1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tòa án nhân dân thành phố hà nội

84 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

43 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO VỤ VIỆC CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.. Trong khi đó, vấn đề x

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn mang tính mới và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Ngô Thị Thu Hương

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế với đề tài “Thẩm quyền theo vụ

việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

từ thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” là kết quả của quá trình cố gắng

không ngừng nghỉ của bản thân cùng sự nhiệt tình trợ giúp của các thầy/cô, đồng nghiệp

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS Bùi Thị Huyền đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình cung cấp các thông tin khoa học cần thiết và thực sự quý báu cho luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo trường Viện Đại học Mở Hà Nội, khoa Sau đào tạo đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các anh/chị tại Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân TP Hà Nội đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học và thực hiện Luận văn

TÁC GIẢ

Ngô Thị Thu Hương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO LOẠI VIÊ ̣C CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 6 1.1 Khái niệm thẩm quyền thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp Kinh doanh thương mại 6 1.2 Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 12

1.3 Đặc điểm thẩm quyền về dân sự theo loa ̣i viê ̣c của Tòa án nhân dân trong viê ̣c gia ̉ i quyết tranh chấp kinh doanh thương ma ̣i 17 1.4 Ý nghĩa của việc quy định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 21 1.5 Cơ sở khoa ho ̣c của viê ̣c xây dựng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về thẩm quyền dân sự theo loa ̣i viê ̣c của Tòa án nhân dân trong viê ̣c giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 22

1.5.1 Xuất phát từ chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp 23 1.5.2 Xuất phát từ tính chất quan hệ pháp luật nội dung mà Tòa án cần giải quyết 24 1.5.3 Xuất phát từ quyền định đoạt của các đương sự 25 1.5.4 Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và xuất phát từ thực tiễn giải quyết các tranh chấp 25

1.6 Lịch sư ̉ hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án, pháp luật tố tụng dân

sự Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án…… 26

1.6.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án trên thế giới 26 1.6.2 Lịch sư ̉ hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án 28

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO LOẠI VIÊ ̣C CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI 34 2.1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân,

tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận 34 2.2 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận 37

Trang 4

2.3 Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty 39 2.4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công

ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty…… 40 2.5 Các tranh chấp khác về kinh doanh thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật 43 CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN DÂN SỰ THEO VỤ VIỆC CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP HÀ NỘI VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 48 3.1 Thư ̣c tiễn áp du ̣ng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t TTDS về thẩm quyền dân sự theo

vụ việc của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 48

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thụ lý, xét xử tranh chấp kinh doanh thương mại tại TAND TP Hà Nội 50 3.1.2 Những tồn tại, hạn chế trong giải quyết vụ án kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân TP Hà Nội 53

3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại 70

3.2.1 Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật 70 3.2.2 Thống nhất nội hàm của khái niệm kinh doanh thương mại trong toàn bộ văn bản pháp luật của hệ thống pháp luật hiện hành 72

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 01 Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh

chấp KDTM tại TAND TP Hà Nội trong

giai đoạn từ năm 2012-2016

50

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các quan hệ KDTM ngày càng đa dạng, phong phú và tương ứng với đó là các tranh chấp KDTM ngày càng muôn hình muôn vẻ và với số lượng lớn hơn

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng, cũng như tạo điều kiện hoạt động đồng bộ cho toàn bộ nền kinh tế, các tranh chấp đó cần được giải quyết kịp thời, đúng đắn Về nguyên tắc khi tranh chấp trong KDTM xảy ra, để đảm bảo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong kinh doanh, pháp luật cho phép các bên gặp nhau tự bàn bạc tìm cách giải quyết Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau, đáp ứng yêu cầu giải quyết các tranh chấp KDTM của cá nhân,

tổ chức trong nền kinh tế đã hình thành nhiều phương thức giải quyết như: Thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục Trọng tại, giải quyết theo thủ tục tư pháp Ở Việt Nam, các đương sự thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hòa giải Một thực tế tại Việt Nam là hơn 95% các tranh chấp về KDTM được tòa án các cấp xét xử

Thực tế giải quyết các vụ án KDTM của các Tòa án cho thấy các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành còn nhiều bất cập, các tranh chấp KDTM có nhiều điểm khác với tranh chấp dân sự nhưng được giải quyết theo các quy định chung về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nói chung mà không có các quy định riêng là chưa phù hợp

