1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý đất nông nghiệp theo luật đất đai năm 2013, từ thực tiễn huyện gia lâm, thành phố hà nội

127 216 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cụ thể: - Nắm chắc về số lượng đất nông nghiệp: Theo đó, với quản lý đất nông nghiệp, Nhà nước nắm chắc tình hình đất nông nghiệp trong phạm vi cả nước, trong từng vùng hoặc khu vực kinh

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học hàm, học vị nào

Tôi cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 23 Tháng 9 năm 2017 Tác giả

Nguyễn Bá Lương

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của các thầy giáo cô giáo, gia đình và bè bạn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy, các Cô Khoa sau đại học Viện đại học mở đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu, phân tích và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Hồng Vân đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin cám ơn toàn thể bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 23 Tháng 9 năm 2017 Tác giả

Nguyễn Bá Lương

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 3

2 1 Mục tiêu nghiên cứu 3

2 2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 1 Đối tượng nghiên cứu 3

3 2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 4

5 Kết cấu của đề tài 4

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 5

1.1 Khái niệm, mục tiêu, vai trò và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp 5

1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp 5

1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp 7

1.1.3 Mục tiêu và vai trò và nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 10

1.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 13

1.2 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý đất nông nghiệp ở Việt Nam 15

1.2.1 Giai đoạn thực hiện Luật đất đai 1987 (từ 08-01-1988 trên 14-10-1993) 15

1.2.2 Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 1993(từ 15-10-1993 đến 30-6-2004) 16

1.2.3 Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 2003 (từ 01-07-2004 đến 01-07-2014) 17

Trang 4

NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG

NGHIỆP 26

2.1 Những quy định chung về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 26

2.2 Những quy định cụ thể về quản lý đối với đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2013 và một số văn bản hướng dẫn thi hành 36

2.2.1 Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 36

2.2.2 Quy định về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp theo luật đất đai 2013 38

Chương 3 70

THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI 70

3.1 Thực tiễn thi hành pháp luật về quản lý đất nông nghiệp theo luật đất đai 2013 trên địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội thời gian qua 70

3.1.1 Đặc điểm địa bàn 70

3.1.2 Kết quả thực hiện quản lý đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2013 trên địa bàn huyện Gia Lâm 70

3.1.3 Một số khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quy định về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, tại địa bàn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội 82

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả những quy định về quản lý nhà nước, về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm thời gian tới 86

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật trong sử dụng đất nông nghiệp 86

3.2.2 Hoàn thiện các công cụ và phương pháp QLNN về đất nông nghiệp của huyện 89

3.2.3 Hoàn thiện thực hiện theo luật đất đai về quy hoạch, giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, đền bù, hỗ trợ thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn Huyện 92

KẾT LUẬN 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HĐND : Hội đồng nhân dân

KHSDĐNN : Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp QHSDĐNN : Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3 1 Kết quả đăng kí QSDĐ, cấp giấy chứng nhận QSDĐ đến 2016 104

Bảng 3 2 Nguyên nhân tồn đọng theo đánh giá của cán bộ địa phương 105

Bảng 3 3 Khó khăn của người dân khi đăng kí quyền sử dụng đất 105

Bảng 3 4 Kết quả giao đất NN đến năm 2016 106

Bảng 3 5 Kết quả chuyển mục đích sử dụng đất 108

Đơn vị tính: m2 108

Bảng 3 6 Theo đánh giá của người dân một số vấn đề tồn tại xung quanh công tác giao đất và cho thuê đất 109

Bảng 3 7 Đánh giá của cán bộ về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 111

Bảng 3 8 Kết quả thanh kiểm tra về quản lý đất nông nghiệp năm 2016 112

Bảng 3 9 Kết quả xử lý các vi phạm về sử dụng đất nông nghiệp 114

Bảng 3 10 Tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo về đất đất nông nghiệp 116

Bảng 3 11 Đánh giá của cán bộ chuyên môn nguyên nhân các khiếu nại tố cáo của các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp 116

Bảng 3 12 Đánh giá của người dân nguyên nhân các vi phạm về đất nông nghiệp theo đánh giá của người dân 117

Bảng 3 13 Theo đánh giá của người dân một số vấn đề tồn tại xung quanh công tác thu hồi và đền bù 118

Bảng 3 14 Đánh giá của các cán bộ về pháp luật đất đai 120

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong mỗi thời kỳ phát triển, các tư liệu sản xuất có vai trò không thể thiếu đối với mỗi quốc gia Tư liệu sản xuất tốt thì việc phát triển đất nước mới đảm bảo bền vững và có mức tăng trưởng cao Đặc biệt đối với Việt Nam, quốc gia có nền nông nghiệp khá phát triển thì các tư liệu sản xuất và đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp (đất nông nghiệp) càng có ý nghĩa quan trọng

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, quy định

cụ thể đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước đại diện cho nhân dân thực hiện quyền quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định hạn mức giao đất nông nghiệp, hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp; quy định thời hạn sử dụng; trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất; quyết định thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Đồng thời, Nhà nước cũng

là chủ thể trong việc quyết định trưng dụng đất nông nghiệp trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc gia

Không giống với nhiều quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, đất đai được xem là tư liệu sản xuất có tính sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện thực hiện quyền sở hữu Vì vậy, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là một vấn đề đặc biệt quan trọng và nhạy cảm trong các lĩnh vực quản lý nhà nước Trong nhiều năm qua, mặc dù chính sách, pháp luật về quản lý đất nông nghiệp đã có nhiều đổi mới Song, ngành nông nghiệp vẫn chưa có được nhiều đột phá lớn như trong giai đoạn thực hiện chuyển từ hợp tác xã sang giao đất cho hộ gia đình Công tác quản lý Nhà nước

về đất nông nghiệp vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém như: Quản lý quy

Trang 8

liên tỉnh Các quy định pháp luật về đất đai vẫn còn một số nội dung chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý và sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới Quyền định đoạt của Nhà nước với vai trò là đại diện chủ sở hữu đất đai chưa được làm rõ Quyền và nghĩa vụ của người nông dân sử dụng đất cũng chưa rõ và còn nhiều vướng mắc

Bên cạnh đó, công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với người nông dân còn nhiều bất cập, chưa giải quyết hài hòa lợi ích của người có đất bị thu hồi Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp, phải giải quyết qua nhiều cấp, kéo dài Nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành Nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển

Chính vì vậy, việc nghiên cứu nâng cao khả năng quản lý của nhà nước về đất nông nghiệp hiện nay là một yêu cầu hết sức bức thiết, nhằm giải quyết những vấn đề khúc mắc của xã hội, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các cá nhân, tổ chức, khắc phục tình trạng khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, phát huy đầy đủ được nguồn lực đất đai, đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của đất nước

Huyện Gia Lâm là một trong những địa phương có điều kiện kinh tế phát triển ở Hà Nội Huyện là cửa ngõ của thủ đô kết nối các tuyến đường huyết mạch với các vùng kinh tế phát triển của khu vực phía bắc là Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng Huyện có kinh tế khá phát triển và mật độ dân cư đông Mặc dù tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của huyện Diện tích đất nông nghiệp vẫn còn rất lớn trong tổng diện tích của địa phương Thực tiễn cho thấy, công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện thời gian qua vẫn gặp phải nhiều khó

khăn Do vậy, việc thực hiện đề tài “Quản lý đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2013, từ thực tiễn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội” có ý nghĩa rất quan

trọng nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp hiện nay

Trang 9

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2 1 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá thực trạng quản lý đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2013 nói chung và của huyện Gia Lâm nói riêng Phân tích những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng, giải pháp tăng cường công tác quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn

2 2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về pháp luật đất đai, quản

lý Nhà nước về đất nông nghiệp theo luật đất đai

- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội trong thời gian qua

- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp để tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3 1 Đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp

- Đối tượng khảo sát: Các hộ dân được giao đất theo nghị định 64, các cán bộ

cấp huyện, xã có liên quan tới công tác quản lý nhà nước về đất đai

Trang 10

Đề tài tập trung khảo sát và đánh giá tình hình quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2014 đến 2017

4 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

1 Luận văn đã luận giải nguyên nhân của thực trạng về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp, đề xuất được một hệ thống các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong quản lý, sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh nền nông nghiệp đang phải đối mặt với nhiều thách thức

2 Gắn hiệu quả quản lý, sử dụng đất nông nghiệp với các vấn đề bất cập, gây bức xúc trong xã hội đồng thời gắn giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong việc quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng

3 Dự báo tình, kiến nghị đề xuất bổ sung, sửa đổi văn bản pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý đất nông nghiệp trong những năm tiếp theo

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được kết cấu với 03 chương Gồm:

Chương 1 Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp Chương 2 Những quy định pháp luật về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp

Chương 3 Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội

Trang 11

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm, mục tiêu, vai trò và nguyên tắc quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp

1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp

Theo FAO (1990), Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp

Theo FAO (1990), đất nông nghiệp được phân chia vào các thành phần sau đây:

- Đất canh tác như đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn như ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dưa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng được trong nông nghiệp nhưng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa)

- Vườn cây ăn trái và những vườn nho hay cánh đồng nho (thông dụng

ở châu Âu)

- Đất trồng cây lâu năm ví dụ như trồng cây ăn quả)

- Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tưới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp được chia thành đất có tưới tiêu và không tưới tiêu (thường xuyên) Ở các nước đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp thường được giới hạn trong phạm vi đất tưới tiêu

Trang 12

Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó ngoài cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp, chẳng hạn như rừng, núi, và các vùng nước nội địa Đất nông nghiệp bao gồm 38% diện tích đất của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích đất của thế giới)

Theo OECD (1996), “Đất nông nghiệp là toàn bộ hệ sinh thái đã được biến đổi hoặc tạo ra bởi con người với mục đích trồng trọt hoặc phát triển các sản phẩm sinh học nhằm phục vụ cho việc tiêu dùng” Đất nông nghiệp bao gồm đất trồng trọt, đồng cỏ, vườn cây ăn quả, vườn nho, vườn ươm, vườn cảnh

và khu vực cho ăn (dành cho chăn nuôi) Trong đó Đất nông nghiệp được phân chia thành 04 mảng chính (1) Đất dành cho chăn nuôi Đây là hệ thống sinh thái được thay đổi hoặc tạo ra bởi con người phục vụ cho chăn nuôi số lượng lớn các loài vật nuôi bị giới hạn trong diện tích hẹp (2) Đất trồng trọt và đồng

cỏ Đây là loại đất nhằm phục vụ cho sản xuất các loại sản phẩm từ cây như lúa gạo, ngô, đậu tương… hoặc sử dụng để trồng cỏ (3) Vườn cây ăn quả Đây là

hệ thống sinh thái được tạo ra nhằm phục vụ sản xuất các trái cây Nó bao gồm các loại vườn cây ăn quả, vườn nho, vườn ươm cũng như vùng trồng hoa, hạt giống và một số nhà kính, các vườn ươm cây cung cấp cho trồng rừng (4) Đất nông nghiệp khác Là loại đất được sử dụng với mục đích sản xuất thực phẩm

và chất xơ nhưng không rơi vào các loại đã kể trên Có thể bao gồm đất nông trại, ao nhỏ, trang trại ngựa, mương và kênh rạch…

Theo Luật Đất đai năm 2013, Đất nông nghiệp được hiểu là phần diện tích đất được sử dụng cho mục đích sản xuất nông lâm thủy sản Theo đó, đất nông nghiệp được phân loại theo Luật Đất đai năm 2013 gồm có:

- Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác;

- Đất trồng cây lâu năm;

- Đất rừng sản xuất;

Trang 13

1.1.2 Khái niệm về quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp

a) Khái niệm quản lý nhà nước

Theo Nguyễn Thị Lợi (2011), Quản lý nhà nước, đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội thì Nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội toàn dân, toàn diện bằng pháp luật Cụ thể:

- Quản lý toàn bộ những người sống và làm việc trên lãnh thổ quốc gia, bao gồm: công dân và những người không phải là công dân (Những người đang chịu án phạt tù);

- Quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên cơ sở quy định của pháp luật

- Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo quy định một cách nghiêm minh

Trang 14

Do vậy, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động quản lý xã hội mang

tính quyền lực nhà nước được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan

hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ

xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Quản lý xã hội là thực hiện các chức năng tổ chức nhằm tạo những điều kiện cần thiết để đạt những mục đích đề ra trong quá trình hoạt động chung của con người trong xã hội Vì vậy từ khi nhà nước xuất hiện thì vai trò quản lý xã hội do nhà nước đảm nhiệm Nhưng quản lý xã hội không chỉ do nhà nước với tư cách là tổ chức chính trị đặc biệt đảm nhận, mà còn do tất cả các bộ phận khác cấu thành hệ thống chính trị thực hiện như; các chính đảng, các tổ chức xã hội,… ở góc độ kinh

tế, văn hóa – xã hội, chủ thể quản lý xã hội là gia đình, các tổ chức tư nhân

Quản lý nhà nước là các công việc của Nhà nước, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước Cũng có khi do nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức

bỏ phiếu hoặc do các tổ chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được nhà nước giao quyền quản lý Quản lý nhà nước thực chất là sự quản lý có tính chất nhà nước, do nhà nước thực hiện thông qua bộ máy Nhà nước trên cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng Chính phủ là cơ quan được thành lập để chuyên thực hiện hoạt động quản lý nhà nước (Nguyễn Thị Lợi, 2011)

b) Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Các quan hệ đất nông nghiệp là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm; quan hệ về sở hữu đất nông nghiệp, quan hệ về sử dụng đất nông nghiệp, quan hệ về phân phối các sản phẩm do sử dụng đất mà có Ở Việt Nam, nhà nước là người đại diện quyền sở hữu, thực hiện quản lý theo quy hoạch và pháp luật Do đó,

để thực hiện quyền lực này, nhà nước đã thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập chế

độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời xác lập một hệ thống

cơ quan nhà nước do Nhà nước lập ra đảm nhận Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu nhà nước về đất đai được

Trang 15

thể hiện bằng 15 nội dung quản lý nhà nước trong đó có đất nông nghiệp (Điều 22 mục 2, Luật Đất đai năm 2013)

Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai trong đó bao gồm cả đất nông nghiệp được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 tập trung vào 4 hoạt động cơ bản sau:

* Thứ nhất, nắm chắc tình hình đất nông nghiệp: đây là hoạt động giúp Nhà nước nắm rõ về các thông tin đất nông nghiệp cả về số lượng, chất lượng và tình hình hiện trạng của công tác quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Cụ thể:

- Nắm chắc về số lượng đất nông nghiệp: Theo đó, với quản lý đất nông nghiệp, Nhà nước nắm chắc tình hình đất nông nghiệp trong phạm vi cả nước, trong từng vùng hoặc khu vực kinh tế, trong từng đơn vị hành chính ở các địa phương; nắm vững diện tích của mỗi loại đất và sự phân bổ mỗi loại đất này trên bề mặt lãnh thổ đồng thời nắm vững diện tích của từng chủ sử dụng,…

- Nắm vững về chất lượng đất nông nghiệp: là Nhà nước nắm vững về đặc điểm lý tính, hóa tính của từng loại đất, độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng của đất, …

- Nắm vững về hiện trạng đất nông nghiệp: là Nhà nước nắm vững tình hình thực tế của công tác quản lý và sử dụng có hợp lý, hiệu quả hoặc có phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

