Trong khuyến cáo của Tổ chức lao động Quốc tế ILO và trong định nghĩa về HTX được coi là có giá trị nhất trên thế giới của Liên minh HTX quốc tế ICA trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 – NHỮNG ĐIỂM MỚI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN THANH OAI,
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 – NHỮNG ĐIỂM MỚI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI HUYỆN THANH OAI,
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đềtài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đềtài 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Phương pháp nghiêncứu 4
5 Kết cấu của luậnvăn 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC XÃ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003……… …….6
1.1 Khái quát về hợp tác xã 6
1.1.1 Bản chất và đặc điểm của hợp tác xã 6
1.1.2 Vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường……….14
1.2 Sự hình thành và phát triển hợp tác xã Việt Nam……… ………17
1.3.Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật hợp tác xã năm 2003………20
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1……….………27
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỢP XÃ NĂM 2012………….28
2.1 Về số lượng các điều luật……….28
2.2 Về bản chất hợp tác xã……….… 28
2.3 Về quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã và thành viên hợp tác xã………….…….38
2.4 Về thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh……….41
2.5 Về tổ chức và cơ chế quản lý hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã……… 43
2.6 Về một số quy định về tài chính của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã………… 44
2.7 Về chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp tác xã……….45
Trang 42.9 Về tổ chức đại diện hợp tác xã……….….48
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2……….49
Chương 3.THỰC TIỄN ÁP DỤNG LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012… 51
3.1 Vài nét khái quát quá trình phát triển hợp tác xã trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội………51
3.2 Thực tiễn áp dụng Luật hợp tác xã 2012 tại huyện Thanh Oai, TP Hà Nội…… 56
3.2.1 Thực tiễn áp dụng Luật hợp tác xã năm 2012 về thành lập, đăng kí kinh doanh hợp tác xã tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội……….56
3.2.2 Thực tiễn áp dụng Luật hợp tác xã năm 2012 về hoạt động của hợp tác xã tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội……….62
3.3 Đánh giá chung về thực tiễn áp dung Luật hợp tác xã năm 2012 tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội……… 64
3.3.1 Những thành tựu đạt được……… 64
3.3.2 Những hạn chế, bất cập……… 67
3.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, khó khăn……….69
3.4 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật hợp tác xã năm 2012……….70
3.4.1 Nhóm giải pháp chung………71
3.4.2 Nhóm giải pháp cụ thể………80
3.4.3 Kiến nghị nâng cao hiệu quả triển khai Luật hợp tác xã năm 2012………… 87
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3……… 88
KẾT LUẬN……….90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 91
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sự phát triển kinh tế là một yếu tố rất quan trọng trong việc phát triển xã hội,
nó quyết định sự bền vững và giàu mạnh của một quốc gia, sự tồn vong của nền chính trị Khi một quốc gia có một nền kinh tế phát triển mạnh thì sẽ thúc đẩy cả hệ thống chính trị phát triển Đối với Việt Nam của chúng ta, là một nước đang phát triển, bên cạnh đó xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, nên gặp rất nhiều khó khăn, chính vì lẽ đó việc phát triển kinh tế là không thể xem nhẹ
Trong khi đó, quá trình hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi Việt Nam phải có một nền kinh tế thị trường Cho nên, việc cấp thiết mà Nhà nước ta cần làm ngay là tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từng bước xóa bỏ độc quyền Nhà nước trên nhiều lĩnh vực, xây dựng một nền pháp lý minh bạch, hợp lý để từ đó tạo điều kiện cho
các nền kinh tế phát triển về quy mô, cũng như tiềm lực về tài chính “Nhà nước
thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng”. Chính vì vậy, hợp tác xã
sẽ đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế của đất nước
Qua nhiều năm đổi mới, mặc dù HTX có lúc gặp khó khăn, nhưng với sự quan tâm của đảng và Nhà nước, HTX dần lấy lại được vị thế của mình Tại Nghị quyết Đại hội IX, X về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 và nhiệm vụ
trọng tâm năm 2011 đã chỉ rõ “Kinh tế Nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng
trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân” và nêu rõ các hình thức tồn
tại của kinh tế tập thể, theo đó “Kinh tế tập thể phát triển với hình thức hợp tác đa
dạng, trong đó HTX là nòng cốt ” và “trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự
chủ của hộ gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và HTX cung cấp, dịch vụ, vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho nền kinh tế hộ gia đình và trang trại” Mới đây nhất tại Đại hội XI (2011) quyết định: “Đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể với
Trang 7những hình thức đa dạng mà nòng cốt là HTX ”, đã thông qua Nghị quyết về “Xây
dựng nông thôn mới” trong đó có nhấn mạnh vai trò to lớn của HTX trong việc thực hiện chủ trương này
Trước yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nhất là cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định, trong thời gian tới cần phát triển các hợp tác xã kiểu mới Đây là mô hình hợp tác xã hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012, bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu của hợp tác xã
Như vậy, có thể khẳng định rằng “Nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ bao cấp
hay đổi mới nói chung và nền nông nghiệp Việt Nam nói riêng thì HTX vẫn là nền tảng của nền kinh tế bền vững phát triển”. Do đó, để nhằm thúc đẩy mô hình HTX phát triển một cách tương xứng với vị trí, vai trò mà Đảng và Nhà nước định ra, nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành, trong đó, phải kể đến Luật HTX năm 1996, Luật HTX năm 2003 Tuy nhiên trong quá trình thực thi thì tồn tại những bất cập như nhận thức về bản chất và mô hình pháp lý HTX chưa thống nhất,
có nhiều cách hiểu khác nhau, dễ gây nhầm lẫn, thậm chí còn lệch lạc, bị nhầm lẫn với mô hình DN hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2014 hoặc bị coi là tổ chức
xã hội, từ thiện, thậm chí còn cho rằng HTX là cánh tay dài của chính quyền địa phương và nhà nước
Với mục đích tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của HTX, LH HTX một cách vững chắc trong bối cảnh kinh tế nước ta như hiện nay, Quốc hội đã thông qua Luật HTX năm 2012 nhằm khắc phục những vướng mắc, hạn chế của Luật HTX năm 2003 Luật mới này đã thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng về HTX, góp phần làm rõ và thống nhất nhận thức về bản chất tổ chức HTX, phù hợp với kinh nghiệm quốc tế phổ biến và xu hướng mới phát triển của HTX nước ta
Trong những năm qua, HTX nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận và những người hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật Tuy nhiên, từ
Trang 8khi luật HTX năm 2012 được thông qua, đối với những nghiên cứu về những điểm mới Luật HTX cũng chưa có nhiều công trình, đề tài, luận văn, luận án, chỉ có một
số báo cáo hoặc chuyên đề để phục vụ cho công tác giải trình những điểm mới của
luật Trong đó có thể kể đến: Chương trình 585 “Quy định tổ chức hoạt động của
HTX” – PGS TS Bùi Nghị - Vụ phó Vụ HTX, báo cáo tổng thuật hội thảo khoa học
“Về những điểm mới trong các đạo luật về kinh tế ban hành năm 2012” – Ths Bùi
Thị Thanh Thảo; Bộ kế hoạch và đầu tư – Vụ HTX, (2012), “Tư tưởng HTX kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, NXB Chính trị quốc gia Các báo cáo chuyên đề này chỉ dừng lại ở mục đích giải trình những điểm mới của luật, chưa đi sâu phân tích, làm nổi bật những điểm mới, tiến bộ, những ưu điểm, tính khả thi của Luật HTX năm 2012 so với luật HTX năm 2003
Xuất phát từ thực tế nói trên, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, để làm rõ hơn về những quan điểm mới cũng như những tiến bộ, những thuận lợi mà Luật HTX năm 2012 mang lại cho sự phát triển của HTX, LH HTX trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từ đó tạo cơ sở cho việc áp dụng những quy định của Luật vào thực tiễn có hiệu quả, với cách tiếp cận như trên, tác giả lựa
chọn đề tài “Luật hợp tác xã năm 2012 - Những điểm mới và thực tiễn áp dụng
tại huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội ” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn của
mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá những quy định mới của Luật HTX năm 2012, từ đó có được nhận thức đúng về bản chất HTX, LH HTX giúp người đọc phân biệt rõ HTX với các loại hình DN đang tồn tại trong nền kinh tế nước ta
để có được sự lựa chọn đầu tư phù hợp với nhu cầu của mình
Tìm hiểu thực tiễn áp thực hiện Luật HTX năm 2012 trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Đồng thời đưa ra giải pháp và phương hướng nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện Luật HTX năm 2012
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 9Thứ nhất, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về HTX như khái niệm, bản chất, nguyên tắc hoạt động và tổ chức HTX, sự khác biệt giữa HTX và doanh
cập của Luật HTX 2003 tạo đà cho sự phát triển của HTX
Thứ tư,Chỉ ra thực tiễn áp dụng Luật HTX năm 2012 tại địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội qua đóđề xuất các định hướng và giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả của Luật HTX năm 2012, đảm bảo phù hợp với đặc thù của Việt Nam
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phân tích làm nổi bật những điểm mới tiến bộ, những ưu điểm, tính khả thi của Luật HTX năm 2012 so với Luật HTX năm
2003 và thực tiễn áp dụng tại huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về HTX, LH HTX, những chủ trương, chính sách của Đảng về việc phát triển HTX, LH HTX và đặc biệt là phân tích, đánh giá những quy định mới trong Luật HTX năm 2012 so với Luật HTX năm 2003, qua đó làm nổi bản chất đặc thù riêng có của HTX, LH HTX
và những chính sách ưu đãi mới nhà nước dành riêng cho HTX Thông qua việc tìm hiểu thực tiễn thành lập, hoạt động của HTX trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, tác giả chỉ rõ những hạn chế, bất cập giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng Đồng thời đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả Luật HTX năm
2012
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp mô tả, tổng hợp, thống kê được sử dụng để phác họa nội dung
của các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến Luật HTX
Trang 10- Phương pháp khảo sát thu thập thông tin số liệu, phương pháp phân tích, đánh giá so sánh để đưa ra những đánh giá trung thực và chính sách nhất đối với các
quy định mới của Luật nhằm phục vụ cho việc hoàn thành Luận văn
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính
của Luận văn được cơ cấu thành ba chương với các nội dung cụ thể sau:
Chương 1: Khái quát về hợp tác xã và sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật hợp tác xã năm2003
Chương 2: Những điểm mới của Luật hợp tác xã năm 2012
Chương 3: Thực tiễn áp dụng Luật hợp tác xã năm 2012 trên địa bàn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi Luật hợp tác xã năm 2012
Trang 11Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC XÃ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI SỬA
ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2003
Có một sự ngộ nhận khá phổ biến giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, nhất là với công ty cổ phần Điều này tác động đến nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ của xã viên, về cách tổ chức quản lý, tài chính, tài sản và phân phối trong hợp tác xã
Hợp tác xã không phải là tổ chức xã hội, càng không phải tổ chức từ thiện,
mà là tổ chức kinh tế “đặc biệt” thúc đẩy sự hợp tác trong cộng đồng thành viên nhằm đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu kinh tế và nhu cầu xã hội cho xã viên Vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay là nhận thức đúng bản chất hợp tác xã, định hình chuẩn về khuôn khổ pháp luật để làm điểm tựa cho hợp tác xã phát triển Có như vậy hợp tác xã nói riêng, và phong trào hợp tác xã nói chung mới phát triển bền vững, tiến kịp đà đổi mới, đóng góp ngày càng quan trọng và tích cực cho phát triển
kinh tế - xã hội đất nước Vậy bản chất của hợp tác xã là gì?
