Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ SẢN XUẤT KINH DOANH SỬ DỤNG
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
HÀ VIỆT HƯNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liê ụ trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn
ch ưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Việt Hưng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác gi ả xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Văn Phương, người
đã trực tiếp động viên, hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tác giả trong suốt quá trình nghiên c ứu và hoàn thiện luận văn
Tác gi ả cũng xin bày tỏ lời cám ơn chân thành tới các thầy cô giảng viên, các th ầy cô Khoa Sau đại học, Viện đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận
l ợi nhất để tác giả có thể hoàn thành luận văn thạc sỹ luật học của mình
Bên c ạnh đó, tác giả cũng xin được gửi lời cám ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và những đồng nghiệp đã giúp đỡ, ủng hộ tác giả có thể hoàn thành lu ận văn của mình một cách tốt nhất
Hà N ội, ngày 02 tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện luận văn
Hà Việt Hưng
Trang 5Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT SẢN XUẤT,
1.1 Hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
với vấn đề bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường 6
1.1.3 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới bảo vệ thực vật và
1.1.4 Khái niệm sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 14 1.2 Quan niệm về pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc
1.4 Khái quát về lịch sử hình thành của hệ thống pháp luật về sản
xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam 23
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SẢN XUẤT, KINH
DOANH, SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở VIỆT
Trang 62.1 Thực trạng các quy định chung về sản xuất, kinh doanh, sử dụng
2.1.1 Đăng ký và cấp phép thuốc bảo vệ thực vật 30 2.1.2 Bao bì và ghi nhãn thuốc bảo vệ thực vật 38
2.1.4 Thu hồi, tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật 45 2.2 Thực trạng các quy định cụ thể về sản xuất, kinh doanh, sử dụng
2.2.1 Quy định về sản xuất thuốc bảo vệ thực vật 48 2.2.2 Quy định về buôn bán thuốc bảo vệ thực vật 55 2.2.3 Quy định về xuất khẩu, nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật 60 2.2.4 Quy định về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 66
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SẢN XUẤT, KINH DOANH, SỬ DỤNGTHUỐC BẢO VỆ
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng
3.3 Các giải pháp khác nhằm bảo đảm tính hiệu quả trong thực thi pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 85
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Theo thống kê của Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) hàng năm, thiệt hại mùa màng do sâu, bệnh gây ra trung bình mất khoảng 20 - 30% tổng sản lượng Việc sử dụng các hoá chất bảo vệ thực vật đã trở thành một trong những phương tiện hữu hiệu nhất trong công tác phòng trừ dịch hại và bảo quản nông sản, đảm bảo an ninh lương thực [33]
Ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nông nghiệp chiếm một vị thế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với diện tích canh tác lớn, điều kiện khí hậu thuận lợi, chủng loại cây trồng phong phú nên dịch hại phát triển quanh năm Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là một trong những phương tiện hữu hiệu trong công tác phòng trừ dịch hại và bảo quản nông sản, bảo đảm an ninh lương thực Do đó, nhu cầu sử dụng thuốc BVTV ở nước ta rất lớn
Trong những năm qua, việc sản xuất và kinh doanh mặt hàng thuốc BVTV đã góp phần không nhỏ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, ổn định thị trường, tạo công ăn việc làm, góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước nhưng tình trạng sản xuất, kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV, đặc biệt
là thuốc BVTV là hóa chất, trong đó có hóa chất độc hại thiếu kiểm soát đã có những tác động vô cùng tiêu cực đối với môi trường Để bảo đảm phát triển bền vững kinh tế - xã hội và môi trường của đất nước thì sản xuất nông nghiệp bền vững là một lĩnh vực cần được quan tâm một cách thích đáng Muốn vậy, việc kiểm soát, quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV nhằm phát huy những tác động tích cực của thuốc BVTV đối với phát triển kinh tế, ổn định xã hội và hạn chế những tác động của hoạt động này đối với môi trường là một việc làm cần thiết và cần quan tâm một cách thích đáng của Nhà nước và xã hội cũng như giới nghiên cứu pháp luật
Trước khi Luật BV&KDTV 2013 có hiệu lực, hoạt động quản lý và sử dụng thuốc BVTV được điều chỉnh bởi pháp lệnh BV&KDTV năm 2001 Tuy nhiên, sau 10 năm thực thi, Pháp lệnh đã bộc lộ một số hạn chế là chưa đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động quản lý nhà nước đối với thuốc BVTV
Trang 9trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Ở tầm pháp lệnh năm 2001, các quy định về thuốc BVTV chỉ mang tính
cụ thể trước mắt, chưa tương thích với pháp luật quốc tế và chưa được xác lập với tầm nhìn chiến lược cho một giai đoạn phát triển mới Bên cạnh đó, nhiều quy định về thuốc BVTV chưa đáp ứng yêu cầu của thực tế, nhiều khâu trong hoạt động quản lý thuốc BVTV như đăng ký cấp phép, sản xuất, buôn bán, sử dụng thuốc BVTV chưa thực sự linh hoạt, hiệu quả Đặc biệt đối với bao bì thuốc BVTV sau sử dụng vẫn chưa có quy định xử lý chi tiết [8]
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, nhằm thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tương thích với quy định pháp luật quốc tế, các quy định của pháp luật hiện hành nói chung và Luật BV&KDTV năm 2013 nói riêng ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa [8] Đặc biệt, Luật Bảo vệ và Kiểm dịch 2013 đã góp phần quan trọng, tạo cơ sở pháp lý trong việc phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn kịp thời dịch hại, bảo vệ an toàn sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về công tác BVTV, kiểm dịch thực vật và quản lý thuốc BVTV Luật BV&KDTV năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành và có đã có hiệu lực được một thời gian Do đó, việc đánh giá những ưu điểm và hạn chế của các quy định và việc thực thi các quy định này là một việc làm cần thiết
Tuy nhiên, việc đánh giá một cách toàn diện tất cả các quy định về vấn đề này cần nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, đánh giá thực tiễn Do đó, với khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học, em chỉ chọn một nhóm vấn đề của pháp luật
BV&KDTV để làm luận văn tốt nghiệp Đó chính là lý do em chọn đề tài "Pháp
lu ật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật" làm đề tài luận văn thạc
sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới đang đứng trước những thách thức rất lớn về vấn đề môi trường Đặc biệt là Việt Nam một nước
Trang 10nằm ở vùng nhiệt đới, lại có vị trí địa lý đặc biệt nên có lợi thế về tài nguyên
và môi trường đối với với việc hoạch định chiến lược phát triển Tuy mới bước vào con đường phát triển kinh tế nhưng do đứng trước áp lực của một quốc gia đang phát triển, kinh tế là mũi nhọn phát triển cần phải được ưu tiên hàng đầu nên Việt Nam đã và đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng như: ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí từ đó phát sinh vấn đề vệ sịnh môi trường phức tập, có lúc nghiệm trọng Đặt biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường do các chất độc hóa học, trong đó nổi cộm là vấn đề ô nhiễm môi trường do thuốc bảo vệ thực vật gây ra
Đề tài nghiên cứu về thuốc BVTV đã có những công trình nghiên cứu,
tiêu biểu như: Nghiên cứu sản xuất sử dụng thuốc trừ sâu sinh học đa chức nawg cho m ột số loại cây trồng bằng kỹ thuật công nghệ sinh học, PGS.TS Nguyễn Văn Tuất, Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật 2004; Nghiên cứu ứng dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học trong sản xuất rau an toàn; ảnh
h ưởng của chúng đến thiên địch sâu hại và chất lượng sản phẩm vùng Hà Nội
và ph ụ cận, ThS.Trần Thị Thu Hương, Một số giải pháp hoàn thiện thể chế
qu ản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ thực vật Nội san Số 2 - 2010, Trường
Cán bộ quản lý NN&PTNT 2
Đặng Thị Phương Lan, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, năm 2013; Nghiên
c ứu sử dụng một số chế phẩm sinh học trong sản xuất lúa an toàn theo hướng VietGAP ở tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Thị Xuân Phương, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, năm 2016; Quản lý Nhà nước hoạt động kinh doanh thuốc BVTV trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Thị Nhật Linh, Luận văn thạc sĩ
quản lý nhà nước, năm 2015,… Giáo trình "Sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật", Trường đại học Nông Nghiệp Hà Nội do PGS.TS Nguyễn Trần Oánh chủ biên, Hà Nội, 2007
Các công trình nghiên cứu khoa học về thuốc BVTV nêu trên chủ yếu chỉ được đánh giá và nhìn nhận dưới góc độ khoa học kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực như: sinh học, hóa học, nông nghiệp, quản lý nhà nước…mà chưa tìm hiểu, xem xét vấn đề sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc BVTV dưới góc độ pháp lý
Trang 11Do đó, việc nghiên cứu đề tài pháp lý về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc BVTV là một việc làm cần thiết về lý luận và thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhằm đáp ứng tốt các yêu cầu bảo vệ môi trường của hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV nhằm bảo đảm phát triển bền vững Mục đích nghiên cứu của luận văn sẽ không xem xét các vấn