Trước những yêu cầu của thực tiễn, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM nhằm góp phần làm sáng tỏ thêm về lý luận cung như thực tiễn, tìm ra những hạn chế, vướng mắc trong quy định pháp luật và thực tiễn thi hành, từ đó đề xuất các giải pháp

Trang 8

hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết các vụ án kinh tế theo tinh thần cải cách tư pháp là hết sức cần thiết và rất được quan tâm trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện này

Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” để làm luận văn thạc sĩ Luật kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trước và sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã có rất nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn, luận án, bài viết về các vấn đề liên quan đến giải quyết tranh chấp KDTM Các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả đề cập các vấn đề liên quan đến thẩm quyền của Tòa án, thẩm quyền của Trọng tài; vấn đề tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh thương mại dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, kể từ thời điểm một số văn bản pháp luật đã có hiệu lực như: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ 01/01/2017) đến nay chưa

có văn bản hướng đẫn thực hiện cũng như chưa có nhiều nghiên cứu toàn diện về thẩm quyền dân sự của tòa án theo vụ việc về giải quyết tranh chấp KDTM

Trong khi đó, vấn đề xác định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trong tố tụng dân sự còn nhiều vướng mắc và có nhiều ý kiến khác nhau đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu một cách công phu và nghiêm túc nhằm đề ra những giải pháp cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề này Trước bối cảnh này, bản luận văn “Thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” là công trình được nghiên

cứu một cách chuyên sâu, toàn diện cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn về vấn đề này

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích

- Làm rõ những vấn đề lý luận về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân

dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Đánh giá đúng thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo

vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Nhận diện được những vướng mắc, bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM và thực tiễn thực hiện Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm hiệu

quả việc giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được những mục đích nêu trên, nhiệm vụ của việc nhiên cứu đề tài bao gồm:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thẩm quyền theo vụ việc của tòa

án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Khảo sát, thu thập và tổng hợp thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài gồm các vấn đề sau:

- Những vấn đề lý luận về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

Trang 10

- Các quy định của pháp luật về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Thực tiễn thực hiện giải quyết tranh chấp KDTM tại tòa án nhân dân

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài gồm những vấn đề cơ bản sau:

- Những vấn đề lý luận về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong những năm gần đây;

- Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp KDTM;

- Thực tiễn thực hiện thẩm quyền theo vụ việc của tòa án nhân dân thành phố

Hà Nội trong việc giải quyết tranh chấp KDTM trong những năm gần đây;

- Các giải pháp hoàn thiện và thực hiện pháp luật

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh

và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp lịch sử, phân tích thống kê, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và thực tiễn để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện về cả lý luận và thực tiễn vấn đề, xác định những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM Tác giải mong muốn đây là công

Trang 11

trình nghiên cứu có giá trị về mặt lý luận cũng như thực tiễn để làm tài liệu tham khảo cũng như tạo những gợi ý có giá trị cho các nhà lập pháp hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM

7 Kết cấu luận văn

Luận văn bao gồm: Lời nói đầu, phần nội dung và phần kết luận

Phần nội dung của Luận văn gồm… chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa

án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Chương 2: Pháp luật hiện hành về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án

về tranh chấp kinh doanh thương mại

Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về

thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án nhân dân TP Hà Nội trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Trang 12

Chương 1:

SỰ THEO VỤ VIỆC CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH

vụ việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự

Theo quy định của BLTTDS năm 2015, để xác định đúng thẩm quyền của Tòa

án khi thụ lý giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án và đương sự phải xem xét trên các phương diện: thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, thẩm quyền của Tòa án theo cấp quản lý hành chính, lãnh thổ và thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu

Việc xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án với các cơ quan Nhà nước khác Đồng thời, đây cũng là căn cứ để Tòa án áp dụng thủ tục giải quyết vụ án dân

sự hay thủ tục giải quyết việc dân sự để giải quyết Phân định thẩm quyền góp phần làm cho Toà án giải quyết đúng đắn, có hiệu quả các vụ việc dân sự; giảm chồng

