Tổng hợp các quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, quy định các điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong môi tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THỦY NGUYÊN
Trang 2HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3HÀ NỘI - 2017
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn
của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng
như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
đến PGS.TS Phạm Hữu Nghị – thầy giáo kính mến đã hết lòng giúp đỡ, tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
nghiên cứu Luận văn của mình
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu,
toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Viện Đại
học Mở Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học
tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Hà Nội, ngày 25 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Trang 4Hoàng Thị Hà
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
từ Giáo viên hướng dẫn là PGS.TS Phạm Hữu Nghị Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Các kết quả nghiên cứu chưa được ai công
bố trong các công trình khoa học
Hà N ội, ngày 25 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Trang 5LỜI CÁM ƠN… ………
LỜI CAM ĐOAN… ………
MỤC LỤC………
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT………
LỜI MỞ ĐẦU ……… 01
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 01
2 Tình hình nghiên cứu……… 02
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn……… 03
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn……… 04
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu……… 05
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ……… 06
7 Kết cấu của luận văn ……… 06
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG ……… 07
1.1 Khái niệm và đặc điểm an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 07
1.1.1 Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 07
1.1.2 Đặc điểm của an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 09
1.2 Khái niệm, nguyên tắc và nội dung của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 13
1.2.1 Khái niệm pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 13
1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật về an toàn lao động vệ sinh lao động 14
Trang 61.2.3 Nội dung pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 21
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động… 31 Kết luận chương 1……… 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG……….………
36 2.1 Thực trạng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động 36
2.1.1 Quy định về Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động……… 36
2.1.2 Những quy định nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động, hạn chế những yếu tố không thuận lợi trong môi trường lao động……… 38
2.1.3 Quy định về khắc phục hậu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 45
2.1.4 Quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với một số đối tượng lao động 50
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại huyện Thủy nguyên, thành phố Hải Phòng 54
2.2.1 Tình hình thực hiện pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 54
2.2.2 Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 77
2.2.2.1 Nh ững mặt tích cực và nguyên nhân 77
2.2.2.2 Nh ững hạn chế, thiếu sót, bất cập và nguyên nhân 79
Kết luận chương 2 ……… 87
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
88 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động 88
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động 92
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 101
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lao động sản xuất là hoạt động quan trọng tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, trong đó con người là lực lượng không thể thiếu, là yếu tố quyết định Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn vệ sinh lao động ngày càng liên quan chặt chẽ đến sự thành công của mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết định đến sự phát triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia Xây dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm có tính cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe của người lao động là yêu cầu tất yếu của sự phát triển bền vững và bảo đảm sức mạnh cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu hóa Quá trình sản xuất luôn tiềm ẩn nhiều nguy hại có thể tác động đến sức khỏe, tính mạng người lao động Nếu lực lượng lao động bị thiệt hại, tổn thương sẽ ảnh hưởng không chỉ hiệu quả sản xuất mà còn trở thành gánh nặng với xã hội Công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động thông qua việc áp dụng các biện pháp về khoa học kĩ thuật, tổ chức, kinh tế, xã hội để loại trừ các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hạn chế ốm đau, duy trì
Trang 9Vệ sinh lao động đã được Quốc Hội khoá XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015 (chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2016) Chính phủ và các
cơ quan của Chính phủ đã và đang ban hành các nghị định, quyết định, thông tư quy định chi tiết hướng dẫn thực hiện các chế độ về Bảo hộ lao động, An toàn
vệ sinh lao động và những vấn đề liên quan Đồng thời, các Bộ, ngành, địa phương đã tổ chức xây dựng hàng trăm văn bản và bãi bỏ hiệu lực nhiều văn bản Tuy nhiên, trong quá trình đó, nhiều hạn chế, bất cập đã bộc lộ đòi hỏi pháp luật cần được thay đổi để nâng cao hiệu quả điều chỉnh trong vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động
Bộ Luật lao động năm 2012 đã dành hẳn một chương riêng- chương IX quy định về An toàn lao động, vệ sinh lao động, các quy định này đã góp phần xác lập tính pháp lí của công tác an toàn - vệ sinh lao động
Với mong muốn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe cho người lao động nhất là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay Đó chính
là lý do tôi chọn cho mình đề tài “Pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động từ thực tiễn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng” để làm luận văn tốt nghiệp chương trình cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 1010
Pháp luật về giải quyết các vấn đề về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người lao động đã được hình thành từ rất sớm ở các nước đang phát triển
và được thể hiện ở nhiều công ước quốc tế của Tổ chức lao động quốc tế ILO
Tại Việt Nam, các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động được thể hiện trong Bộ luật lao động, Luật Bảo hiểm xã hội và hiện nay là Luật An toàn vệ sinh lao động Tuy nhiên, việc giải quyết các chế độ liên quan đến an toàn vệ sinh lao động mới chỉ được nhìn nhận và xem xét dưới góc độ coi như một giải pháp nhằm giảm thiểu thiệt hại, hậu quả trong quá trình lao động Các nghiên cứu liên quan đến bản chất pháp lý, các tiêu chí rõ ràng để giải quyết các chế độ liên quan trực tiếp đến người lao động chưa nhiều Trong những năm gần đây, có một số bài báo khoa học, công trình khoa học đề cập tới một số khía cạnh của an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động nói chung như:
- Luận án Tiến sỹ “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các
ch ế độ BHXH ở Việt Nam”, năm 2010, Nguyễn Thị Chính, Đại học Kinh tế -
Quốc dân
- Luận văn Thạc sỹ: “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động theo pháp luật Việt Nam” năm 2012, của Nguyễn Thị Hải Yến, Đại
học quốc gia Hà Nội
- Đề tài khoa học: “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nâng
Phòng
Tuy nhiên, những công trình trên mới chỉ nghiên cứu về an toàn lao động,
vệ sinh lao động ở một khía cạnh nhất định, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể từ thực tiễn thi hành pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại một địa phương cụ thể
Kết quả của những công trình trên là những tài liệu tham khảo đặc biệt hữu ích cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp này
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động Từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm khắc phục các hạn
Trang 1111
chế, bất cập của pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật an
toàn lao động, vệ sinh lao động trên thực tế
3.2 Nhiệm vụ