đề pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật dưới giác độ của pháp luật thương mại, pháp luật kinh doanh mà xem xét các vấn đề này dưới giác độ của pháp luật môi trường
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định là:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
- Khái quát, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam hiện nay để tìm ra những tồn tại, vướng mắc và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thi hành pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận pháp luật, hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và thực tiễn thi hành ở Việt Nam
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề
lý luận pháp luật, thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, từ đó, xác định phương hướng
và giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam
Về mặt bản chất, thuốc BVTV chủ yếu là hóa chất nhưng cũng có những loại thuốc BVTV không phải là hóa chất Do đó, nội dung của luận văn chỉ đề cập
Trang 12tới các quy định của Luật BV&KDTV 2013 và các văn bản hướng dẫn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc BVTV mà sẽ không đề cập cụ thể tới các quy định này của Luật Hóa chất và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Hóa chất
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống, có độ tin cậy để nghiên cứu đề tài như: Phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh, lịch sử… trong đó phương pháp tổng hợp, phân tích là những phương pháp được
sử dụng chủ yếu
Các phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn nhằm đạt được mục đích nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
Về mặt lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm phong phú
và sâu sắc hơn các vấn đề lý luận pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, góp phần vào việc xây dựng các luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, thông qua việc đánh giá thực trạng pháp luật, luận văn chỉ ra các ưu điểm, hạn chế, bất cập là cơ sở thực tiễn để hoàn thiện pháp luật
về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo pháp luật, các cơ sở đào tạo lĩnh vực kinh tế và nông nghiệp
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 3 chương:
Ch ương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Ch ương 2: Thực trạng pháp luật về sản xuất kinh doanh sử dụng thuốc
bảo vệ thực vật ở Việt Nam hiện nay
Ch ương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về sản xuất
kinh doanh sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT SẢN XUẤT KINH DOANH
SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
1.1 Hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật với vấn đề bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường
1.1.1 Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
Theo Từ điển môi trường Anh - Việt và Việt - Anh [41] thì pesticide, thuốc bảo vệ thực vật hay chất diệt trừ là tác nhân hóa học, thường là những chất nhân tạo, có tác dụng diệt những thực vật hay động vật gây hại, thuật ngữ này là thuật ngữ chung bao gồm các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm thuốc trừ giun
Theo Từ điển Bách khoa bảo vệ thực vật: "Thuốc bảo vệ thực vật hay còn
g ọi là thuốc trừ dịch hại là tất cả các chất hay hỗn hợp các chất dùng để ngăn
ng ừa, tiêu diệt các loài dịch hại của cây trồng, nông lâm sản… hoặc các loài
d ịch hại gây cản trở quá trình chế biến, bảo quản nông sản Thuốc trừ hại còn bao g ồm các chất có tác dụng điều hoà, kích thích sinh trưởng cây trồng, bảo
qu ản nông sản" [40]
Theo Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (đã được phê duyệt của Hội nghị FAO (kỳ họp thứ 6) vào ngày 06/12/1951, theo Nghị quyết số 85/51, có hiệu lực, theo Điều XIV, ngày 03/4/1952 và đã được bổ sung nhiều lần) thì
thuốc BVTV (pesticide) được định nghĩa là: "Bất kỳ chất hoặc hỗn hợp các
ch ất nhằm ngăn ngừa, tiêu diệt hoặc kiểm soát bất kỳ loại sâu bệnh nào, bao
g ồm cả các vật chủ trung gian của các bệnh xuất phát từ con người hoặc động
v ật, các loài không mong muốn của cây trồng hoặc vật nuôi gây hại hoặc can thi ệp vào việc sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, tiếp thị thực phẩm,
m ặt hàng nông sản, gỗ và sản phẩm gỗ hoặc thức ăn động vật, hoặc các chất
có th ể được dùng cho động vật để kiểm soát côn trùng, nhện hoặc sâu bệnh khác trên c ơ thể của chúng Thuật ngữ bao gồm cả các chất được sử dụng với
Trang 14ý định điều chỉnh sự tăng trưởng thực vật, thuốc khai quang, chất hút ẩm hoặc tác nhân làm r ụng trái cây hoặc ngăn ngừa sự rụng quả sớm của trái cây Ngoài ra c ũng được sử dụng cho các loại cây trồng trước hoặc sau khi thu
ho ạch để bảo vệ hàng hóa khỏi bị suy giảm trong quá trình bảo quản và vận chuy ển" [34]
Định nghĩa trên đã nêu chi tiết và liệt kê đầy đủ các tính năng và công dụng của thuốc BVTV.Theo đó, ngoài các chức năng ngăn chặn, phòng ngừa, kiểm soát và tiêu diệt các loại sâu bệnh gây hại thì thành phần các loại thuốc BVTV còn có thêm các chất làm rụng quả được sử dụng trong trường hợp trên một cây có quá nhiều quả nên phải sử dụng các chất hóa học để làm rụng bớt quả, chỉ giữ lại một số lượng quả nhất định nhằm đảm bảo những quả còn lại
có chất lượng và phẩm cấp đạt yêu cầuhay những chất bảo quản nông sản, thực phẩm trong quá trình lưu chứa hay vận chuyển
Khái niệm thuốc BVTV bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam vào khoảng đầu và giữa những năm 60 của thế kỷ trước Ở thời điểm đó, các loại hóa chất được sử dụng bảo vệ sản xuất nông nghiệp chỉ nhằm mục đích hạn chế và diệt trừ những côn trùng, vi sinh vật và cỏ dại gây hại cây trồng (thực vật) nên
thường được sử dụng với thuật ngữ đơn giản là"Thuốc bảo vệ cây trồng".Với
cách hiểu đó, văn bản pháp luật đầu tiên quy định về thuốc BVTV tại pháp
lệnh BV&KDTV năm 1993 (khoản 7 Điều 2) cũng đã định nghĩa: "Thuốc bảo
v ệ thực vật là chế phẩm có nguồn gốc từ hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh
v ật dùng để phòng, trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật" Nói cách khác,
chức năng được quan tâm chính của thuốc BVTVthời gian này mới chỉ dừng lại ở việc phòng và trừ sinh vật gây hại mà chưa biết hoặc chưa quan tâm đến nhiều chức năng quan trọng khác của thuốc BVTV như kiểm soát, điều hòa hay bảo quản…thực phẩm Ngày 25/7/2011 pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch năm 2001 được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa X thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2002 và thay thế cho Pháp lệnh BV&KDTV năm 1993 trước đó Tuy nhiên về cơ bản, khái niệm thuốc BVTV quy định tại khoản 9 Điều 3 của Pháp lệnh không có sự thay đổi về nội hàm khái niệm so với quy
Trang 15định tại khoản 7 Điều 2 Pháp lệnh BV&KDTV năm 1993 trước đó
Luật BV&KDTV 2013 được ban hành đã định nghĩa rõ hơn, cụ thể hơn
về "Thuốc bảo vệ thực vật" Khoản 16 Điều 3 Luật BV&KDTV năm 2013
định nghĩa: "Thuốc bảo vệ thực vật là chất hoặc hỗn hợp các chất hoặc chế
ph ẩm vi sinh vật có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn, xua đuổi, dẫn dụ, tiêu
di ệt hoặc kiểm soát sinh vật gây hại thực vật; điều hòa sinh trưởng thực vật
ho ặc côn trùng, bảo quản thực vật, làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng thu ốc" So với định nghĩa về thuốc BVTV được quy định tại Pháp lệnh
BV&KDTV năm 1993, 2001 thì đây là định nghĩa khá tương thích với quan điểm chung của quốc tế khi bao quát khá đầy đủ các công dụng của thuốc BVTV bao gồm: phòng và diệt trừ sinh vật gây hại, điều hòa sinh trưởng, bảo quản thực vật…
Về bản chất, thuốc BVTV chính là nông dược những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp, được dùng để bảo vệ cây trồng, nông sản và chống lại sự phá hoại của những vi sinh vật gây hại đến mùa màng Do
đó trên thực tế, thuật ngữ "Thuốc bảo vệ thực vật" trong nhiều trường hợp
thường bị nhầm lẫn với khái niệm "Thuốc trừ sâu" (Insecticide) Theo PGS.TS Nguyễn Trần Oánh: "Thuốc trừ sâu gồm các chất hay hỗn hợp chất có tác
d ụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi tr ường Chúng được dùng để diệt trừ hoặc ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con người" [22, tr.78]
Nói cách khác, thuốc trừ sâu cũng là một loại thuốc BVTV nhưng không phải tất cả mọi loại thuốc BVTVđều là thuốc trừ sâu Khác biệt rõ rệt nhất của thuốc BVTV và thuốc trừ sâu là đối tượng và mục đích của hai loại thuốc này Trong khi thuốc trừ sâu tác động đến các côn trùng gây hại nhằm tiêu diệt, xua đuổi phòng ngừa sâu bệnh có hại cho thực vật thì thuốc BVTV làm ảnh hưởng tới các sinh vật gây hại cho thực vật nói chung, có thể là chuột, nhện, sâu bọ…ngoài mục đích phòng trừ sinh vật gây hại còn hướng đến việc điều hòa sinh trưởng và bảo quản thực phẩm như đã phân tích ở trên
1.1.2 Đặc trưng của thuốc bảo vệ thực vật [22]:
Trang 16Thuốc BVTV hay còn gọi là nông dược là những chất độc có nguồn gốc
từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp, được dùng để bảo vệ cây trồng, nông sản và chống lại sự phá hoại của những vi sinh vật gây hại đến mùa màng Những vi sinh vật gây hại chính bao gồm: sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác Tuy nhiên không phải bất cứ chất độc nào được sử dụng trong nông nghiệp cũng là thuốc BVTV mà phải thỏa mãn một số đặc trưng tiêu biểu:
Thứ nhất: Có tính độc đối với sinh vật gây hại.