Bản chất HTX và nhận thức đúng đắn về nó là vấn đề đặc biệt quan trọng Bởi lẽ, nếu như nhận thức về bản chất HTX còn chưa rõ ràng, chưa thống nhất, còn mang tính chủ quan duy ý chí, áp đặt sẽ làm cho HTX trở nên hình thức, phát triển không bền vững, sẽ làm mất đi vai trò kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà HTX mang lại đối với nền kinh tế thị trường Hơn nữa, bản chất của HTX còn là yếu tố quyết định các vấn đề quan trọng khác liên quan đến HTX như quyền, nghĩa vụ của thành viên, quyền và nghĩa vụ của HTX, cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý HTX, xử
lý tài sản khi giải thể HTX… Do đó, việc làm rõ bản chất HTX còn là cơ sở để Nhà
Trang 12nước hoàn chỉnh khuôn khổ pháp luật, ban hành các chính sách ưu đãi, hỗ trợ có tính chất đặc thù cho HTX
Ngày nay, trên thế giới, bản chất HTX được thể hiện khá sinh động tại nhiều các văn bản có giá trị pháp lý cao Trong khuyến cáo của Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) và trong định nghĩa về HTX được coi là có giá trị nhất trên thế giới của Liên minh HTX quốc tế (ICA) trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển HTX trên thế
giới gần 200 năm qua thì: “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của các cá
nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung
và được kiểm soát một cách có dân chủ”
Còn tại Việt Nam, về mặt lý luận, tư tưởng Hồ Chí Minh (Người đưa HTX vào Việt Nam trên cơ sở vận dụng tổng hợp HTX trên thế giới) về HTX rất đơn giản nhưng phản ánh toàn diện bản chất, với các cụm từ: “Nhóm lại thành giàu, chia
nhau thành khó”, “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây chụm lại nên hòn núi
cao”, “Hợp tác xã là góp gạo thổi cơm chung”“cho khỏi hao của, tốn công, lại có phần vui vẻ” 1 Do đó, mục đích chính của xã viên khi thành lập HTX là để thỏa mãn nhu cầu chung, vì lợi ích mà không phải vì lợi nhuận
Bản chất đặc thù này cũng được thể hiện rõ nét tại Điều 3 Luật HTX 2012, theo đó, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tập thể, do các thành viên tự nguyện thành lập, với mục đích là phục vụ cho chính mình mà không phải phục vụ cho lợi ích đại chúng
Như vậy, xét cho cùng hạt nhân của bản chất HTX được thể hiện thông qua đặc điểm: Tính tự nguyện, thành lập trên cơ sở nhu cầu và nguyện vọng chung và tính xã hội sâu sắc
(1) Thành viên thành lập và tham gia HTX trên tinh thần tự nguyện
Xuất phát từ định nghĩa mang tính phổ biến trên thế giới và đã được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và liên minh HTX Quốc tế khuyến cáo chính thức thì nguyên tắc đầu tiên để lập ra HTX là tham gia tự nguyện Có nghĩa là việc gia nhập
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, t.2, Tr342-347
Trang 13hay rút khỏi HTX phải xuất phát từ nguyện vọng của cá nhân thành viên Người tham gia HTX sẵn sàng, tự nguyện chấp nhận các nghĩa vụ, trách nhiệm bản thân, đồng thời họ cũng không có sự phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo, bên cạnh đó, nếu xét thấy HTX không mang lại lợi ích cho mình cũng có quyền ra khỏi HTX theo quy định Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế khách quan, nếu bắt buộc phải làm việc trong HTX và tập đoàn sản xuất, các thành viên sẽ không có hứng thú, không đồng lòng vì hoạt động của HTX, thái độ làm việc không tích cực, làm chống đối và do vậy hậu quả tất yếu sẽ xảy ra là hoạt động của HTX bị đình trệ, yếu kém, nghèo nàn, thậm chí là bị giải thể
(2) HTX được thành lập trên cơ sở nhu cầu và nguyện vọng chung
Thông qua HTX, thành viên được đáp ứng nhu cầu với chi phí rẻ, chất lượng tốt và bảo đảm độ tin cậy, phương án sản xuất, kinh doanh của HTX là phương án
tổ chức hoạt động đã được bàn bạc dân chủ và đưa vào điều lệ, HTX đăng ký kinh doanh những ngành nghề tạo sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu chung của thành viên chứ không phải ngành nghề đáp ứng nhu cầu thị trường
Mặc dù, HTX được thành lập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của các thành viên nhằm phục vụ chính những người đã sáng lập nên nhưng điều đó không có nghĩa rằng HTX là tổ chức từ thiện, xã hội Nếu như tổ chức từ thiện đáp ứng nhu cầu chung của thành viên dưới hình thức trợ cấp, được thành lập nhằm đảm bảo quyền lợi chung của thành viên, không độc lập về tài chính mà phải dựa vào sự đóng góp của hội viên, mang tính chất hội, hiệp hội, thì HTX lại là tổ chức kinh tế đặc biệt thúc đẩy hợp tác nhằm đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu trong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của thành viên Nét đặc trưng này cũng đã được khắc họa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX Theo Người thì trước hết HTX được lập ra vì lợi ích chung, vì nguyện vọng chung, hoạt động cũng dựa trên nguyên tắc đó, đồng thời cá xã viên giúp đỡ nhau hoạt động sản xuất nhưng giúp đỡ
ở đây không có nghĩa là bố thí, là cho không mà phải có sự lao động, ai cũng được giúp nhau công bằng
Trang 14Nếu HTX rời rạc, thiếu sự hợp tác, thiếu sự liên kết, hoạt động không đúng với mục tiêu đích thực thì vấn đề tiêu vong là tất yếu Vì vậy, chúng chỉ thực sự là HTX đúng nghĩa khi có sự liên kết với nhau trên cơ sở đáp ứng lợi ích chung của các thành viên HTX Nói tóm lại, nhu cầu nguyện vọng chung chính là yếu tố hàng đầu, gắn kết giữa các cá nhân, tổ chức lại với nhau thành HTX, quyết định sự ra đời
và tồn vong của tổ chức này Đây chính là một trong ba đặc trưng của bản chất HTX
Thành viên HTX còn là người hưởng lợi của HTX vì HTX hoạt động trước hết nhằm phục vụ tốt nhất nhu cầu của thành viên, coi thành viên là người tiêu dùng đầu tiên và quan trọng nhất Vì vậy khoản thu nhập còn lại sau khi thực hiện xong các nghĩa vụ được chia theo mức độ sử dụng sản phẩm và dịch vụ Đây chính là đặc điểm giúp phân biệt giữa HTX với DN trong nền kinh tế thị trường hiện nay
Từ những kinh nghiệm thành công trong và ngoài nước, chúng ta có thể tin tưởng một cách chắc chắn rằng hợp tác xã có thể hoạt động tốt như bất kỳ doanh
Trang 15nghiệp nào Thậm chí hợp tác xã có thể hoạt động tốt hơn doanh nghiệp, nếu chúng
ta am hiểu bản chất của hợp tác xã, biết cách sử dụng và khai thác công cụ tập thể độc đáo này - một công cụ vừa mang tính chất của một doanh nghiệp kinh doanh, vừa mang tính chất của một hiệp hội dân chủ Đây là công cụ hữu hiệu nhất giúp HTX nâng cao sức cạnh tranh và phát triển
1.1.1.2 Đặc điểm của hợp tác xã
Thứ nhất, về góc độ kinh tế, tại khoản 1 Điều 3 Luật HTX năm 2012 quy định
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít
nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành
viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”
Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế cơ bản và quan trọng nhất của thành phần kinh tế tập thể, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuộc các thành phần kinh tế, không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn từ đó mới phát sinh các quan hệ tổ chức quản lí và quan hệ phân phối tương ứng Trong hợp tác xã có sự phối hợp, hỗ trọ giúp đỡ lẫn nhau để kêt hợp sức mạnh của tập thể giải quyết tốt hơn những vấn đề sản xuất kinh doanh cũng như đời sống kinh tế và mục tiêu xa hơn nữa là nâng cao hiệu quả hoạt động và lợi ích của mỗi thành viên
Thứ hai, về góc độ xã hội, HTX mang tính xã hội thể hiện tính nhân văn vì
mục tiêu đầu tiên là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của các xã viên về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng thêm lợi ích cho họ, trong đó có cả lợi ích về xã hội Các thành viên không thể tự mình làm hoặc làm không có hiệu quả, tuy nhiên nhờ tham gia và HTX mà họ khắc phục được những hạn chế, nhược điểm của mình
và tạo ra được những lợi ích nhằm phục vụ cho chính bản thân họ một cách tốt nhất HTX tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ, liên kết với nhau tạo ra sức mạnh tập thể đủ sức canh tranh trên thị trường với chủ thể kinh doanh khác, tạo khả năng và đà phát triển cho loại hình sản xuất nhỏ, góp phần đưa
Trang 16hợp tác trở thành giá trị văn hóa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, và đồng thời nhờ đó mà rút ngắn sự phân biệt giàu nghèo, giữa thành thị và nông thôn, phân biệt văn hóa xã hội giữa đô thị và miền quê, từ đó cải thiện an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Tạo sự gắn kết về tình cảm cũng như về mặt vật chất giữa các thành
viên Khoản 6, 7 Điều 7 cũng khẳng định “Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã quan
tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, hợp tác xã thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã chăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế”
Như vậy, tính xã hội của hợp tác xã thể hiện ở việc hợp tác xã không chỉ quan tâm đến mục tiêu kinh tế mà còn chú trọng đến lợi ích, điều kiện sống của các thành viên Điều đó thể hiện trong toàn bộ nguyên tắc tổ chức, hoạt động của mình Với việc tạo điều kiện cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ không những có thể trụ vững trong thị tường cạnh tranh mà còn đẩy mạnh sự phát triển, xóa bớt một số gánh nặng về thất nghiệp, chất lượng cuộc sống cho xã hội Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, do những người lao động thành lập ra để cùng nhau thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh Trong hợp tác xã, những người lao động cùng nhau thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng người, làm cho hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Thứ ba, về góc độ pháp lí, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp
nhân Về tổ chức, hợp tác xã bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người nhiều vốn
và người ít vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lí dân chủ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế được thành lập theo thủ tục pháp lí nhất định, có đăng kí kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản tách biệt so với tài sản của các xã viên, có thẩm quyền nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật
Trang 17Pháp luật quy định khá chặt chẽ giữa các thành viên khi tham gia hợp tác xã Mối quan hệ giữa các thành viên được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau và cùng hưởng lợi Các thành viên cùng sản xuất, cùng
kinh doanh, cùng làm các dịch vụ và phân phối lợi nhận theo nguyên tắc “lời ăn, lỗ
chịu” Các thành viên trong hợp tác xã được Nhà nước đảm bảo quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhưng pháp luật cũng yêu cầu họ phải tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình
Thứ tư, về tổ chức quản lí, hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự
chịu trách nhiệm Hợp tác xã hoạt động lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm lợi ích của các thành viên hợp tác xã và lợi ích của tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên Hợp tác xã luôn tôn trọng quyền độc lập, tự chủ kinh tế của thành viên hợp tác xã Sự hình thành và phát triển của hợp tác xã không phá vỡ tính độc lập, tự chủ về kinh tế của các thành viên hợp tác xã Khi thành viên hợp tác xã
là một hộ gia đình hay thậm chí là một tổ chức, pháp nhân thì khi trở thành thành viên của hợp tác xã sẽ phải thực hiện những quy định trong điều lệ hợp tác xã và hợp tác xã không có bất kì sự can thiệp nào ngoài những quy định trong điều lệ của mình
Thứ năm, về phân phối, kinh tế hợp tác xã thực hiện phân phối theo lao động,
theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ Hợp tác xã được coi là tổ chức kinh tế hoạt động như doanh nghiệp Hợp tác xã được quyết định không phải bởi số vốn góp mà là yếu tố thành viên của hợp tác xã Việc phân phối trong hợp tác xã không chỉ dựa theo nguyên tắc vốn góp mà còn theo lao động và tùy thuộc mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã
1.1.1.3 Phân biệt hợp tác xã với doanh nghiệp
* Xét về lập pháp
Việc tồn tại một cách riêng biệt hai hệ thống pháp luật về DN và HTX là một căn cứ về lập pháp cho thấy không thể coi HTX là một loại hình DN theo đúng nghĩa của nó Nếu như HTX là DN thì không cần phải xây dựng Luật HTX Sự
Trang 18phân biệt còn thể hiện rõ ở chỗ, trong các luật có liên quan đều tách riêng khái niệm
DN và HTX
* Xét về các đặc điểm của DN và HTX
Một là: Về lý do ra đời: Nếu như DN ra đời là vì thị trường, phục vụ nhu cầu đại chúng, tức là vì nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng trong xã hội thì lý do HTX được hình thành trước tiên là vì nhu cầu, nguyên vọng, lợi ích chung của một nhóm người nhất định - Những người đã thành lập ra HTX
Hai là: Về mục đích hoạt động: Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa HTX
và DN là một bên vì lợi nhuận, tìm kiếm giá trị thặng dư, còn một bên lại hoạt động
là để trợ giúp, phục vụ cho các xã viên vì thế không thể và không nên đồng nhất HTX và DN khẳng định mục đích của hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức doanh nghiệp là cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường đại chúng nhằm tối đa hóa lợi nhuận của DN, mục tiêu của các thành viên góp vốn vào DN là để được chia lợi nhuận tối đa theo tỷ lệ vốn góp của mình
Trong khi đó, HTX chú trọng đến con người chứ không phải là yếu tố vốn như trong công ty, không thuần túy là thu lợi trên lãi vốn góp như DN Hoạt động của HTX có thể đem lại lợi nhuận nhưng đó chỉ là phương tiện để HTX có thể thực hiện được mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho thành viên Bên cạnh đó, HTX còn có mục tiêu cao cả khác mà DN không có được, đó là sự tương trợ, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, quan tâm đến cộng đồng
Ba là: Về tư cách pháp lý của thành viên: Thành viên thành lập DN chỉ có một
tư cách duy nhất là đồng sở hữu DN Với HTX, các thành viên luôn có hai tư cách vừa là đồng sở hữu, lại vừa là khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX hoặc
là người lao động
Bốn là: Quan hệ kinh tế: Nếu như các thành viên HTX vừa phải cam kết góp vốn, vừa phải cam kết sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX hoặc là người lao động trong HTX thì thành viên DN, ngoài việc góp vốn, không có ràng buộc khác về kinh
tế của DN
Trang 19Điều này thể hiện rằng, HTX có sự khác biệt DN ở chỗ: HTX luôn có khách hàng, trước khi thành lập đã có khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm (các thành viên HTX), trong khi đó DN phải tìm khách hàng trên thị trường
Năm là: Về cơ chế quản lý: Nếu như trong DN, quyền lực được phân bổ cho các thành viên theo tỷ lệ góp vốn, thì trong HTX nguyên tắc biểu quyết công bằng
là nguyên tắc đặc thù chỉ có ở trong tổ chức và hoạt động HTX, tất cả các thành viên đều có quyền ngang nhau mà không phụ thuộc vào số lượng vốn họ đã góp vào HTX Tóm lại, nguyên tắc bình đẳng trong quản lý luôn là đặc điểm nổi trội, làm cho HTX khác biệt với DN
Sáu là: Về nguyên tắc phân phối: Nếu như trong DN, lợi nhuận thu được được phân chia cho các thành viên chủ yếu theo tỷ lệ vốn góp thì trong HTX lại áp dụng nguyên tắc phân chia thu nhập chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm và dịch vụ của HTX Ngoài ra, tài sản không chia là một đặc trưng chỉ có ở HTX, là cơ sở nền tảng gắn kết thành viên với nhau và với HTX, tạo điều kiện cho HTX phát triển bền vững với mục đích phục vụ cộng đồng thành viên trong hiện tại và tương lai mà DN không thể có được Tài sản này thuộc quyền sở hữu của cộng đồng thành viên, không được chia còn trong DN thì không tồn tại loại tài sản này
1.1.2 Vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường
* Đối với các thành viên
Vì mô hình HTX xuất phát và hình thành hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên nên HTX là tổ chức liên kết hợp tác của bản thân các thành viên Các thành viên giúp đỡ lẫn nhau thông qua việc hợp tác này Thông qua HTX mà các thành viên có thể tương trợ, giúp đỡ được cho nhau Nếu các thành viên có điều kiện tiếp cận với các loại thị trường (thị trường nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, thị trường dịch vụ, sản phẩm đầu ra) nhờ có
mô hình kinh tế HTX, các thành viên đã có điều kiện tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ của thị trường tín dụng, ngân hàng Điều mà họ do địa bàn sinh sống bất lợi, tài sản nghèo nàn v.v hầu như không bao giờ có được nếu chỉ trông chờ vào Nhà nước hay sự hỗ trợ khác mà không tự tổ chức lấy cho mình những tổ chức kinh tế
Trang 20hợp tác Như vậy các thành viên sẽ được hưởng các sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức tín dụng hợp tác của họ tạo ra và cung cấp một cách kịp thời, thuận tiện với một mức giá cả chấp nhận được với tư cách là khách hàng Thành viên cũng sẽ được tư vấn, cung cấp thông tin, trao đổi kinh nghiệm thông qua HTX vì đó cũng thường là nơi tập hợp kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm làm ăn của cả địa phương