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về pháp luật an toàn lao
động, vệ sinh lao động, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung, nguyên tắc và yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động và thực tiễn thi hành tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót đó
Thứ ba, đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Về đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là các quy định pháp luật hiện hành
về vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động và thực tiễn thi hành pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động được thực hiện tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về mặt thực tiễn, Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình thi hành pháp luật
an toàn lao động, vệ sinh lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Số liệu sử dụng trong phân tích, đánh giá tình hình được lấy từ kết quả điều tra, khảo sát trực tiếp tại Phòng Lao động- Thương binh và
Xã hội huyện Thủy Nguyên, Liên đoàn Lao động huyện Thủy Nguyên, Công an huyện Thủy Nguyên…Trong đó, Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội huyện chịu trách nhiệm chính trước Uỷ ban nhân dân huyện về việc an toàn lao động, vệ sinh lao động trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam vào việc nghiên cứu
Trang 1212
pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và thực tiễn thi hành tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của hệ thống
các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động của Việt Nam
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được áp dụng để giải quyết các vấn đề
lý luận pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
- Phương pháp thống kê: Đối chiếu, thống kê, mô hình hóa các số liệu về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại các đơn vị trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
- Phương pháp chuyên gia: Gặp gỡ để trao đổi trực tiếp, xin ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động đang làm việc tại các cơ quan, ban ngành trên địa bàn huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng như: Phòng Lao động- Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên và môi trường, Công
an huyện, Liên đoàn Lao động huyện Thủy Nguyên và lãnh đạo, những cán bộ làm bảo hộ lao động, công tác công đoàn tại các doanh nghiệp trên địa bàn huyện
6 Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa khoa học: các nghiên cứu, đánh giá, đề xuất trong luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Ý nghĩa thực tiễn: luận văn có thể được phục vụ làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu về những vấn đề có liên quan
Ngoài ra, luận văn cũng có ý nghĩa tham khảo đối với người lao động, người sử dụng lao động cần tìm hiểu pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết cấu gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Chương 2: Thực trạng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động và thực tiễn thực hiện tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN LAO ĐỘNG,
VỆ SINH LAO ĐỘNG 1.1 Khái niệm và đặc điểm của an toàn lao động, vệ sinh lao động
1.1.1 Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động
An toàn lao động là tình trạng nơi làm việc đảm bảo cho người lao động được làm việc trong điều kiện không nguy hiểm đến tính mạng, không bị tác động xấu đến sức khỏe An toàn lao động luôn gắn với công cụ lao động và phương tiện lao động cụ thể Bởi lẽ, để có thể tiến hành sản xuất, kinh doanh thì
Trang 1414
con người phải sử dụng công cụ lao động, phương tiện lao động để sản xuất ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ Công vụ và phương tiện lao động bao gồm từ các công cụ đơn giản đến các máy, thiết bị tinh vi, hiện đại, từ một chỗ làm việc đơn
sơ, thậm chí không có mái che đến những nơi làm việc trong nhà xưởng với đầy
đủ tiện nghi Chúng ta cần đánh giá, xem xét mức độ ảnh hưởng của các công
cụ, máy, thiết bị, nhà xưởng đối với tính mạng, sức khỏe con người để đảm bảo môi trường làm việc tốt nhất cho người lao động Người lao động sử dụng công
cụ, phương tiện lao động gắn với đối tượng lao động, tiến trình công nghệ trong sản xuất, môi trường lao động [1]
Vệ sinh lao động có thể hiểu như là một lĩnh vực khoa học công nghệ chuyên ngành nghiên cứu việc quản lý- nhận dạng, đánh giá và kiểm soát nguy
cơ của các tác hại nghề nghiệp, các mối nguy hại đối với sức khỏe con người, đề xuất các biện pháp cải thiện môi trường, điều kiện làm việc nhằm bảo vệ sức khỏe, nâng cao khả năng lao động và phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho người lao động Vệ sinh lao động có các nhiệm vụ: Nghiên cứu đặc điểm nhận dạng các tác hại nghề nghiệp, các mối nguy hại đối với sức khỏe người lao động; nghiên cứu những biến đổi sinh lý, sinh hóa, tâm sinh lý và căng thẳng do các tác hại nghề nghiệp tác động đến con người; nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nguy cơ của các tác hại nghề nghiệp; nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn vệ sinh sức khỏe môi trường điều kiện làm việc, các chế độ và kiểm tra việc thực hiện; nghiên cứu xây dựng các tiêu chuẩn khám tuyển, khám sức khỏe định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp[2]
Dưới các góc độ xem xét khác nhau, ta có nhiều cách định nghĩa khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, an toàn lao động được hiểu là “tình trạng điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm trong sản xuất” Vệ sinh lao động được hiểu là “tổng thể các tiêu chuẩn môi trường lao động; bảo hộ an toàn lao động, trang thiết bị bảo hộ lao động, máy móc sản xuất, thiết bị sản xuất, chế độ ăn uống tối ưu thích hợp với mỗi
1 Khoản 2, Điều 3, Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 26/6/2015
2 Khoản 3, Điều 3, Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ngày 26/6/2015
Trang 15và kĩ thuật vệ sinh nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong sản xuất đối với người lao động
Với cùng ý nghĩa là bảo đảm sức khỏe, tính mạng người lao động, công tác an toàn lao động và vệ sinh lao động luôn được tiến hành đồng thời, hỗ trợ nhau, tạo nên môi trường lao động thuận lợi Tuy nhiên, cần hiểu đó là hai phương diện khác nhau của một vấn đề, chứ không nên đánh đồng, nhầm lẫn chúng là một Sự khác nhau chủ yếu đó là mục đích cụ thể của chúng Việc triển khai thực hiện các biện pháp an toàn trong quá trình lao động có ý nghĩa quyết định trong việc ngăn ngừa tai nạn lao động và những sự cố khác có thể phát sinh trong quá trình làm việc gây thiệt hại trực tiếp cho người lao động Còn công tác
vệ sinh lao động được đặt ra với các đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích kiến tạo một môi trường lao động xanh, sạch, trong lành, hạn chế đến mức thấp nhất các tác nhân vật lí, sinh học, hóa học độc hại, giảm thiểu tình trạng người lao động mắc các bệnh nghề nghiệp
1.1.2 Đặc điểm của an toàn lao động, vệ sinh lao động
M ột là, an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học, kĩ thuật rõ nét
Đây là tính chất cơ bản của công tác này bởi mọi biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, độc hại đều xuất phát trên cơ sở nghiên cứu khoa học, được thực hiện bằng các giải pháp kĩ thuật, ứng dụng công nghệ Không
3 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, An toàn và vệ sinh lao động,
ttps://vi.wikipedia.org/wiki/An_to%C3%A0n_v%C3%A0_v%E1%BB%87_sinh_lao_%C4%91%E1%BB%99n
g
Trang 1616
phải tự nhiên mà người ta đề ra được các nội dung an toàn, vệ sinh lao động Các hoạt động điều tra, phân tích điều kiện lao động, khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố độc hại lên cơ thể người lao động, nghiên cứu các giải pháp đảm bảo an toàn trong từng công việc cụ thể…đều thuộc về lĩnh vực khoa học Đồng thời, cũng từ các phát minh, ứng dụng kĩ thuật mà người lao động được trang bị các phương tiện bảo hộ cá nhân cần thiết, các thiết bị vệ sinh trong môi trường chung…Đặc biệt, chính những nguyên lí khoa học, kĩ thuật là cơ sở
để đề ra các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh mang tính quốc gia, hoặc trong phạm vi ngành