Thuốc BVTV có tính độc nhưng chỉ được phép có tác dụng gây độc đối với các sinh vật gây hại như: sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân gây hại khác Đây là yêu cầu tất yếu đối với thuốc BVTV để thực hiện đúng chức năng quan trọng của nó trong phòng trừ sinh vật gây hại và tăng năng suất cho cây trồng Có thể nói, càng thâm canh thì yêu cầu phòng trừ dịch hại, bảo vệ sản xuất nông nghiệp càng tăng Do đó thuốc BVTV là một loại vật tư nông nghiệp quan trọng góp phần hạn chế dịch hại, bảo vệ cây trồng, giữ vững
và nâng cao sản lượng, chất lượng nông sản Việc sử dụng thuốc BVTV đúng mục đích và đúng kĩ thuật sẽ mang lại hiệu quả tốt trong quản lí dịch hại cây trồng và bảo vệ nông sản
Thứ hai: An toàn đối với chất lượng môi trường tự nhiên và sức khỏe của con người trong giới hạn cho phép
Đây là yêu cầu có ý nghĩa quan trọng và tiêu biểu nhất đặt ra đối với thuốc BVTV Các nghiên cứu gần đây cho thấy, chất độc trong các chất hóa học BVTVdễ dàng xâm nhập vào cơ thể con người và những động vật máu nóng khác thông qua quá trình hô hấp, từ đó làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe, tính mạng của con người và các loài sinh vật Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các loại thuốc BVTV không được gây ảnh hưởng tới sức khỏe của con người là điều kiện tiên quyết trong quản lí và sử dụng thuốc BVTV trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Bên cạnh đó, để đảm bảo hạn chế tác động gây ô nhiễm của thuốc BVTV tới chất lượng môi trường, xu hướng trên thế giới đã và đang khuyến
Trang 17khích các chủ thể hạn chế sử dụng các loại thuốc BVTV có phổ tác động rộng (có độc lực đối với nhiều loài sinh vật gây hại), chuyển hướng tới nghiên cứu, sản xuất và sử dụng các loại thuốc BVTV có phổ tác động hẹp (chỉ có tính độc đối với rất ít loài, thậm chí chỉ hướng tới duy nhất một loài sinh vật gây hại thuộc đối tượng cần diệt trừ) Mặt khác, các nhà khoa học cũng nghiên cứu để đưa vào sản xuất các loại thuốc BVTVcó thời gian phân hủy nhanh chóng, chỉ lưu lại tính độc trong môi trường trong thời gian ngắn nhằm làm hạn chế tối đa những ảnh hưởng bất lợi của thuốc BVTV tới chất lượng môi trường Trên thực tế, các hợp chất hóa học dùng trong bảo vệ thực vật, nếu không được sản xuất và sử dụng đúng, không những gây độc đối với các sinh vật gây hại mà còn gây độc đối với các sinh vật có ích, bao gồm cả loài động vật máu nóng,
kể cả con người Do đó để đảm bảo sức khỏe môi trường tự nhiên và chất lượng cuộc sống cho con người, tính độc của thuốc BVTV chỉ được phép áp dụng đối với các sinh vật gây hại nhằm mục đích phòng chống và diệt trừ, không áp dụng đối với các loài sinh vật có ích khác và làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái Bởi lẽ nhiều loại hóa chất là thuốc BVTV trong quá trình tiêu diệt các loài sinh vật gây hại đã giết chết côn trùng và các loài sinh vật có ích, từ đó giải phóng cho một số loài sinh vật gây hại khỏi sự kiềm chế của các loại thiên địch khiến chúng hoạt động mạnh hơn, gây hại nhiều hơn Do đó, tính độc của thuốc BVTV phải được giới hạn chỉ có độc đối với các loài gây hại nhưng không độc đối với các loài sinh vật có ích, các thiên địch của các loài gây hại trong sinh quần tự nhiên
Thứ ba: Thuốc BVTV là loại hàng hóa đặc biệt
Việt Nam là nước sản xuất nông nghiệp, khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm của Việt Nam là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, đồng thời cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của các loài sâu bệnh và cỏ dại gây hại mùa màng Do vậy việc sử dụng thuốc BVTV để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu Cùng với phân bón hóa học, thuốc BVTV là
Trang 18yếu tố quan trọng để bảo đảm an ninh lương thực cho loài người Tuy nhiên,
do các loại thuốc BVTV thường là các chất hóa học có độc tính cao nên mặt trái của thuốc BVTV là rất độc hại đối với sức khỏe cộng đồng và là một đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường sinh thái nếu không được quản
lí chặt chẽ và sử dụng đúng cách Dư lượng thuốc BVTV khi vượt quá giới hạn cho phép trong nông sản và thực phẩm sẽ là mối đe đọa lớn đối với sức khỏe con người Do đó việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa sử dụng thuốc BVTV để bảo vệ sản xuất nông nghiệp với việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường là một đòi hỏi và thách thức lớn đối với cơ quan quản lí nhà nước
về bảo vệ thực vật
Xuất phát từ ý nghĩa trên, thuốc BVTV với những đặc tính của nó được coi là một loại hàng hóa đặc biệt mà khi chủ thể thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, buôn bán, sử dụng luôn đi kèm với những điều kiện nhất định Các điều kiện này phải được quy định đầy đủ và cụ thể trong
hệ thống pháp luật hiện hành về BV&KDTV nói chung, quản lí và sử dụng thuốc BVTV nói riêng mà người viết sẽ trình bày cụ thể ở phần sau
1.1.3 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật tới bảo vệ thực vật và bảo vệ môi
tr ường
Có thể nói rằng, thuốc BVTV có tác dụng như con dao hai lưỡi Nếu biết sử dụng một cách hợp lý thì nó sẽ góp phần đáng kể trong bảo vệ mùa màng, cải thiện chất lượng nông sản Tuy nhiên, nếu việc sản xuất, kinh doanh,
sử dụng một cách bừa bãi, thiếu ý thức, thiếu các biện pháp an toàn thì tai họa thật khôn lường Đặc biệt là đối với sức khoẻ của người trực tiếp sử dụng, cộng đồng và gây tác động xấu đến môi trường chung quanh
Th ứ nhất, thuốc BVTV có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của công tác
b ảo vệ thực vật trong nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế của đất nước
Là một quốc gia đang phát triển mà sản xuất nông nghiệp chiếm tới 17,4% GDP Việt Nam (năm 2015) [30] đã và đang đặc biệt chú trọng tới vấn
đề đảm bảo an ninh lương thực trong nước, cung ứng nguồn hàng xuất khẩu,
Trang 19đem lại những nguồn lợi nhuận kinh tế lớn cho người sản xuất và tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh các vấn đề môi trường đang diễn biến ngày càng khắc nghiệt cùng với sự tàn phá của các đối tượng thiên địch của hoạt động sản xuất nông nghiệp đã và đang làm ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất và chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp
Do đó, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước, hạn chế những bất ổn về chính trị - kinh tế - xã hội do đói nghèo gây ra, đồng thời giữ vững vị thế của một trong những quốc gia xuất khẩu lương thực lớn trong khu vực và thế giới, việc sử dụng các loại thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp đã và đang trở thành một nhu cầu tất yếu Nhờ có thuốc BVTV, cây trồng được tăng cường khả năng chống chịu với những bất thường của tự nhiên, năng suất và chất lượng sản phẩm được cải thiện theo hướng tốt hơn Việc sử dụng thuốc BVTV
có thể nhanh chóng hạn chế các loài gây hại và dập tắt dịch hại, bảo vệ cây trồng trên một diện tích lớn và trong thời gian ngắn trong khi cách thức sử dụng lại khá đơn giản và dễ thực hiện Xuất phát từ những lợi ích đó, thuốc BVTV đã và đang góp phần đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người sử dụng, góp phần hạn chế thiệt hại do sâu bệnh gây ra, từ đó đảm bảo và nâng cao lợi nhuận cho nhà nông