Trang 13

chéo khi thực hiện nhiệm vụ; giúp các bên đương sự lựa chọn chính xác Tòa án có chức năng, thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí… Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự được quy định từ Điều 26 đến Điều 33 BLTTDS năm 2015

Để phân biệt thẩm quyền của Tòa án với thẩm quyền của các cơ quan, tổ chức khác trong việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội; phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự với thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng hình sự

và tố tụng hành chính; pháp luật tố tụng dân sự đã quy định thẩm quyền dân sự của

Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: "Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật"; "Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, KDTM, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ

án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án"

Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam chưa có quy định cụ thể về khái niệm tranh chấp KDTM Thuật ngữ KDTM còn được hiểu nhầm lẫn với các thuật ngữ khác như thương mại, kinh tế… dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về vụ

án KDTM Vì vậy, việc xây dựng hoàn chỉnh khái niệm tranh chấp KDTM là điều cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định ranh giới thẩm quyền cung như trình

tự thủ tục trong quá trình giải quyết các vụ án KDTM

Thuật ngữ “tranh chấp” nói chung được hiểu là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan Những bất đồng, mâu thuẫn

Trang 14

này phát sinh từ những quan hệ xã hội do nhiều ngành luật điều chỉnh Tranh chấp dân sự được quy định tại Điều 26 BLTTDS năm 2015 là những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột lợi ích pháp lý giữa ít nhất hai bên trong lĩnh vực dân sự theo nghĩa hẹp (phân biệt với tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, KDTM, lao động) được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự

Trong khi đó, tranh chấp trong kinh doanh hay tranh chấp thương mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới Khái niệm này mới được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam trong mấy năm gần đây cùng với

sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc trong

cơ chế kế hoạch hóa tập trung Ở giai đoạn này, nền kinh tế được quản lý bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu, với hệ thống chỉ tiêu, kế hoạch do nhà nước giao Hợp đồng kinh tế thời kỳ này không chỉ là một hình thức pháp lý để triển khai các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế, mà còn được sử dụng như một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước Do vậy, việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế là một kỷ luật bắt buộc chứ không hoàn toàn từ lợi ích kinh tế của các bên tham gia hợp đồng Vì vậy, trách nhiệm thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia quan hệ với nhau bị coi nhẹ hơn so với trách nhiệm của các bên đối với cơ quan chủ quản Trách nhiệm phát sinh do vi phạm hợp đồng kinh tế nhẹ về yếu tố vật chất mà nặng về tính chất hành chính Có thể nói, các tranh chấp kinh tế trong giai đoạn nà không thể hiện rõ bản chất của tranh chấp KDTM, tranh chấp phát sinh do xung đột lợi ích của các bên và việc giải quyết tranh chấp cũng không xuất phát từ quyền lợi thiết thực của các bên mà còn chủ yếu vì sự ổn định, hài hòa chung cho cả nền kinh

tế

Khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập trong Luật Thương mại năm 1997 Theo Luật Thương mại, tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động

thương mại Ngoài ra, khái niệm “hoạt động thương mại” theo quy định của Luật

Thương mại lại có nội hàm rất hẹp so với quan niệm phổ biến của các nước trên thế giới về thương mại Quan niệm về tranh chấp thương mại và hoạt động thương mại

Trang 15

theo Luật Thương mại đã loại bỏ nhiều tranh chấp không được coi là tranh chấp thương mại, mặc dù xét về bản chất hoàn toàn có thể coi các tranh chấp đó là tranh chấp thương mại trong ngữ cảnh đương đại Điều này đã tạo ra những xung đột pháp luật, giữa luật quốc gia với luật quốc tế, trong đó có cả những công ước quốc tế quan trọng mà Việt Nam đã là thành viên, gây không ít những trở ngại, rắc rối trong thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập

Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 không trực tiếp đưa ra định nghĩa về tranh chấp thương mại, song với sự hiện diện của khái niệm “hoạt động thương mại” theo nghĩa rộng đã tạo ra sự tương đồng trong quan niệm về “thương mại” và “tranh chấp thương mại” của pháp luật Việt Nam với chuẩn mực chung của pháp luật và thông lệ quốc tế Theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại, hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại;

ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật

Với quy định này, khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam đã được mở rộng, phù hợp với khái niệm thương mại trong Luật mẫu của Liên Hợp Quốc về trọng

