1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn áp dụng tại huyện bình lục, tỉnh hà nam

96 264 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 908,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, việc tham gia Bảo hiểm xã hội của người lao động là hết sức cần thiết trong đó có sự can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi gặp rủi ro và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM

NGUYỄN TRỌNG TUẤN

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

TẠI HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn nêu trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực và

có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Trọng Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC5

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 4

4 Các phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

6 Bố cục của luận văn 5

Chương 1 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT 6 VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 6

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội 6

1.1.1 Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội 6

1.1.2 Loại hình bảo hiểm xã hội 8

1.1.3 Ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội 9

1.2 Các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội 11

1.2.1 Mức hưởng bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã hội 11

1.2.2 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội tự nguyện 12

1.2.3 Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội 13

1.2.4 Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp 14

Trang 6

1.2.5 Việc thực hiện bảo hiệm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội

15

1.3 Nội dung pháp luật về Bảo hiểm xã hội 15

1.3.1 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội 15

1.3.2 Quỹ Bảo hiểm xã hội 17

1.3.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội 19

1.3.4 Xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Chương 2 31

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH 31

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 31

2.1 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội 31

2.1.1 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc 31

2.1.2 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện 34

2.2 Quỹ Bảo hiểm xã hội 34

2.2.1 Quỹ Bảo hiểm xã hội bắt buộc 34

2.2.2 Quỹ Bảo hiểm xã hội tự nguyện 37

2.3 Các chế độ Bảo hiểm xã hội 38

2.3.1 Chế độ bảo hiểm ốm đau 38

2.3.2 Chế độ bảo hiểm thai sản 42

2.3.3 Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 45

2.3.4 Chế độ bảo hiểm hưu trí 48

2.3.5 Chế độ bảo hiểm tử tuất 54

2.4 Xử lý vi phạm về Bảo hiểm xã hội bắt buộc 57

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61

Chương 3 62

THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 62

Ở HUYỆN BÌNH LỤC, TỈNH HÀ NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 62

3.1 Thực tiễn thi hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam 62

3.1.1 Một số nét về tình hình lao động ở huyện Bình Lục và Bảo hiểm xã hội huyện Bình Lục 62

3.1.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở huyện Bình Lục 64

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội ở huyện Bình Lục 73

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội 73

3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn huyện Bình Lục 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH Bảo hiểm xã hội

NLĐ Người lao động

NSDLĐ Người sử dụng lao động

TNLĐ, BNN Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1 Số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc giai đoạn 2012 - 2016 64

Bảng 3.2: Tổng hợp thu, chi quỹ BHXH bắt buộc giai đoạn 2012 - 2016 65

Bảng 3.3: Chi quỹ BHXH bắt buộc 6 tháng đầu năm 2017 66

Bảng 3.4: Giải quyết chế độ BHXH bắt buộc giai đoạn 2012 - 2016 67

Bảng 3.5: Mức đóng BHXH tự nguyện hàng tháng 72

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của an sinh xã hội được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bởi nó có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Bảo hiểm xã hội giúp người lao động bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút trong quá trình lao động, đảm bảo các quyền của người lao động được hưởng khi gặp rủi ro trong cuộc sống đồng thời thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước luôn quan tâm đến chính sách về con người

Trong cuộc sống con người phải tuân theo các quy luật phát triển và sự sinh tồn của tự nhiên nên khi rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của kinh tế thị trường thì người lao động cần có một khoản vật chất giúp đỡ người lao động giải quyết những khó khăn đó Vì thế, việc tham gia Bảo hiểm xã hội của người lao động là hết sức cần thiết trong đó có sự can thiệp, điều chỉnh của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi gặp rủi ro và xác định trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động khi người lao động gặp phải khó khăn thông qua đóng góp nghĩa vụ tài chính bắt buộc Các Mác khẳng định: "Vì nhiều rủi ro khác nhau, nên phải dành một số thặng dư nhất định cho quỹ bảo hiểm

xã hội để bảo đảm cho sự mở rộng theo kiểu lũy tiến hóa quá trình sản xuất ở mức cần thiết, phù hợp với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số"

Chính bởi trong cuộc sống con người luôn phải đối mặt với những rủi ro không lường trước được nên cần phải có những biện pháp để đảm bảo an toàn khi gặp phải các rủi ro, một trong các biện pháp đó chính là tham gia BHXH Trên thế giới, hình thức BHXH xuất hiện đầu tiên ở Đức vào khoảng giữa thế kỷ XIX khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ với một số chế

độ BHXH mang tính bắt buộc Sau đó, BHXH được lan rộng ra các nước châu

Âu và các nước khác Cho đến nay, hầu hết các quốc gia đều đã xây dựng hệ thống BHXH Ở Việt Nam, BHXH cũng là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Ngay từ khi mới giành được độc lập trong Sắc lệnh số 29/SL do

Trang 11

Hồ Chủ Tịch ký cũng đã có quy định về chế độ phụ cấp cho công nhân như phụ cấp gia đình, phụ cấp thâm niên; chế độ nghỉ đẻ và cho con bú của phụ nữ; chế

độ nghỉ ốm đau cho công nhân, chế độ tai nạn lao động và trách nhiệm của chủ

sử dụng lao động Đây là những yếu tố có tính chất tiền đề đánh dấu một nền móng vững chắc cho sự phát triển của pháp luật BHXH trong những giai đoạn phát triển của đất nước sau này Điểm mốc đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử pháp luật về BHXH Việt Nam chính là Luật BHXH năm 2006, trong đó có quy định cụ thể 5 chế độ BHXH mang tính bắt buộc, đó là chế độ BHXH ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất Tuy nhiên sau gần 10 năm thực hiện, Luật BHXH cũng đã bộc lộ nhiều điểm còn bất cập, mâu thuẫn và đặc biệt là nhiều điểm còn chưa đáp ứng được nhu cầu của thực tế Chính vì vậy, năm 2014, Quốc Hội đã ban hành luật BHXH mới đánh dấu sự phát triển hơn nữa của pháp luật về BHXH ở Việt Nam

Các chế độ bảo hiểm được quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội 2014 sẽ ngày càng đáp ứng tốt hơn trong việc chăm lo đời sống cho NLĐ, đặc biệt là các quy định của chế độ BHXH bắt buộc Luật BHXH năm 2014 bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/2016 nên việc triển khai thực hiện sao cho có hiệu quả là vấn đề cần thiết phải đặt ra Bình Lục là một huyện của tỉnh Hà Nam giáp với tỉnh Nam Định, sự am hiểu của người lao động về pháp luật BHXH còn có nhiều hạn chế Chính vì vậy nắm bắt và hiểu rõ các quy định của luật BHXH và triển khai thực hiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Với mong muốn làm rõ hơn và sâu sắc hơn những vấn đề lý luận cũng như pháp luật về bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã

hội 2014 cũng như thực tiễn thực hiện trên thực tế, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật

về bảo hiểm xã hội từ thực tiễn áp dụng tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam” làm

luận văn thạc sỹ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong thời gian qua, đặc biệt khi Luật Bảo hiểm xã hội 2014 được ban hành

đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, bài báo, tạp chí viết về vấn đề bảo hiểm xã hội Ở phạm vi, mức độ khác nhau đã có một số công trình nghiên cứu, bài

Trang 12

viết đề cập đến pháp luật về bảo hiểm xã hội bắt buộc nói chung và các chế độ nói riêng, điển hình như:

- Vụ Bảo hiểm xã hội (2010), “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc giai đoạn đến 2020”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ

- PGS.TS Nguyễn Hữu Chí và ThS Bùi Thị Kim Ngân (2015), “Một số bình

luận pháp lý liên quan đến Điều 60 Luật BHXH năm 2014”, Tạp chí Luật học, (6);

- PGS.TS Nguyễn Hữu Chí và ThS Bùi Thị Kim Ngân (2015), “Sửa đổi

Điều 60 Luật BHXH năm 2014 dưới góc nhìn quan hệ lao động tập thể”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (9);

- Hoàng Kim Khuyên và Hoàng Thị Quỳnh Trang (2014), “Thực trạng nợ,

chậm và “trốn” đóng tiền BHXH ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (8);

- Đặng Như Lợi (2014), “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo hiểm hưu trí

đối với người cao tuổi”, Tạp chí Lý luận chính trị, (12);