Các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại đến sức khỏe người lao động trong môi trường làm việc đều dựa trên cơ sở khoa học – tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kinh tế Nó bảo gồm các hoạt động điều tra, kiểm soát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với người lao động, giải quyết xử lý điều kiện, môi trường lao động, ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật về an toàn, vệ sinh lao động đối với từng ngành nghề, lĩnh vực, cải tiến trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất…Theo quy định hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp với nhau trong việc ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động Về hình thức, các quy định tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động chứa đầy đủ những yếu tố của một quy phạm pháp luật có tính bắt buộc chung Bên cạnh đó, về nội dung còn chứa đựng những yêu cầu về mặt kĩ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động Vì tính chất này mà công tác an toàn vệ sinh lao động càng phải gắn bó chặt chẽ với hoạt động đầu tư, phát triển nghiên cứu khoa học, khuyến khích các phát minh phù hợp với thực tế sản xuất, đem lại
an toàn cho người lao động
Tính chất pháp lí của công tác an toàn - vệ sinh lao động thể hiện ở chỗ muốn các giải pháp khoa học kĩ thuật, các biện pháp tổ chức an toàn lao động,
vệ sinh lao động được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, phải thể chế hóa chúng thành những luật lệ, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, quy phạm, hướng dẫn để buộc các cấp quản lí, các tổ chức và cá nhân phải nghiêm túc thực hiện Chính vì vậy mà công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trở nên bắt buộc phải thực
Trang 1717
hiện Mọi vi phạm về tiêu chuẩn kĩ thuật an toàn, tiêu chuẩn vệ sinh lao động trong quá trình sản xuất đều bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và bị xử lí theo quy định tương ứng
Trong chế định pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động vẫn có một số quy định mang tính “ định khung” khi xác định quyền lợi tối thiểu của người lao động trong việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, hay tiền bồi thường cho người bị tai nạn lao động, những xét một cách khái quát và so sánh với các cơ chế điều chỉnh của nhiều chế định khác của Luật lao động,có thể thấy: Các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính “ cứng nhắc” hơn và khó có thể có phần linh hoạt để các bên thực hiện trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể Đó cũng là nguyên nhân khách quan khiến các chủ thể khi thỏa thuận về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể thường ghi là “theo quy định của Pháp luật hiện hành”
Việc thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đòi hỏi
sự tham gia rộng rãi của tất cả các chủ thể, bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động và các chủ thể khác (như các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng có liên quan) Việc thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng chính là hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động Họ là người thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tố nguy hiểm, có hại, từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo và cải thiện điều kiện lao động ngày một tốt hơn
Do vậy, công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tổ chức, mọi cá nhân tự giác thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động Đó là lý do tại sao, các quy định về
an toàn lao động, vệ sinh lao động thường mang tính xã hội rộng rãi và liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội
B ốn là, an toàn lao động, vệ sinh lao động đóng vai trong đặc biệt quan
tr ọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động
Trang 1818
Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết cải tiến công cụ, điều kiện lao động để tự bảo vệ mình Do hoạt động sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân gây tác hại đến môi trường sống, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, những tiến bộ về trình độ khoa học – kỹ thuật, công nghệ sản xuất cũng tăng lên góp phần đáng kể vào sự tiến bộ của xã hội nhưng mặt khác lại làm cho môi trường sống, trong đó môi trường lao động ngày càng xấu đi do những tác động ngày càng nhiều với các yếu tố nguy hiểm độc hại như phóng xạ, tia tử ngoại….đòi hỏi công tác an toàn, vệ sinh lao động càng phải được quan tâm chú trọng, phát triển tương xứng
Lao động an toàn là yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình sản xuất Khi tiến hành hoạt động sản xuất, người lao động vừa tác động tới môi trường xung quanh vừa chịu các tác động ngược trở lại của môi trường nơi họ lao động Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi hỏi công tác
an toàn lao động, vệ sinh lao động phải được quan tâm, phát triển tương xứng Điều đó sẽ giảm thiểu các chi phí về y tế và bảo hiểm xã hội không cần thiết đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; cũng như góp phần bảo vệ môi trường sống của con người Hiệu quả của việc thực hiện tốt công tác này góp phần giảm tới mức thấp nhất sự tiêu hao lao động và những tổn thất về vật chất, con người và môi trường
An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế- xã hội lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khỏe người lao động Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề về
an toàn lao động càng trở lên bức xúc Điều kiện lao động xấu không chỉ ảnh hưởng đến người lao động trực tiếp mà còn có tác động xấu đến thế hệ tương lai
Vì vậy, đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khỏe, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững
1.2 Khái niệm, nguyên tắc và nội dung pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1.2.1 Khái niệm pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Căn cứ vào những nội dung phân tích tại phần 1.1, tác giả đưa ra khái
niệm pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động như sau: An toàn lao động,
Trang 1919
vệ sinh lao động có thể hiểu là tổng hợp các giải pháp về pháp luật, khoa học kĩ thuật, kinh tế - xã hội nhằm ngăn ngừa các nguy cơ xảy ra sự cố làm chấn thương và đe dọa tính mạng người lao động, hạn chế các yếu tố có hại cho sức khỏe người lao động trong qúa trình sản xuất, nhờ đó đảm bảo cho người lao động được làm việc trong điều kiện lao động không có những nguy cơ trực tiếp
gây tai nạn lao động hoặc không có những yếu tố có hại gây bệnh nghề nghiệp
Các yêu cầu về An toàn lao động, vệ sinh lao động muốn được triển khai
có hiệu quả trong thực tiễn cần được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật
Tổng hợp các quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh lao động có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, quy định các điều kiện
an toàn, vệ sinh lao động trong môi trường làm việc, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường làm việc nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động, hạn chế tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…chính là pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong bảo vệ sức khỏe của người lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị sử dụng lao động, các chủ thể tham gia quan hệ lao động
Khi nói đến an toàn lao động là phải gắn với vệ sinh lao động vì trong quá trình lao động tạo ra sản phẩm hai phạm trù này luôn song hành cùng nhau Sự phát triển của an toàn lao động phụ thuộc vào trình độ phát triển của nền kinh tế, khoa học công nghệ và yêu cầu phát triển xã hội của mỗi quốc gia Vào những thập niên giữa thế kỷ XX, khi yêu cầu tối thiểu cơ bản của người lao động trước hết là không bị tai nạn, bệnh tật khi làm việc, thì mục tiêu chính của an toàn vệ sinh lao động là phải áp dụng ngay các biện pháp, nhiều khi là bị động để ngăn chặn tai nạn, bệnh tật chứ chưa thể nghĩ đầy đủ đến các giải pháp có hệ thống, chủ động kiểm soát nguy cơ gây ra tai nạn, bệnh tật ngay từ đầu Cùng với sự phát triển của kinh tế, khoa học và công nghệ, công tác an toàn vệ sinh lao động cũng dần chuyển từ đối phó, bị động sang thế chủ động trong việc quản lý và kiểm soát các nguy cơ một cách có hệ thống, trong đó coi trọng việc nâng cao văn hóa an toàn và ưu tiên biện pháp phòng ngừa
Như vậy, có thể thấy pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động là một chế định trong hệ thống pháp luật lao động Chế định này có tầm quan trọng