Th ứ hai, việc sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV không đúng ảnh hưởng rất lớn tới môi trường và sức khỏe con người
Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học, hiện nay thường được chế xuất từ các hợp chất hóa học khác, là một loại thuốc độc dùng để tiêu diệt những loài sâu bệnh, sinh vật có hại với cây trồng Do đó, nếu không sử dụng đúng liều lượng, nồng độ, những chất độc trong thuốc BVTV hoàn toàn có thể giết hại những sinh vật khác không phải là sinh vật gây bệnh Ngoài ra, môi trường mà thuốc bảo vệ thực vật lan truyền ra ngoài thường là môi trường mở,
ở những cánh đồng hay ruộng cây ăn trái nên vì thế nó dễ dàng xâm nhập vào môi trường khác như nước, đất, không khí… gây hại cho môi trường xung quanh Theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT thì nền
Trang 20kinh tế nông nghiệp Việt Nam với hơn 70% dân số đang chuyển mạnh sang cơ cấu sản xuất hiệu quả hơn, trong đó trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ đều đạt tốc độ tăng trưởng cao Nghĩa là, thay vì sản xuất nhỏ lẻ manh mún, người dân đã chuyển dần qua cơ giới hóa và sử dụng những sản phẩm của công nghiệp để phục vụ nông nghiệp Do đó, lượng thuốc BVTV, hóa chất bảo quản… đều được sử dụng trong ngành nông nghiệp Thế nhưng, tình trạng sử dụng thuốc BVTV lại chưa được quản lý một cách chặt chẽ mà chủ yếu là tự phát, rất tràn lan, thiếu kiểm soát Theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật, Bộ NN&PTNT, danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng trong nông nghiệp đến năm 2015 đã lên tới 1.699 hoạt chất, trong khi, các nước trong khu vực chỉ có khoảng từ 400-600 loại hoạt chất, như: Trung Quốc
630 loại, Thái Lan 400-600 loại Từ năm 2011 đến nay, hàng năm Việt Nam nhập và sử dụng từ 70.000-100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật Trong đó, thuốc trừ sâu chiếm 20,4%, thuốc trừ bệnh 23,2%, thuốc trừ cỏ 44,4%, các loại thuốc bảo vệ thực vật khác, như: thuốc xông hơi khử trùng, bảo quản lâm sản, điều hòa sinh trưởng cây trồng chiếm 12% Khối lượng và chủng loại thuốc bảo vệ thực vật trên đã vượt gấp nhiều lần nhu cầu sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Qua những con số trên có thể thấy, Việt Nam là một trong số những nước có lượng tiêu thụ thuốc bảo vệ thực vật rất lớn [32]
Bên cạnh lượng hóa chất khổng lồ được sử dụng như thống kê ở trên thì ngay cả lượng bao bì, vỏ đựng những loại hóa chất này cũng có khối lượng khổng lồ, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường bởi chúng đa phần là những loại vật liệu không tự phân hủy, gây hại đến xung quanh Tình trạng lạm dụng thuốc BVTV ở hầu hết các loại cây trồng của người nông dân thực sự là hồi chuông báo động đến với toàn thể cộng đồng xã hội Theo đó, nếu trước đây, thuốc BVTV chủ yếu sử dụng cho cây lúa thì ngày nay còn được sử dụng phổ biến trên cây rau và nhiều loại cây trồng khác Chưa có bất kỳ nghiên cứu và khuyến cáo nào dành cho nông dân khi sử dụng những loại hóa chất này lên rau màu, thứ thực phẩm tiêu dùng được người dân sử dụng trực tiếp nhưng với diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 80% nên lượng chất thải nguy hại phát
Trang 21sinh từ hoạt động nông nghiệp rất lớn Tuy nhiên, việc xử lý vỏ bao bì chưa được cơ quan quản lý, chính quyền, nhà sản xuất, cơ sở kinh doanh và nông dân quan tâm xử lý Do đó, nếu không có biện pháp quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến vấn đề ô nhiễm môi trường do thuốc BVTV và về lâu dài sẽ tác động xấu đến môi trường và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người [35]
Theo điều tra của Cục Y tế dự phòng về môi trường Việt Nam, hàng năm có trên 5.000 trường hợp nhiễm độc hóa chất do thuốc BVTV phải cấp cứu tại các bệnh viện và trên 300 trường hợp tử vong Có thể nói, đây là một con số thực sự báo động và nó đã chỉ ra rằng, thuốc BVTV không chỉ gây hại đến môi trường nước, đất, hệ sinh thái… mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân, theo chiều hướng ngày càng tiêu cực hơn Điều này diễn
ra đang có xu hướng ngày càng tăng bởi thuốc BVTV hiện nay gần như được
sử dụng ở tất cả các loại cây trồng, nhất là rau củ quả, hàng hóa mà người tiêu dùng đang sử dụng trực tiếp [35]
Vì vậy, những giải pháp sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV một cách an toàn và có hướng đi bền vững nhằm khai thác những lợi ích từ thuốc BVTV nhưng cũng hạn chế một cách tối đa những ảnh hưởng của thuốc BVTV đối với môi trường và sức khỏe con người là điều cần thiết và cần có những quyết sách đúng đắn
1.1.4 Khái niệm sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất khái niệm sản xuất, kinh doanh
và khái niệm sử dụng trong các văn bản pháp luật có liên quan Do đó, để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, cần xác định rõ nội hàm của khái niệm này
Luật doanh nghiệp định nghĩa một khái niệm bao trùm là khái niệm kinh
doanh Khoản 16 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014 định nghĩa "Kinh doanh là
vi ệc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
tr ường nhằm mục đích sinh lợi."
Trang 22Với khái niệm trên, kinh doanh được đề cập với nội hàm rất rộng, kinh doanh được hiểu đầy đủ là "quá trình đầu tư", bao gồm các hoạt động sản xuất, tiêu thụ và cung ứng dịch vụ Chủ thể kinh doanh khi tiến hành hoạt động kinh doanh chỉ cần thực hiện một trong ba công đoạn trên đã có thể xem là tham gia vào hoạt động kinh doanh Hay nói cách khác hoạt động sản xuất là một công đoạn của hoạt động kinh doanh Như vậy, có thể hiểu, khái niệm kinh doanh
đã bao hàm khái niệm sản xuất
Luật BV&KDTV năm 2013 không định nghĩa khái niệm kinh doanh hóa chất nhưng ngay trong các điều luật thì có sử dụng khái niệm này bên cạnh các khái niệm sản xuất, nhập khẩu, sử dụng thuốc BVTV Ví dụ như tại Khoản 6
và Khoản 8 Điều 13 quy định về các hành vi bị nghiêm cấm:
"6 S ản xuất, nhập khẩu, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong Danh m ục thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng tại Việt Nam, thuốc bảo vệ
th ực vật giả, không rõ nguồn gốc, hết hạn sử dụng, thuốc bảo vệ thực vật không có trong danh m ục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam, tr ừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật này
8 S ản xuất, kinh doanh, sử dụng, bảo quản, vận chuyển, thải bỏ, thu gom, x ử lý thuốc và bao gói thuốc bảo vệ thực vật trái quy định của Luật này."
Tuy nhiên trong chương 3 của Luật BV&KDTV năm 2013 quy định về quản
lý thuốc BVTV thì lại không thấy xuất hiện khái niệm kinh doanh mà chỉ xuất hiện các khái niệm sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, xuất khẩu và sử dụng thuốc BVTV
Luật doanh nghiệp 2014 không định nghĩa khái niệm sản xuất nhưng
khoản 21 Điều 3 Luật BV&KDTV năm 2013 có định nghĩa "Sản xuất thuốc
b ảo vệ thực vật bao gồm sản xuất hoạt chất, thuốc kỹ thuật, thuốc thành phẩm,
đóng gói thuốc bảo vệ thực vật."
Khái niệm sử dụng hàng hóa, vật chất nào đó, trong đó có thuốc BVTV
là một khái niệm thông dụng mà có thể được hiểu một cách chung nhất là chủ
sở hữu đưa hàng hóa, vật chất đó vào khai thác công dụng của nó trên thực tế
Trang 23Từ các khái niệm trên đây, khi sử dụng các khái niệm này trong luận văn, tác giả sẽ sử dụng các khái niệm này với nội hàm sau đây:
- Khái niệm sản xuất sẽ được hiểu như định nghĩa tại khoản 21 Điều 3 Luật
BV&KDTV năm 2013 là "Sản xuất thuốc bảo vệ thực vật bao gồm sản xuất hoạt
chất, thuốc kỹ thuật, thuốc thành phẩm, đóng gói thuốc bảo vệ thực vật."
- Khái niệm kinh doanh sẽ được hiểu hẹp hơn khái niệm kinh doanh được định nghĩa tại khoản 16 Điều 4 Luật doanh nghiệp 2014, chỉ bao gồm hoạt động mua bán, nhập khẩu thuốc BVTV
- Khái niệm sử dụng thuốc BVTV được hiểu là chủ sở hữu đưa thuốc
BVTV vào khai thác công dụng của nó trên thực tế
1.2 Quan niệm về pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo
Ở Việt Nam, thuật ngữ " Luật kinh doanh" hay "Pháp luật kinh doanh" được bàn đến vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ XX, trong các đề tài nghiên cứu khoa học và hội thảo khoa học Theo GS.TS Lê Hồng Hạnh " Luật kinh doanh điều chỉnh các quan hệ gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh Cũng theo PGS.TS Dương Đăng Huệ, pháp Luật kinh doanh nói một cách nôm
na nhất là tổng hợp các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức hoạt động và giải thể doanh nghiệp Nội dung của kinh doanh gồm bốn bộ phận cơ bản cấu thành là: pháp luật về các loại hình doanh nghiệp, pháp luật về hành vi kinh doanh, pháp luật về vỡ nợ, phá sản, pháp luật về cơ quan tài phán trong kinh doanh [20] Từ những quan niệm trên cho thấy Luật kinh doanh là ngành luật có nội dung của nó gồm hai vấn đề pháp lý cơ bản đó là:
Trang 24pháp luật về hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh
Với trình độ khoa học, kĩ thuật, công nghệ hiện nay, không có hoạt động sản xuất, kinh doanh nào không ảnh hưởng đến môi trường Nếu đòi hỏi hoạt động sản xuất hoàn toàn không ảnh hưởng đến môi trường thì có thể sẽ không
có bất kì hoạt động phát triển kinh tế nào được thực hiện Từ đó, kinh tế sẽ bị đình trệ và hệ quả là không thể phát triển kinh tế - xã hội, không bảo đảm phát triển bền vững Để có thể bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế - xã hội, cần phải kiểm soát và khống chế mức độ tác động của hoạt động kinh tế - xã hội tới môi trường Các hành vi gây hủy hoại, tàn phá môi trường cần phải được hạn chế hoặc loại trừ Hoạt động phát triển kinh tế phải bảo đảm phù hợp với khả năng hồi phục của môi trường và mức độ có thể tiếp nhận các ảnh hưởng từ hoạt động kinh tế tới môi trường Cũng cần phải xem xét mối tương quan giữa những ảnh hưởng bất lợi đối với môi trường so với hiệu quả kinh tế đem lại
Bên cạnh đó, các vấn đề môi trường như ô nhiễm, suy thoái môi trường
có thể tác động tiêu cực tới hiệu quả sản xuất, kinh doanh thông qua những ảnh hưởng bất lợi của chất lượng môi trường tới sức khoẻ người lao động, phát sinh những chi phí ngoại ứng cho hoạt động kinh doanh, làm tăng giá thành sản phẩm, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế [36, tr.7-8]
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh và vấn đề bảo vệ môi trường không chỉ bảo đảm chất lượng môi trường sống mà còn góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất, kinh doanh Mục tiêu này có thể đạt được thông qua những hình thức khác nhau mà một trong những phương thức đó là ban hành pháp luật và thực thi pháp luật môi trường trong kinh doanh: Pháp luật
là công cụ đặc biệt quan trọng để bảo đảm giải quyết tối ưu mối quan hệ giữa kinh doanh và vấn đề môi trường Các quy định này hướng tới mục tiêu hạn chế đến mức tối đa những ảnh hưởng tới môi trường của hoạt động kinh doanh nhưng vẫn bảo đảm sự tăng trưởng bền vững trong hoạt động kinh doanh [36, tr.14-15] Tập bài giảng Pháp luật môi trường trong kinh doanh của Trường Đại học
Trang 25luật Hà Nội có đưa ra định nghĩa "Pháp luật môi trường trong kinh doanh là
t ổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan
h ệ xã hội liên quan trực tiếp đến quá trình bảo vệ có hiệu quả môi trường sống
c ủa con người khi các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh" [36, tr.27]
Với mục đích nghiên cứu được đề cập trong lời nói đầu, nội dung của pháp luật sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV được đề cập trong luận văn là giải quyết các vấn đề môi trường của quá trình sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV chứ không đề cập tới vấn đề quản trị doanh nghiệp Hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV là một hoạt động kinh doanh (hiểu theo nghĩa rộng) trong lĩnh vực nông nghiệp Dưới góc độ của luật thương mại thì vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại cũng là một nội dung quan trọng Do đó, có thể thấy rằng, pháp luật sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV là một lĩnh vực cụ thể của pháp luật môi trường trong kinh doanh và là nội dung quản lý nhà nước, về môi trường, trong hoạt động kinh doanh Pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV nằm trong khoảng giao thoa giữa pháp luật thương mại và pháp luật môi trường, có thể hiểu là một bộ phận của pháp luật môi trường trong kinh doanh
Từ các phân tích trên đây có thể đưa ra định nghĩa "Pháp luật sản xuất, kinh doanh, s ử dụng thuốc bảo vệ thực vật là tổng hợp các quy phạm pháp
lu ật, các nguyên tắc pháp lí điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, mua bán, nhập khẩu và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
nh ằm phát huy tác động tích cực của nó đối bảo vệ thực vật và bảo vệ có hiệu
qu ả môi trường sống của con người"
1.2.2 Những yếu tố hợp thành pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Từ định nghĩa nêu trên, các yếu tố hợp thành pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV bao gồm các nguyên tắc pháp lý và các chế định điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất, mua bán, nhập khẩu và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhằm phát huy tác động tích cực của
Trang 26nó đối bảo vệ thực vật và bảo vệ có hiệu quả môi trường sống của con người
1.2.2.1 Các nguyên t ắc của pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV
Trên cơ sở mục đích của pháp luật sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV
và là một bộ phận của pháp luật môi trường trong kinh doanh nên có thể xác định các nguyên tắc của pháp luật sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV bao gồm:
Th ứ nhất, nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững
Phát triển bền vững thực chất là sự gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường và các lợi ích khác Nói cách khác, phát triển bền vững là bảo đảm đồng thời, cân bằng và lâu dài lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích môi trường trong hoạt động phát triển [36, tr.24]
Nguyên tắc phát triển bền vững của pháp luật sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV cần phải đáp ứng những đòi hỏi sau đây:
- Việc hoạch định chính sách phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh,
sử dụng thuốc BVTV phải cân nhắc một cách thích đáng giữa tác động có lợi của thuốc BVTV tới bảo vệ thực vật, bảo đảm phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững với vấn đề bảo đảm chất lượng môi trường sống cho con người, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm
- Việc hạn chế các quyền về tự do kinh doanh, quyền về tài sản trong sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV phải được xem xét trên nguyên lí: Việc hạn chế thông qua các quy định cấm, quy định kiểm soát chỉ được thực hiện khi các lợi ích công cộng về môi trường lớn hơn, quan trọng hơn các lợi ích kinh tế của chủ thể kinh doanh và không còn phương tiện nào khác để đạt được mục tiêu này [36, tr.25]
Th ứ hai, nguyên tắc bảo đảm tính hợp lí giữa sự can thiệp của Nhà nước
và và s ự tự quyết của chủ thể kinh doanh
Về mặt lí luận, khó có thể chỉ ra ranh giới của tính hợp lí này Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết từng vấn đề hoặc nhóm vấn đề môi trường trong kinh doanh bằng pháp luật, Nhà nước cần xác định ranh giới này trên cơ sở nguyên lí "Nhà nước chỉ can thiệp khi các tổ chức, cá nhân không thể tự bảo