Họ sẽ tự tạo ra được công ăn việc làm cho bản thân và có thể còn cho cả địa phương nữa Họ cũng được hưởng những quyền lợi từ HTX với tư cách là chủ sở hữu như được chia lợi nhuận, được quyền tham gia biểu quyết, quyết định các chính sách kinh doanh của HTX thông qua các bộ máy, cơ quan lãnh đạo để HTX ngày càng phục vụ họ đắc lực và tốt hơn Qua sự hỗ trợ này mà các hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh của các thành viên đã được hỗ trợ thiết thực, cuộc sống của họ được cải thiện rõ rệt và có những tích luỹ Trước đây, khi chưa có mô hình này, nếu
từ hoạt động kinh tế của bản thân, họ không thể tạo ra lợi nhuận hoặc chỉ tạo ra ít lợi nhuận thì nay, trong sự hợp tác, họ được hỗ trợ và có điều kiện tạo ra nhiều lợi nhuận hơn Đó chính là ý nghĩa to lớn của mô hình kinh tế hợp tác xã Các HTX chính vì thế có vai trò bảo đảm và duy trì sự độc lập về kinh tế của các thành viên
* Đối với địa phương
Mô hình HTX ra đời sẽ cung cấp các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho dân cư trên địa bàn hoạt động Bất kể người dân nào cũng sẽ được hưởng các sản phẩm, dịch vụ của HTX với tư cách là khách hàng Qua hoạt động của HTX, ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân được nâng cao Những đồng vốn nhàn rỗi được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển, giảm sự lãng phí tài nguyên cũng như tạo ra sự phồn vinh cho xã hội HTX vừa là người quản lý tài sản của thành viên, dân cư, vừa là nhà đầu tư trên địa bàn Đó cũng là nơi học nghề cho nhiều người Trình độ và nhận thức của người dân trên địa bàn cũng sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tư vấn, thông tin của bản thân HTX, góp phần nâng cao trình độ dân trí tại địa phương Khi địa phương có HTX hoạt động, nạn cho vay nặng lãi bị đẩy lùi tiến tới xoá sổ Những ý nghĩa về xã hội như góp phần xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ địa phương chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, vật nuôi, cây
Trang 21trồng… cũng là những đóng góp rất tích cực HTX đóng góp một cách đáng kể các khoản thuế hàng năm cho ngân sách địa phương Các HTX sẽ là những tổ chức hoạt động tại địa phương, bám sát địa bàn, tham gia vào các chương trình phát triển kinh
tế ở địa phương, hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Như vậy, HTX là một yếu tố kinh tế quan trọng ở địa phương, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân đem lại ổn định trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế
* Đối với Nhà nước
Xét trên góc độ Nhà nước, hoạt động của những HTX sẽ bổ sung cho những
nỗ lực vĩ mô của Nhà nước như cung cấp vốn cho người nghèo, nông thôn, nông nghiệp, thực hiện các mục tiêu xã hội lớn như tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, ổn định tình hình trật tự kinh tế, chính trị, xã hội… ở những nơi, lĩnh vực mà nhiều khi Nhà nước không có khả năng hay hoạt động không hiệu quả Mô hình HTX thể hiện rõ tinh thần phát huy nội lực của người dân để tự giải quyết các khó khăn, vướng mắc của chính bản thân Mô hình HTX cũng góp phần thực hiện các chương trình tiết kiệm, huy động tiềm năng trong nhân dân của Nhà nước phục vụ cho đầu tư, hay tránh lãng phí tài nguyên, nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân Mô hình HTX vì vậy có thể xem là mô hình “bộ đội địa phương” tại chỗ, kết hợp với các tổ chức tín dụng – “bộ đội chủ lực” – nhằm thông qua dịch vụ tín dụng, ngân hàng đánh bại giặc đói, giặc nghèo để phát triển kinh tế
Mặc dù có vai trò to lớn đối với Nhà nước, song các HTX không phải là công
cụ của Nhà nước và lại càng không có nhiệm vụ công ích Nó đơn thuần chỉ là một
tổ chức kinh tế tự trợ giúp của các thành viên, là công cụ và phương tiện của các thành viên và hoạt động chỉ vì lợi ích của các thành viên Tuy nhiên, trong quá trình theo đuổi tạo ra lợi ích cho các thành viên thì nó cũng trực tiếp hay gián tiếp tạo ra những lợi ích xã hội khác kèm theo mà Nhà nước rất mong muốn nhưng đó chỉ là những lợi ích hệ quả Xét về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn, việc tạo ra các lợi ích
xã hội này không phải và cũng không thể là nhiệm vụ của các HTX Việc lạm dụng
Trang 22các HTX để bắt chúng thực hiện các mục tiêu xã hội hay của Nhà nước là không hợp lệ Điều này sẽ dẫn tới việc bóp méo hoạt động của các HTX, ảnh hưởng tới lợi ích của các thành viên khiến cho HTX bị què quặt không phát triển bền vững được theo đúng khả năng vốn có của nó Đối với Nhà nước, HTX là chỉ một tổ chức kinh
tế dân chủ của người dân, một phương tiện để phát huy nội lực tiềm năng trong nhân dân của các thành viên góp phần phục vụ cho phát triển kinh tế, đặc biệt ở các vùng mà Nhà nước chưa có điều kiện hay khả năng để vươn tới một cách đầy đủ trọn vẹn để hỗ trợ phát triển Nó bổ sung rất tốt cho những nỗ lực phát triển kinh tế của Nhà nước ở các vùng, đặc biệt các vùng nông nghiệp, nông thôn với điều kiện
cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn và nhu cầu về vốn để đầu tư, phát triển sản xuất cao
1.2 Sự hình thành và phát triển hợp tác xã ở Việt Nam
Ở Việt Nam, kinh tế hợp tác, hợp tác xã chính thức được Đảng và Nhà nước quan tâm và phát triển từ rất sớm Bắt đầu phát triển từ khi đất nước được giành độc lập (1945), đưa nhân dân ta thoát khỏi cảnh áp bức, nô lệ của thực dân đế quốc Tuy nhiên, tùy thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển phong trào kinh tế hợp tác xã được hình thành và phát triển có khác nhau Quá trình hình thành và phát triển kinh tế hợp tác xã ở nước ta có thể sơ lược như sau 2:
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1954 đến trước khi có Luật hợp tác xã năm 1996
- Đặc điểm chung:
+ Thấy rõ được hai xu hướng: Sự giảm sút nhanh đi đến kết thúc sớm của mô hình tổ đổi công và các hình thức hợp tác tự phát của dân, các HTX được thành lập theo quyết định hành chính phát triển nhanh chóng
+ Giai đoạn này chưa có Luật HTX vì vậy tổ chức và quản lý HTX còn mang nặng tính áp đặt cao chịu sự điều chỉnh của Nhà nước theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Do đó, HTX tuy phát triển về mặt số lượng và quy mô, nhưng không
2Liên minh hợp tác xã Việt Nam, Một số vấn đề cơ bản về hợp tác xã, NXB
Lao động - xã hội, Hà Nội, 2004, tr.9-23
Trang 23phản ánh được bản chất của HTX, lúc này HTX vừa là tổ chức kinh tế vừa là tổ chức xã hội
+ Từ sau năm 1990, phong trào HTX bắt đầu thoái trào trong bối cảnh nhà nước chuyển đổi từ nền kinh tế hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Vai trò tự chủ của nền kinh tế hộ gia đình được khẳng định, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển và doanh nghiệp nhà nước được đổi mới
- Pháp luật và chính sách phát triển kinh tế hợp tác xã:
+ Nghị quyết của Quốc hội ngày 27/5/1959 về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp
là văn bản pháp lý cao nhất đối với khu vực HTX nông nghiệp ở miền bắc và đối với cả nước từ năm 1975
+ Ngày 31/8/1981, Ban bí thư TW đã ban hành Chỉ thị số 100-CT/TW về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập cho xã viên Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện bộc lộ những yếu kém, thu nhập của hộ nông dân từ kinh tế tập thể vẫn thấp, lợi ích của người lao động bị vi phạm
+ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã khẳng định sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, lúc này HTX kiểu
cũ đã không còn phù hợp, đi đến tan rã hoặc phải chuyển đổi
+ Năm 1988, Bộ Chính trị (khóa IV) đã ban hành Nghị quyết số 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp và Nghị quyết 16 về phát triển kinh tế khu vực ngoài quốc doanh làm cho HTX thủ công nghiệp chưa kịp thích nghi với thị trường đã thực sự gặp khó khăn Đến năm 1990, Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân được ban hành và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1994 tạo môi trường pháp lý cho các khu vực kinh tế dân doanh phát triển Đây là thời kỳ khó khăn nhất trong quá trình phát triển HTX ở nước ra, HTX không còn được coi là một trong hai thành phần kinh tế độc tôn như trước
1.2.2 Giai đoạn sau khi có Luật hợp tác xã năm 1996, 2003, 2012
- Đặc điểm chung
Trang 24+ Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn chỉnh gồm: Luật HTX năm 1996, 2003,
2012 tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của HTX trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
+ Các HTX hoạt động theo đúng bản chất ngày càng tăng về số lượng: HTX mới được thành lập, HTX cũ được chuyển đổi theo Luật HTX trên cơ sở tự nguyện,
tự chủ của xã viên, vì lợi ích chung của các thành viên
- Pháp luật và chính sách phát triển kinh tế hợp tác xã:
+ Ngày 20/3/1996, Luật HTX lần đầu tiên được thông qua Ngày 21/2/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/NĐ-CP về chính sách khuyến khích phát triển HTX giúp các HTX cũ chuyển đổi hoặc giải thể, tạo điều kiện cho nhiều HTX mới ra đời Tuy nhiên trong quá trình thự hiện xuất hiện những khiếm khuyết cơ bản như thủ tục đăng ký kinh doanh còn khó khăn, đối tượng bị hạn chế…
+ Ngày 18/3/2003, Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V khóa IX ra Nghị quyết số 13 về tiếp tục đổi mới, phát triển nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể Sau hơn một năm triển khai đã có hơn 100.000 tổ hợp tác và hơn 1.000 HTX mới ra đời bắt đầu chuyển đổi HTX kiểu cũ sang mô hình HTX kiểu mới (mang nặng tính
tự chủ, thị trường) 3
+ Trên cơ sở Nghị quyết số 13 của Ban chấp hành TW Đảng, Luật HTX 2003 được thông qua khắc phục những hạn chế của Luật HTX 1996, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của HTX Bên cạnh đó còn có một số Nghị định của Chính phủ về HTX cũng được ban hành như Nghị định số số 177/NĐ-CP ngày 12/10/2004 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HTX 2003 và Nghị định
số 87/NĐ-CP ngày 11/7/2005 về đăng ký kinh doanh HTX
+ Sau hơn 10 năm thi hành Luật HTX 2003 đã nổi cộm lên những vấn đề bất cập phải sửa đổi, do đó Luật HTX năm 2012 ra đời thay thế tạo nên một hành lang pháp lý thuận lợi hơn cho sự phát triển của HTX Đồng thời Nghị định số 193/NĐ-
CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ về hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật HTX được ban hành
3 Dự án AID-Coop (2009, tr.10)
Trang 251.3 Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật hợp tác xã năm 2003
1.3.1 Những thành công và hạn chế chủ yếu của Luật hợp tác xã năm 2003
* Thành công của Luật HTX năm 2003
Luật Hợp tác xã năm 2003 đã đạt được một số kết quả, tạo thuận lợi hơn cho các tổ chức kinh tế tập thể phát triển so với khung pháp luật thời kỳ trước đây, có đóng góp đáng kể trong việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã, góp phần vào việc hoàn thiện quan hệ sản xuất, và vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước cụ thể:
Một là: Thúc đẩy việc tổ chức lại và khuyến khích thành lập mới hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tiếp tục đơn giản hoá và minh bạch hoá thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Theo báo cáo của Liên minh HTX Việt Nam, tính đến năm 2011, cả nước có khoảng 19.500 HTX (bao gồm cả HTX không hoạt động), tăng 610 HTX so với năm 2010 Tổ hợp tác phát triển rất nhanh và đa dạng Năm 2010 có 155.817 tổ hợp tác, tăng trung bình khoảng 3,3%/năm giai đoạn 2006-2010 4
Hai là: Tạo điều kiện cho hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được hình thành dựa trên sở hữu của xã viên và sở hữu tập thể, thúc đẩy xã viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cùng góp vốn, góp sức, cùng có lợi; khẳng định nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; phân định rõ hơn chức năng quản lý của ban quản trị và chức năng điều hành của chủ nhiệm hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; khẳng định sự bình đẳng của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác
Ba là: Quy định cụ thể hơn về các chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phù hợp với các luật chuyên ngành hiện hành; tăng cường chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã như: hỗ trợ sáng lập viên chuẩn bị thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hỗ trợ ứng dụng đổi mới công nghệ, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng và ưu đãi đầu tư
4 Báo cáo tổng kết thi hành Luật HTX 2003, kèm theo Tờ trình số 99/TTr-CP, ngày 3/5/2012 của Chính phủ (2012,tr3)
Trang 26* Hạn chế của Luật HTX năm 2003
Tuy nhiên, Luật hợp tác xã năm 2003 cũng bộc lộ nhiều hạn chế như:
Một là: Luật chưa thể hiện rõ bản chất tổ chức hợp tác xã, sự khác biệt về bản chất giữa tổ chức hợp tác xã với doanh nghiệp và với tổ chức xã hội - từ thiện; chưa quan tâm thích đáng nội hàm “hợp tác” của tổ chức hợp tác xã; chưa làm thật rõ lợi ích và vai trò người chủ của xã viên khi tham gia hợp tác xã, mục tiêu của hợp tác
xã và mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích của xã viên với hợp tác xã Chưa làm rõ sự khác biệt giữa mục tiêu lợi ích của hợp tác xã và mục tiêu lợi nhuận của DN
- Về bản chất tổ chức hợp tác xã:
+ Về mục tiêu của hợp tác xã và lợi ích của xã viên:Luật Hợp tác xã năm 2003 chưa quy định thật rõ hợp tác xã phải lấy lợi ích của xã viên là mục tiêu cho hoạt động và phát triển của hợp tác xã, chưa thể hiện thật rõ lợi ích của xã viên khi tham gia hợp tác xã là nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh tế của mình thông qua cung ứng vật tư, dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm chung hoặc tạo việc làm có hiệu quả hơn so với xã viên đơn lẻ tự thực hiện hoặc không thực hiện được; vai trò người chủ của xã viên trong việc quyết định các vấn đề cơ bản của hợp tác xã, như: Xác định mục tiêu, tổ chức hoạt động, quản lý và điều hành hoạt động của hợp tác xã còn mờ nhạt
+ Về mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm của xã viên với hợp tác xã: Quy định của Luật Hợp tác xã năm 2003 về việc xã viên “cùng góp vốn, góp sức” là chưa rõ ràng, có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau:
Thứ nhất, các xã viên chỉ “góp vốn” mà không “góp sức“ - khi đó hợp tác xã trở thành doanh nghiệp và xã viên thực chất chỉ là người góp vốn, cổ đông của doanh nghiệp, được chia lãi theo vốn góp
Thứ hai, các xã viên chỉ “góp sức” mà không “góp vốn” - khi đó xã viên về thực chất chỉ là người lao động làm thuê trong hợp tác xã, tương tự như người lao động trong doanh nghiệp nếu được trả lương; hoặc là hoạt động từ thiện cho tổ chức hợp tác xã nếu tự nguyện và không được trả lương
Trang 27Với hai cách hiểu nêu trên, quy định pháp luật về hợp tác xã hiện hành chưa làm rõ được bản chất của tổ chức hợp tác xã, dẫn đến cách hiểu phổ biến hiện nay:
Tổ chức hợp tác xã là doanh nghiệp (hoạt động theo Luật doanh nghiệp)
Thứ ba, các xã viên phải “góp vốn” đi đôi với “góp sức”, khi đó xã viên vừa là người góp vốn, trở thành chủ sở hữu của hợp tác xã vừa là người lao động trong hợp tác xã nếu việc “góp sức” được trả tiền lương, tiền công Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm “góp sức” trong Luật Hợp tác xã hiện hành là quá rộng, chưa rõ, chưa
cụ thể, có thể áp dụng tất cả cá nhân, tổ chức “Góp sức” chỉ có ý nghĩa đối với tổ chức hợp tác xã khi thành viên hợp tác xã “góp sức” với tư cách là người lao động thường xuyên trực tiếp trong hợp tác xã và được hợp tác xã trả lương (gọi là hợp tác
xã của người lao động5, tức hợp tác xã hoạt động trên thị trường nhằm tạo ra việc làm đáp ứng nhu cầu về việc làm, thu nhập cho chính xã viên của mình)
+ Về sở hữu tập thể, tài sản không chia và tổ chức quản lý hợp tác xã:
Luật quy định chưa rõ ràng về sở hữu tập thể và tài sản không chia, cụ thể là: Vốn và tài sản chung của hợp tác xã được hình thành từ các nguồn vốn và công sức của xã viên, quà biếu, tặng của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, đặc biệt đất đai do Nhà nước cấp cho hợp tác xã khi giải thể do đại hội xã viên quyết định Như vậy, một mặt chưa chế định rõ tài sản không chia, sở hữu chung tập thể; mặt khác, có thể tạo kẽ hở lợi dụng thành lập hợp tác xã để tranh thủ các chính sách
hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước dành riêng cho hợp tác xã; từ đó, có thể khuyến khích tạo ra những doanh nghiệp về thực chất nhưng mang danhhợp tác xã, tác động tiêu cực tới môi trường cạnh tranh lành mạnh, cản trở sự ra đời và phát triển của các hợp tác xã có bản chất đích thực, làm giảm hiệu quả của hỗ trợ ngân sách nhà nước Luật hiện hành chưa tách bạch rõ ràng chức năng quản lý của chủ sở hữu và điều hành hoạt động của hợp tác xã như Nghị quyết Trung ương 5 Khóa IX đã đề
Trang 28ra; cho phép hợp tác xã có thể tổ chức hai bộ máy hoặc một bộ máy, bao gồm cả chức năng quản lý và chức năng điều hành; đặt bộ máy điều hành ngang hàng với
bộ máy quản lý của chủ sở hữu là không phù hợp Thực tế, số hợp tác xã tổ chức một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành chiếm phần lớn số hợp tác xã, chưa thể hiện
rõ quyền thực sự của xã viên với tư cách là người chủ của hợp tác xã
+ Về quan hệ phân phối trong hợp tác xã:
Luật quy định chưa rõ ràng về quan hệ phân phối gắn với bản chất của tổ chức hợp tác xã và chưa phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, cụ thể là: Không quy định về việc thu nhập của hợp tác xã trước hết phải phân phối cho xã viên theo mức