Trang 2020
đặc biệt trong việc bảo vệ người lao động và được coi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật lao động ở mọi quốc gia.[4]
1.2.2 Các nguyên tắc của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm
về an toàn lao động, vệ sinh lao động Pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động có các nguyên tắc cơ bản sau:
v ệ sinh lao động
Công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn tính mạng và sức khỏe người lao động Nó là yếu tố góp phần duy trì sự phát triển bền vững của nền sản xuất cũng như của xã hội Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, đòi hỏi sự quản lý thống nhất của Nhà nước đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả các hoạt động quản lý về an toàn lao động, vệ sinh lao động Đây là một nguyên tắc mang tính Hiến định, được quy định tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể tại Bộ luật Lao động
năm 2012: “Chính phủ quyết định Chương trình quốc gia về an toàn lao động,
v ệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Nhà nước đầu tư
tri ển các dịch vụ về an toàn lao động, vệ sinh lao động” [5]
Việc thể chế hóa bằng các văn bản dưới luật về pháp luật lao động nói chung và về lĩnh vực An toàn vệ sinh lao động nói riêng đã được ban hành tương đối đầy đủ và đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công tác quản
lý, chỉ đạo và tổ chức thực hiện ở các Bộ, Ngành, địa phương, các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và đủ cơ sở pháp lý để đưa các quy định về An toàn vệ sinh lao động trong Bộ luật Lao động vào cuộc sống
Các cơ quan quản lý nhà nước trước hết là Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội, Bộ Y tế và các cơ quan Lao động, Y tế địa phương đã đóng vai trò quan trọng trong việc thể chế hóa các văn bản dưới luật, tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn
4 Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)
5 Điều 134,135 Bộ Luật Lao động năm 2012
Trang 2121
thi hành Phối hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên đoàn lao động địa phương triển khai các văn bản pháp luật về Bảo hộ lao động, An toàn vệ sinh lao động, tổ chức các lớp tập huấn cho hầu hết cán bộ chủ chốt của các Bộ, Ngành, các tỉnh, thành phố, các quận, huyện, cán bộ quản lý các doanh nghiệp
Bộ máy tổ chức và cán bộ làm công tác Bảo hộ lao động đã từng bước được củng cố tại các cơ quan quản lý nhà nước Tại các Bộ và Bộ quản lý ngành, chức năng quản lý An toàn vệ sinh lao động được giao cho một đơn vị trực thuộc, tùy theo đặc thù của ngành, lĩnh vực, như: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có Cục An toàn lao động là cơ quan tham mưu cho Bộ quản lý nhà nước về An toàn lao động; Bộ Y tế, chức năng quản lý về sức khỏe nghề nghiệp được giao cho Cục Quản lý môi trường y tế; Bộ Công Thương, có Cục
Kỹ thuật An toàn – Môi trường công nghiệp; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là Cục chế biên nông lâm, thủy sản; Bộ Xây dựng là Vụ Quản lý hoạt động xây dựng;
Từ năm 2003, Thanh tra An toàn lao động, Thanh tra vệ sinh lao động (và Thanh tra chính sách lao động được sát nhập thành Thanh tra lao động thuộc ngành Lao động – Thương binh và Xã hội Ngày 10 háng 7 năm 2008, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã phối hợp Bộ Nội vụ xây dựng và ban hành Thông tư liên tịch số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV, trong đó quy định việc thành lập bộ phận quản lý nhà nước, chức năng và quyền hạn về An toàn lao động tại các địa phương (tỉnh/huyện/xã).[6]
Sự quản lý của Nhà nước về An toàn lao động, vệ sinh lao động không chỉ mang tính thống nhất mà con mang tính chất tập trung dân chủ Đây là trách nhiệm của các ngành chức năng và là nghĩa cụ của những chủ thể tham gia quan
hệ lao động Quyền quản lý cao nhất thuộc về Chính phủ, bên cạnh đó có sự phân công, phân cấp quản lý giứa các ban ngành chức năng nhằm tạo cơ chế cho các cấp quản lý được phát huy tính chủ động trong việc thực hiện chức năng quản lý của mình, mang lại hiệu quả cao nhất Quản lý Nhà nước về An toàn lao động, vệ sinh lao động là một tiền đề pháp lý nhằm thiết lập điều kiện vật chất cho việc thực thi pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong thực tế
6 Thông tư liên tịch số 10/2008/TTLT-BLĐTBXH-BNV, ngày 10/7/2008
Trang 2222
Với mục đích đảm bảo về tính mạng, sức khỏe người lao động nhằm xây dựng một nền kinh tế- xã hội phát triển bền vững, Nhà nước ta đã và đang cố gắng từng bước đảm bảo cho người lao động được làm việc trong môi trường lao động an toàn và vệ sinh phù hợp với điều kiện hiện có của đất nước
ngh ĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động
An toàn, vệ sinh lao động là hoạt động mang tính xã hội Thiếu sự tham gia của cá nhân, đơn vị và tổ chức, công tác bảo hộ lao động không thể triển khai trong thực tế Đặc biệt, sự tham gia của các bên trong quan hệ lao động là điều kiện tiên quyết bảo đảm hiệu quả áp dụng pháp luật về bảo hộ lao động Vì vậy, nguyên tắc đảm bảo nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong việc thực hiện bảo
hộ lao động là điều kiện quan trọng để nâng cao tính khả thi của pháp luật
Người sử dụng lao động là người đầu tư kinh phí và tổ chức các hoạt động bảo hộ lao động tại cơ sở Việc người sử dụng lao động phải chịu chi phí cải tạo điều kiện lao động đã làm giảm sức cạnh tranh sản phẩm của họ trên thị trường Điều này gây lên xu hướng giảm đến mức thấp nhất các chi phí đầu vào trong đó bao gồm cả chi phí dành cho công tác an toàn, vệ sinh lao động để hạ giá thành sản phẩm Xét về lợi ích trước mắt, hoạt động này ảnh hưởng đến lợi nhuận Nhưng về lâu dài, bảo hộ lao động mang đến những lợi ích quan trọng như ổn định sản xuất, tăng năng suất lao động, công nhân yên tâm làm việc, giảm chi phí khắc phục tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Nhưng hiện nay, không phải mọi chủ sử dụng lao động đều ý thức được vấn đề này nên Nhà nước nhấn mạnh tính bắt buộc trong việc thực hiện các quy định về An toàn lao động,
vệ sinh lao động, coi đây là nghĩa vụ của người sử dụng lao động và là một trong những điều kiện để họ được phép sử dụng lao động Để các quy định của pháp luật về An toàn lao động, vệ sinh lao động được thực hiện trên thực tế, các chủ thể tham gia quan hệ lao động bắt buộc phải tuân thủ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định mà pháp luật đã ban hành Điều đó được quy định rất rõ tại Khoản 1, Điều 138 Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định về Nghĩa vụ của người sử dụng lao động: “Người sử dụng lao động có nghĩa vụ bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cẩu về không gian, độ thoáng, hơi, khí độc; Bảo đảm các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, nhà xưởng; Kiểm tra đánh giá những yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc; Định
Trang 2323
kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng’’ Khoản 2, Điều 7 Luật An toàn, vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13 của Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực từ 01/7/2016) quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động: Xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan tổ chức trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình; Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động….[7]
Người lao động là một bên trong quan hệ lao động, là người hưởng lợi trực tiếp từ việc thực hiện an toàn vệ sinh lao động Nhưng do chưa nhận thức được vấn đề này một cách cụ thể, nghiêm túc nên đôi khi người lao động không
tự giác tuân thủ các quy trình An toàn lao động, vệ sinh lao động Họ có thể vì những lợi ích trước mắt như lương cao, chế độ phụ cấp tốt…mà bỏ qua việc thỏa thuận về điều kiện làm việc trước khi kí kết hợp đồng lao động Việc thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao động phụ thuộc rất lớn vào ý thức của người lao động Vậy nên, người lao động cũng cần quan tâm, tìm hiểu các nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động Khoản 2, Điều 138 Bộ Luật lao động năm 2012 và Khoản 2, Điều 6 Luật An toàn, vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13 của Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015, có hiệu lực từ 01/7/2016) quy định về nghĩa vụ của người lao động