* Thứ hai, Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất nông nghiệp: giữ vai trò là chủ sở hữu về đất nông nghiệp, do vậy Nhà nước thực hiện việc quản lý đất nông nghiệp theo quy hoạch và pháp luật Do vậy ở hoạt động cơ bản này Nhà nước thực hiện việc phân bổ đất nông nghiệp theo các mục đích đảm bảo nhu cầu cho các mục tiêu chung của các ngành, lĩnh vực trong phạm vi của từng địa phương, khu vực hoặc trong phạm vi cả nước Đây là hoạt động chỉ về việc Nhà nước căn cứ vào quỹ đất nông nghiệp của mình và nhu cầu về việc sử đất của các

Trang 16

và kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp Từ kết quả quy hoạch và kế hoạch đã thực hiện Nhà nước căn cứ vào nhu cầu cụ thể của các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất theo các mục đích đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mà tiếp tục phân phối lại quỹ đất nông nghiệp này cho họ theo quy định của pháp luật

* Thứ ba, Nhà nước tiến hành thanh tra, giám sát tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp: Đây là hoạt động chỉ về việc Nhà nước thực hiện quyền giám sát các chủ thể là các cơ quan quản lý nhà nước về đất nông nghiệp và các chủ

sử dụng đất đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Đồng thời thông qua hoạt động này mà Nhà nước tham gia vào công tác giải quyết, xử lý các sai phạm, bất đồng mâu thuẫn về đất nông nghiệp xảy ra trên thực tế

* Thứ tư là Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất: Nhà nước thực hiện hoạt động này thông qua hoạt động tài chính về đất nông nghiệp Đó

là hoạt động xác định giá các loại đất; tiền sử dụng đất đối với các đối tượng sử dụng đất ở các mục đích; các loại thuế có liên quan đến việc sử dụng đất

Các hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất nhằm mục đích

là bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước đối với đất nông nghiệp Do đó ta có thể hiểu và đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp như sau:

“Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất nông nghiệp, bao gồm: hoạt động nắm chắc tình hình đất đất nông nghiệp; phân phối và phân phối lại đất nông nghiệp; kiểm tra giám sát tình hình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp; điều tiết các nguồn lợi từ đất”

1.1.3 Mục tiêu và vai trò và nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

1.1.3.1 Mục tiêu quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

Theo Nguyễn Khắc Thái Sơn (2007), mục tiêu và nguyên tắc của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp gồm có những vấn đề sau:

- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn: Quá trình quản lý nhà nước về đất nông nghiệp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

Trang 17

nghiệp và nông thôn, bằng các công cụ quy hoạch, kế hoạch, thu hồi và chuyển đổi đất nông nghiệp, nhà nước có thể tác động tới kinh tế nông thôn, làm thay đổi cấu trúc các ngành nghề hiện nay, thúc đẩy sử dụng máy móc, khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp: Hiện nay tình trạng bỏ hoang,

sử dụng không đúng mục đích, trái phép, sử dụng không hiệu quả làm cho nguồn lực đất nông nghiệp ngày một cạn kiệt do đó, quản lý nhà nước góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, chống lãng phí và các sai phạm trong sử dụng đất nông nghiệp

- Đảm bảo nguồn cung hàng hóa và an ninh lương thực: Quản lý nhà nước đất nông nghiệp còn có muc tiêu đảm bảo nguồn cung hàng hóa và an ninh lương thực của đất nước Hiện nay, sự biến mất của các vùng đất tiềm năng cho sản xuất nông nghiệp trở nên phổ biến hơn Quá trình chuyển đổi kinh tế dẫn tới đất nông nghiệp cho sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng, nhiều dự báo của các nhà khoa học cho thấy, trong thời gian dài, năng suất và sản lượng ngành nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng nếu các khu vực có tiềm năng dần bị mất đi mà không được quy hoạch và sử dụng hiệu quả Do đó, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp đảm bảo nguồn cung hàng hóa nông nghiệp và an ninh lương thực cho quốc gia

- Phát triển bền vững ở khu vực nông thôn Đất nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp gắn liền với văn hóa, phong tục tập quán ở khu vực nông thôn, bao gồm cả môi trường ở nông thôn Thay đổi trong sử dụng đất nông nghiệp tác động

rõ rệt tới các đời sống nông thôn Vì vậy, quản lý đất nông nghiệp hướng tới gìn giữ

và phát huy những nét văn hóa truyền thống ở nông thôn, cấu trúc xã hội ổn định sẽ đảm bảo cho sự phát triển ổn định của đất nước

1.1.3.2 Vai trò của quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả: cũng giống như tất cả các loại tài nguyên khác, đất đai là loại tài nguyên hữu hạn, do vậy việc sử

Trang 18

Chính bởi Nhà nước là chủ thể quản lý đất đai ở Việt Nam, Nhà nước cho thuê, cho mượn, và giao đất cho người nông dân sử dụng, do vậy Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo việc sử dụng của các đối tượng được giao đất, cho thuê đất là hợp

lý, tiết kiệm, phù hợp với lợi ích quốc gia Đây là một vấn đề không hề đơn giản do quá trình sử dụng đất có rất nhiều đối tượng tham gia với nhiều mục đích khác nhau Vì vậy đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách phù hợp để ngăn không cho tài nguyên này bị lãng phí

- Thông qua đánh giá, phân loại, phân hạng đất đai, Nhà nước nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất Việc quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm được các thông tin về nguồn tài nguyên mà tổ chức đang quản lý sử dụng Đặc biệt là đất đai, tài nguyên hữu hạn nhưng luôn có sự thay đổi về cơ cấu, mục đích sử dụng Nắm được quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất, Nhà nước mới có thể ban hành những chính sách phù hợp với tính hình thực tiễn

- Việc ban hành các chính sách, các quy định về sử dụng đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng đất đai Không chỉ ở Việt Nam, ở tất cả các nước trên thế giới đều có luật đất đai và các đối tượng tham gia sử dụng đất đai đều phải tuân theo luật pháp về đất đai của quốc gia đó Luật pháp và các quy định về sử dụng đất tạo thành một hành lang pháp lý, cơ sở để đánh giá, vận hành thị trường đất đai, điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia sử dụng đất Đây cũng chính là

cơ sở để điều tiết các hoạt động có ảnh hưởng tới đất đai của toàn xã hội

- Phát hiện những mặt tích cực để phát huy, điều chỉnh và giải quyết những sai phạm Sai phạm trong quá trình sử dụng đất đai của các chủ thể là luôn luôn hiện hữu Mặc dù đã có luật pháp và các văn bản pháp quy quy định nhưng thực tiễn vận dụng cho thấy vẫn có nhiều kẽ hở hoặc nhiều nội dung chưa rõ ràng khiến nhiều hoạt động có liên quan tới đất đai xảy ra các sai phạm, làm tổn hại tới nguồn tài nguyên quý giá, gây mất công bằng và trật tự xã hội Vì vậy vai trò của quản lý nhà nước về đất đai là phát hiện những mặt tích cực để phát huy, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm nhằm đảm bảo trật tự xã hội và bảo vệ luật pháp của quốc gia

Trang 19

1.1.4 Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

a) Bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước

Đất nông nghiệp thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý, các chính quyền địa phương thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu và quản lý nhà nước

về đất nông nghiệp trên địa bàn được quy định bởi pháp luật quản lý nhà nước về đất nông nghiệp của chính quyền địa phương nhằm thực hiện việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình và cá nhân (HGĐ & CN) sử dụng ổn định và lâu dài Nhà nước tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thể phát huy tối đa các quyền đối với đất nông nghiệp Vì có như vậy người sử dụng đất mới yên tâm, chủ động trong dự liệu cuộc sống để đầu tư sản xuất, cũng như có ý thức trong sử dụng, tránh hiện tượng khai thác kiệt quệ đất nông nghiệp

b) Đảm bảo kết hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng đất nông nghiệp