vệ mình trước những ảnh hưởng tới môi trường của hoạt động kinh doanh"
Trang 27* Nguyên tắc này có những đòi hỏi sau đây:
- Phải kết hợp giữa công cụ hành chính và công cụ kinh tế trong quản lí môi trường trong kinh doanh Hành vi kinh doanh của các chủ thể là hướng tới tìm kiếm lợi nhuận và do đó quản lí môi trường trong kinh doanh chỉ đạt hiệu quả cao khi gắn kết được lợi ích môi trường của cộng đồng với lợi ích kinh tế của chủ thể kinh doanh
- Cần có lộ trình áp dụng cơ chế khuyến khích nhằm chuyển hoá việc thực hiện những nghĩa vụ mang tính pháp lí trong lĩnh vực môi trường sang việc tự nguyện bảo vệ môi trường của chủ thể kinh doanh [36, tr.26]
Th ứ ba, nguyên tắc chi phí lợi ích
Theo nguyên tắc này, các chi phí (của Nhà nước, của doanh nghiệp) khi thực thi, thực hiện pháp luật môi trường trong kinh doanh phải được đặt trong mối quan hệ với những lợi ích thu được về mặt kinh tế - xã hội và môi trường Nguyên tắc này bảo đảm tính hiệu quả xã hội của pháp luật môi trường trong kinh doanh
Nguyên tắc chi phí lợi ích có đòi hỏi sau đây:
- Quá trình xây dựng pháp luật môi trường trong kinh doanh phải cân nhắc đầy đủ những chi phí mà Nhà nước cũng như doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các quy định của pháp luật cũng như những chi phí để phục hồi môi trường, phục hồi sức khoẻ con người… trong mối quan hệ so sánh với tình trạng không có những quy định này
- Quá trình xây dựng và thực thi pháp luật môi trường trong kinh doanh phải cân nhắc đầy đủ những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các quy định của pháp luật và những ảnh hưởng của nó tới lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường Những lợi ích này phải được xem xét ở các khía cạnh liên quan đến lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của cả nền kinh tế, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài [36, tr.29-30]
Trong pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, cũng cần chú trọng tới những chi phí mà người nông dân bỏ ra khi sử dụng thuốc BVTV
và hiệu quả kinh tế mang lại cũng như những chi phí xã hội của hoạt động sử dụng thuốc BVTV, đặc biệt là những chi phí về phục hồi môi trường và chăm
Trang 28sóc sức khỏe của người dân
1.2.2.2 Các ch ế định của pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV
Các chế định hay các quy định của của pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV có thể chia thành các nhóm quy định như:
Nhóm quy định chung: Nhóm quy định này áp dụng chung cho tất cả các chủ thể thực hiện một hoặc tất cả các hoạt động như sản xuất, mua bán, nhập khẩu sử dụng thuốc BVTV Thuộc nhóm quy định này liên quan đến các vấn đề như loại thuốc BVTV được phép sản xuất, lưu thông, sử dụng loại thuốc BVTV cấm sản xuất, lưu thông, sử dụng các quy định về bao bì, dán nhãn…
Nhóm quy định riêng cho từng hoạt động gồm: sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, sử dụng thuốc BVTV: Các quy định của nhóm này sẽ quy định về điều kiện
về cơ sở vật chất, con người, các loại giấy phép (nếu cần thiết) để thực hiện từng hoạt động cụ thể cũng như chế độ kiểm tra, báo cáo và quá trình giám sát các hoạt động này của cơ quan quản lý nhà nước và quản lý chất thải đặc thù…
1.3 Vai trò của pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Với tác dụng giúp phòng ngừa, ngăn chặn, tiêu diệt và kiểm soát sinh vật gây hại, đồng thời điều hòa sinh trưởng và bảo quản thực vật, thuốc BVTV là một yếu tố không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp có vai trò trực tiếp đối với phát triển ngành nông nghiệp nói riêng và vấn đề an ninh lương thực, phát triển nền kinh tế quốc gia nói chung Tuy nhiên, trong bối cảnh các chủ thể sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV vẫn còn chưa nhận thức được rằng phát triển bền vững là phương thức tối đa hoá lợi nhuận một cách hiệu quả nhất thì việc xây dựng cơ chế khuyến khích dư luận đứng ra tự bảo vệ các quyền lợi chính đáng của mình và những biện pháp pháp lí với những chế tài thích hợp là những việc cần thiết để có thể bảo vệ môi trường và sức khỏe con người trước những ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử
dụng thuốc BVTV
Theo đó, pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV có những vai trò sau:
Trang 29Th ứ nhất, pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV thể
chế hoá những yêu cầu phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe người dân của Nhà nước, của cộng đồng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV
Pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, nếu được xây dựng và thực thi có hiệu quả, sẽ góp phần tăng năng xuất trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đồng thời có thể hạn chế hoặc loại trừ những tác động tiêu cực tới môi trường
và sức khỏe con người của hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, góp phần bảo vệ môi trường sống của con người, thông qua các khía cạnh như:
- Pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV góp phần giúp người nông dân tiếp cận được với những loại thuốc BVTV an toàn và hiệu quả trong phòng ngừa, ngăn chặn, tiêu diệt và kiểm soát sinh vật gây hại, đồng thời điều hòa sinh trưởng và bảo quản thực vật
- Pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV góp phần ngăn chặn những hành vi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe con người thông qua các quy định cấm thực hiện những hành vi này, đặc biệt là những loại thuốc BVTV ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của con người và môi trường
- Pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV hạn chế hoặc loại trừ những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và môi trường phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV thông qua việc xác định những nghĩa vụ pháp lí trong của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV, thông qua hình thức cho phép có kiểm soát đối với những hành vi sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV
Th ứ hai, pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV định
hướng xây dựng "nền nông nghiệp hữu cơ", "nền nông nghiệp thân thiện với môi trường"
Cùng với sự tác động của người tiêu dùng nông sản, thực phẩm, tác động của dư luận xã hội, pháp luật sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV có
Trang 30mục tiêu ngày càng hạn chế tối đa những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và môi trường của hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV Xu hướng xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ, nền nông nghiệp thân thiện với môi trường đã và đang trở thành xu thế chung trên thế giới và đã bắt đầu manh nha thực hiện khoảng 10 năm nay ở Việt Nam Để hỗ trợ cho xu hướng này thì không thể thiếu quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV với xu hướng hạn chế hoặc loại trừ những loại thuốc BVTV là hóa chất độc hại có ành hưởng xấu tới sức khỏe con người và môi trường đồng thời khuyến khích sử dụng những loại thuốc BVTV sinh học tự nhiên, ít độc hại và an toàn với người sử dụng và thân thiện với môi trường hoặc sử dụng các biện pháp khác an toàn cho sức khỏe con người và môi trường mà không phải sử dụng thuốc BVTV
Th ứ ba, pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV góp phần
hình thành ý thức "trách nhiệm xã hội" của các chủ thể kinh doanh
Pháp luật tác động vào ý thức của các chủ thể có liên quan trong xã hội Khi các chủ thể nhận thức được và thực hiện nghĩa vụ của mình, cùng với ý thức bảo vệ môi trường và sức khỏe con người của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV được nâng lên, ý thức "trách nhiệm xã hội’ của các chủ thể sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV cũng được hình thành
1.4 Khái quát về lịch sử hình thành của hệ thống pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam
Sự ra đời của pháp luật về kiểm dịch và BVTV đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp lập pháp của Việt Nam Giữ vai trò là một hành lang pháp
lý, pháp luật về kiểm dịch và BVTV vừa là công cụ hữu hiệu để các cơ quan Nhà nước quản lý việc sản xuất, mua bán, sử dụng thuốc BVTV trên thực tế một cách hợp lý; vừa tạo môi trường, điều kiện thuận lợi đảm bảo quyền lợi của người dân khi sử dụng thuốc BVTV Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thuốc BVTV ở Việt Nam có thể được chia làm ba giai đoạn:
* Giai đoạn trước năm 1993.
Trang 31Đây là giai đoạn chưa có quy định pháp luật trong lĩnh vực kiểm dịch
và bảo BVTV nói chung hay pháp luật về sản xuất, lưu thông, sử dụng thuốc BVTV nói riêng Trong rất nhiều các biện pháp nhằm diệt trừ các loài sinh vật gây hại thì biện pháp hóa học khi đó còn là lĩnh vực khá mới mẻ và hầu như chưa có vị trí trong sản xuất nông nghiệp
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung nền kinh tế hay còn gọi là thời kỳ bao cấp ở nước ta sau đó (từ những năm 1976 đến 1986), xuất phát từ những đặc thù về thể chế chính trị, kinh tế xã hội nên việc nhập khẩu, quản lý và phân phối thuốc BVTV do nhà nước độc quyền thực hiện Việc quản lý thuốc BVTV thời điểm này được tiến hành khá dễ dàng do số lượng thuốc BVTV còn ít, tính chất của thuốc còn khá đơn giản Tuy nhiên, cũng xuất phát từ nguyên nhân đó mà tình trạng phân phối thuốc lại không kịp thời, không đáp ứng đúng nhu cầu và mục đích sử dụng của người nông dân khi họ không có điều kiện lựa chọn thuốc BVTV theo yêu cầu của mình Từ thực trạng đó dẫn đến trên thực tế hiệu quả sử dụng thuốc thấp, năng suất và chất lượng sản phẩm chưa đạt được hiệu quả cao nhất Bên cạnh đó, do thiếu hành lang pháp
lí để kiểm soát cùng với nhận thức còn hạn chế, tình trạng người dân lạm dụng
sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp trở nên khá phổ biến Thuốc BVTV vì thế được dùng tràn lan, phun không kiểm soát, không theo định kỳ,
sử dụng thuốc sai kỹ thuật…đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường tự nhiên, sức khỏe của con người và các loài sinh vật
* Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2013
Đây là giai đoạn Việt Nam đang trên đà phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, nhà nước không còn giữ độc quyền trong việc cung ứng thuốc BVTV như trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung như trước Mặt khác, lúc này nguồn hàng thuốc BVTV cũng đa dạng và phong phú hơn, nhiều loại thuốc BVTV đã được cung ứng kịp thời, tạo điều kiện cho người nông dân được lựa chọn loại thuốc có giá cả và chất lượng phù hợp với nhu cầu và mục đích sử dụng của mình Do đó thời gian này, lượng
Trang 32thuốc BVTV được tiêu thụ qua các năm đều tăng Nhiều loại thuốc mới và các dạng thuốc mới, hiệu quả hơn, an toàn hơn với môi trường tự nhiên và sức khỏe con người được tăng cường nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao ở trong nước Từ đó, một mạng lưới phân phối thuốc BVTV rộng khắp cả nước đã được hình thành, tạo điều kiện cho việc cung ứng thuốc BVTV đến tay người nông dân rất thuận lợi.Tuy nhiên cũng vì vậy mà thực tế đặt ra vấn đề về quản lí và sử dụng thuốc BVTV cần phải được chú trọng và quản lí một cách chặt chẽ và hiệu quả hơn nhằm đảm bảo cân đối giữa những lợi ích mà thuốc BVTV đem lại với những thách thức đặt ra trong quá trình sử dụng sản phẩm này đối với môi trường tự nhiên và sức khỏe con người
Xuất phát từ nhu cầu quản lí và sử dụng thuốc BVTV, pháp luật Việt Nam thời kì này lần đầu tiên đã ban hành một hành lang pháp lí cụ thể về vấn
đề quản lí và kiểm dịch thực vật nói chung, quản lí và sử dụng thuốc BVTV nói riêng Để đảm bảo cho việc cung ứng, phân phối và sử dụng thuốc BVTV
có hiệu quả, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về BV&KDTV công bố lần đầu tiên vào ngày 04/02/1993 và sau đó là Pháp lệnh
số 36/2001/PL - UBTVQH 10 ngày 25/07/2001 thay thế cho Pháp lệnh BV&KDTV năm 1993 để phù hợp hơn với tình hình thực tế lúc bấy giờ Đây
là văn bản có tính pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam về công tác BV&KDTV, trong đó cụ thể vấn đề về thuốc BVTV được quy định riêng tại Chương IV của Pháp lệnh Theo đó, thuốc BVTV được liệt vào loại hàng hóa hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện Nhà nước thống nhất quản
lý mọi hoạt động từ sản xuất, nhập khẩu, bảo quản, dự trù, vận chuyển đến buôn bán và sử dụng thuốc BVTV, có những chính sách ưu đãi đối với việc sử dụng thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học tự nhiên, ít độc hại và an toàn với người sử dụng và thân thiện với môi trường Đồng thời pháp luật cũng quy định trách nhiệm của các chủ thể cụ thể trong vấn đề đảm bảo an toàn khi xảy
ra các sự cốmôi trường liên quan tới thuốc BVTV, những điều kiện trong sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc BVTV, những quy định về tiêu hủy, dự trữ thuốc BVTV và những điều nghiêm cấm trong việc sản xuất, gia công, đóng
Trang 33gói, nhập khẩu, buôn bán, sử dụng loại hàng hóa đặc biệt này Theo đó Bộ NN&PTNT là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hoạt động trên Có thể thấy, trong giai đoạn này, hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực quản lý và sử dụng thuốc BVTV đã được hình thành và dần hoàn thiện hơn
Sau nhiều năm thi hành, Pháp lệnh BV&KDTV năm 1993, 2001đã thực sự góp phần quan trọng, tạo cơ sở pháp lý trong việc phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn kịp thời dịch hại, bảo vệ an toàn sản xuất nông nghiệp, tăng cường hiệu lực quản
lý nhà nước về công tác BVTV, kiểm dịch thực vật và quản lý thuốc BVTV, từ
đó góp phần ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của nước ta
Giai đoạn từ năm 2001 đến nay.
Pháp lệnh BV&KDTV được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 25/07/2001 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2002, thay thế cho Pháp lệnh BV&KDTV năm 1993 Sau 10 năm thi hành, pháp lệnh đã thực sự đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo cơ sở pháp lí trong việc phòng trừ sâu bệnh, ngăn chặn kịp thời dịch hại, bảo vệ an toàn sản xuất nông nghiệp, tăng cường hiệu lực quản lí nhà nước về công tác bảo vệ thực vật, kiểm dịch thực vật và quản lí thuốc bảo vệ thực vật, góp phần ổn định và phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp của nước ta
Tuy nhiên, pháp lệnh BV&KDTV được ban hành từ năm 2001 trong bối cảnh Việt Nam chưa gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và chưa tham gia các điều ước quốc tế về vấn đề này Do đó, một số quy định về kiểm dịch, bảo vệ thực vật nói chung và quản lý thuốc BVTV nói riêng còn thiếu và chưa phù hợp với quy địnhcủa quốc tế mà Việt Nam đã kí kết và tham gia như: Hiệp định về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật năm 1995 (Hiệp định SPS), Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (Công ước IPPC) năm
Trang 341952, công ước Rotterdamvề thủ tục đồng thuận thông báo trước đối với các hóa chất và thuốc BVTV nguy hại trong thương mại quốc tế năm 2004, công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy năm 2004, Nghị định thư Montreal về loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô zôn năm 1987 Trong đó các quy định về phân tích nguy cơ dịch hại, vùng an toàn dịch hại, đăng ký thuốc BVTV, điều kiện đưa các loại thuốc BVTV đã được đăng ký ra khỏi danh mục thuốc…chưa được nội luật hóa cụ thể trong hệ thống quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề này
Bên cạnh đó, sau 10 năm thực thi, Pháp lệnh BV&KDTV năm 2001 đã bộc lộ một số hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động quản lí nhà nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Các quy định trong Pháp lệnh mới chỉ dừng lại ở những quy định mang tính cụ thể trước mắt, chưa xác lập được những quy định pháp luật với tầm nhìn chiến lược cho một giai đoạn phát triển mới Ngoài ra, việc thiếu những quy định đáp ứng yêu cầu của thực tế trong hoạt động BV&KDTV, đẩy mạnh xã hội hóa, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của một công cụ pháp lý quan trọng trong hoạt động BV&KDTV trong thời kì mới Do đó, việc cần phải có một văn bản pháp lý phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội trong giai đoạn này đồng thời bắt kịp các quy định của các Hiệp định, công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia là điều tất yếu Luật BV&KDTV năm
2013 ra đời với tinh thần thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về BV&KDTV, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, góp phần phát triển một nền sản xuất nông nghiệp an toàn và thúc đẩy xúc tiến thương mại hàng nông lâm sản, đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động BV&KDTV nói riêng và yêu cầu về cải cách hành chính nói chung Bên cạnh đó, Luật BV&KDTV năm 2013 còn kế thừa và pháp điển hóa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh BV&KDTV năm 2001 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, đồng thời bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn, luật hóa một số quy định trong các văn bản dưới luật nhằm tăng giá trị pháp lý của