- Bùi Sỹ Lợi (2015), “Tính ưu việt của Luật BHXH, Luật Bảo hiểm y tế -

thách thức trong triển khai và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội (ASXH)”, Tạp chí Cộng sản, (7);

- TS Nguyễn Hiền Phương (chủ biên, 2015), “Bình luận khoa học một số quy định của luật BHXH năm 2014”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường,

Trường Đại học Luật Hà Nội

Những bài viết này tuy đã đề cập đến một số chế độ của BHXH bắt buộc của Luật BHXH năm 2014 như chế độ BHXH thai sản, chế độ BHXH hưu trí song chủ yếu mới dừng lại ở việc đề cập các điểm mới hoặc về cách hiểu, cách áp dụng các quy định của luật BHXH chứ chưa có sự đánh giá một cánh toàn diện đầy đủ các chế độ BHXH cũng như thực tiễn thực hiện Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về việc thực hiện chế độ BHXH bắt buộc ở huyện Bình Lục, tỉnh

Hà Nam

Chính vì vậy, đây chính là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về BHXH và thực tiễn áp dụng trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

Trang 13

3 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về BHXH, thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về BHXH và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về BHXH tại huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam từ đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về BHXH bắt buộc trong giai đoạn hiện nay ở Bình Lục

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là Luật BHXH năm 2014 về BHXH và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu pháp luật

về BHXH của một số nước là sơ sở cho sự so sánh với pháp luật Việt Nam

3.3 Phạm vi nghiên cứu

BHXH nói chung và BHXH bắt buộc nói riêng là vấn đề có thể nghiên cứu ở nhiều góc độ như góc độ kinh tế, góc độ pháp lý…Trong luận văn này tác giả chủ yếu chỉ nghiên cứu dưới góc độ pháp lý BHXH cũng là nội dung rộng gồm nhiều vấn đề, song luận văn chỉ nghiên cứu ở một số khía cạnh như đối tượng tham gia, quỹ BHXH và các chế độ BHXH Những nội dung như giải quyết tranh chấp về BHXH không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn

4 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với nội dung nghiên cứu của đề tài như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kế cũng được sử dụng trong quá trình nghiên cứu phù hợp với từng chương và nội dung của đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Luận văn đã làm sâu sắc và hoàn thiện hơn những vấn đề lý luận về Bảo hiểm xã hội

- Phân tích một cách sâu sắc thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về BHXH

Trang 14

- Đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện thực trạng thi hành các chế độ BHXH trên địa bàn huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về BHXH

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn được trình bày trong

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm, phân loại và ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội

Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật BHXH trên thế giới cho thấy, BHXH là vấn đề của mỗi quốc gia, nó đã xuất hiện từ rất lâu mà mầm mống của nó

từ thế kỉ XIII ở Nam Âu khi nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá đã bắt đầu phát triển Tuy nhiên ban đầu BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, với phạm vi nhỏ hẹp

Từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XVI một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời và để bảo vệ lẫn nhau trong hoạt động nghề nghiệp họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ để giúp

đỡ lẫn nhau

Cộng hòa liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH và BHXH lúc đó hoàn toàn mang tính chất bắt buộc Tuy nhiên, sự phát triển của BHXH được thiết lập từng bước Từ năm 1881 đến 1889, các chế độ BHXH bắt buộc lần lượt ra đời: chế độ bảo hiểm xã hội ốm đau được thiết lập năm 1883, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động năm 1884 và chế độ bảo hiểm tuổi già năm 1889 Vào cuối thế kỷ XIX, ở Đức chỉ có 10% dân số tham gia BHXH bắt buộc Tuy nhiên đến thế kỷ XX, đặc biệt là từ năm 1950 BHXH bắt buộc phát triển đến mức số người tham gia chiếm hơn 90% dân số

Bảo hiểm xã hội đã trở thành một trong những quyền của con người và được

xã hội thừa nhận Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc (10/12/1948) đã ghi nhận: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH” Ngày 04/6/1952, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã kí công ước Giơnevơ

về “Bảo hiểm xã hội cho người lao động” đã khẳng định tất yếu các nước phải tiến hành BHXH cho NLĐ và gia đình họ

Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc và coi đó là một trong những chính sách xã hội quan trọng nhất trong hệ thống an sinh xã hội

Trang 16

Khía cạnh kinh tế và pháp lý có các khái niệm về Bảo hiểm xã hội khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, Bảo hiểm xã hội là sự: "Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động"

Theo tác giả Trần Quang Hùng và Tiến sĩ Mạc Văn Tiến: "Bảo hiểm xã hội

là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi

họ gặp phải các biến cố hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm bằng các hình thức và sử dụng một qũy tài chính tập trung sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội"

Cuốn: "Thuật ngữ lao động Thương binh xã hội" Tập 1 nhà xuất bản lao động 1999, Bảo hiểm xã hội được hiểu là: "Sự bảo đảm của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của nhà nước để trợ cấp người lao động khi họ bị mất sức lao động tạm thời hoặc vĩnh viễn do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già chết nhằm đảm bảo an toàn xã hội"

Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO): "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội"

Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khi đưa ra khái niệm Bảo hiểm xã hội song có một điểm chung là Bảo hiểm xã hội có tác dụng giúp người lao động trong những lúc khó khăn hiểm nghèo, ốm đau, tai nạn, thai sản trên cơ sở đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động có sự hỗ trợ của Nhà nước trước khi có biến cố xảy ra và khi người lao động gặp phải thì quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ giúp họ cân bằng phần thu nhập bị giảm sút hay bị mất, giúp họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao khi gặp các rủi ro khó khăn

Trang 17

Dưới góc độ kinh tế: Bảo hiểm xã hội là phạm trù kinh tế tổng hợp, là sự bảo đảm thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động

Dưới góc độ pháp lý: Chế độ Bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của Nhà nước, quy định các hình thức đảm bảo điều kiện vật chất và tinh thần cho người lao động và trong một số trường hợp là thành viên gia đình họ khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động

Theo khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 thì BHXH được hiểu là: “Sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” Như vậy, về bản chất BHXH

chính là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động trong trường hợp họ gặp rủi ro trong quá trình lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi họ không còn tham gia quan hệ lao động nữa như hết tuổi lao động, chết…BHXH thường được thực hiện dưới 2 hình thức: BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện trong đó BHXH bắt buộc là hình thức BHXH quan trọng được áp dụng với phạm vi đối tượng tương đối rộng và các chế độ BHXH bao gồm cả BHXH ngắn hạn và BHXH dài hạn

1.1.2 Loại hình bảo hiểm xã hội

Loại hình bảo hiểm xã hội bao gồm: Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm

xã hội tự nguyện

Đặc trưng cơ bản của BHXH bắt buộc so với BHXH tự nguyện là tính bắt buộc Tính bắt buộc của BHXH thể hiện ở chỗ:

Về đối tượng tham gia: đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và

NSDLĐ Tuy nhiên, những đối tượng nào theo quy định của pháp luật thuộc diện đóng BHXH bắt buộc thì đều bắt buộc phải tham gia BHXH dù muốn hay không Việc tham gia BHXH của các đối tượng này vừa là quyền nhưng đồng thời cũng vừa là nghĩa vụ của họ Điều đó có nghĩa việc tham gia BHXH của các đối tượng này không phụ thuộc vào ý chí của họ mà do pháp luật quy định NLĐ và NSDLĐ

Trang 18

không thể thỏa thuận về việc có tham gia BHXH hay không cũng như thay thế việc đóng BHXH bằng các hình thức khác

Về mức đóng: Mức đóng của BHXH bắt buộc thường là do pháp luật ấn định

đối với cả NLĐ và NSDLĐ, NLĐ và NSDLĐ phải đóng BHXH trên cơ sở mức đóng do pháp luật quy định Các bên không có quyền lựa chọn mức đóng, cũng như thương lượng hay thỏa thuận mức đóng Thông thường, mức đóng BHXH hàng tháng được tính theo mức phần trăm tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc và do pháp luật quy định