Vấn đề này được thể hiện ở Điều 17, Luật Đất nông nghiệp 2013: “Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức sau đây: Quyết định giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; Quyết định cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm, cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; Công nhận quyền sử dụng đất”

Theo bộ Luật dân sự thì quyền sở hữu đất nông nghiệp bao gồm quyền chiếm hữu đất nông nghiệp, quyền sử dụng đất nông nghiệp, quyền định đoạt đất nông nghiệp của chủ sở hữu đất nông nghiệp Quyền sử dụng đất nông nghiệp là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất nông nghiệp của chủ sở hữu đất nông nghiệp hoặc chủ sử dụng đất nông nghiệp khi được chủ sở hữu chuyển giao quyền sử dụng Từ khi Hiến pháp 1980 ra đời quyền sở hữu đất nông nghiệp ở nước

ta chỉ nằm trong tay Nhà nước còn quyền sử dụng đất nông nghiệp vừa có ở Nhà nước, vừa có ở trong từng chủ sử dụng cụ thể Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp mà thực hiện quyền sử dụng đất nông nghiệp thông qua việc thu

Trang 20

vậy, để sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước

c) Đảm bảo sự kết hợp hài hoà các lợi ích

Các chính sách quản lý của Nhà nước, nhằm bảo đảm sự phân bổ hợp lý giữa lợi ích thu được với chi phí phải bỏ ra tương ứng cho các bộ phận dân cư khác nhau

Về nguyên tắc, Nhà nước không để cho nhóm dân cư này gây tác hại cho nhóm dân

cư khác mà không chịu sự xử lý Chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước cũng nên có chính sách ưu đãi đối với người nghèo, nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, dân tộc thiểu số Việc phân bổ đất thường chịu sự tác động của quy luật kinh tế thị trường là tối đa hóa lợi nhuận, do đó chính sách của Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa lợi ích để đảm bảo sự công bằng Ngoài ra chính sách đất nông nghiệp của Nhà nước nhằm tạo điều kiện cho mọi tầng lớp dân cư được tiếp cận với việc sử dụng đất được dễ dàng

Sự kết hợp hài hòa lợi ích và công bằng được thể hiện ở việc nhà nước đảm bảo các quyền của người sử dụng đất được Nhà nước cho phép, mọi người đều có

cơ hội và bình đẳng trước pháp luật về đất nông nghiệp Các chính quyền địa phương thay mặt cho Nhà nước quản lý đất nông nghiệp và giao đất lâu dài và ổn định cho hộ gia đình và cá nhân, khuyến khích họ khai thác và sử dụng đất theo hướng có hiệu quả cũng như xử lý nếu sai phạm Khi cần thu hồi đất cho các mục đích kinh tế xã hội, Các chính quyền địa phương sẽ thay mặt Nhà nước thực hiện những chính sách đền bù thoả đáng Quyền lợi của người bị thu hồi đất được bảo đảm bù đắp những thiệt hại bị mất

d) Bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế Thực chất quản lý đất nông nghiệp cũng là một dạng của quản lý kinh tế nên cũng phải tuân theo nguyên tắc này Tiết kiệm là cơ sở, là nguồn gốc của hiệu quả Nguyên tắc này trong quản lý đất nông nghiệp được thể hiện bằng việc xây dựng tết các phương án

Trang 21

quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao; Quản lý và giám sát hết việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Có như vậy, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp mới phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp nhất mà vẫn đạt được mục đích đề ra

1.2 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý đất nông nghiệp ở Việt Nam

Cùng với lịch sử phát triển đất nước, công tác quản lý đất đai cũng dần được hoàn thiện Nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai được thể hiện trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Hệ thống văn bản này cũng dần được hoàn thiện, từ chỗ chỉ là những văn bản dưới luật, có cả những văn bản chỉ quy định tạm thời đến chỗ Nhà nước ban hành Luật Đất đai 1987, rồi đến Luật Đất đai 1993 và đến nay là Luật Đất đai năm 2013

1.2.1 Giai đoạn thực hiện Luật đất đai 1987 (từ 08-01-1988 trên 14-10-1993)

Sau 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội theo kiểu kinh tế kế hoạch, đến năm

1986, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới, xoá bỏ bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hạch toán kinh doanh Trước tình hình đó, ngày

29 tháng 12 năm 1987, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật đất đai đầu tiên - Luật Đất đai 1987 Luật này được công bố ban hành bằng Lệnh của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước ngày 08 tháng 01 năm 1998 Luật Đất đai 1987 gồm 57 điều, chia thành 6 chương Luật Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai nhưở Quyết định số 201/CP năm 1980, nhưng có hoàn thiện hơn, đó là:

1 - Điều tra, khảo sát, đo đạc, phân hạng đất và lập bản đồ địa chính;

2 - Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất;

3 - Quy định các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực

Trang 22

4 - Giao đất, thu hồi đất;

5 -Đăng ký đất đai, lập và giữ sổ địa chính, thống Kế đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

6 - Thanh tra việc chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý, sử dụng đất đai;

7 - Giải quyết tranh chấp đất đai

Luật Đất đai 1987 quy định phân chia toàn bộ quỹ đất đai của Việt Nam thành 5 loại là: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng,đất chưa sử dụng Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo

vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài

1.2.2 Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 1993(từ 15-10-1993 đến 30-6-2004)

Sau giai đoạn bắt đầu đổi mới (từ 1986-1991), chúng ta vẫn còn thiếu nhiều quy định và ngay cả hệ thống pháp luật đã ban hành cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được tình hình đổi mới của đất nước Vì vậy, để phù hợp với giai đoạn mới

và thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế, Quốc hội khoá IX thông qua Luật Đất đai 1993

Luật Đất đai 1993 gồm 89 điều, chia thành 7 chương Luật Đất đai 1993 dựa trên cơ sở của Hiến pháp 1992, đã khắc phục được nhiều nhược điểm của Luật Đất đai 1987, đã sửa đổi, bổ sung một số quy định không còn phù hợp để giải quyết những vấn đề quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất đai Luật Đất đai 1993

đã chế định cơ sở pháp lý cơ bản để quan hệ đất đai ở nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc thực hiện luật đất đai 1993 đã đạt được những kết quả nhất định và còn tồn tại một

số vấn đề sau

* Các kết quả đạt được

Đã lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh đến năm 2010 được 59 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 223 đơn vị cấp huyện (huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), 3 597 đơn vị cấp xã (xã, phường, thị trấn)

Trang 23

Đã cơ bản giao xong đất nông nghiệp cho gần 12 triệu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng, với diện tích gần 9,4 triệu ha; trong đó, đã cấp hơn 11,49 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tương ứng với 92,7% số đối tượng và 97,8% số diện tích); đã giao và cho thuê sử dụng vào mục đích chuyên dùng và xây dựng nhà ở là

44 691 dự án (công trình) với tổng diện tích là 405 910 ha Đã bồi thường, giải phóng hàng chục nghìn hộ dân tại 1 1 730 công trình với tổng diện tích là 66 350 ha

* Những tồn tại

Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và phê duyệt còn chậm, tính khả thi chưa cao; kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm trung bình mới chỉ đạt 60% - Cả nước có 115 040 trường hợp với 15 378 ha sử dụng đất không đúng mục đích; có 40 894 trương hợp với 25 01 1 ha đất giao hoặc thuê sau 12 tháng không sử dụng; 217 009 trường hợp với 10 260 ha giao, cho thuê trái thẩm quyền;

101 400 trường hợp với 27 916 ha đất lấn, chiếm trái phép; 137 000 trường hợp với 45 764 ha chuyển nhượng trái pháp luật