Vấn đề này vừa có ý nghĩa trong việc bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể hoạt động thương mại tham gia vào việc giải quyết tranh chấp, vừa mở rộng khả năng được công nhận và thi hành tại Việt Nam các phán quyết của trọng tài nước ngoài

Sự đột phá của Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 trong việc đưa khái niệm

1 UNCITRAL (1985), Model Law on International Commercial Arbitration, with amendments as adopted in 2006

Trang 16

“hoạt động thương mại” tiếp cận với chuẩn mực chung của thông lệ và pháp luật quốc tế đã mở màn cho việc xem xét tiếp theo của các văn bản pháp luật khi đề cập đến lĩnh vực thương mại (hay kinh doanh) - một lĩnh vực đầy sôi động và phức tạp trong thực tiễn

Luật Thương mại năm 2005 đưa ra khái niệm khá đơn giản về hoạt động thương mại nhưng cũng khắc họa đủ nội hàm của khái niệm Theo khoản 1 Điều 3 Luật này, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác Cũng theo khái niệm này, quan niệm về hoạt động thương mại cũng

đã được mở rộng, bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi Hướng tiếp cận này của Luật Thương mại năm 2005 cho thấy, khái niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp năm

1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014

Theo khoản 6 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014, kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi

Điều 30 Bộ Luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (BLTTDS 2015) cũng đã liệt kê các tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm: (i) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (ii) Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (iii) Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; (iv) Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn

Trang 17

giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; (v) Các tranh chấp khác về KDTM, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng liệt kê các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài, bao gồm: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài

Như vậy, mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ

“tranh chấp thương mại” hay “tranh chấp trong kinh doanh” mà sử dụng thuật ngữ

“tranh chấp về KDTM”, nhưng nội dung của các tranh chấp về KDTM được liệt kê tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thực chất là các tranh chấp thương mại theo hướng tiếp cận của Luật Thương mại năm 2005 và Luật Trọng tài thương mại năm 2010

Từ nội dung xem xét nêu trên, có thể hiểu: “Tranh chấp trong kinh doanh (hay tranh chấp thương mại) là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh”

Các tranh chấp KDTM có đặc điểm sau: (i) Tranh chấp về KDTM nảy sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh doanh và luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh Đó là hệ quả phát sinh từ quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh với nhau hoặc giữa các bên liên quan với chủ thể kinh doanh trong quá trình tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi; (ii) Vấn đề giải quyết tranh chấp trong KDTM do các bên tranh chấp

tự định đoạt (có thể giải quyết bằng nhiều cách khác nhau như thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án); (iii) Các bên tranh chấp thương mại thường là chủ thể kinh doanh có tư cách tương nhân; (iv) Tranh chấp KDTM là những tranh chấp mang yếu

tố vật chất và thường có giá trị lớn

Trang 18

Qua đó, thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM được hiểu là: Quyền của một Tòa án hoặc các Tòa án trong hệ thống Tòa án nhân dân được tiến hành những thủ tục giải quyết một tranh chấp KDTM cụ thể theo quy định của pháp luật tố tụng Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM xác định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nhà nước khác Một tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án thì tranh chấp đó do Tòa án nào giải quyết Thẩm quyền của Tòa

án trong giải quyết tranh chấp KDTM dựa trên quy định của pháp luật Pháp luật quy định những TCKDTM nào thuộc thẩm quyền của Tòa án Những tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án được xác định căn cứ vào các yếu tố: tính chất riêng biệt của các quan hệ pháp luật về KDTM; thành phần chủ thể của quan hệ pháp luật

về KDTM; mục đích của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật về KDTM

1.2 Vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Giải quyết tranh chấp KDTM có thể hiểu là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp phát sinh, nhằm bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, bao hàm cả quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp cho phù hợp nhất Thực tiễn đã hình thành 04 phương thức giải quyết tranh chấp đó là: (i) Thương lượng, (ii) Hòa giải, (iii) Trọng tài, và (iv) Tòa án Trong đó:

Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh chấp để cùng tìm ra và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp phù hợp với tất cả các bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh

Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp KDTM có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải nhằm giúp cho các bên tranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp giải quyết vụ tranh chấp

Trang 19

Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài), với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