Trang 35các quy định này Bên cạnh đó, các quy định trong Luật BV&KDTV năm 2013 cũng phù hợp với những thông lệ và các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, dựa trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn của hoạt động phòng chống sinh vật gây hại, kiểm dịch thực vật và quản lý thuốc BVTV giai đoạn trước [10]
Trang 36Do đó, việc xây dựng và thực thi các quy định kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV được đặt ra như một nhu cầu thiết yếu, khách quan
Pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV bao gồm các nguyên tắc pháp lý và các chế định, từ những quy định chung tới những quy định cụ thể kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV nhằm bảo vệ năng suất và chất lượng cây trồng nhưng cũng phải đảm bảo sức khỏe con người và môi trường
Hệ thống văn bản pháp luật về sản xuất, kinh doanh, sử dụng thuốc BVTV của Việt Nam cũng đã từng bước được ban hành và ngày càng hoàn thiện nhằm bảo vệ hoạt động sản xuất nông nghiệp của đất nước và bảo vệ sức khỏe con người và môi trường
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SẢN XUẤT KINH DOANH SỬ DỤNG
THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luật BV&KDTV năm 2013 gồm 5 Chương và 77 Điều quy định về hoạt động BV&KDTV bao gồm: phòng chống dịch hại tài nguyên thực vật, kiểm dịch thực vật, thuốc BVTV và quản lý nhà nước về BV&KDTV… Trong đó, vấn đề thuốc BVTV được quy định tại Chương IV, gồm 04 mục, 28 điều (từ Điều 48 đến Điều 75) với các nội dung: Quản lý thuốc và đăng ký thuốc BVTV; Khảo nghiệm thuốc BVTV; sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển, bảo quản, quảng cáo, bao gói, ghi nhãn và sử dụng thuốc BVTV; Thu hồi, tiêu hủy, thu gom và xử lý bao gói thuốc BVTV sau sử dụng Về cơ bản, nội dung các quy định về quản lý thuốc BVTV của Luật BV&KDTV năm 2013 không có quá nhiều thay đổi so với quy định cũ nhưng đã được bổ sung, hoàn thiện hơn trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm và hạn chế trong quá trình thi hành của Pháp lệnh BV&KDTV năm
2001 Các quy định của Luật BV&KDTV năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành có thể chia thành các quy định chung và quy định cụ thể về từng hoạt động như sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển và
2.1.1 Đăng ký và cấp phép thuốc bảo vệ thực vật
2.1.1.1 Lo ại thuốc bảo vệ thực vật được đăng ký
Trang 38Thuốc BVTV, tuy được sử dụng phổ biến trong sản xuất nông nghiệp, đẩy lùi dịch hại và điều hòa sinh trưởng cho cây trồng nhưng trong một giới hạn nhất định lại có những tác động tiêu cực đến môi trường xung quanh Chính vì vậy, Khoản 2 Điều 78 Luật bảo vệ môi trường năm 2014 đã chỉ rõ thuốc BVTV có độc tính cao, bền vững, dễ lan truyền và tích tụ trong không khí, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người nên phải được đăng ký, kiểm kê, kiểm soát, đánh giá, quản lý thông tin và rủi ro để từ đó xử
lý kịp thời
Điều 48 Luật BV&KDTV năm 2013 cũng khẳng định thuốc BVTV loại hàng hóa kinh doanh có điều kiện và phải được quản lý theo danh mục Bộ trưởng Bộ NN&PTNT sẽ ban hành Danh mục Thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam và Danh mục Thuốc BVTV cấm sử dụng tại Việt Nam Hai danh mục này sẽ được rà soát, kiểm tra và sửa đổi hằng năm để cập nhật những loại thuốc BVTV mới được đăng ký hoặc loại bỏ những loại thuốc BVTV không còn phù hợp với thực tiễn hoặc đưa thêm vào Danh mục cấm những loại thuốc có thành phần độc tính cao, không được phép sản xuất, sử dụng
Để quản lý việc sản xuất, buôn bán, sử dụng và các vấn đề khác có liên quan đến thuốc BVTV, Điều 5 Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT về quản lý thuốc BVTV (sau đây gọi là Thông tư 21/2015/TT-
BNNPTNT) quy định: "Tất cả thuốc bảo vệ thực vật dùng để phòng trừ sinh
v ật gây hại thực vật, điều hòa sinh trưởng cây trồng, bảo quản thực vật, khử trùng kho, tr ừ mối hại công trình xây dựng và đê điều, trừ cỏ trên đất không
tr ồng trọt, làm tăng độ an toàn, hiệu quả khi sử dụng (có tên thương phẩm riêng) ph ải được đăng ký vào Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử
d ụng ở Việt Nam"
Tuy nhiên, không phải bất cứ thuốc BVTV nào cũng có thể được đăng
ký vào Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam
Khoản 1 Điều 49 Luật BV&KDTV và Điều 6 Thông tư 21/2015 quy định các trường hợp thuốc BVTV không được phép đăng ký ở Việt Nam bao gồm:
- Thuốc BVTV trong Danh mục cấm;
Trang 39- Thuốc BVTV có nguy cơ cao ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, vật nuôi, hệ sinh thái, môi trường như: Thuốc BVTV được cảnh báo bởi tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hợp quốc(FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO), chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc(UNEP); Thuốc BVTV hóa học là hỗn hợp của các loại thuốc BVTV có công dụng khác nhau (trừ sâu, trừ cỏ, trừ bệnh,…) Thuốc BVTV gây đôt biến gen, ung thư, độc sinh sản cho người hay chưa vi sinh vật gây bệnh cho người…
- Thuốc thành phầm hoặc hoạt chất trong thuốc thành phẩm có độc cấp tính loại I, II theo Hệ thống hài hòa toàn cầu về phân loại và ghi nhãn hóa chất(GHS), trừ một số loại thuốc BVTV sinh học
- Thuốc BVTV trùng tên thương phẩm với thuốc BVTV khác trong Danh mục
- Thuốc BVTV chưa hoạt chất methyl bromide
- Thuốc BVTV đăng ký để phòng trừ các loài sinh vật không phải là sinh vật gây hại thực vật ở Việt Nam
- Thuốc BVTV được sáng chế ở nước ngoài nhưng chưa được phép sử dụng ở nước ngoài
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 49 Luật BV&KDTV năm 2013 và Điều 7 Thông tư 21/2015/TT - BNNPTNT còn chỉ ra cụ thể các trường hợp thuốc BVTV đã đăng ký và có tên trong danh mục nhưng bị loại khỏi danh mục do không còn phù hợp trên thực tế Có thể nói, việc đăng kí danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng và danh mục thuốc BVTV bị cấm sử dụng tại Việt Nam là cơ sở quan trọng để Nhà nước tiến hành cấp giấy phép cho các chủ thể thực hiện các hoạt động sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, sử dụng thuốc BVTV, xây dựng chế độ kiểm tra, giám sát chặt chẽ đối với loại hàng hóa đặc biệt này nhằm làm giảm đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực của nó tới môi trường tự nhiên và chất lượng cuộc sống của con người Các trường hợp bị loại khỏi danh mục bao gồm:
"a) Có bằng chứng khoa học về thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng xấu
Trang 40đến sức khỏe con người, vật nuôi, hệ sinh thái, môi trường
b) Thuốc bảo vệ thực vật hiệu lực thấp đối với sinh vật gây hại
c) Thuốc bảo vệ thực vật của các tổ chức, cá nhân đăng ký tự nguyện rút khỏi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam"
Ngoài ra, Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT còn bổ sung thêm 2 trường hợp thuốc BVTV bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam, cụ thể là: Nếu giấy chứng nhận đăng ký thuốc BVTV bị thu hồi trong trường hợp giấy tờ giả, thông tin trong hồ sơ đã đăng ký không trung thực hoặc tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm mà pháp luật quy định phải thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký thuốc BVTV thì thuốc BVTV sẽ bị loại khỏi Danh mục hoặc Thuốc BVTV trong Phụ lục III của Công ước Rotterdam, bị cảnh báo bởi Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Đối với trường hợp thuốc BVTV bị loại khỏi Danh mục có bằng chứng khoa học về thuốc BVTV gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người, vật nuôi, hệ sinh thái, môi trường hoặc có hiệu lực thấp với sinh vật gây hại hoặc thuốc BVTV trong Phụ lục III của Công ước Rotterdam, bị cảnh báo bởi Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO), Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì chỉ được sản xuất, nhập khẩu tối đa
1 năm, được buôn bán và sử dụng tối đa là 2 năm kể từ ngày quyết định loại thuốc BVTV khỏi Danh mục của Bộ NN&PTNT có hiệu lực
2.1.1.2 Ch ủ thể và trình tự, thủ tục đăng ký thuốc bảo vệ thực vật tại Việt Nam
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 5 Thông tư 21/2015/TT-BNNPTNT, tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài (có văn phòng đại diện, công ty, chi nhánh công ty kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật đang được phép hoạt động tại Việt Nam) sản xuất hoạt chất thuốc BVTV, thuốc BVTV kỹ thuật hoặc thuốc BVTV thành phẩm từ thuốc kỹ thuật được trực tiếp đứng tên đăng ký thuốc BVTV do mình sản xuất Nếu không trực tiếp đứng tên đăng ký thì các chủ thể này có thể ủy quyền cho duy nhất một tổ chức, cá nhân đủ điều kiện về sản