Phương thức sử dụng đất để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng còn nhiều bất hợp lý; thu hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều ách tắc, bất cập; nợ đọng, trốn tránh tiền thuê đất, tiền sử dụng đất còn nhiều; xử lý vi phạm về quản lý,

sử dụng đất chưa nghiêm và không kịp thời

1.2.3 Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 2003 (từ 01-07-2004 đến 01-07-2014)

Luật Đất đai 2003 gồm 7 chương, 146 điều, không có đoạn mở đầu như Luật Đất đai 1993, không có chương quy định riêng đối với người nước ngoài mà được

bố trí chung vào các điều áp dụng cả cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước Theo Nguyễn Khai (2003), so với Luật Đất đai 1993, Luật Đất đai 2003 có 6 vấn đề đổi mới như sau:

Vấn đề đổi mới thứ nhất: Làm rõ vai trò Nhà nước là đại diện chủ sở hữu của toàn dân về đất đai có quyền định đoạt và hưởng lợi từ đất đai Luật Đất đai

2003 quy định Nhà nước giữ quyền định đoạt cao nhất đối với đất đai bằng việc

Trang 24

việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất), quy định thời hạn sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, định giá đất Trên cơ sở đó, Luật Đất đai 2003 đã quy định

cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và của từng cấp chính quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ của người đại diện Nhà nước có quyền hưởng lợi từ đất đai thông qua việc quy định các nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với người sử dụng đất

Với việc làm rõ vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân

về đất đai, Luật Đất đai 2003 đã phân định rõ ranh giới giữa quyền của chủ sở hữu đất đai với quyền của người sử dụng đất, nâng cao nhận thức của người sử dụng đất

về nghĩa vụ của họ đối với chủ sở hữu đất đai

Vấn đề đổi mới thứ hai : Nội dung quản lý nhà nước về đất đai được bổ sung đầy đủ và hoàn chỉnh Các nội dung này bao gồm những vấn đề chính sau

- Quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất :

- Thẩm quyền giao đất và cho thuê đất Thành lập tổ chức phát triển quỹ đất

- Thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Đăng ký đất đai - Giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai

- Quản lý tài chính về đất đai

Vấn đề đổi mới thứ ba :Chế độ sử dụng

- Phân loại đất: phân chia quỹ đất thành 3 nhóm: nhóm đất nông nghiệp,

nhóm đất phi nông nghiệp, nhóm đất chưa sử dụng Trong mỗi nhóm đất được phân thành nhiều loại đất cụ thể và có quy định quản lý sử dụng theo từng loại đất đó nhằm tạo điều kiện cho việc quản lý vĩ mô của Nhà nước, thuận lợi cho người sử dụng chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Hạn mức giao đất,hạn mức nhận chuyển nhượng sử dụng đất nông nghiệp :

Luật Đất đai 2003 quy định hạn mức giao đất nông nghiệp không thu tiền sử đụng đất, nếu vượt hạn mức giao đất phải chuyển sang thuê đất,

Trang 25

Vấn đề đổi mới thứ tư: Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Về lựa chọn hình thức giao đất, thuê đất: Luật Đất đai 2003 quy định đối với tổ chức kinh

tế, hộ gia đình, cá nhân được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chủ động trong sử dụng đất, huy động nguồn thu ngân sách từ quỹ đất và tạo thuận lợi cho phát triển thị trường bất động sản

Vấn đề đổi mới thứ năm: Thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất

Luật Đất đai 2003 dành một chương quy định về các thủ tục hành chính trong quản

lý và sử dụng đất theo cơ chế "một cửa", thủ tục hồ sơ đơn giản, thời gian thực hiện các thủ tục không kéo dài nhằm đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ

• Vấn đề đổi mới thứ sáu Xử lý vi phạm

Để xác định rõ trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đồng thời nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân các quyền về sử dụng đất, ngăn chặn

và xử lý tình trạng cán bộ quản lý đất đai không thực hiện đúng chức trách, gây phiền

hà, nhũng nhiễu cho người sử dụng đất khi thực hiện các thủ tục hành chính Luật Đất đai 2003 đã quy định về trách nhiệm của Chủ tịch Uỷ ban nhân dần các cấp như sau:

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn và

xử lý kịp thời những vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất tại địa phương

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc chuyển quyền sử dụng đất trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép; phát hiện và áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp thời việc xây dựng các công trình trên đất lấn chiếm, buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm

1.2.4 Quản lý đất nông nghiêp theo Luật Đất đai năm 2013

Trang 26

Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật Đất đai năm 2003, nhưng đồng thời

đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003

Theo Bộ tư pháp (2013), Luật Đất đai năm 2013 có một số đổi mới cơ bản như sau:

Một là, Luật Đất đai năm 2013 đã cụ thể hóa các quyền của Nhà nước đối với đất đai như: Quy định rõ các quyền của Nhà nước đối với đất đai như quyền của đại diện chủ sở hữu; quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; quyền quyết định thu hồi, trưng dụng đất đai; quyền quyết định giá đất; quyết định chính sách tài chính về đất đai… (Bộ Tư pháp, 2013) Đồng thời, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai như: Quy định rõ 15 nội dung quản lý của Nhà nước đối với đất đai; trách nhiệm cụ thể của Nhà nước về quản lý đất đai; những bảo đảm của Nhà nước đối với người

sử dụng đất; trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số; trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai và trách nhiệm của công chức địa chính tại xã, phường, thị trấn Hai là, Luật Đất đai năm 2013 đã bổ sung những nội dung cơ bản trong việc điều tra, đánh giá về tài nguyên đất đai, nhằm khắc phục bất cập hiện nay mà Luật Đất đai năm 2003 chưa có quy định cụ thể; bổ sung những quy định quan trọng trong nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhằm khắc phục khó khăn khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; bổ sung và quy định rõ quyền và nghĩa vụ sử dụng đất của người dân trong vùng quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất (Bộ Tư pháp, 2013)

Ba là, Luật quy định cụ thể, rõ ràng từ nguyên tắc đến nội dung và mở rộng dân chủ, công khai trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định

về đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất trong vùng quy hoạch như: Việc lấy ý

Trang 27

kiến của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở cấp quốc gia và cấp tỉnh và cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử theo quy định (Bộ Tư pháp, 2013)

Việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định chi tiết đến từng giai đoạn như: Căn cứ lập quy hoạch, trách nhiệm của cơ quan tổ chức, thẩm quyền thẩm định quy hoạch, thẩm quyền quyết định điều chỉnh quy hoạch, tư vấn lập quy hoạch, công bố công khai, thực hiện và báo cáo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Bộ Tư pháp, 2013)

Ngoài ra, Luật thiết lập sự bình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong và nước ngoài; quy định cụ thể điều kiện được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư nhằm lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực thực hiện dự án Đặc biệt, Luật đã bổ sung quy định về điều kiện được giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án có sử dụng đất trồng lúa, đất có rừng, dự án đầu tư tại khu vực biên giới, ven biển và hải đảo (Bộ Tư pháp, 2013)

Bốn là, một trong những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2013 vừa được Quốc hội thông qua là những quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Luật bổ sung quy định về các trường hợp đăng ký lần đầu, đăng ký biến động, đăng ký đất đai trên mạng điện tử; bổ sung quy định trường hợp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của nhiều người thì cấp mỗi người một giấy chứng nhận, hoặc cấp chung một sổ đỏ và trao cho người đại diện Tuy nhiên, giấy chứng nhận phải ghi đầy đủ tên của những người có chung quyền sử dụng đất, nhà ở hay tài sản gắn liền với đất (Bộ Tư pháp, 2013)

Trường hợp đất là tài sản chung của vợ chồng thì giấy chứng nhận ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng (trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận ghi tên một người) Nếu giấy chứng nhận đã cấp chỉ ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi

Trang 28

Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định cụ thể hơn những trường hợp sử dụng đất được cấp sổ đỏ; cấp giấy chứng nhận cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân

cư đang sử dụng đất có và không có các giấy tờ về quyền sử dụng đất Mặc dù Luật mới quy định “cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được cấp theo từng thửa đất” nhưng nếu người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà

có yêu cầu thì được cấp một giấy chứng nhận chung cho các thửa đất đó

Một điểm mới khác liên quan đến đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng dân cư, thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Luật cũng quy định những trường hợp có thể cấp giấy chứng nhận ngay cả khi không có giấy tờ về quyền sử dụng đất Theo đó, những hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ Luật quy định vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ theo quy định nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 1/7/2014 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất phù hợp với quy hoạch sử dụng sẽ được cấp giấy chứng nhận Ngoài ra, Luật đã giao cho Chính phủ quy định các loại giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 được xét cấp giấy chứng nhận nhằm giải quyết những vướng mắc trên thực tiễn

Năm là, Luật quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, bồi thường,

hỗ trợ tái định cư đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người

có đất thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những trường hợp thu hồi đất làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất đồng thời khắc phục một cách có hiệu quả những trường hợp thu hồi đất mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo nên các dư luận xấu trong xã hội (Bộ Tư pháp, 2013)

Trang 29

Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, luật quy định: "Nhà nước chỉ thu hồi đất với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét qua chủ trương thu hồi đất"

Đặc biệt, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định chế tài mạnh để xử lý đối với trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng; quy định đầy đủ, rõ ràng về những trường hợp thật cần thiết mà Nhà nước phải thu hồi; quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà

áp dụng giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

Sáu là, Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ nguyên tắc định giá đất phải theo mục đích sử dụng đất hợp pháp tại thời điểm định giá, theo thời hạn sử dụng đất; bổ sung quy định về cơ quan xây dựng, cơ quan thẩm định giá đất, vị trí của tư vấn giá đất trong việc xác định giá đất, thẩm định giá đất và việc thuê tư vấn để xác định giá đất cụ thể Luật quy định khung giá đất do Chính phủ ban hành, định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng; bỏ quy định việc công bố bảng giá đất vào ngày 01/01 hàng năm, thay vào đó, bảng giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01/01 của năm đầu kỳ Bảng giá đất chỉ áp dụng đối với một số trường hợp thay cho việc áp dụng cho tất cả các mục đích như quy định hiện hành (Bộ Tư pháp, 2013)

Luật đã tiếp cận và thể hiện đầy đủ về vấn đề tài chính đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất, quyền lợi của Nhà nước, chủ đầu tư và đảm bảo ổn định xã hội; phù hợp với quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Bảy là, Luật cũng quy định rõ ràng các đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và điều kiện để triển khai thực hiện các dự án đầu tư để Nhà nước giao

Trang 30

thuê đất một cách tràn lan, chưa tính đến năng lực của các chủ đầu tư trong việc triển khai các dự án gây nên tình trạng sử dụng đất lãng phí, kém hiệu quả như trong thời gian vừa qua (Bộ Tư pháp, 2013)

Luật Đất đai năm 2013 cũng được hoàn thiện theo hướng quy định cụ thể các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, hộ gia đình và tổ chức sử dụng đất phù hợp với từng hình thức như giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và quy định các điều kiện khi người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình Bên cạnh đó, Luật quy định bình đẳng hơn về quyền và nghĩa vụ về đất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, tạo

cơ chế thu hút cho đầu tư phát triển kinh tế của tổ chức nước ngoài

Tám là, Luật quy định hoàn chỉnh hơn các chính sách đất đai đối với khu vực nông nghiệp; hoàn thiện hơn quy định về chế độ sử dụng đất đối với sử dụng cho khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu kinh tế; bổ sung quy định việc sử dụng đất để xây dựng công trình ngầm, đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (Bộ Tư pháp, 2013)

Chín là, Luật đã dành một chương để quy định về việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai, cơ sở dữ liệu đất đai, hệ thống giám sát, theo dõi, đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai được công khai, minh bạch và đảm bảo dân chủ trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin đất đai của mọi người dân Theo đó, công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong quản lý và

sử dụng đất đai Hình thức giám sát là trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; Hoặc gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát (Bộ Tư pháp, 2013)

Mười là, Luật mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình,

cá nhân sản suất nông nghiệp; mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của

hộ gia đình, cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp

Trang 31

theo hướng hiện đại phù hợp với đường lối phát triển nông nghiệp, nông thôn Cụ thể: Nâng thời hạn giao đất nông nghiệp trong hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân từ 20 năm lên 50 năm, thống nhất cho các loại đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp); cho phép hộ gia đình, cá nhân tích tụ với diện tích lớn hơn (không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp) (Bộ Tư pháp, 2013) Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua là sự kiện quan trọng đánh dấu những đổi mới về chính sách đất đai, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện được ý chí, nguyện vọng của đại đa số nhân dân Để các quy định đổi mới của Luật sớm đi vào cuộc sống, các bộ, ngành và địa phương vẫn đang khẩn trương phối hợp triển khai xây dựng các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai

Trang 32

Chương 2 NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ NHÀ

NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1 Những quy định chung về quản lý nhà nước về đất nông nghiệp

a) Ban hành văn bản pháp quy và tổ chức thực hiện

Đây chính là quá trình Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật trong quản lý Nhà nước dùng pháp luật để thực hiện quyền cai trị của mình, bằng cách tác động vào ý trí của con người để điều chỉnh hành vi của họ

Luật pháp là công cụ cho các công cụ quản lý khác, các chính sách chế độ của Nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn

Như đã nêu ở trên, quản lý đất nông nghiêp nói chung là một vấn đề phức tạp, vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội, trong quan hệ đất nông nghiệp thường dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn phức tạp, để giải quyết các mối quan hệ đó, Nhà nước phải ban hành một hệ thống văn bản đầy đủ, chặt chẽ

Đất nước ta đang từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, diễn biến quan hệ về đất nông nghiệp xuất hiện những vấn đề mới và phức tạp đòi hỏi cả về lý luận cũng như thực tiễn phải tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện Vì vậy, công tác ban hành các văn bản pháp quy luôn được quan tâm hàng đầu

Tuy nhiên, để pháp luật đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, cần tổ chức tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để mọi đối tượng trong xã hội hiểu và thực hiện, bên cạnh đó việc thực thi pháp luật cũng cần được quan tâm, phải kiên quyết trong việc xử lý các vi phạm cả trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Nội dung này bao gồm cả việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất nông nghiệp, tuyên truyền phỏ biến đến mọi đối tượng quản lý,

sử dụng và tổ chức thực hiện các văn văn bản đó Thẩm quyền ban hành các văn bản pháp quy trong quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp của cấp dưới thường được

Trang 33

quy định trong văn bản pháp quy của cấp trên Đồng thời cũng nghiêm cấm việc các

cơ quan quản lý cấp dưới ban hành trái hoặc có thêm các quy định khác so với các văn bản của cấp trên

Những nội dung thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ được quy định

rõ trong Luật và những nội dung thuộc thẩm quyền ban hành của cấp tỉnh được quy định trong Nghị định của Chính phủ Theo các văn bản thi hành Luật đất nông nghiệp 2013, cấp tỉnh quy định về một số nội dung trên địa bàn tỉnh như: giá đất hàng năm trên cơ sở khung giá của Chính phủ; hạn mức giao đất ở mới và hạn mức công nhận đất ở; suất đầu tư đối với các dự án; quy định quản lý một số loại đất như nghĩa địa, đất tôn giáo, tín ngưỡng;…

b) Thực hiện các nghiệp vụ quản lý về đất nông nghiệp

- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính

Các nội dung cụ thể bao gồm công tác hoạch định và phân định đường địa giới hành chính các cấp (quốc gia, tỉnh, huyện, xã), cắm mốc địa giới, lập bản đồ địa giới hành chính các cấp và lập bản đồ hành chính các cấp Công tác phân định biên giới quốc gia không chỉ thực hiện trên đất liền mà phải chú ý trên các vùng biển và hải đảo, vì đây là bộ phận hết sức quan trọng của lãnh thổ mỗi nước