độ sử dụng dịch vụ, mà quy định “Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế, trích lập các quỹ của hợp tác xã, lãi được chia cho xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp của xã viên và phần còn lại chia cho xã viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã” Trong khi đó, theo bản chất đích thực của tổ chức hợp tác xã, mục đích chính là hướng tới chia sẻ lợi ích, khác hẳn so với doanh nghiệp là hướng tới lợi nhuận Do đó, việc xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã là đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nên lãi/thu nhập cao hơn của xã viên hợp tác xã, đồng thời bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của hợp tác xã Thực tế, hợp tác xã ưu tiên chia lãi cho
xã viên theo vốn góp, công sức đóng góp, “phần còn lại” của thu nhập không còn hoặc rất thấp để phân phối theo mức độ sử dụng dịch vụ của hợp tác xã Do vậy, không khuyến khích xã viên sử dụng dịch vụ của hợp tác xã, không khuyến khích hợp tác xã kết nạp thêm xã viên mới, mà khuyến khích xã viên tăng vốn, từ đó dần định hướng tổ chức hợp tác xã chuyển sang bản chất tổ chức doanh nghiệp với việc chia lãi chủ yếu theo vốn góp và cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường đại chúng
Việc Luật quy định chia lãi theo công sức đóng góp sau khi thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, trích lập các quỹ của hợp tác xã còn trái với quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đó chi trả công sức lao động thực chất là chi phí tiền lương, tiền công và phải được hạch toán vào chi phí sản xuất - kinh doanh, không được hạch toán vào lãi, thu nhập
Trang 29- Về tổ chức liên hiệp hợp tác xã:
Quy định pháp luật về tổ chức liên hiệp hợp tác xã còn chưa rõ ràng, cụ thể Trong khi xét về bản chất, liên hiệp hợp tác xã là hợp tác xã của các hợp tác xã, khi thành viên của liên hiệp hợp tác xã chỉ thuần nhất là pháp nhân hợp tác xã
Hai là: Luật Hợp tác xã năm 2003 chưa thể hiện rõ tính chất phục vụ xã viên của tổ chức hợp tác xã theo tinh thần Nghị quyết số 13 Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX đã đề ra, cụ thể là:“Kinh tế tập thể với nhiều hình thức
đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã, dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế, ; phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ; hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm ”, “Kinh tế tập thể với hình thức phổ biến là tổ hợp tác và hợp tác xã; trong lĩnh vực nông nghiệp trước hết tập trung làm các khâu dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ thành viên”; đồng thời cũng chưa quy định rõ tổ chức hợp tác xã của người lao động như Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Khóa VII tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra:
“Hợp tác xã được tổ chức trên cơ sở đóng góp cổ phần và sự tham gia lao động trực tiếp của xã viên, phân phối theo kết quả lao động và theo cổ phần, mỗi xã viên
có quyền như nhau đối với việc chung”
Ba là: Chưa quy định thật rõ chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, ngành,
Ủy ban nhân dân các cấp; chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân trong việc giám sát, kiểm tra thi hành Luật; chưa có chế tài cụ thể và đủ sức răn đe để pháp luật có hiệu lực
Bốn là: Chưa có chính sách đặc thù khuyến khích phát triển hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phù hợp với bản chất tổ chức hợp tác xã
Đồng thời, Luật HTX năm 2003 còn chưa quan tâm đúng mức về việc xây
dựng chiến lược, kế hoạch 5 năm và hàng năm về phát triển kinh tế tập thể
1.3.2 Các căn cứ để sửa đổi, bổ sung Luật hợp tác xã năm 2003
1.3.2.1 Xuất phát từ chủ trương, đường lối chính sách của đảng
Trang 30Chương trình xây dựng nông thôn mới của Đảng ta với việc thay đổi bộ mặt nông thôn, từ quy mô sản xuất đến cách thức tiến hành sản xuất nông nghiệp cần áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào để giảm sức người tạo ra những sản phẩm của công nghệ Đồng thời, Nghị quyết số 26/NQ-TW của Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành đã có yêu cầu: Bổ sung pháp luật, cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tập thể, các tổ hợp tác, HTX, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của HTX Để quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng, việc sửa đổi Luật HTX được đặt ra
1.3.2.2 Xu hướng phát triển mới của tổ chức HTX
Hiện nay, HTX ở nước ra đã có xu hướng phát triển mới rõ nét chuyển dịch sang loại hình phục vụ xã viên hoặc là xu hướng phát triển HTX với bản chất của
mô hình tổ chức HTX này Do vậy, việc chuyển đổi hoặc phát triển các loại hình HTX này cũng là tự phát Không ít trường hợp đã phải lách luật
HTX của người lao động là hình thức lao động trực tiệp thường xuyên và được trả lương hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, trường học, vệ sinh môi trường, sản xuất vật liệu xây dựng và cả trong lĩnh vực thương mại và giao thông vận tải Đây là loại hình tổ chức với xã viên “vừa góp vốn, vừa góp sức”
Bản chất của HTX theo xu hướng này có đặc trưng khác hẳn với DN, phù hợp với chủ trương của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX, phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng Luật HTX 2003 chưa quy định rõ ràng và đầy đủ để khuyến khích HTX thành lập và hoạt động theo xu hướng này
Thứ hai, xu thế phát triển HTX với bản chất của DN theo Luật DN năm 2005 Năm 2007 có 4.744 HTX với gần 1 triệu xã viên, nhưng cung cấp tới 90% doanh
Trang 31thu cho thị trường đại chúng và tạo việc làm cho chỉ 6% xã viên 6 Do đó, cần thiết phải có sự minh bạch trong chức năng, bản chất giữa HTX và DN Có như vậy, không tạo ra sự cạnh tranh bất bình đẳng trên thị trường giữa DN đích thực với DN núp bóng HTX, ảnh hưởng tiêu cực đến chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho các DN thuộc thành phần kinh tế cùng phát triển
1.3.2.3 Cải thiện môi trường kinh doanh và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Việt Nam với tư cách là thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới đã cam kết thực hiện các điều ước quốc tế Khung pháp luật về kinh tế trong đó có khung pháp luật về HTX cần phải sửa đổi để phù hợp với yêu cầu của các cam kết đồng thời phù hợp với tình hình mới, phù hợp với điều kiện quốc tế
Hơn nữa, việc sửa đổi nhằm để khuyến khích, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển HTX mới, định hướng phát triển cho các HTX hiện nay đang hoạt động theo đúng bản chất HTX, tăng cường năng lực cạnh tranh, kinh doanh theo quy mô vừa và nhỏ, trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần cải thiện môi trường cạnh tranh trở nên công bằng, minh bạch, thêm nữa góp phần định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở nước ta
1.3.2.4 Xuất phát từ yêu cầu sửa đổi, bổ sung hành lang pháp lý về HTX
Luật HTX năm 2003 đã thi hành được gần 10 năm, mặc dù có những điểm mới tiến bộ hơn so với những quy định về HTX trước đó, nhưng với những bất cập, vướng mắc đã được phân tích ở trên với những quy định vẫn chưa đủ rõ và ảnh hưởng đến sự phát triển cũng như sự tồn tại của HTX trong điều kiện kinh tế và xã hội như ngày nay Hơn nữa, những quy định đó đã không còn phù hợp với sự chuyển biến liên tục của quan hệ xã hội, thậm chí còn ngăn cản sự phát triển của HTX Do đó, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là sửa đổi Luật HTX năm 2003
6 Báo cáo tổng kết thi hành Luật HTX năm 2003, kèm theo Tờ trình số 107/TTr-CP, ngày 07/9/2010 của Chính phủ (2010, tr11)
Trang 32TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế xã hội do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi ích chung cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của xã viên, giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống vật chất, hỗ trợ về tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Hợp tác xã không phải là một doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật
Ngoài mục tiêu kinh tế, HTX còn phải thực hiện mục tiêu xã hội Do vậy, HTX được thành lập và hoạt động tuân theo những quy chế pháp lý riêng Đó là Luật HTX và những văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan
Bên cạnh các loại hình DN khác thì Nhà nước cũng đã có sự quan tâm đến HTX song có lẽ mô hình này vẫn chưa giành được những khuyến khích cho sự phát triển cũng như sự đảm bảo cạnh tranh công bằng trên thị trường như đối với các loại hình DN khác trong nền kinh tế quốc dân Để khắc phục được tình trạng trên, cần thiết phải có sự sửa đổi, bổ sung Luật HTX mới đảm bảo cho sự phát triển HTX đúng với vai trò và vị trí mà Đảng và Nhà nước đã tin tưởng giao cho
Trang 33Chương 2 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012
2.1 Về số lượng các điều luật
Luật hợp tác xã năm 2012 gồm 9 chương, 64 điều (giảm 1 chương, tăng 12 điều so với Luật HTX năm 2003) đã thể chế hóa rõ ràng bản chất hợp tác xã dưới nhiều khía cạnh, đặt biệt là mục đích thành lập, quan hệ sở hữu và quyền lực, quan
hệ kinh tế và quan hệ phân phối trong hợp tác xã Luật bỏ chương khen thưởng và
xử lý vi phạm để phù hợp với Điều 5 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, phần LH HTX được đưa chung vào với HTX và được sửa đổi thêm một số quy định mới vì LH HTX thực chất là HTX của nhiều HTX, được tổ chức quản lý theo nguyên tắc của HTX Do đó, đã ghép các nội dung quy định về LH HTX vào các quy định về HTX để tránh trùng lặp
2.2 Về bản chất của hợp tác xã
Luật HTX năm 2003 quy định chưa thật rõ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải lấy lợi ích của xã viên là mục tiêu cho hoạt động và phát triển của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, chưa thể hiện thật rõ lợi ích của xã viên hợp tác xã, LH HTX khi tham gia hợp tác xã, LH HTX là được hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cung cấp sản phẩm, dịch vụ hoặc tạo việc làm có hiệu quả hơn so với xã viên đơn lẻ tự thực hiện hoặc không thực hiện được; vai trò người chủ của xã viên trong việc quyết định các vấn đề cơ bản của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, như: xác định mục tiêu,
tổ chức hoạt động, quản lý và điều hành hoạt động của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác
xã, còn mờ nhạt
Luật quy định: HTX, LH HTX là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân “có nhu cầu, lợi ích chung…” lập ra; các xã viên “giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống”, nhưng không quy định rõ mục tiêu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là phục vụ cộng đồng xã viên hay thị trường đại chúng, tức không quy định rõ việc hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải đáp ứng “nhu cầu, lợi ích chung” đó của xã
Trang 34viên; và do vậy, chưa làm rõ sự khác biệt về mục tiêu giữa tổ chức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ chức doanh nghiệp
Luật giải thích khái niệm dịch vụ của HTX, LH HTX đối với xã viên và mức
độ sử dụng dịch vụ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nhưng không quy định nghĩa vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã phải cung cấp sản phẩm, dịch vụ, trước hết nhằm phục vụ hoạt động kinh tế, đời sống của xã viên Luật chưa thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm của xã viên trong việc góp vốn và chia sẻ rủi ro; thực tế vốn góp của xã viên còn mang tính hình thức, khi làm ăn thua lỗ, xã viên không liên đới chịu trách nhiệm
So với Luật Hợp tác xã 2003, Luật Hợp tác xã năm 2012 xác định rõ ràng hơn bản chất của Hợp tác xã; khắc phục những khó khăn, tồn tại của Luật Hợp tác xã năm 2003 Cụ thể, năm 2008 Việt Nam có 14.500 Hợp tác xã , thì đến năm 2009 con số này là 13.552 HTX và năm 2010, giảm dần chỉ còn 12.249 Hợp tác xã còn hoạt động Thực tế trong số đó, lại có tới 32% là các Hợp tác xã “trá hình”, có nghĩa là họ hoạt động theo hình thức công ty, trong đó có nhiều Hợp tác xã thực chất là công ty nhưng lại “mang danh” là Hợp tác xã để được hưởng những ưu đãi của Chính phủ theo Luật Hợp tác xã ra đời năm 2003 Điều này tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp với các Hợp tác xã, khắc phục tình trạng các doanh nghiệp mang danh Hợp tác xã hưởng lợi từ chính sách Nhà nước, tránh thất thu thuế cho Nhà nước
Điểm mới của Luật HTX năm 2012 còn thể chế hóa rõ hơn về bản chất, tổ chức của HTX, để làm rõ sự khác biệt so với tổ chức DN, ở mục tiêu thành lập, quan hệ sở hữu, quan hệ kinh tế, quan hệ quản lý, và quan hệ phân phối trong HTX HTX phải mang lại lợi ích cho thành viên thông qua đáp ứng nhu cầu chung về sản phẩm, dịch vụ, việc làm của thành viên là chủ sở hữu HTX Luật HTX năm 2012 đã
xác định rõ bản chất của HTX đó là “HTX nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành
viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý HTX”.
Trang 35Theo Luật HTX năm 2012: Mục tiêu của HTX là mang lại lợi ích cho thành
viên; “phân phối của hợp tác xã chủ yếu theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ
của thành viên; theo công sức lao động, phần còn lại chia theo vốn góp” Bản chất của Hợp tác xã là phục vụ lợi ích của thành viên; còn bản chất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận, phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp chia theo vốn góp Vì
vậy, Luật hợp tác xã năm 2012 bỏ quy định “hợp tác xã hoạt động như một loại
hình doanh nghiệp” so với Luật hợp tác xã năm 2003
Như vậy, thành công lớn nhất của Luật này là làm nổi bật lên bản chất đích thực của HTX, LH HTX, chỉ rõ điểm khác biệt so với loại hình DN, khẳng định HTX không phải là DN, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho HTX hoạt động
và phát triển một cách tự chủ, vững chắc Việc xác định rạch ròi giữa HTX và DN thì các ưu đãi của Nhà nước sẽ tập trung vào HTX, LH HTX mà không bị chia sẻ với các đối tượng khác Bản chất HTX được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của Luật Cụ thể như sau:
2.2.1 Về định nghĩa Hợp tác xã
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật HTX năm 2012 thì “Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.
So với Luật HTX năm 1996 và năm 2003 thì Luật HTX hiện hành thực sự có bước tiến đột phá trong việc thể hiện bản chất của mô hình HTX đó là:
- Thứ nhất: quán triệt được nội hàm “hợp tác”, thể hiện mối quan hệ tự nguyện, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên là những người có vị thế yếu trên thị trường, đặc biệt là nông dân, đồng thời làm hài hòa hơn mối quan hệ giữa giới chủ và người làm thuê, tăng thu nhập và vị thế cho người lao động, tạo sự cân bằng giữa lợi ích của người sản xuất và của người tiêu dùng, mà xét cho cùng là làm cho người tiêu dùng trong xã hội được hưởng sản phẩm, dịch vụ rẻ hơn, với chất lượng tốt hơn thông qua HTX Đây chính là loại hình đúng với bản chất đích
Trang 36thực của nó, thể hiện được đặc trưng phục vụ thành viên của HTX nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho từng thành viên, được thành lập là để liên kết các thành viên lại với nhau đáp ứng nhu cầu chung của họ về cung ứng và tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ chung để giúp họ nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế, cải thiện nhu cầu đời sống của mình
- Thứ hai, làm rõ được sự khác biệt giữa HTX với DN, với tổ chức xã hội, từ thiện, không coi HTX như DN Khái niệm mới cho thấy rằng HTX là tổ chức kinh
tế do các thành viên tự nguyện lập ra nhằm tối đa hóa lợi ích của từng thành viên Lợi ích mà HTX hướng tới không chỉ là lợi ích kinh tế mà bao gồm cả lợi ích xã hội, lợi ích thành viên HTX lấy con người và lợi ích thành viên làm trung tâm Luật HTX năm 2012 có hiệu lực đã khắc phục những tình trạng coi HTX là DN, xóa bỏ thực trạng nhiều người lầm tưởng hoặc cố tình coi HTX là DN, để thành lập HTX nhằm được thụ hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước
- Thứ ba, thể hiện được lợi ích và vai trò giữa người chủ và thành viên khi tham gia HTX, mục tiêu của HTX và mối quan hệ giữa nghĩa vụ, trách nhiệm, lợi ích của thành viên HTX
Tuy nhiên, trong quá trình soạn thảo đã có một số ý kiến không tán thành và
cho rằng cần kế thừa định nghĩa trong Luật HTX năm 2003 “Hợp tác xã hoạt động
như một loại hình doanh nghiệp” Ý kiến này cho rằng thực chất HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp đặc biệt do các thành viên góp vốn, tiến hành sản xuất kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận, có hoạt động bình đẳng với các chủ thể kinh doanh khác và có quyền kinh doanh một số ngành nghề mà pháp luật không cấm, đồng thời cũng thể hiện đúng với tinh thần Nghị quyết TW 5 khóa IX Thêm nữa, tại điểm c, mục 3 của Nghị quyết trong phần chính sách tài chính, tín dụng cũng quy định “HTX là một loại hình DN, được vay vốn bình đẳng như DN của các thành
phần kinh tế khác”
Nhận thấy, với tình hình kinh tế hiện nay, quan điểm trên đã không còn phù hợp, trong quá trình thực hiện đã xảy ra những bất cập, vướng mắc đã được phân tích ở trên Còn nội dung tại điểm c mục 3 Nghị quyết TW 5 khóa IX trong phần
Trang 37chính sách, tài chính tín dụng thuộc nhiệm vụ về sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách đối với HTX cần được hiểu là: Với tư cách là một tổ chức kinh tế thì trong việc tiếp cận chính sách tài chính, tín dụng, HTX được vay vốn bình đẳng như
DN của các thành phần kinh tế khác Điều này không có nghĩa là HTX là DN và Nghị quyết không đồng nhất HTX là DN Vì vậy ý kiến cho rằng, Luật HTX năm
2012 không phù hợp với tinh thần của Nghị quyết là hoàn toàn không có cơ sở
Đề phù hợp với quy định của Nghị quyết TW 5, Luật HTX năm 2012 đã có quy định tại các điều: Khoản 2, Điều 5 về đảm bảo Nhà nước đối với HTX quy định
“Bảo đảm môi trường sản xuất, kinh doanh bình đẳng giữa HTX, LH HTX với các
loại hình DN và tổ chức kinh tế khác”, khoản 1 Điều 8 về quyền của HTX quy định
“tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của mình Như vậy, không cần ghi cụ thể “HTX là DN” thì những quy định tại Luật HTX 2012 cũng toát lên tinh thần HTX bình đẳng và hoạt động giống như các loại hình kinh tế khác
Việc phân biệt HTX với DN còn có ý nghĩa to lớn trong việc đưa ra các quy định đặc thù đối với HTX, mà từ trước đến nay do không có sự phân biệt rõ ràng này nên đã không được quy định một cách đầy đủ trong Luật HTX năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Theo đó, trên cơ sở tìm ra các điểm đặc thù, riêng có của HTX mà Luật HTX năm 2012 đã bổ sung nhiều quy định về các vấn đề rất cơ bản liên quan đến bản chất đích thực của HTX:
Như về giới hạn vốn góp tối đa của một thành viên trong vốn điều lệ của HTX, LH HTX (Khoản 1, 2 Điều 17), về sự bắt buộc thành viên phải sử dụng sản phẩm, dịch vụ của HTX và nếu vi phạm nghĩa vụ này thì thành viên có thể bị khai trừ khỏi HTX (điểm e, khoản 1 Điều 16), về sự bắt buộc phải có quy định nhằm hạn chế việc HTX cung ứng sản phẩm, dịch vụ ra ngoài cộng đồng thành viên (khoản 4, Điều 8), về nguyên tắc, theo đó, một thành viên, cho dù, địa vị pháp lý của họ là như thế nào đều có một phiếu trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến HTX (Khoản 5, Điều 14), về sự đề cao nguyên tắc phân phối thu nhập theo mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ của HTX so với các nguyên tắc phân phối khác trong HTX (điểm a, khoản 3 Điều 46)
Trang 382.2.2 Về nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã
Ở Luật HTX năm 2003, nguyên tắc tổ chức, hoạt động chỉ có 5 điểm, còn ở Luật HTX 2012 có 7 điểm Luật HTX bổ sung những nguyên tắc mới rất đặc thù bao gồm các nguyên tắc được quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 7 Luật HTX năm 2012
Liên quan đến nội dung này việc cần có các quy định ràng buộc nghĩa vụ của hợp tác xã trong việc cung cấp hàng hóa dịch vụ cho thành viên cũng như nghĩa vụ
sử dụng dịch vụ, lao động của thành viên đối với hợp tác xã là những quy định cần thiết để thể hiện tính đặc thù của hợp tác xã, tránh trường hợp lợi dụng mô hình hợp tác xã để được hưởng các ưu đãi nhưng thực chất lại hoạt động không khác gì doanh nghiệp
Hợp tác và phát triển cộng đồng của hợp tác xã thể hiện cụ thể yêu cầu đối với mọi thành viên là có ý thức tinh thần xây dựng tập thể, cùng hợp tác với nhau trong nội bộ hợp tác xã và cao hơn nữa là hợp tác xã với nhau trong và ngoài nước Việc quy định các nguyên tắc đặt ra trách nhiệm đối với các thành viên: thành viên hợp tác xã phải có ý thức phát huy trên tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác vơi nhau trong hợp tác xã, trong cộng đồng xã hội; các hợp tác xã cùng hợp tác với nhau trong sản xuất kinh doanh và xây dựng, phát triển phong trào hợp tác xã Để hợp tác
xã phát huy được vai trò, thể hiện bản chất của mình, đòi hỏi các thành viên phải cùng nhau đóng góp, xây dựng nên
Hợp đồng dịch vụ không phải là một điều mới trong luật song Luật Hợp tác xã năm 2012 quy định cụ thể đó là thành viên của hợp tác xã phải cam kết sử dụng sản phẩm dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã bằng hợp đồng Hình thức giao kết hợp đồng do điều lệ hợp tác xã quy định Một khi thành viên có hợp đồng với họp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thì phải thỏa thuận về phân phối thu nhập sau khi thực hiện hợp đồng Điểm quy định mới là phân chia lợi nhuận dựa trên mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã Có nghĩa là thành viên nào có doanh thu sử dụng dịch vụ nhiều hơn thì được phân phối lợi nhuận nhiều hơn
Trang 39Đây là hai nguyên tắc quan trọng nhằm thu hút ngày càng nhiều thành viên tự nguyện tham gia HTX vì nhu cầu chung, nguyện vọng chung từ đó góp phần tăng tính đoàn kết xã hội, tăng cường sự hợp tác có hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, phù hợp với nguyên tắc mở cửa của quốc tế
2.2.3 Về điều lệ hợp tác xã
Luật quy định trong Điều lệ HTX phải có những điều khoản này trong đó có 3 nội dung mới (so với quy định về điều lệ HTX tại Điều 12 Luật HTX năm 2003) nhằm làm căn cứ xác định và định hướng HTX, LH HTX hoạt động đúng bản chất,
Khoản 12 Điều 21 quy định về nội dung hợp đồng giữa HTX với thành viên Hai nội dung được quy định bổ sung với mục đích đảm bảo cho hoạt động của HTX đúng với bản chất, nhằm thể hiện trách nhiệm ràng buộc về kinh tế của thành viên đối với sự tồn tại và phát triển của HTX, LH HTX và ngược lại, hoạt động vì lợi ích không vì lợi nhuận
Khoản 13 Điều 21 quy định về “Việc cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ,
việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho thành viên, hợp tác xã thành viên ra thị trường Tỷ lệ cung ứng, tiêu thụ sản phẩm, dịch
vụ, việc làm mà hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã cam kết cung ứng, tiêu thụ cho thành viên, hợp tác xã thành viên ra thị trường cho từng lĩnh vực, loại hình theo quy
định của Chính phủ” Tỷ lệ cụ thể đã được Chính phủ quy định tại Điều 5 Nghị
định số 193/2013/NĐ-CP, ngày 21/11/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật HTX Quy định này đảm bảo cho việc cung ứng sản phẩm ra thị trường của HTX tuân thủ pháp luật, tránh trường hợp HTX lợi đụng “quyền được cung ứng sản phẩm
ra thị trường” để hoạt động sai mục đích, sai đi bản chất vốn tốt đẹp của nó
Trang 402.2.4 Về vốn góp tối đa của thành viên
Khoản 1, 2 Điều 17 quy định “Đối với hợp tác xã, vốn góp của thành viên
thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 20% vốn
điều lệ của hợp tác xã Đối với liên hiệp hợp tác xã, vốn góp của hợp tác xã thành
viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 30% vốn điều lệ của liên hiệp hợp tác xã” Trong khi Luật HTX năm 2003 quy định mức vốn góp của thành viên HTX, LH HTX đều là 30% Như vậy, việc quy định như Luật HTX năm 2012 về mức vốn góp tối đa của 1 thành viên nhằm giúp khẳng định bản chất khác biệt của mô hình HTX, LH HTX là đề cao nguyên tắc bình đẳng trong quản lý HTX, LH HTX, đề cao nguyên tắc thu hút người tham gia để có nhiều vốn hoạt động chứ không phải huy động nhiều vốn từ 1 hoặc 1 số ít thành viên, nhằm thể hiện tính chất của một loại quan hệ xã hội của những người có nhu cầu chung về kinh tế, văn hóa, xã hội có vị thế yếu hơn và có sức cạnh tranh kém hơn trên thị trường, theo đó, vốn góp thành viên không chênh lệch nhau quá lớn Sự cần thiết phải hạn chế mức vốn góp vào HTX, LH HTX của các thành viên còn xuất phát từ nguyên tắc có tính chất nền tảng là một 1 thành viên chỉ có 1 phiếu biểu quyết Nếu không hạn chế mức vốn góp tối đa, để thành viên muốn góp vốn bao nhiêu cũng được, thì nguyên tắc này sẽ bị vô hiệu hóa vì trên thực tế, người có quá nhiều vốn sẽ có thực quyền hơn so với người góp ít vốn Mặt khác, nếu để cho một thành viên góp vốn với tỷ lệ quá cao thì việc rút vốn của thành viên này sẽ làm cho HTX phải giải thể hoặc gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh khi vốn góp đã bị thu hẹp nhiều
Theo Liên minh HTX Quốc tế khuyến cáo Luật HTX các nước không cho phép thành viên góp vốn vượt quá 20% vốn điều lệ HTX, nghiên cứu kinh nghiệm các nước cho thấy, trong các luật về HTX đều có quy định hạn chế tỷ lệ góp vốn của thành viên, theo mức vốn góp tối đa của 1 thành viên trong tổng vốn điều lệ của HTX từ 5-20% hoặc bằng nhau Ví dụ: Hàn Quốc 10%, Singapore 20%, Philippin 20%, Canada vốn góp bằng nhau Trên cơ sở cân nhắc điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay và với việc quy định thêm 1 số cơ chế mới nhằm giúp HTX có thể