Các quy định về An toàn lao động, vệ sinh lao động không chỉ có ý nghĩa bắt buộc đối với người sử dụng lao động và người lao động mà còn đặt ra đối với mọi tổ chức, cá nhân liên quan như các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội…Qua đó cho thấy, các quy định về An toàn lao động, vệ sinh lao động có ý nghĩa bắt buộc đối với tất cả các bên khi tham gia quan hệ lao động Nguyên tắc này được quán triệt xuyên suốt trong quá trình xác lập quan hệ lao động cũng như quá trình thực hiện quy trình lao động, sản xuất Thực hiện tốt nguyên tắc này trên thực tế sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và hạn chế đến mức thấp nhất các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp có thể xảy ra
l ĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động
7 Khoản 1, Điều 138, Bộ Luật Lao động 2012; Khoản 2, Điều 7 Luật An toàn , vệ sinh lao động 2015
Trang 2424
Công đoàn là tổ chức đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Với quyền hạn, trách nhiệm và cơ chế hoạt động, Công đoàn là tổ chức với chức năng đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng pháp luật về bảo hộ lao động, tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động, phối hợp với Nhà nước đề xuất chương trình nghiên cứu khoa học về bảo
hộ lao động; giáo dục, tuyên truyền vận động người lao động chấp hành quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động; tham gia xét khen thưởng và xử lý việc vi phạm pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động.[8]
Bộ Luật Lao động năm 2012 đã tách hẳn một chương – Chương XIII từ Điều 188 đến Điều 193 để quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Công đoàn Tại Luật Công đoàn năm 2012 cũng quy định rất rõ trách nhiệm của người lao động phải tạo điều kiện cho tổ chức Công đoàn được thành lập và đi vào hoạt động Điều đó cho thấy vai trò vị trí của Công đoàn trong quan hệ lao động
là vô cùng quan trọng trong việc tham gia, phối hợp kiểm tra việc chấp hành pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động Công đoàn có quyền yêu cầu người có trách nhiệm tạm ngưng hoạt động ở những nơi có nguy cơ gây tai nạn lao động, tham gia điều tra tai nạn lao động và có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý người có trách nhiệm để xảy ra tai nạn lao động Bên cạnh đó, căn cứ tiêu chuẩn của Nhà nước về An toàn lao động, vệ sinh lao động Công đoàn thỏa thuận với người sử dụng lao động các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động, vận động xây dựng phong trào đảm bảo an toàn lao động và tổ chức mạng lưới an toàn viên,
vệ sinh viên Cùng với đó, Công đoàn còn tham gia các hoạt động lớn của quốc gia, hàng năm phối hợp tổ chức “Tuần lễ Quốc gia An toàn vệ sinh lao động- Phòng chống cháy nổ”.[9]
Như vậy, tổ chức Công đoàn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động bảo đảm thực hiện pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng như trong việc tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của người lao động trong việc yêu cầu và thực hiện pháp luật về An toàn lao động, vệ sinh lao động,trong việc yêu cầu người sử dụng lao động xây dựng và bảo đảm điều kiện được an toàn,
vệ sinh lao động
8 Luật Công đoàn 12/2012/QH13
9 Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, định kỳ tháng 3 hàng năm, Ban chỉ đạo Tuần lễ quốc gia ATVSLĐ_PCCN
Trang 2525
lao động trong các Công ước có liên quan đến an toàn, vệ sinh lao động mà Việt Nam đã phê chuẩn
Trong tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia và phê chuẩn rất nhiều Công ước quốc tế và khu vực, trong đó có nhiều Công ước liên quan đến việc đảm bảo về an toàn lao động, vệ sinh lao động Khi xây dựng khung pháp
lý và chính sách về an toàn lao động, vệ sinh lao động Việt Nam tôn trọng và thể hiện trong pháp luật của mình đối với các Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn.[10]
Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước 155 năm 1981
về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động Với một số ngành nghề kỹ thuật đặc thù, tiềm ẩn nguy cơ cao về tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ILO đã thông qua một số Công ước – khuyến nghị về an toàn, vệ sinh lao động như : Công ước 62 năm 1930 về Các quy định an toàn xây dựng; Công ước 152 năm 1979 về An toàn vệ sinh lao động đối với bốc xếp tại các cảng biển; v v Đặc biệt, nhằm bảo vệ đặc biệt cho hai nhóm lao động dễ bị tổn thương, ILO chú trọng đến nhóm người lao động là phụ nữ và trẻ em.[11]
Tính đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn 21 Công ước của tổ chức lao động quốc tế ILO, chủ yếu tập trung ở nhóm lao động là phụ nữ và trẻ em, các ngành nghề có kỹ thuật đặc thù, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tai nạn và bệnh nghề nghiệp.Đặc biệt, hiện nay Việt Nam mới tham gia Công ước số 187 năm 2009
về Khung chính sách thúc đẩy an toàn vệ sinh lao động.[12]Việc gia nhập Công ước này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Việt Nam, nhằm thúc đẩy những
nỗ lực dần dần của quốc gia trong việc cải thiện điều kiện lao động, ngăn ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thông qua hệ thống chính sách và các chương trình quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế
1.2.3 Nội dung pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Những quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, bới nó ảnh hưởng trực
10 Tổ chức Lao động quốc tế, http://www.ilo.org/hanoi/Aboutus/lang vi/index.htm
11 Theo Viện khoa học An toàn và vệ sinh lao động, KHUYEN-NGHI-CUA-ILO-VE-BAO-VE-LAO-DONG-NU-VA-TRE-EM
http://nilp.vn/Details/id/679/MOT-SO-CONG-UOC-12 Quyết định số 232/2014/QĐ-CTN ngày 23/1/2014 phê chuẩn để Việt Nam gia nhập Công ước 187,
http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=21664
Trang 26Pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động có những nội dung chủ yếu sau đây:
1.2.3.1 Các quy định về Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động
Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động là các quy phạm quy định
về các tiêu chí, chuẩn mực kĩ thuật, các yêu cầu về vật lí, hóa học, sinh học…để đảm bảo an toàn, vệ sinh trong lao động sản xuất Có hai loại: tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn ngành Sự khác nhau chủ yếu chính là phạm vi áp dụng, tiêu chuẩn quốc gia áp dụng trên toàn quốc còn tiêu chuẩn ngành áp dụng đối với từng ngành nghề sản xuất nhất định Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các loại tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động để áp dụng trong những ngành kinh tế kĩ thuật khác nhau Đó là căn cứ để thực hiện và đánh giá mức độ
an toàn, vệ sinh lao động Người sử dụng lao động buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này, không thể thay đổi hoặc thỏa thuận thay đổi chúng nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
1.2.3.2 Các quy định nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động, hạn chế những yếu tố không thuận lợi trong môi trường lao động
Trang 2727
Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động theo quy định của pháp luật Người lao động trong khi làm việc chỉ cần tiếp xúc với những yếu tố vật lý xấu; bụi và hóa chất độc hại; yếu tố sinh học độc hại, môi trường vệ sinh lao động hoặc làm việc với máy, thiết bị, công cụ lao động, làm việc ở vị trí mà tư thế lao động nguy hiểm dễ gây ra tai nạn lao động; làm việc trên cao; làm việc trong hầm lò, nơi thiếu dưỡng khí; làm việc trên sông nước, trong rừng và điều kiện lao động nguy hiểm, độc hại khác (như: Trắc địa, đo đạc, cắm tuyến cầu đường; quan trắc viên khí tượng mặt đất; vận hành hoặc lái các loại máy, thiết bị khai thác, xây dựng trong hầm lò; thợ sắt làm việc trong hầm lò; sĩ quan, thuyền viên làm việc trên tàu vận chuyển xăng dầu ) sẽ được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi được hình thành từ rất sớm tại các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia có nền công nghiệp sản xuất phát triển sớm như Anh ( Luật Công Xưởng 1883) Năm 1866, tại Đại hội Đại biểu Đệ nhất Quốc tế họp ở Giơnevơ, lần đầu tiên C.Mác đề xướng khẩu hiệu “ Ngày làm 8 giờ” Tiếp đó năm 1884, Mỹ và Canada, 8 tổ chức quyết định công nhân thị ủy vào ngày 01 tháng 5 năm 1886 và bắt đầu làm việc 8 giờ Ngày 11/4/1919, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) được thành lập theo Hiệp ước Vécxây, đã thông qua một loạt các công ước về vấn đề thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Quy định của Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thể hiện