Về các chế độ BHXH: các chế độ của BHXH bắt buộc cũng do pháp luật quy

định Tùy theo tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà các chế độ được quy định khác nhau Tuy nhiên khi đã tham gia BHXH bắt buộc thì sẽ phải tham gia tất

cả các chế độ BHXH chứ không được lựa chọn tham gia một hay một vài chế độ Các chế độ BHXH bắt buộc thông thường bao gồm: chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất Ngoài

ra, điều kiện hưởng, mức hưởng của các chế độ BHXH bắt buộc cũng do pháp luật quy định chứ không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên

1.1.3 Ý nghĩa của Bảo hiểm xã hội

Ra đời và phát triển cùng với nền kinh tế thị trường, BHXH đã có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới Trình độ phát triển của BHXH được quyết định bởi mức

độ phát triển của nền kinh tế, nền kinh tế càng phát triển thì mức độ hoàn thiện của BHXH ngày càng cao và với những đặc trưng riêng có của mình BHXH đã có ý

nghĩa thiết thực đối với sự phát triển kinh tế xã hội như sau:

* Đối với người lao động

Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang ngày càng hoàn thiện quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì những "rủi ro" như ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm…lại diễn ra một cách thường xuyên và ngày càng phổ biến hơn, phức tạp hơn Khi những rủi ro này xảy ra sẽ gây khó khăn cho NLĐ về cả vật chất lẫn tinh thần, ảnh hưởng không tốt cho cả cộng đồng

Trang 19

Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần trợ giúp cho cá nhân NLĐ gặp phải rủi ro, bất hạnh bằng cách tạo ra cho họ những thu nhập thay thế, những điều kiện lao động thuận lợi…Đó không chỉ là nguồn hỗ trợ vật chất mà còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, giúp

họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, tạo cho họ một niềm tin vào tương lai Từ

đó góp phần quan trọng vào việc tăng năng suất lao động cũng như chất lượng công việc cho cơ quan, xí nghiệp nói riêng và cho toàn xã hội nói chung Bên cạnh đó, nhờ có BHXH, cuộc sống của những thành viên trong gia đình NLĐ đặc biệt là trẻ

em và người già cũng được đảm bảo tốt hơn

* Đối với người sử dụng lao động

Bảo hiểm xã hội giúp cho các tổ chức sử dụng lao động nói chung hay các doanh nghiệp nói riêng ổn định hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối các chi phí cho NLĐ một cách hợp lý Nếu không có BHXH, các tổ chức sử dụng lao động trả tiền bảo hiểm cùng với tiền lương hàng tháng để NLĐ tự

lo thì nguồn tiền này có thể bị sử dụng vào những nhu cầu, những mục đích khác và không phải bao giờ cũng hiệu quả Đến khi NLĐ gặp phải những rủi ro như ốm đau, tai nạn không có nguồn thu nhập, chi phí thuốc men đời sống của họ bị ảnh hưởng thì quan hệ lao động, chất lượng lao động sẽ bị ảnh hưởng Qua việc phân phối chi phí cho NLĐ hợp lý, BHXH bắt buộc góp phần làm cho lực lượng lao động trong mỗi đơn vị ổn định, sản xuất kinh doanh được liên tục, hiệu quả, các bên trong quan

hệ lao động cũng gắn bó với nhau hơn

BHXH bắt buộc tạo điều kiện cho NSDLĐ có trách nhiệm với NLĐ, không chỉ khi trực tiếp sử dụng lao động mà trong suốt cuộc đời NLĐ, cho đến khi già yếu, khiến cho BHXH bắt buộc có tính nhân văn sâu sắc hơn

Tóm lại, tuy không trực tiếp mang lại lợi ích cho NSDLĐ nhưng BHXH bắt buộc gián tiếp làm tăng kết quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh của đơn vị

* Đối với xã hội:

Bản chất và chức năng vốn có của BHXH là việc chia sẻ những rủi ro, tạo ra

sự san sẻ, tương trợ giữa NSDLĐ và NLĐ, và ngay cả giữa những NLĐ với nhau

Trang 20

theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” Thông qua việc tham gia BHXH rủi ro của một người sẽ được chia sẻ cho nhiều người trong cộng đồng, thông qua việc hình thành, phân phối và sử dụng quỹ BHXH Nó tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội

Đối với nhiều quốc gia, BHXH được xem là một trụ cột của hệ thống an sinh

xã hội, là cơ sở để phát triển các bộ phận khác của hệ thống an sinh xã hội Các nhà nước thường căn cứ vào mức độ bao phủ của chính sách BHXH để xác định những đối tượng nào còn gặp khó khăn, cần cộng đồng chia sẻ nhưng chưa được tham gia BHXH để thiết kế những mạng lưới khác của an sinh xã hội như trợ cấp, cứu trợ xã hội Trên cơ sở đó, BHXH là căn cứ để đánh giá trình độ quản lý rủi ro của từng quốc gia và mức độ an sinh xã hội đạt được của mỗi nước

Bảo hiểm xã hội còn là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia Khi kinh tế càng phát triển, đời sống của NLĐ được nâng cao thì nhu cầu tham gia BHXH của họ càng lớn Thông qua hệ thống BHXH, trình độ tổ chức, quản lý rủi ro xã hội của các nhà nước cũng ngày càng được nâng cao thể hiện bằng việc mở rộng đối tượng tham gia, đa dạng về hình thức bảo hiểm, quản lý được nhiều trường hợp rủi ro trên cơ sở phát triển các chế độ BHXH

Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện công bằng xã hội, giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo Bên cạnh đó, hoạt động BHXH cũng góp phần vào việc huy động vốn đầu tư, làm cho thị trường tài chính phong phú và kinh tế xã hội phát triển

Như vậy, BHXH là một trong những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm ổn định đời sống kinh tế - xã hội, là tiền đề thúc đẩy kinh tế tăng trưởng bền vững và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị

1.2 Các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội

1.2.1 Mức hưởng bảo hiểm xã hội, thời gian đóng bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc dân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ Nghĩa là phải đảm bảo hợp lý giữa đóng góp và

Trang 21

hưởng thụ, tức là phải căn cứ vào mức đóng góp của người lao động cho xã hội thể hiện thông qua mức đóng, thời gian đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội… để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng trợ cấp phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động Vì vậy, rất khó chấp nhận về mặt kinh tế khi một người lao động vừa tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian ngắn lại được hưởng

ngay mức bảo hiểm xã hội cao - ví dụ: chế độ thai sản (ít nhất 4 tháng hưởng bảo

hiểm xã hội bằng 100% tiền lương) hoặc hưởng chế độ ốm đau suốt đời nếu mắc bệnh cần điều trị dài ngày, khi người lao động có thể mới tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian ngắn

Tuy nhiên, khi xem xét nguyên tắc này cần đặt chúng trong mối quan hệ phù hợp với các nguyên tắc khác của bảo hiểm xã hội Bởi vì, bảo hiểm xã hội, bên cạnh nội dung kinh tế còn chứa đựng trong mình nội dung xã hội và một trong những biểu hiện của nó là nguyên tắc "chia sẻ rủi ro", "lấy số đông bù số ít " Do đó, người lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội không có nghĩa chắc chắn sẽ hưởng mọi chế

độ bảo hiểm xã hội (ví dụ: chế độ thai sản nói chung chỉ áp dụng với lao động nữ

nhưng lao động nam cũng tham gia đóng góp) Nhưng sự đóng góp của họ sẽ có ý nghĩa rất lớn cho những đối tượng gặp phải những rủi ro nghiêm trọng mà nếu không

có sự chia sẻ, tương trợ cộng đồng sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống

Để dung hòa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của bảo hiểm xã hội, vai trò của pháp luật là quan trọng nhưng không thể không tính đến các hình thức khác trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội

1.2.2 Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội

tự nguyện

Thu nhập được bảo hiểm xã hội là phần thu nhập của người lao động tham gia bảo hiểm mà nếu nó biến động giảm hoặc mất do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thì tổ chức bảo hiểm xã hội phải chi trả trợ cấp để thay thế hoặc

bù đắp một phần cho họ

Mức thu nhập được bảo hiểm là mức tiền lương hoặc mức thu nhập bằng tiền nào đó do Nhà nước quy định Trên cơ sở mức sống, mức thu nhập bình quân thực

Trang 22

tế của đại đa số người lao động và mức thu nhập quốc dân bình quân đầu người , Nhà nước quy định, lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm để đảm bảo cho mức thu nhập này luôn thăng bằng tương đối, nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động tham gia bảo hiểm và gia đình họ