Công tác hoạch định và phân định địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện,

xã cũng hết sức quan trọng, việc phân định không đảm bảo rất dễ nảy sinh tranh chấp về địa giới, việc chia tách, sáp nhập các đơn vị hành chính các cấp nếu không mang tính chiến lược sẽ gây ra những lãng phí rất lớn cho xã hội và ảnh hưởng đến

sự phát triển của chính đơn vị đó

Các quy định về lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, mốc địa giới hành chính được quy định cụ thể ở Điều 29 Luật Đất đai 2013

- Đo đạc, lập bản đồ địa chính; thống kê kiểm kê đất nông nghiệp; đánh giá phân hạng đất; xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất nông nghiệp

Trang 34

+ Để nắm được số lượng, chất lượng đất nông nghiệp mà đặc biệt là đất nông nghiệp, Nhà nước phải tiến hành điều tra, khảo sát, đo đạc để nắm được quỹ đất theo từng loại đấtvà từng loại đối tượng sử dụng đất Do bởi đất nông nghiệp có vai trò quyết định tới chất lượng và sản lượng nông sản của người nông dân Do đó, viêc đo đạc, khảo sát và phân loại đất có ý nghĩa hết sức quan trọng

+ Bản đồ địa chính là bản đồ chi tiết phản ánh hiện trạng sử dụng đất, trên đó vừa thể hiện các yếu tố kỹ thuật về thửa đất như hình thể, vị trí (toạ độ) diện tích, kích thước các cạnh lại vừa thể hiện các yếu tố xã hội như chủ sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đối với thửa đất, tình trạng quy hoạch… Đây có thể coi là nguồn tài liệu gốc quan trọng nhất để từ đó thực hiện các nhiệm vụ khác của công tác quản lý đất nông nghiệp như thống kê đất nông nghiệp, cấp GCNQSD đất nông nghiệp, thu hồi đất nông nghiệp, bồi thường GPMB, xây dựng hồ sơ địa chính và hệ thống thông tin đất nông nghiệp…Điều 31 Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể về bản đồ địa chính

+ Thống kê, kiểm kê đất nông nghiệp cung cấp số liệu về thực trạng sử dụng đất tại một thời điểm nhất định trong năm, qua đó cho biết cơ cấu đất nông nghiệp

về loại đất cũng như đối tượng sử dụng đất, đây là nguồn số liệu giúp cho công tác đánh giá tình tình quản lý sử dụng, mức độ thực hiện quy hoạch để từ đó có biện pháp bổ sung chấn chỉnh kịp thời những những lệch lạc so với định hướng sử dụng đất ở tầm vĩ mô và dài hạn Điều 34 Luật Đất đai năm 2013 quy định rõ ràng về nội dung này

+ Đánh giá phân hạng đất là đánh giá về mặt chất lượng đất thông qua việc phân tích tính chất lý hoá đất, đánh giá các điều kiện tự nhiên xã hội ảnh hưởng đến việc sử dụng đất (chủ yếu khả năng sử dụng trong nông nghiệp) Tài lệu phân hạng đất là căn cứ để đánh giá tiềm năng và khả năng thích nghi đất nông nghiệp, là cơ

sở khoa học trong định hướng sử dụng đất hợp lý

+ Xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất nông nghiệp là việc thiết lập ban đầu và cập nhật biến động hệ thống hồ sơ ở dạng giấy và dạng số về toàn bộ

Trang 35

nguồn lực đất nông nghiệp, tình hình phân bổ sử dụng, tình trạng pháp lý trong quản lý và sử dụng đất, thông tin về người sử dụng đất…, nhằm mục đích phục vụ công tác tra cứu, quản lý, hoạch định chính sách

- Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch đất nông nghiệp là sự tính toán, phân bổ đất nông nghiệp một cách cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian trên cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế xã hội Kế hoạch hoá đất nông nghiệp là sự xác định các chỉ tiêu về sử dụng đất nông nghiệp, các biện pháp và thời hạn thực hiện theo quy hoạch đất nông nghiệp

Trong công tác quản lý đất nông nghiệp, quy hoạch, kế hoạch hoá là một công cụ hết sức hữu hiệu, nhất là trong nền kinh tế thị trường Nó giúp cho việc sử dụng đất nông nghiệp và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác một cách tiết kiệm,

có hiệu quả, giữ gìn cảnh quan môi trường Quy hoạch còn là công cụ để phân bổ nguồn lực (kể cả vốn, lao động và công nghệ) đồng đều ở các vùng miền trong cả nước

Quy hoạch dài hạn về đất nông nghiệp được công bố sẽ giúp các nhà đầu tư,

n g ư ờ i nô n g d ân chủ động hơn trong việc hoạch định chiến lược sản xuất kinh doanh của mình

Thông qua công cụ quy hoạch, nhà nước sẽ góp phần điều tiết cung, cầu, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang một số loại đất khác trên thị trường, đặc biệt là trên thị trường sơ cấp của thị trường bất động sản phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp được duyệt là căn cứ và là điều kiện bắt buộc để thực hiện việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Quy hoạch là công cụ quản lý khoa học, vì trong công tác lập quy hoạch phải đảm bảo tính thống nhất, tính đồng bộ, tính khoa học và tính dự báo Một quy hoạch

Trang 36

Quy hoạch, kế hoạch là công cụ quan trọng của quản lý, tuy nhiên, không được lạm dụng quy hoạch, kế hoạch hoá nếu không sẽ rơi vào tình trạng hành chính hoá các quan hệ về đất nông nghiệp, điều này trái với sự vận động của nền kinh tế thị trường

Luật Đất đai năm 2013 từ điều 35 đến điều 51 đã quy định đầy đủ về nguyên tắc, căn cứ, nội dung, trách nhiệm lập và thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, ngoài ra còn quy định việc công bố, thực hiện và điều chính quy hoạch

Ngoài quy hoạch sử dụng đất, còn có các quy hoạch khác hỗ trợ cho công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp như quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, hoạch xây dựng đô thị và khu dân cư nông thôn

- Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất

Giao đất và cho thuê đất là những hình thức nhà nước giao quyền sử dụng cho người sử dụng đất Chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất là việc nhà nước thực hiện quyền định đoạt của mình đối với đất nông nghiệp, nhà nước cho phép chủ sử dụng đất chuyển từmục đích sử dụng này sang mục đích khác hoặc thu hồi của chủ sử dụng này để giao cho chủ sử dụng khác hay sử dụng vào mục đích công cộng Việc giao quyền sử dụng đất được đi kèm với một số công cụ quản lý khác, đó là hạn mức đất và thời hạn sử dụng đối với từng loại đất và từng nhóm chủ thể sử dụng đất Về bản chất, giao đất và cho thuê đất không có gì khác biệt Hiện nay Nhà nước ta đang áp dụng hình thức giao đất có thu tiền và không thu tiền, giao đất có thời hạn và giao lâu dài (vô thời hạn) Trong giao đất có thu tiền lại có thể thông qua hình thức thu theo giá nhà nước quy định hoặc thông qua đấu giá đất (giá sàn không được thấp hơn giá nhà nước quy định) Đối với hình thức thuê đất thì có thể trả tiền thuê hàng năm hoặc trả tiền thuê một lần cho toàn bộ thời gian thuê, trong đó hình thức trả tiền một lần chỉ áp dụng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 37

Việc thu hồi đất của Nhà nước chỉ thực hiện trong một số trường hợp nhất định như thu hồi để sử dụng vào mục đích công cộng, khu dân cư nông thôn, quỹ đất phát triển đô thị, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất hoặc các dự