rõ thái độ của Nhà nước đối với lực lượng lao động – nguồn tài nguyên quý giá nhất của mỗi quốc gia, đồng thời tạo hành lang pháp lý để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình Đối với người lao động, việc quy định này tạo điều kiện cho họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quan hệ lao động, giúp họ bố trí, sử dụng quỹ thời gian một cách hợp lý, tăng năng suất lao động và sức khỏe cho cá nhân người lao động Đó cũng là căn cứ pháp lý để người sử dụng lao động thực hiện quyền quản lý, điều hành, giám sát lao động, đặc biệt trong xử lý kỷ luật lao động, từ đó tiến hành trả lương, thưởng khen thưởng và xử phạt người lao động
Trang 28
động không thuận lợi
Nhà nước công bố danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Thông thường hệ số lương của một nghề, công việc được tính căn cứ vào hệ số phức tạp của công việc hoặc yêu cầu đối với trình độ, tay nghề của người lao động Nhưng với các công việc thuộc danh mục này thì hệ số lương sẽ được tính căn cứ vào: hệ số phức tạp của công việc hoặc yêu cầu đối với trình độ của người lao động; hệ số tiêu hao lao động trong điều kiện lao động không thuận lợi Do đó người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại được hưởng mức lương cao hơn bình thường Doanh nghiệp không phải doanh nghiệp nhà nước được quyền tự xây dựng thang lương, bảng lương và các khoản phụ cấp lương hoặc có thể áp dụng hệ thống thang lương, bảng lương và phụ cấp lương theo quy định của Nhà nước
Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp làm việc an toàn, vệ sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người lao động Quy định này nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân người lao động có thể gây ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Không chỉ khám sức khỏe cho người lao động khi tuyển dụng, hàng năm chủ sử dụng lao động còn phải tổ chức khám sức khỏe định kì, riêng lao động nặng nhọc, độc hại thì phải tổ chức khám định kỳ Theo đó, các doanh nghiệp phải có hồ sơ quản lí sức khỏe cá nhân, hồ sơ theo dõi tổng hợp theo quy định Mục đích của việc khám sức khỏe định kì là kịp thời phát hiện các trường hợp không còn đủ sức khỏe tiếp tục làm việc, bố trí cho họ công việc phù hợp hơn nếu có, phát hiện bệnh để có kế hoạch điều trị… Chi phí khám
Trang 2929
tuyển, khám sức khỏe, khám bệnh nghề nghiệp do người sử dụng lao động chi trả theo quy định hiện hành
Chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố độc hại, nguy hiểm được tính theo định suất cho một ngày làm việc, có giá trị bằng tiền tương ứng
1.2.3.3 Các quy định về khắc phục hậu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
* Nh ững trường hợp được coi là tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Tai nạn lao động là tai nạn xảy ra trong quá trình trực tiếp lao động hoặc liên quan đến lao động, công tác do tác động đột ngột của các yếu tố nguy hiểm
từ bên ngoài làm chết người hoặc làm tổn thương hay hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phận nào đó của cơ thế Tai nạn lao động được chia làm ba loại: Chết người, nặng và nhẹ Bệnh nghề nghiệp là loại bệnh lý phát sinh do các yếu tố tác hại nghề nghiệp Bệnh nghề nghiệp là một khái niệm chỉ thực trạng bệnh lý mang tính đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh là do các tác hại thường xuyên, kéo dài của điều kiện lao động xấu, các yếu tố tác hại nghề nghiệp
Để áp dụng và xác định chính xác TNLĐ, cần thiết phải kết hợp giữa Bộ Luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội cùng các văn bản hướng dẫn để đảm bảo quyền lợi cho người lao động
* Ch ế độ đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Người lao động bị TNLĐ, BNN phải gánh chịu những tổn thất nặng nề về
cả sức khỏe, tinh thần và kinh tế Do vậy, việc khắc phục hậu quả TNLĐ, BNN
là vô cùng quan trọng, cấp thiết Việc khắc phục đó được thể hiện ở chế độ bồi thường và trợ cấp cho người lao động bị TNLĐ, BNN
Người sử dụng lao động phải thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do Bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế và thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế Đồng thời, người sử dụng lao động phải trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động, cũng như bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị theo quy định của pháp
Trang 3030
luật Sau khi điều trị thương tật ổn định, người bị TNLĐ được đi giám định khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa theo quyết định của Bộ Y Tế Kết quả giám định đó là căn cứ để bồi thường và trợ cấp cho người lao động.[13]
1.2.3.5 Các chủ thể có trách nhiệm trong an toàn, vệ sinh lao động
* Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn lao
động, vệ sinh lao động
Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, tổ chức tuyên truyền, phổ biến và triển khai việc thực hiện các quy định đó, chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện công tác thanh tra về các vấn đề pháp luật nói chung và an toàn - vệ sinh lao động nói riêng Cụ thể:
Chính phủ là một chủ thể quan trọng với nhiệm vụ lập chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách của Nhà nước; đầu tư nghiên cứu khoa học, hỗ trợ phát triển các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động, phương tiện bảo vệ cá nhân; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm về An toàn lao động, vệ sinh lao động (Điều 135 Bộ luật lao động 2012) Tuy không phải cơ quan quản lý Nhà nước nhưng Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng có trách nhiệm tham gia với Chính phủ trong việc xây dựng chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học và xây dựng pháp luật về bảo
hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện việc triển khai công tác an toàn, vệ sinh lao động, đề xuất phương hướng, chương trình quốc gia về cải thiện điều kiện lao động, xây dựng và trình
cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc trực tiếp ban hành các văn bản pháp luật, chế độ, chính sách về bảo hộ lao động, quản lý hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn
an toàn - vệ sinh lao động; chỉ đạo thực hiện công tác thanh tra về an toàn lao động và xử lí những trường hợp vi phạm Ngoài ra, Bộ còn có trách nhiệm tổ chức, huấn luyện về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Bộ Y tế giúp Chính phủ thực hiện công tác đảm bảo vệ sinh lao động, đề xuất phương hướng, chương trình quốc gia về vệ sinh lao động, xây dựng, ban
13 Điều 144, Điều 145 Bộ Luật Lao động 2012; Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13
Trang 3131
hành và quản lí hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn về vệ sinh lao động; thanh tra vệ sinh lao động và xử lí vi phạm; tổ chức khám sức khỏe và chưa trị bệnh nghề nghiệp
Bộ Khoa học, Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lí thống nhất việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học kĩ thuật về an toàn -
vệ sinh lao động Ngoài ra, Bộ còn phải phối hợp với Bộ Lao động Thương binh
và Xã hội, Bộ Y tế để hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quy định về bảo
hộ lao động trong các đơn vị cơ sở thuộc Bộ, Ngành mình
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, trong phạm vi thẩm quyền của mình, ban hành các văn bản nhằm cụ thể hóa các quy định về an toàn lao động,
vệ sinh lao động trong các Nghị định, Thông tư…đồng thời đôn đốc, giám sát, kiểm tra nắm bắt tình hình thực hiện tại các doanh nghiệp, xí nghiệp trên địa bàn, nhất là những doanh nghiệp sản xuất
Như vậy, có thể thấy các quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong vấn đề an toàn lao động, vệ sinh lao động khá toàn diện, đề cập đến nhiều cấp quản lí, và giữa các cơ quan lại có sự phối hợp với nhau chứ không riêng lẻ Nếu thực hiện tốt sự phối hợp này sẽ quản lí được thống nhất, thiết lập có hiệu quả các điều kiện cần thiết cho công tác an toàn, vệ sinh lao động ở cơ sở
Công đoàn các cấp tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động Công đoàn có trách nhiệm tham gia, phối hợp với cơ quan Nhà nước thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tham gia xây dựng, hướng dẫn thực hiện, giám sát việc thực hiện kế hoạch, quy chế, nội quy và các biện pháp bảo đảm, vệ sinh lao động cải thiện điều kiện lao động cho người lao động tại nơi làm việc, tham gia điều tra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật Vai trò, trách nhiệm của Công đoàn cũng vô cùng quan trọng trong việc đại diện tập thể người lao động khởi kiện khi quyền của tập thể người lao động về an toàn, vệ sinh lao động bị xâm phạm Bên cạnh đó cần vận động người lao động chấp hành các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao
Trang 3232
động Yêu cầu cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có trách nhiệm thực hiện ngay biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, thự hiện các biện pháp khắc phục, kể cả trường hợp phải tạm ngừng hoạt động khi phát hiện nơi làm việc có yếu tố có hại hoặc yếu tố nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của con người trong quá trình lao động; Phối hợp với cơ quan Nhà nước tổ chức các phong trào thi đua về an toàn, vệ sinh lao động, tổ chức phong trào quần chúng làm công tác an toàn, vệ sinh lao động, hướng dẫn hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên
Nếu trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước là ở tầm vĩ mô thì ở tầm vi
mô, người sử dụng lao động cũng có trách nhiệm trong vấn đề này, hơn nữa lại
là trách nhiệm quan trọng Không phải ai khác mà chính người sử dụng lao động
sẽ thiết lập môi trường làm việc tại cơ sở, đơn vị sản xuất kinh doanh nên bản thân họ phải chấp hành những quy phạm bắt buộc về an toàn, vệ sinh lao động
Cụ thể:
lao động có trách nhiệm trang bị đầy đủ phương tiện, bảo đảm an toàn lao động,
vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động
kiểm tra, tu sửa máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động Người sử dụng lao động phải có đủ các phương tiện che chắn các bộ phận dễ gây nguy hiểm của máy, thiết bị trong doanh nghiệp; nơi làm việc, nơi đặt máy, thiết bị, nơi có yếu tố nguy hiểm, độc hại trong doanh nghiệp, phải bố trí đề phòng sự cố, có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động đặt ở vị trí mà mọi người dễ thấy, dễ đọc Trong trường hợp nơi làm việc, máy, thiết bị có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải thực hiện ngay những biện pháp khắc phục hoặc phải ra lệnh ngừng hoạt động tại nơi làm việc và đối với máy, thiết bị đó cho tới khi nguy cơ được khắc phục
Th ứ ba, đối với các công việc đặc thù, nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm,
độc hại, dễ gây tai nạn lao động phải được người sử dụng lao động trang bị
Trang 3333
phương tiện kỹ thuật, y tế và trang bị bảo hộ lao động thích hợp để bảo đảm ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động
Nhìn chung các quy định về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước và người
sử dụng lao động khá đầy đủ Tuy nhiên, quy định còn quá chung chung về vấn
đề bảo vệ môi trường lao động nói riêng và môi trường xung quanh, vì an toàn lao động vệ sinh lao động không chỉ là bảo vệ sức khỏe của người lao động mà còn là của cả cộng đồng dân cư xung quanh
Nói đến an toàn lao động, vệ sinh lao động ít ai quan tâm đến vấn đề trách nhiệm của người lao động mặc dù bản thân người lao động là chủ thể chính tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, và là một trong những chủ thể được
pháp luật quy định có trách nhiệm trong vấn đề này Người lao động phải tuân
thủ các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và nội quy lao động của doanh nghiệp Đặt ra vấn đề trách nhiệm đối với người lao động là bởi vì an toàn lao động, vệ sinh lao động chủ yếu là để bảo vệ người lao động, chính bản thân họ phải tự bảo vệ lấy mình trước khi yêu cầu người sử dụng bảo vệ Nếu người sử dụng lao động đã làm tốt việc trang bị, thiết lập điều kiện, môi trường làm việc an toàn mà người lao động không chịu tuân thủ nội quy an toàn thì chính họ cùng phải chịu trách nhiệm Trên thực tế, nhiều trường hợp tai nạn hoàn toàn do lỗi của người lao động như cẩu thả, bất cẩn, cố tình vi phạm quy chế mà xảy ra Việc dùng những từ ngữ chung chung như tuân thủ các quy định,
tuân thủ nội quy như vậy không mấy hiệu quả, khiến người lao động mất đi tính
tự giác, chủ động trong công tác an toàn - vệ sinh lao động Đồng thời không đạt đến sự chặt chẽ, toàn diện của một quy phạm luật
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1.3.1 Yếu tố chính trị
Pháp luật về An toàn lao động, vệ sinh lao động thể hiện chủ trương, quan điểm và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta đối với nguồn nhân lực của quốc gia nói riêng với con người nói chung; coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu để phát triển Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ trước đến nay, đặc biệt trong công
Trang 3434
cuộc đổi mới phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là chăm sóc ngày càng tốt hơn đời sống của nhân dân nói chung và người lao động làm công ăn lương nói riêng Một nội dung quan trọng trong việc đảm bảo quyền lợi của người lao động là việc thực hiện các chính sách về giải quyết chế độ đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động Đảng và Nhà nước đã ban hành, đưa ra nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách nhằm từng bước mở rộng cả về đối tượng và quyền lợi của người lao động trong lĩnh vực này
Trước năm 1995, Bảo hiểm xã hội chủ yếu được thực hiện cho người lao động làm việc trong khu vực Nhà nước nhưng từ khi có Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 1 năm 2003 của Chính phủ, đối tượng bảo hiểm xã hội đã mở rộng đến mọi người lao động làm công ăn lương trong các cơ quan, đơn vị, hộ kinh doanh cá thể trong mọi thành phần kinh tế Trong nhiều năm qua, kể từ khi thực hiện cải cách Bảo hiểm xã hội từ năm 1995, đến nay, Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13
có hiệu lực phù hợp với nhu cầu tham gia Bảo hiểm xã hội của người lao động, phù hợp với tốc độ phát triển kinh tế xã hội
Quán triệt định hướng của Đảng và Nhà nước, hệ thống Bảo hiểm xã hội đã đặt ra những nhiệm vụ như: Thực hiện đầy đủ các chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó cần chú trọng triển khai chế độ Bảo hiểm xã hội tự nguyện và chế độ Bảo hiểm xã hội thất nghiệp; Triển khai đa dạng và linh hoạt cả loại hình Bảo hiểm xã hội Không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người có thẻ Bảo hiểm
Trang 3535
y tế đảm bảo mức sống của người về hưu gắn liền với tốc độ phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước
1.3.2 Y ếu tố kinh tế - xã hội
Người sử dụng lao động và người lao động trích đóng phí Bảo hiểm xã hội Phần đóng góp này là khoản tiền mà người sử dụng lao động và người lao động phải đóng góp hàng tháng để được hưởng trợ cấp, các chế độ khi gặp phải rủi ro hoặc sự cố theo các chế độ bảo hiểm Đây là mục đích kinh tế của người lao động, khoản được trợ cấp thường xấp xỉ với giá trị của khoản
đã đóng Bảo hiểm xã hội, thậm chí còn có thể cao hơn rất nhiều Rủi ro để được hưởng trợ cấp thường là tuổi già, chết, TNLĐ, BNN, ốm đau, thai sản
Đối với ngân sách, Bảo hiểm xã hội góp phần làm giảm “gánh nặng” cho ngân sách Nhà nước Hàng năm ngân sách Nhà nước phải bỏ ra gần 800 tỷ đồng để chi trả các khoản chi phí, chế độ liên quan đến tai nạn lao động Khi chế độ Bảo hiểm xã hội mới được áp dụng, hàng năm thu được của người lao động khoảng 1.800 tỷ Khoản chi của ngân sách Nhà nước cho trợ cấp tai nạn lao động, hưu trí, mất sức qua đó cũng giảm được một phần
Vấn đề cốt lõi nhất của mối quan hệ này là xây dựng mức đóng - hưởng các chế độ Bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ tai nạn lao động nói riêng phải phù hợp với điều kiện phát triển của nền kinh tế, xã hội của đất nước Khi nền kinh tế phát triển, các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, có lãi và tích luỹ
để tái sản xuất, thì doanh nghiệp mới có điều kiện thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước đầy đủ và đóng đủ Bảo hiểm xã hội theo quy định
1.3.3 Yếu tố lịch sử
Đây là điều kiện mang tính phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới Đối với nước ta, chính sách chế độ Bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ tai nạn
Trang 3636
lao động nói riêng từ khi thành lập nước đến nay cũng mang tính lịch sử rõ nét qua từng thời kỳ Vì vậy khi xây dựng, hoặc sửa đổi bổ sung chế độ tai nạn lao động cũng phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng thời kỳ, đồng thời chế độ tai nạn lao động trong từng thời kỳ cũng phải góp phần phục vụ các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ lịch sử đó Chế độ tai nạn lao động được xây dựng ở từng thời kỳ còn phải đảm bảo tính kế thừa để phát huy những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, nhằm từng bước hoàn thiện chế độ tai nạn lao động ở nước ta, phù hợp với điều kiện lịch sử của đất
nước trong từng thời kỳ và phù hợp với thông lệ quốc tế
1.3.4 Yếu tố môi trường và điều kiện lao động
Khi xây dựng hoặc sửa đổi bổ sung chế độ tai nạn lao động cũng phải xuất phát từ điều kiện lao động và môi trường lao động để làm căn cứ xác lập mức đóng, mức hưởng của chế độ tai nạn lao động
Điều kiện và môi trường làm việc của người lao động bao gồm: Nhà xưởng làm việc, hệ thống chống bụi, khí độc, hệ thống thông gió, chống ẩm, chống ồn, rung ; điều kiện về công cụ lao động như: máy móc thiết bị, công cụ sản xuất; điều kiện về nguyên, nhiên vật liệu phát sinh ra bụi, chứa hóa chất độc, chứa vi sinh vật gây hại, dễ gây chấn thương do va đập, dễ gây cháy nổ, dễ gây bỏng Các điều kiện về vệ sinh an toàn lao động như các tiêu chuẩn, quy phạm, quy trình kỹ thuật an toàn, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động; công tác huấn luyện an toàn lao động
Môi trường làm việc và điều kiện vệ sinh, an toàn lao động là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hầu hết các vụ tai nạn lao động đối với người lao động Những ngành nghề có môi trường làm việc và điều kiện vệ sinh an toàn lao động tốt, ít xảy ra tai nạn laol động thì nên có tỷ lệ đóng phí bảo hiểm tai nạn lao động thấp hơn những ngành nghề có môi trường làm việc và điều kiện vệ sinh an toàn lao động không tốt, để xảy ra tai nạn lao động nhiều
1.3.5 Yếu tố hội nhập quốc tế
Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại Quốc tế (WTO), là thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và mới đây nhất là tham gia Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Đây chính là sự gắn kết nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới Đến nay, Hiệp định TPP
Trang 3737
được cho là FTA thế hệ mới, có phạm vi vừa sâu về nội dung cam kết vừa rộng
về phạm vi và lĩnh vực cam kết, đồng thời cũng là Hiệp định có các điều khoản
về lao động chặt chẽ nhất so với tất cả các FTA trong lịch sử [14]
Như vậy, có thể nói hoạt động của vấn đề an toàn vệ sinh lao động sẽ chịu sự tác động gián tiếp của quá trình hội nhập quốc tế nhưng nó phải thích ứng chung với các quy chuẩn của các nước trong điều kiện cho phép của kinh
tế xã hội ở nước ta Sự hội nhập kinh tế thế giới sẽ kéo theo sự di chuyển nguồn lao động từ trong nước ra nước ngoài cũng như dòng lao động từ nước ngoài vào nước ta Việc gia nhập WTO, tham gia Hiệp hội ASEAN, tham gia Hiệp định TPP là cú hích cho chúng ta sớm thực hiện mục tiêu đảm bảo một mặt là cuộc sống ổn định của cán bộ, công chức, quân nhân và người lao động, mặt khác cũng chính là nhằm mở rộng phạm vi điều tiết
xã hội của Nhà nước trong tiến trình xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
http://www.hoinhapkinhte.com.vn/wto/cac-quy-dinh-ve-lao-dong-trong-mot-so-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do-he-moi-ma-viet-nam-la-thanh-vien
Trang 3838
Kết luận Chương 1
Pháp luật An toàn lao động, vệ sinh lao động là hệ thống các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc, quy định về điều kiện lao động, quyền và các nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan tới an toàn vệ sinh lao động khi tham gia vào quan hệ lao động nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động Trong bối cảnh Việt Nam đang trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động đồi hỏi các cấp đều phải bắt tay quan tâm chú trọng thực hiện các quy định của pháp luật, góp phần làm lành mạnh quan hệ lao động, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ lao động và góp phần thuận lợi cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước
Trang 3939
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN THỦY NGUYÊN,
và hiệu quả làm việc nói chung phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện làm việc
Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đặt ra các quy định về đảm bảo an toàn, vệ sinh chung đối với người lao động trong quá trình lao động nhằm xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc thiết lập điều kiện lao động thuận lợi đối với người lao động Từ đó hướng tới mục tiêu đảm bảo tại nơi làm việc không tồn tại hoặc tồn rại ở mức thấp nhất các yếu tố nguy hiểm, độc hại vượt quá giới hạn chịu đựng của người lao động về tâm, sinh lí và sức khỏe Thực trạng pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong thời gian qua đã đạt được các kết quả như sau:
2.1.1 Quy định về Tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động
Trong các năm qua, Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực như Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng đã tập trung hoàn thiện các văn bản pháp quy kỹ thuật nhằm quản lý an toàn đối với các lĩnh vực có nguy cơ cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, như: khai thác mỏ, xây dựng, cơ khí, sản xuất và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, và tập trung rà soát các quy phạm an toàn lao động, quy trình kiểm định
Trang 4040
và các văn bản pháp quy kỹ thuật để sửa đổi, bổ sung, chuyển đổi và xây dựng mới các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động theo quy định của Bộ Luật lao động và Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.[15]
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành các loại tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động để áp dụng trong những ngành kinh tế kĩ thuật khác nhau
Đó là căn cứ để thực hiện và đánh giá mức độ an toàn, vệ sinh lao động Người
sử dụng lao động buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định này, không thể thay đổi hoặc thỏa thuận thay đổi chúng nhằm phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Theo quy định hiện hành, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cùng Bộ Khoa học công nghệ, Bộ tài nguyên môi trường có trách nhiệm phối hợp ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về an toàn lao động Bộ Y tế cùng Bộ khoa học công nghệ, Bộ tài nguyên môi trường
có trách nhiệm phối hợp ban hành và quản lý thống nhất hệ thống tiêu chuẩn về
vệ sinh lao động Các Bộ, Ngành chức năng có trách nhiệm ban hành hệ thống tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động cấp ngành
Luật lao động 2012 quy định:“Người sử dụng lao động có nghĩa vụ bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng
x ạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố có hại khác được quy định tại
đo lường”[16] Quy định này nhằm thiết lập và bảo đảm nơi làm việc hợp lý, bảo
vệ tốt nhất sức khỏe người lao động Có thể nói, pháp luật lao động đã quy định rất cụ thể, chi tiết và khá toàn diện về trách nhiệm của người sử dụng lao động trong việc đảm bảo môi trường làm việc an toàn và vệ sinh.[17]
Như đã nói ở trên, các tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động về hình thức chứa đựng đầy đủ các yếu tố của một quy phạm pháp luật nghĩa là có tính bắt buộc thực hiện, nhưng về nội dung nó lại chứa đựng những yêu cầu kĩ thuật chính xác, nghiêm ngặt dựa trên cơ sở những nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động Hiện nay, trong hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về lĩnh vực này có thể kể đến như Tiêu chuẩn Việt Nam về an toàn sản xuất, Tiêu chuẩn Việt Nam về vệ sinh lao động, Tiêu chuẩn Việt Nam về thiết bị bảo hộ lao động,
15 Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật số 68/2006/QH11 ngày 29/6/2006
16 Điều 138, Bộ Luật Lao động 2012
17 Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2014), Thông tư số 05/2014/TT-BLĐTBXH ngày 06/3/2014 về Ban hành danh mục máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động