Trong thực tế có hai cách để lựa chọn mức thu nhập được bảo hiểm tùy theo đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Cách thứ nhất là lấy tiền lương làm cơ sở để quy định mức thu nhập được bảo hiểm Cách thứ hai là quy định mức thu nhập nhất định đối với người được bảo hiểm Mỗi cách đều có những tác dụng khác nhau nhưng thông thường, người ta lấy tiền lương làm căn cứ để xác định mức thu nhập được bảo hiểm

Với nguyên tắc này thì có thể hiểu theo quy định hiện hành của Luật bảo hiểm xã hội nước ta mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền công, tiền lương của người lao động; mức đóng bảo hiểm xã hội

tự nguyện do người lao động lựa chọn tính trên cơ sở mức thu nhập của họ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu chung

Mặt khác, mức thu nhập được bảo hiểm còn là công cụ để Nhà nước giám sát, kiểm tra, điều tiết trên giác độ quản lý vĩ mô đối với bảo hiểm xã hội và quản lý lao động trong nền kinh tế quốc dân

1.2.3 Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội

Theo quy định của pháp luật về hình thức bảo hiểm xã hội gồm có bảo hiểm

xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trên cơ sở quy định hiện hành có thể thấy về lý thuyết số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nhiều hơn số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở nước ta số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là chủ yếu và họ được hưởng nhiều chế độ bảo hiểm xã hội hơn so với đối tượng bảo hiểm xã hội tự nguyện (cụ thể: Người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc được hưởng 5 chế độ bảo hiểm xã hội: Chế độ ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tai

Trang 23

nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất Còn chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ gồm 2 chế độ: Chế độ hưu trí; chế độ tử tuất) Tuy nhiên,

về phương diện pháp lý việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay bảo hiểm xã hội

tự nguyện đều tạo nên các quyền lợi về bảo hiểm xã hội có giá trị như nhau và trong thực tế tùy theo tính chất và đặc điểm của quan hệ lao động mà người lao động có thể có những thời gian tham gia bảo hiểm xã hội theo các loại hình khác nhau (bảo hiểm xã hội bắt buộc,bảo hiểm xã hội tự nguyện) Vì thế, để đảm bảo quyền lợi người lao động và tính liên thông trong quan hệ bảo hiểm xã hội thì người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (hưu chí, tử tuất) theo quy định của pháp luật trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội

1.2.4 Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, được sử dụng đúng mục đích, được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần của bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý Để đảm bảo thực hiện hài hòa các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu mà bảo hiểm xã hội đặt

ra thì một trong những vấn đề cần được chú ý là việc quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm

xã hội Theo quy định của pháp luật, quỹ bảo hiểm xã hội bao gồm các quỹ thành phần: Bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Tuy nhiên, hiện nay quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu có nguồn thu từ quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc, việc sử dụng quản lý quỹ này trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý

và hạch toán theo quy định của pháp luật Tuy nhiên do ý nghĩa xã hội của bảo hiểm

xã hội, những nguyên tắc của bảo hiểm xã hội đã được Tổ chức lao động quốc tế (ILO) khuyến nghị các nước thành viên mà việc quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và trên cơ sở của cơ chế ba bên Chính vì vậy, ở nước ta mặc dù tổ chức bảo hiểm xã hội là tổ chức sự nghiệp do Chính phủ thành lập nhưng việc chỉ đạo và giám sát hoạt động của tổ chức này (trong

đó có quỹ bảo hiểm xã hội) do Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội thực hiện (Hội đồng

Trang 24

quản lý bảo hiểm xã hội gồm: Đại diện Bộ lao động - thương binh và xã hội, Bộ tài chính, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Tổ chức bảo hiểm xã hội và một số thành viên khác do Chính phủ quy định) Trong cơ cấu của quỹ bảo hiểm xã hội, mỗi quỹ thành phần có yêu cầu sử dụng khác nhau, thậm chí với các đối tượng và trong các trường hợp khác nhau, do đó việc sử dụng phải đúng mục đích Có như vậy, hiệu quả và giá trị của các chế độ bảo hiểm xã hội mới có ý nghĩa

1.2.5 Việc thực hiện bảo hiệm xã hội phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội

Người tham gia bảo hiểm xã hội khi đóng phí bảo hiểm xã hội là nhằm dự trữ trước một khoản tài chính, nhằm đề phòng những trường hợp rủi ro xảy ra hoặc

có liên quan đến hoạt động lao động (tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp) hoặc những loại được coi là "rủi ro xã hội" (ốm đau, thai sản, tuổi già, chết) Khi gặp những rủi ro này, chi phí trong cuộc sống của người lao động và gia đình họ không những tăng lên chẳng hạn chi phí chăm sóc, chữa trị khi bị ốm, nuôi dưỡng sản phụ, con nhỏ… mà thu nhập còn bị giảm vì không đi làm được Trong trường hợp này các khoản tiền bảo hiểm xã hội giữ vai trò cần thiết và quan trọng góp phần bù đắp vào sự thiếu hụt thu nhập của người lao động và gia đình họ nhằm ổn định cuộc sống, khắc phục những khó khăn, hỗ trợ, giúp đỡ họ vượt qua những rủi ro tạm thời cũng như lâu dài Chính vì vậy, việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải đảm bảo đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, kịp thời (đặc biệt về thủ tục hành chính) và đầy đủ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội

1.3 Nội dung pháp luật về Bảo hiểm xã hội

Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội mà các quốc gia có những quy định khác nhau về BHXH Song nhìn chung về nội dung pháp luật BHXH của hầu hết các quốc gia thường quy định về các nội dung như đối tượng tham gia, quỹ BHXH

và các chế độ BHXH

1.3.1 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội

Đối tượng tham của BHXH là NLĐ và NSDLĐ Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so với tiền lương

Trang 25

của NLĐ theo quy định của luật BHXH Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ

áp dụng đối với những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn quỹ BHXH Hiện nay khi nền kinh tế phát triển nhu cầu sử dụng NLĐ trong và ngoài doanh nghiệp nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng ra

Việc tham gia BHXH có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo điều kiện sống cho NLĐ và gia đình họ trong những trường hợp NLĐ gặp rủi ro Tuy nhiên, không phải NLĐ và NSDLĐ nào cũng tự giác tham gia BHXH Hơn nữa để thực hiện BHXH một cách lâu dài thì cần phải xác định đối tượng tham gia để đảm bảo nguồn thu cũng như chi trả các chế độ BHXH Bởi vậy, pháp luật hầu hết các nước đều quy định các đối tượng có trách nhiệm phải tham gia BHXH và đối tượng tham gia

tự nguyện Đối tượng có trách nhiệm phải tham gia BHXH bắt buộc là NLĐ và NSDLĐ với những điều kiện nhất định, những đối tượng khác tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện Tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nước mà các nước có sự quy định về đối tượng tham gia song nhìn chung pháp luật các nước đều hướng tới những đối tượng tham gia quan hệ lao động có tính ổn định và càng ngày các đối tượng này càng có xu hướng mở rộng

Pháp luật BHXH Đan Mạch có quy định, mọi người dân được hưởng chế độ bảo hiểm từ hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia, trợ cấp gia đình và trợ cấp người già mà không phụ thuộc vào hoạt động nghề nghiệp; trái lại trợ cấp dành cho việc

bù đắp do mất thu nhập chỉ được chi trả cho những người đang hoạt động, những người không thuộc diện NLĐ làm công ăn lương cũng hưởng trợ cấp bằng tiền của bảo hiểm ốm đau

Tại Hà Lan, có hai loại hình BHXH là BHXH đối với người làm công ăn lương và BHXH quốc gia BHXH của những người làm công ăn lương bảo đảm chi phí duy nhất cho những người làm công ăn lương và những người giống như vậy Để được thụ hưởng BHXH này, phải có một hợp đồng lao động, ít nhất giống như người làm công ăn lương Đó là trường hợp người học nghề, những NLĐ tại nhà hoặc trong

Trang 26

các phân xưởng được bảo hiểm Những NLĐ thật sự độc lập không giống người làm công ăn lương và công chức có chế độ riêng BHXH quốc gia là loại hình bảo đảm chế độ BHXH cho tất cả những người sống ở Hà Lan, cũng như những người không thường trú với điều kiện họ đang làm việc ở Hà Lan và trả thuế và lương

Như vậy có thể thấy ở mỗi quốc gia lại có những quy định khác nhau về đối tượng tham gia BHXH bắt buộc có quốc gia quy định đối tượng là những người tham gia quan hệ lao động một cách thường xuyên, ổn định, là những người làm công ăn lương Ở một số quốc gia đối tượng tham gia lại không phụ thuộc vào quan

hệ lao động Tuy nhiên, tựu chung lại việc quy định về đối tượng tham gia BHXH nhằm mục đích đảm bảo tốt nhất về quyền lợi cho những người được hưởng các chế

độ bảo hiểm

1.3.2 Quỹ Bảo hiểm xã hội

Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của các bên tham gia và các nguồn thu khác, được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH

Quỹ BHXH là một trong những nội dung quan trọng của hệ thống BHXH

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quỹ BHXH, theo nghĩa rộng: quỹ BHXH là tập hợp những phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu phát sinh về BHXH trên

cơ sở sự đóng góp của những người tham gia BHXH Cụ thể là các khoản dự trữ về tài chính và các phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho quỹ BHXH Theo nghĩa hẹp, quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của người tham gia BHXH, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho người được hưởng BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Như vậy, có thể hiểu quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung, được sử dụng để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết Quỹ BHXH vừa là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng đảm bảo

Trang 27

cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển

Quỹ BHXH hình thành và hoạt động đã tạo ra khả năng giải quyết những rủi

ro xã hội của tất cả những người tham gia BHXH, giúp cho việc dàn trải rủi ro được thực hiện theo cả hai chiều không gian và thời gian, đồng thời giúp giảm tối thiểu thiệt hại kinh tế cho NSDLĐ, tiết kiệm chi cho ngân sách nhà nước và ngân sách gia đình

Ở các nước như Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha các khoản phí đóng góp này cũng được chia sẻ cho cả NLĐ và NSDLĐ Đặc biệt ở Tây Ban Nha, đóng góp BHXH chiếm 70% tổng thu nhập BHXH, trong đó các khoản đóng góp của NSDLĐ lớn gấp 5 lần khoản đóng góp của NLĐ

Ngoài phí BHXH một phần quan trọng khác nữa tạo ra quỹ BHXH là sự hỗ trợ của nhà nước với mục đích nhằm đảm bảo cho các hoạt động xã hội diễn ra đều đặn, ổn định Một bộ phận khác của quỹ BHXH là các nguồn thu hợp pháp khác,

đó là các khoản giúp đỡ của các tổ chức từ thiện trong và ngoài nước, các khoản phạt của những cá nhân, tổ chức kinh tế vi phạm quy định pháp luật về BHXH như chậm nộp BHXH, nộp thiếu

Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội đặc thù của mỗi quốc gia, việc lựa chọn cơ chế đóng quỹ BHXH cũng khác nhau Ở Đức, riêng với chế độ bảo hiểm ốm đau đã có khoảng 900 quỹ và được chia thành các quỹ thành phần là các quỹ địa phương, quỹ doanh nghiệp, quỹ nghiệp đoàn và các quỹ thay thế ngoài ra còn có các quỹ xã hội - nghề nghiệp Phí bảo hiểm của NLĐ và NSDLĐ là bằng nhau, dao động theo quỹ, hiện tổng phí đóng của cả NSDLĐ và NLĐ dao động trong khoảng 11 đến 14%, trung bình khoảng 13,2% thu nhập thô của NLĐ

Ở Đan Mạch, từ ngày 01/01/1994 đã áp dụng một loại phí xã hội bắt buộc đối với tất cả NLĐ hưởng lương hoặc không hưởng lương NSDLĐ phải đóng từ ngày 01/01/1997 là 0,3% Vào năm 1995, tỷ lệ đóng góp của NLĐ là 1,9% của lương gộp

Tỷ lệ này là 2,9% năm 1996 và tăng lên dần dần đến năm 1998 là 4,9%

Có thể thấy, trong nền kinh tế hàng hóa, trách nhiệm tham gia đóng góp quỹ BHXH được phân chia cho cả NSDLĐ và NLĐ trên cơ sở quan hệ lao động hoặc

Trang 28

những người tham gia tự nguyện Điều này không phải là sự phân chia rủi ro mà là

để đảm bảo lợi ích giữa hai bên Về phía NSDLĐ, sự đóng góp một phần BHXH cho NLĐ sẽ tránh được thiệt hại kinh tế do phải chi trả một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy ra đối với NLĐ mà mình thuê mướn Đồng thời, nó còn góp phần kiến tạo được mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên trong quan hệ lao động bởi việc đóng góp đó thể hiện trách nhiệm với những NLĐ mà họ sử dụng Về phía NLĐ, sự đóng góp một phần để BHXH cho mình vừa biểu hiện sự tự gánh chịu trực tiếp rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt chẽ

1.3.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội

Các chế độ BHXH được hiểu là một hệ thống các quy định được luật hóa về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mức đóng góp đối với NLĐ khi họ gặp phải các rủi ro

trong từng trường hợp BHXH cụ thể

Theo Công ước số 102 ngày 25/6/1952 của Tổ chức Lao động quốc tế thì hệ thống BHXH bao gồm 9 chế độ gồm: Chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp TNLĐ-BNN, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp mất người nuôi dưỡng Tổ chức Lao động quốc tế cũng khuyến nghị tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, mà mỗi quốc gia tham gia công ước có thể quy định các chế độ BHXH bắt buộc khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được

ba chế độ Trong đó phải có một trong năm chế độ: Trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp TNLĐ, BNN; trợ cấp khi tàn phế và trợ cấp tiền tuất

Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia quy định các chế độ BHXH mang tính bắt buộc thường bao gồm 5 chế độ: chế độ BHXH ốm đau, chế độ BHXH thai sản, chế

độ BHXH tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ BHXH hưu trí và chế độ tử tuất Chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm ít chế độ hơn

* Chế độ ốm đau

Ốm đau là một hiện tượng rủi ro phổ biến mà con người không hề mong muốn Ốm đau không chỉ tác động đến sức khỏe, đời sống sinh hoạt mà còn là nguyên nhân khiến sức lao động của con người bị ảnh hưởng Với mong muốn đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi phải tạm thời nghỉ việc vì ốm đau do những nguyên

Trang 29

nhân khách quan hoặc chăm sóc con ốm, chế độ bảo hiểm ốm đau đã được hình thành Mục đích của bảo hiểm ốm đau là nhằm bù đắp phần nào thu nhập bị mất hoặc bị giảm trong thời gian người tham gia BHXH gặp rủi ro ốm đau, chia sẻ những khó khăn, thiệt thòi của NLĐ trong thời gian bị ốm đau, tai nạn hoặc chăm sóc con ốm

Bảo hiểm ốm đau là một trong các chế độ BHXH ra đời sớm nhất trong lịch

sử hình thành và phát triển của pháp luật BHXH Ở nước Đức, ngay từ những năm

50 của thế kỷ XIX nhiều chính quyền bang đã quan tâm tới việc quy định và bắt buộc thực hiện chế độ trợ cấp ốm đau đối với NLĐ Đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm ốm đau ngày càng được mở rộng Sau đó, nhiều nước châu Âu cũng đã cho ra đời các đạo luật của mình có quy định về vấn đề bảo hiểm ốm đau Đến đầu thế kỷ

XX, bảo hiểm ốm đau đã mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước

Mỹ La tinh, Hoa Kỳ, Canada và một số nước khác

Năm 1952, Tổ chức Lao động quốc tế đã thông qua Công ước số 102 với những quy phạm tối thiểu về BHXH Trong đó, Điều 14 của Công ước quy định chế độ trợ cấp ốm đau được áp dụng đối với các trường hợp bị mất khả năng lao động do đau ốm gây ra và dẫn đến gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc quy định quốc gia quy định

Có thể nói, đối tượng áp dụng bảo hiểm ốm đau chính là những NLĐ bị mất khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật, phải nghỉ việc dẫn đến thu nhập bị gián đoạn

Ở Đức trong trường hợp ốm đau, NSDLĐ có trách nhiệm chi trả lương trong

6 tuần Tiếp đó, người được bảo hiểm có quyền được trợ cấp bằng tiền từ bảo hiểm

ốm đau Số tiền lên đến 80% lương đã đóng bảo hiểm và thuế thu nhập Đối với cùng một loại bệnh, thời gian trợ cấp không vượt quá 78 tuần trong 3 năm Còn ở Anh, NLĐ làm công ăn lương ốm ngừng làm việc, nếu đáp ứng các điều kiện, sau thời hạn 3 ngày có quyền được hưởng trợ cấp ốm đau hàng ngày Việc chi trả trợ cấp này do NSDLĐ thực hiện và sau đó sẽ được Bảo hiểm quốc gia hoàn trả Trợ cấp được chi trả tối đa là 28 tuần với mức 52,50 bảng một tuần Chỉ những người làm công ăn lương có thu nhập ít nhất 58 bảng một tuần mới có thế được hưởng

* Chế độ thai sản

Trang 30

Trong tổng số lao động xã hội, lao động nữ chiếm một tỷ lệ không nhỏ Ngoài xã hội, họ tham gia tích cực vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Trong gia đình họ là người chăm sóc gia đình và thực hiện “thiên chức” cao quý làm mẹ Hầu hết phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng đều trải qua thời kỳ mang thai, sinh nở và nuôi con nhỏ Việc này làm cho sức khỏe của lao động nữ bị suy giảm, thu nhập từ lao động bị gián đoạn, tác động không nhỏ đến đời sống của

họ và gia đình Nhằm góp phần bảo vệ các bà mẹ và trẻ sơ sinh, các quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm đến chế độ trợ cấp thai sản, coi đây là một chương trình an sinh xã hội quan trọng

Chế độ trợ cấp thai sản cũng là một trong số các loại trợ cấp ngắn hạn được quy định tại Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế với mục đích dùng để bảo vệ sức khỏe cho người mẹ và trẻ em thông qua việc trợ cấp tiền nghỉ đẻ để hồi phục và duy trì sức khỏe sau khi sinh

BHXH thai sản cũng là một trong những chế độ BHXH bắt buộc được nhiều nước thừa nhận Lao động nữ với chức năng sinh đẻ và nuôi con nên khi tham gia quan hệ lao động họ cần phải được đảm bảo đời sống và thu nhập khi thực hiện chức năng này Thậm chí hiện nay, một số nước quy định lao động nữ và nam đều được hưởng chế độ thai sản như nhau như Thụy Điển, Bungari Đặc biệt ở Bungari còn quy định ông, bà cũng được nghỉ hưởng trợ cấp trong thời gian người mẹ mang thai, trước

và sau sinh nhằm chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con cháu trong gia đình; còn theo pháp luật Thụy Điển thì cả cha và mẹ đều được hưởng chế độ thai sản như nhau

Về điều kiện tham gia BHXH nói chung và chế độ thai sản nói riêng ở các nước thông thường đều quy định những người đang mang thai hoặc sinh đẻ thì có thể tham gia BHXH và phải có thời gian tham gia BHXH tối thiểu trước khi sinh,

khoảng từ 6 đến 12 tháng cuối cùng trước khi sinh Chẳng hạn ở Achentina, NLĐ

phải có 10 tháng đóng góp liên tục sau khi nghỉ thai sản hoặc đã có 6 tháng đóng góp trong 12 tháng trước khi sinh trong đó có một tháng làm việc ngay trước khi sinh; ở Pháp NLĐ phải đảm bảo có 200 giờ làm việc trong 3 tháng cuối cùng trước khi sinh; ở Thái Lan, NLĐ phải có 7 tháng đóng góp trong 15 tháng trước khi sinh

Trang 31

(chỉ giới hạn trong hai lần sinh) Tuy nhiên, ở Trung Quốc và Nga lại không quy định thời gian đóng góp tối thiểu để được hưởng chế độ thai sản

Về thời gian hưởng trợ cấp BHXH thai sản, tùy thuộc vào điều kiện kinh

tế-xã hội của từng quốc gia và khả năng hồi phục sức khỏe của lực lượng lao động của quốc gia đó mà mỗi quốc gia quy định thời gian hưởng, mức hưởng khác nhau

Hiện nay trên thế giới có hai hình thức trợ cấp tiền và chăm sóc y tế Hầu hết các

nước trên thế giới có những chính sách trợ cấp đối với lao động nữ trong thời gian mang thai và sinh con sử dụng dịch vụ y tế trước và sau khi sinh Dịch vụ y tế thông thường gồm: chăm sóc ban đầu, một số dịch vụ và thuốc men thiết yếu, những dịch

vụ đặc biệt, phẫu thuật, chăm sóc thai sản, đặc biệt ở một số quốc gia có cả trợ cấp

đi lại, chăm sóc y tế tại nhà Việc chi trả chi phí chăm sóc y tế hiện nay có 3 phương

án cơ bản: chi trả trực tiếp cho người cung cấp dịch vụ trong các cơ sở y tế của nhà nước, hoàn trả chi phí cho bệnh nhân; chi trả theo các điều khoản trực tiếp về chăm sóc y tế

Đối với người nhận trợ cấp thai sản bằng tiền mức trợ cấp và thời gian trợ cấp thai sản của các nước cũng khác nhau Thông thường mức trợ cấp thai sản bằng 100% lương và thời gian trợ cấp là 6 tháng trước khi sinh và 6-8 tuần sau khi sinh Ngoài mức trợ cấp kể trên thì mỗi lần sinh con người mẹ còn được trợ cấp nuôi con với mức 20-25% mức trợ cấp thai sản trong thời gian từ 6 tuần trở lên Cũng có một

số nước thực hiện tiền hỗ trợ, tiền sắm sửa tã lót và trợ cấp thai sản một lần Ở Pháp, thời gian trợ cấp thai sản là 6 tuần trước khi sinh và 8 tuần sau khi sinh đối với sinh con lần 1, lần 2; 8 tuần trước khi sinh và 18 tuần sau khi sinh đối với con thứ 3; song thai là 12 và 22 tuần trước và sau khi sinh, mang thai ba 24 tuần trước

và 22 tuần sau khi sinh Mức trợ cấp là 100% thu nhập Ở Nga, thời gian nghỉ trợ cấp 10-12 tuần trước khi sinh, và 10-16 tuần sau khi sinh Những người nghỉ việc để trông con dưới 18 tháng tuổi, được nhận mức trợ cấp hàng tháng 200% mức lương tối thiểu Mức trợ cấp là 100% thu nhập

Dù khác nhau về đối tượng, thời gian nghỉ, mức trợ cấp nhưng pháp luật ở các nước đều giống nhau về mục đích hướng tới của chế độ bảo hiểm thai sản Đó là

Trang 32

thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi con sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ vững cân bằng về thu nhập, tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khỏe cho NLĐ và trẻ sơ sinh Qua đó, chế độ bảo hiểm thai sản góp phần thực hiện sự bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi cũng như sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm

* Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ,BNN) là những nguy cơ NLĐ

có thể gặp phải khi tham gia quan hệ lao động Khi NLĐ bị TNLĐ, BNN khả năng lao động của họ có thể bị giảm sút dẫn đến việc giảm hoặc mất khả năng lao động Chính vì vậy, pháp luật các nước đều quy định bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ BHXH mang tính bắt buộc Chế độ này nhằm đảm bảo thu nhập cho NLĐ khi bị TNLĐ, BNN dẫn đến giảm hoặc mất khả năng lao động

Ở Trung Quốc, năm 1994, Luật Lao động được ban hành và dành một chương riêng quy định về “Bảo hiểm xã hội và phúc lợi xã hội” Theo đó, hệ thống BHXH được cải tổ theo các nội dung: bảo hiểm dưỡng lão, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế, bảo hiểm TNLĐ, BNN và bảo hiểm thai sản Chính phủ Trung Quốc

đã và đang nỗ lực trong việc thiết lập chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN bao gồm: phòng chống thương tích xảy ra trong lao động, bồi thường và phục hồi chức năng cho NLĐ bị các tổn thương liên quan đến công việc Năm 2003, Hội đồng Nhà nước ban hành Điều lệ về bảo hiểm TNLĐ, BNN Theo quy định của Điều lệ tất cả các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đều phải tham gia đóng phí TNLĐ, BNN vĩnh viễn cũng như tạm thời cho toàn bộ NLĐ của họ Những đơn vị không tham gia chế độ TNLĐ, BNN khi xảy ra TNLĐ, BNN thì đơn vị đó phải chịu trách nhiệm chi trả các chế độ như quy định trong điều lệ

Pháp luật BHXH tại Thái Lan hiện nay cũng có quy định về BHXH đối với TNLĐ, BNN Trong các tổ chức thành viên của Hiệp hội an sinh xã hội ASEAN (ASSA), Cơ quan an sinh xã hội Thái Lan (SSO) có nhiều điểm tương đồng với BHXH Việt Nam hơn cả Hiện nay ở Thái Lan, SSO chịu trách nhiệm thực hiện các chế độ BHXH cho NLĐ trong đó bao gồm cả chế dộ TNLĐ, BNN Ủy ban bồi

Trang 33

thường TNLĐ, BNN thuộc cơ quan an sinh xã hội có trách nhiệm thực hiện quản lý quỹ và thực hiện chế độ cho NLĐ Ủy ban có trách nhiệm đánh giá và xác định tỷ lệ đóng góp của NSDLĐ; xây dựng các chính sách bồi thường, chương trình nghiên cứu hướng tới việc ngăn chặn các TNLĐ và các biện pháp về an toàn vệ sinh lao động; giải quyết tranh chấp, khiếu nại…

Nếu như ở các quốc gia kể trên, bảo hiểm TNLĐ, BNN được xếp vào các loại BHXH bắt buộc thì tại Đan Mạch, việc bảo hiểm TNLĐ, BNN chưa nằm trong

hệ thống an sinh xã hội Những rủi ro TNLĐ thực tế do các hãng bảo hiểm tư nhân quản lý mà những NSDLĐ phải đóng phí bảo hiểm

Như vậy, dù ở mỗi quốc gia có những quy định khác nhau về bảo hiểm TNLĐ, BNN nhưng có thể khẳng định rằng chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN là chế độ

có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ NLĐ trước những rủi ro nghề nghiệp, không chỉ được nhiều quốc gia quan tâm thực hiện mà Tổ chức lao động quốc cũng đã đưa

ra nhiều khuyến nghị trong công ước nhằm đảm bảo an toàn tại nơi làm việc và đảm bảo những khoản trợ cấp cho NLĐ sau khi bị TNLĐ, BNN

* Chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong hệ thống 5 chế độ của BHXH bắt buộc Theo Tổ chức lao động quốc tế thì chế độ hưu trí là một dạng trợ cấp trong hệ thống trợ cấp BHXH dành cho những người tuổi cao không thể tiếp tục làm việc bình thường được nữa Điểm đặc biệt là đối tượng thụ hưởng của chế độ hưu trí là những người hết tuổi lao động, không còn khả năng lao động nữa Chế độ trợ cấp này thay thế một phần thu nhập và góp phần đảm bảo ổn định về tài chính cho NLĐ khi về hưu

Tuổi thọ bình quân của người dân nói chung và NLĐ tham gia BHXH nói riêng không ngừng tăng lên sẽ làm cho số người nghỉ hưu ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ dân cư và dân số hoạt động kinh tế Do đó, đây là chế độ BHXH

có nhiều người thụ hưởng với thời gian dài nhất nên có tổng mức chi trả lớn nhất Mục đích đảm bảo ổn định về tài chính cho NLĐ sau khi hết tuổi lao động của chế

độ này cũng góp phần to lớn trong việc đảm bảo an sinh xã hội

Trang 34

NLĐ tham gia BHXH sẽ được hưởng chế độ tuổi già khi về hưu, độ tuổi này

là tuổi nghỉ hưu theo luật định và thay đổi theo từng quốc gia, từng thời kỳ và từng nhóm đối tượng lao động cụ thể Tổ chức Lao động quốc tế khuyến nghị các nước thành viên tham gia Công ước 102 quy định độ tuổi nghỉ hưu không quá 65 tuổi Tùy theo điều kiện về kinh tế, xã hội cũng như khả năng làm việc của người cao tuổi ở mỗi quốc gia mà có thể quy định độ tuổi nghỉ hưu cao hơn Tuy nhiên, độ tuổi nghỉ hưu phải được hạ thấp đối với những NLĐ làm những công việc nặng nhọc, độc hại Chính vì vậy mà các nước có quy định khác nhau về độ tuổi nghỉ hưu

để hưởng BHXH hưu trí Theo quy định chung ở Việt Nam, điều kiện chung để hưởng lương hưu hàng tháng đối với nam là đủ 60 tuổi và nữ là đủ 55 tuổi Ở Mỹ

độ tuổi nghỉ hưu ở cả 2 giới là 65 tuổi, ở Anh nam là 65 còn nữ là 60, ở Nhật nam là

60 nữ là 55

Hiện nay, tuổi thọ trung bình đang có xu hướng tăng lên nên một số nước đang có xu hướng tăng tuổi về hưu Ở các nước phương Tây ngày nay, do sự tăng tuổi thọ và giảm tỉ lệ sinh nên khoảng cách giữa những người hơn 60 tuổi và những người từ 15 đến 59 tuổi giảm đi Trước tình hình đó, nhiều nước đã tiến hành cải cách chế độ hưu trí do mối lo lắng về sự mất cân bằng tài chính thông qua biện pháp lùi tuổi về hưu Italia vào năm 1992 đã quy định lùi 5 tuổi về hưu theo pháp luật là

65 tuổi với nam và 60 tuổi đối với nữ Với các cuộc cải cách sau đó, tuổi về hưu linh hoạt hơn và trong khoảng giữa 57 và 65 tuổi Ở Đức, tuổi về hưu của công chức năm 1997 từ 62 tuổi đã tăng lên thành 63 tuổi, một số loại lao động về hưu từ

61 tuổi Ở Thụy Điển cuộc cải cách gần đây đã đưa ra bảng tính với khoảng cách tuổi về hưu từ 61 đến 70 tuổi Trong nhiều nước, tuổi thực sự về hưu không trùng với tuổi về hưu theo quy định của pháp luật Với 58,7 tuổi, nước Pháp có tuổi trung bình về hưu thấp nhất Châu Âu, cách xa nước Pháp là Thụy Điển và Anh (trung bình 63,2 tuổi)

* Chế độ tử tuất

Chế độ tử tuất hay còn được gọi là chế độ trợ cấp mất người nuôi dưỡng Đây là một trong những chế độ bảo hiểm mang tính nhân văn trong hệ thống

Trang 35

BHXH Mục đích của chế độ này là hỗ trợ về tài chính cho gia đình NLĐ khi NLĐ

bị chết và vợ con họ bị mất nguồn thu nhập để trang trải cuộc sống Do đó, góp phần khắc phục những khó khăn tức thời để ổn định cuộc sống cho các thành viên trong gia đình họ Như vậy có thể hiểu chế độ tử tuất là chế độ BHXH đối với thân nhân của NLĐ đang tham gia lao động hoặc đã tham gia quan hệ lao động nay đang hưởng bảo hiểm, đang chờ hưởng bảo hiểm mà bị chết

Trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độ trợ cấp tử tuất có điểm khác biệt là đối tượng tham gia BHXH luôn khác đối tượng thụ hưởng Đối tượng tham gia là NLĐ, còn đối tượng thụ hưởng là người vợ (chồng) và con cái của NLĐ không may

bị chết Với ý nghĩa đó, chế độ tử tuất đã góp phần nâng cao hơn nữa vai trò của BHXH NLĐ tham gia BHXH không những được đảm bảo thu nhập trong và sau quá trình lao động mà ngay cả khi họ chết, người thân của họ vẫn được chỗ trợ để lo chi phí mai táng và hưởng bảo hiểm Vì vậy, chế độ tử tuất bao gồm: chế độ mai táng phí và chế độ tiền tuất

Tại đặc khu kinh tế Thẩm Quyến - Trung Quốc, công nhân viên bị tai nạn chết thì cơ quan BHXH thành phố sẽ chi trả tiền mai táng phí, tiền trợ cấp an ủi trả một lần và tuất nuôi dưỡng thân nhân Tiền mai táng sẽ trả 6 tháng tiền lương của lương bình quân công chức thành phố này năm trước cho đơn vị hoặc người đứng ra

lo mai táng Tiền trợ cấp an ủi một lần sẽ chi trả cho người thân bằng 48 tháng tiền lương bình quân tháng công chức thành phố này năm trước Thân nhân còn được lĩnh tiền trợ cấp nuôi dưỡng, nuôi dưỡng 01 thân nhân, mỗi tháng trả 30%; 02 thân nhân mỗi tháng trả 60%; 03 thân nhân trở lên mỗi tháng trả 80% lương bình quân tháng công chức thành phố này năm trước Ngoài ra, đối với người già cô đơn và trẻ

mồ côi còn được hưởng tiền bổ trợ đời sống 20% theo tiêu chuẩn trên

Ở Phần Lan, người vợ (chồng) góa và trẻ mồ côi dưới 18 tuổi có quyền được nhận trợ cấp tử tuất bao gồm một trợ cấp ban đầu được chi trả trong 6 tháng, mức trợ cấp dựa trên số năm cư trú, có thể được tăng lên theo thu nhập của người đó Trợ cấp được chi trả trong thời gian 6 tháng trở lên nếu người được trợ cấp phải nuôi con nhỏ dưới 18 tuổi Trợ cấp quốc gia cho trẻ mồ côi được chi trả cho tới 18 hay 20 tuổi trong trường hợp vẫn tiếp tục học; trợ cấp tỷ lệ được chi trả cho tới năm

Trang 36

đứa trẻ mồ côi 18 tuổi

Như vậy, có thể thấy, ở mỗi quốc gia chế độ tử tuất được quy định có những điểm khác nhau, tuy nhiên đối tượng thụ hưởng chế độ bảo hiểm này hướng tới luôn

là những thân nhân của NLĐ và đặc biệt là những đối tượng phụ thuộc vào kinh tế của NLĐ như vợ/chồng và con dưới 18 tuổi Quy định như vậy có ý nghĩa nhân văn lớn cũng như đảm bảo tốt chế độ an sinh xã hội cho NLĐ và gia đình họ

1.3.4 Xử lý vi phạm về bảo hiểm xã hội

Quá trình thực hiện các quy định của pháp luật về BHXH, đặc biệt là BHXH bắt buộc có thể xảy ra nhiều vi phạm từ phía các bên tham gia BHXH Các hành vi vi phạm về BHXH bắt buộc thông thường xảy ra ở các lĩnh vực đóng BHXH, thủ tục thực hiện việc chi trả bảo hiểm xã hội, sử dụng tiền quỹ BHXH Theo đó, có thể thấy, vi phạm pháp luật về BHXH có thể được chia thành các nhóm chính sau:

Thứ nhất, nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH bao gồm các hành vi: Trốn đóng BHXH bắt buộc; chậm đóng tiền BHXH; chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH Những hành vi thuộc nhóm này xuất phát từ ý thức tuân thủ pháp luật bảo hiểm của NSDLĐ chưa cao Những hành vi vi phạm thuộc nhóm này làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền được tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH của NLĐ

Thứ hai, nhóm hành vi vi phạm quy định về quyền thụ hưởng BHXH bao gồm các hành vi: Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện bảo hiểm xã hội; sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội không đúng pháp luật Mục đích của những hành vi này nhằm chiếm đoạt tiền của quỹ BHXH Những hành vi gian lận này trước hết gây thiệt hại cho quỹ BHXH, qua đó gián tiếp gây thiệt hại cho quyền lợi hợp pháp của NLĐ tham gia BHXH

Thứ ba, nhóm hành vi vi phạm liên quan đến quản lý và thực hiện hoạt động BHXH bao gồm: Cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ, NSDLĐ; truy cập, khai thác trái pháp luật cơ sở dữ liệu

về BHXH; báo cáo sai sự thật; cung cấp thông tin, số liệu không chính xác về BHXH Việc vi phạm những quy định này không những làm ảnh hưởng, gây thất thoát quỹ BHXH mà còn ảnh hưởng đến NLĐ, làm giảm niềm tin của NLĐ vào

Trang 37

việc thực thi chính sách BHXH của nhà nước

Tại đặc khu kinh tế Thẩm Quyến - Trung Quốc, vấn đề khiếu nại và xử lý vi phạm về BHXH cũng được quy định, đặc biệt quy định về việc xí nghiệp không nộp phí bảo hiểm dưỡng lão theo quy định, thì cơ quan bảo hiểm thành phố có thể ra thông báo truy thu, xí nghiệp phải nộp tiền bảo hiểm và các khoản tiền phạt do nộp chậm trong vòng 30 ngày, kể từ ngày nhận được giấy thông báo truy thu cho cơ quan BHXH thành phố Tiền phạt do nộp chậm bắt đầu từ ngày quá hạn, mỗi ngày nộp 2% theo số tiền chậm nộp bảo hiểm dưỡng lão Đối với những đơn vị, cá nhân can thiệp, gây trở ngại cho cơ quan bảo hiểm thành phố và nhân viên thực hiện công việc theo pháp luật sẽ bị cơ quan công an dựa theo quy định của “Điều lệ xử phạt quản lý trật

tự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” tiến hành xử phạt; cấu thành tội phạm sẽ do

cơ quan tư pháp tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật

Pháp luật BHXH tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc lại có quy định về xử lý vi phạm hết sức cụ thể cho từng nhóm đối tượng Nếu NSDLĐ nợ nộp phí BHXH thì ngành BHXH xã hội sẽ ra thông báo thời hạn nộp và sẽ thu thêm 1% số tiền nợ nộp theo ngày Đơn vị cố tình giấu diếm sự thật của việc bị thương hoặc chết do tai nạn lao động, đưa ra các chứng cứ, số liệu giả sẽ bị phạt số tiền bằng 5% của số phí bảo hiểm tai nạn lao động cần nộp trong năm đó Cả hai trường hợp vi phạm này người đại diện pháp định của đơn vị sẽ bị phạt một khoản tiền từ 2000 tệ đến 5000 tệ Đối với người bảo hiểm và thân nhân nếu dùng các thủ đoạn phi pháp, lừa đảo để lĩnh đãi ngộ bảo hiểm tai nạn lao động, thì ngành bảo hiểm sẽ truy thu lại số tiền phi pháp mà có được và sẽ phạt gấp 3 lần số tiền phi pháp có được đó; cấu thành tội phạm sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Đối với vi phạm của cơ quan BHXH và nhân viên bảo hiểm, thì chính quyền địa phương hoặc ngành bảo hiểm cấp trên sẽ ra yêu cầu sửa đổi; nếu tình tiết nghiêm trọng sẽ tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với nhân viên chủ quản hữu quan và người chịu trách nhiệm trực tiếp; cấu thành tội phạm sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật

Có thể thấy, việc gian lận, trục lợi trong lĩnh vực BHXH có tính chất phổ biến, không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ,

Trang 38

người tham gia bảo hiểm mà còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự ổn định và phát triển của chính sách an sinh xã hội, ảnh hưởng lớn đến chính sách thu hút đầu tư để phát triển kinh tế của Nhà nước

Trang 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như vậy, Chương 1 đã nêu một cách tổng quát các vấn đề cơ bản về BHXH

Từ việc nêu ra các khái niệm, ý nghĩa của BHXH cũng như so sánh với những quy định và thực hiện BHXH của một số quốc gia trên thế giới đã cho thấy được vai trò quan trọng của BHXH bắt buộc trong đời sống xã hội không chỉ ở Việt Nam mà ở các nước trên thế giới đều rất quan tâm

BHXH đặc biệt là BHXH bắt buộc được coi là bộ phận lớn nhất trong hệ thống an sinh xã hội, là trụ cột cơ bản của an sinh xã hội Có thể nói, không có BHXH thì không thể có một nền an sinh xã hội vững mạnh Phát triển BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện để thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ở mỗi quốc gia, tùy theo hoàn cảnh lịch sử, trình

độ kinh tế - xã hội khác nhau mà xây dựng một hệ thống BHXH có phạm vi đối tượng tham gia và hưởng thụ khác nhau

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

2.1 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội

2.1.1 Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là người có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm cho cơ quan thực hiện BHXH theo quy định của Nhà nước Trong BHXH, đối tượng tham gia chủ yếu là NLĐ và NSDLĐ NLĐ tham gia BHXH, đồng thời là người được hưởng bảo hiểm Ngoài ra, thân nhân của người tham gia BHXH cũng

có thể được hưởng trong một số trường hợp, theo quy định của pháp luật

- Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

Ngày đăng: 03/09/2018, 15:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w