án phát triển kinh tế thuộc nhóm A, hoặc trường hợp vi phạm trong quá trình sử dụng đất…Các trường hợp còn lại áp dụng hình thức tự thoả thuận giữa các đối tượng sử dụng đất (về bản chất là chuyển nhượng quyền sử dụng đất) Trong một số trường hợp đặc biệt, khẩn cấp nhà nước có thể áp dụng hình thức trưng dụng đất để phục vụ cho các mục tiêu an ninh quốc phòng và lợi ích quốc gia

Cụ thể, tại Luật Đất đai năm 2013 thì cá nhân hộ gia đình ở đồng bằng được giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối không quá 3 ha, đối với mỗi loại đất có thời hạn là 20 năm; đất trồng cây lâu năm được giao không quá 10

ha với thời hạn là 50 năm; trường hợp được giao nhiều loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối thì tổng diện tích được giao không quá 5 ha Nếu được giao thêm đất trồng cây lâu năm thì hạn mức được giao thêm không quá 5 ha; Đối với thuê đất thì thời hạn cho thuê lần lượt là không quá 20 năm và

50 năm tương ứng với mỗi loại trên Khi hết thời hạn giao, thuê đất, nếu có nhu cầu thì được Nhà nước xem xét giao, cho thuê tiếp (Quốc hội, 2013)

- Đăng ký đất nông nghiệp, cấp GCNQSDĐ

Đăng ký đất nông nghiệp là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Sau khi phát sinh quyền sử dụng đất (được giao đất, thuê đất, nhận chuyển quyền QSD đất…), hoặc có những thay đổi trong sử dụng đất thì người sử dụng phải đăng ký với cơ quan nhà nước để được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và làm thủ tục cấp GCNQSD đất

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý xác nhận quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước với người sử dụng đất Được cấp GCN là quyền đầu tiên của người sử dụng đất, là cơ sở để thực hiện các quyền khác của người sử dụng đất,

là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận QSD

Trang 38

đất cũng là điều kiện để giao dịch trên thị trường Từ điều 95 đến điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định chi tiết về đăng ký đất nông nghiệp và cấp GCNQSD đất

c) Quản lý, giám sát thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp

Đây là nội dung hết sức quan trọng, nó diễn ra thường xuyên, liên tục, phản ánh các sự vận động chủ yếu của các quan hệ về đất nông nghiệp trong thị trường

Để thực hiện nội dung này, trước hết phải ban hành hệ thống văn bản pháp quy về quyền hạn và trách nhiệm của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp, quy định các thủ tục hành chính về quản lý sử dụng đất và các chế tài

xử lý vi phạm

Trong nền kinh tế thị trường, khi Nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu đất nông nghiệp, có quyền đoạt đối với đất nông nghiệp, vừa là chủ thể sử dụng đất lớn nhất vừa là người quản lý giám sát việc sử dụng, nếu quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên không rõ ràng và không được luật hoá thì rất dễ nảy sinh bất bình đẳng đặc biệt là cán cân bất bình đẳng sẽ nghiêng về những người nông dân, khiến động lực sản xuất của họ mất dần và nguy cơ sụt giảm năng suất trong nông nghiệp là điều hoàn toàn có thể xảy ra

Quá trình đảm bảo thực thi các quyền của người sử dụng đất, Nhà nước nên giảm dần các biện pháp hành chính, thực hiện phân quyền gắn với phân cấp và uỷ quyền cho các cơ quan chuyên môn về một số nghiệp vụ cụ thể Cần có sự tham gia của các thành phần khác ngoài nhà nước trong một số công đoạn (xã hội hoá một số hoạt động quản lý)

Về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung và người sử dụng đất nông nghiệp nói riêng không chỉ được quy định trong Luật Đất đai mà còn được quy định trong các văn bản luật khác như Bộ Luật Dân sự, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản…

Trang 39

Luật Đất Đai năm 2013 đã có các quy định về quyền và nghĩa vụ chung cũng như quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của các nhóm đối tượng sử dụng đất, trong

đó có nhóm sử dụng đất nông nghiệp

Theo luật hiện hành, tuy giữa các nhóm đối tượng sử dụng đất khác nhau thì

có quyền và nghĩa vụ khác nhau, nhưng nhìn chung, người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau:

+ Người sử dụng đất có các quyền chung như: được cấp GCNQSD đất; được hưởng kết quả đầu tư trên đất; được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất của mình; được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành

vi vi phạm quyền sử dụng đất và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất nông nghiệp Ngoài ra, người sử dụng cũng có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

+ Về nghĩa vụ, người sử dụng đất có các nghĩa vụ: sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy địnhvề chế độ sử dụng đất và các quy định khác của pháp luật; đăng

ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi thực hiện các quyền của mình; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất, bảo vệ môi trường; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có liênquan;

d) Quản lý tài chính về đất nông nghiệp và thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp

- Quản lý tài chính về đất nông nghiệp:

Quản lý tài chính về đất nông nghiệp là việc sử dung hệ thống công cụ tài chính như giá đất, thuế, tiền thuê đất (địa tô)…, nhằm điều tiết các quan hệ về đất nông nghiệp để đạt mục tiêu trong quản lý

Quản lý tài chính về đất nông nghiệp là công cụ hết sức hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường, có tác dụng kích thích việc sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả Chính sách ưu đãi về thuế hay tiền thuê đất sẽ có tác dụng khuyến khích hay hạn

Trang 40

công cụ tài chính, nhà nước thực hiện nhiệm vụ điều tiết thu nhập và đảm bảo đời sống cho đại bộ phận dân cư đang sống bằng nghề nông

+ Giá đất, trong hệ thống tài chính về đất nông nghiệp, yếu tố cơ bản là giá đất, theo lý luận của Mác, giá đất là giá trị của địa tô trên tỷ suất lợi nhuận của sản xuất kinh doanh trên đất, giá đất phản ánh khả năng sinh lợi từ hoạt động kinh tế trên đất và nó quyết định giá cho cả những loại đất không có hoạt động kinh tế Trong thực tế, giá đất còn bị ảnh hưởng bởi sự kỳ vọng vào khả năng sinh lợi trong tương lai (cũng tương tự như giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán)

Đối với bất kỳ quốc gia nào cũng tồn tại hai hệ thống giá: một là giá do nhà nước quy định, dùng để điều chỉnh quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và người có quyền đối với đất (sở hữu đất); hai là giá hình thành trên thị trường trong mối quan

hệ về đất nông nghiệp giữa những người có quyền về đất nông nghiệp hoặc là giữa người có quyền về đất và người sử dụng đất, giá này phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường Một nền kinh tế ổn định, hai hệ thống giá này sẽ tương đương nhau và phản ánh chân thực giá đất Ngược lại, trong một nền kinh tế không ổn định, giá đất có xu hướng cao hơn giá trị thực của nó Nếu hai hệ thống giá trên chênh lệch nhau quá lớn sẽ tạo môi trường cho những tiêu cực trong quản lý và đầu

cơ trong sử dụng

Đối với nước ta, do đặc điểm sở hữu đất nông nghiệp nên giá đất thực chất là giá quyền sử dụng đất Hiện tại, hệ thống giá của chúng ta được xác định chủ yếu dựa trên mục đích sử dụng (khả năng sinh lợi hiện tại), ít phụ thuộc vào vị trí cũng như khả năng sinh lợi tiềm năng

Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm

2014 của Chính phủ quy định về giá đất; thông tư số: 36/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết về nguyên tắc, phương pháp xác định giá và khung giá các loại đất

- Thuế: Theo quan điểm kinh tế học hiện đại, thuế đất là khoản thuế của chính phủ đánh vào địa tô tức là đánh vào chủ sở hữu đất Nước ta, nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất nên thuế chỉ đánh vào một số đối tượng được hưởng các quyền

Ngày đăng: 03/09/2018, 15:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm