừa kế, người được nhận thừa kế theo pháp luật bao gồm những người được thừa kế theo quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng và quan hệ huyết thống theo pháp luật dân
sự quy định Như vậy, người được hưởng quyền sử dụng đất đai do thừa kế bao gồm:
+ Những cá nhân, tổ chức được hưởng quyền giao đất, thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất do ý chí của người để lại di chúc
Trang 40+ Cá nhân được thừa kế theo pháp luật dân sự: có quan hệ hôn nhân, quan
hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại thừa kế
+ Không thuộc trường hợp bị tước quyền thừa kế
* Các điều kiện để người sử dụng đất có thể để lại thừa kế quyền sử
dụng đất
- Điều kiện của bên để lại thừa kế : Theo quy định tại điều 188 Luật đất
đai 2013 người có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất gồm:
+ Người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về đất đai
+ Còn thời hạn được sử dụng đất
+ Đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án
Thực hiệ+n theo trình tự, thủ tục quy định về pháp luật đất đai
- Điều kiện của bên nhận thừa kế: Theo quy định tại Điều 635 Luật
đất đai năm 2013 quy định về người thừa kế không thuộc trường hợp bị tước quyền thừa kế tại điều 643 Bộ luật dân sự 2005, tức là các điều kiện sau:
+ Cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết;
+ Cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
+ Không thuộc các trường hợp;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;