Khi có tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM, các bên thường lựa chọn phương thức giải quyết bằng thương lượng đầu tiên Tuy nhiên thương lượng lại phụ thuộc vào khả năng cũng như kỹ năng đàm phán thương lượng, ý chí của các bên tranh chấp Đối với phương thức giải quyết bằng hòa giải cũng có hạn chế bởi nền tảng của hòa giải vẫn được quyết định trên cơ sở tự nguyện thi hành của các bên Bởi vậy, nếu một bên không trung thực, thiếu thiện chí hợp tác trong quá trình đàm phán thì hòa giải cũng khó đạt được kết quả cao

Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới hiện nay chủ yếu sử dụng hai phương thức giải quyết tranh chấp KDTM là Trọng tài và Tòa án Có thể thấy phương thức Trọng tài có nhiều ưu điểm như thể thức giải quyết tranh chấp nhanh, gọn, mềm dẻo, linh hoạt và đặc biệt có đội ngũ Trọng tài viên là những chuyên gia trong các lĩnh vực KDTM Ưu điểm này không thể tìm thấy ở phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án với những trình tự thủ tục kéo dài Tuy nhiên, ưu điểm nổi bật của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là tính quyền lực nhà nước Trên thực tế, phương thức Trọng tài được ưu chuộng hơn đặc biệt ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và chậm phát triển thì Tòa án vẫn là cơ quan giải quyết tranh chấp KDTM chủ yếu Tòa án là cơ quan tư pháp có quyền nhân danh ý chí quyền lực của nhà nước khi xét xử các vụ tranh chấp Các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, chấp hành Trong trường hợp bản án không được tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế bởi quyền lực nhà nước Có thể lấy ví

Trang 20

dụ ở Việt Nam, “trong khi mỗi Thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hà Nội phải xử trên 50 vụ một năm, ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 70 vụ một năm,

doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự “mặn mà” với việc đem tranh chấp của mình ra giải quyết tại Trọng tài Rõ ràng các nhà kinh doanh của ta chưa đặt trọn niềm tin vào các Trọng tài viên, cũng như chưa hoàn toàn coi trọng hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài và hiệu lực thi hành của các quyết định Trọng tài Qua sự phân tích trên có thể thấy, giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án vẫn chiếm ưu thế chủ đạo trong việc lựa chọn các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM ở nước ta Theo thống kê có đến hơn 95% tranh chấp hợp đồng thương mại trong nước được đưa ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của BLTTDS Bằng các quyết định và bản án của Tòa án, các bên có tranh chấp buộc phải thực hiện để khắc phục và chấm dứt tranh chấp, đảm bảo cho hoạt động KDTM trong nền kinh tế diễn ra trong trật tự lập pháp Ưu thế này không có ở các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, hòa giải ngoài tố tụng, hoặc nếu có như Trọng tài thì cũng không được đảm bảo một cách triệt để Mặc dù vậy, giữa Tòa án và Trọng tài thương mại vẫn có mối quan hệ tương

hỗ trong giải quyết tranh chấp KDTM Theo đó, Luật Trọng tài thương mại năm

2010 (Luật TTTM) đã ra đời và có nhiều quy định mang tính “hỗ trợ” của Tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại

Thứ nhất, xuất phát từ bản chất của trọng tài: Trọng tài thương mại là cơ quan

tài phán phi chính phủ có quyền lực bắt nguồn từ “quyền lực hợp đồng” do các bên tranh chấp giao phó, ủy nhiệm, do đó, trọng tài không mang trong mình quyền lực nhà nước khi giải quyết tranh chấp, phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước, không đại diện cho ý chí của Nhà nước, chỉ đại diện cho ý chí của các bên tranh chấp Điều này đã đặt ra cho TTTM những khó khăn khi không có sự đồng thuận, hợp tác, thiện chí của cả hai bên tranh chấp trong quá trình tố tụng cũng như

1 Báo cáo thống kê năm 2010 của Trung tâm Trọng tài quốc tế (VIAC)

Trang 21

việc thi hành phán quyết trọng tài Khi những khó khăn này vượt ra khỏi sự kiểm soát của trọng tài và cần đến sự giúp đỡ của Tòa án và các cơ quan tư pháp khác Vì vậy, sự hỗ trợ của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tránh bế tắc cho hoạt động trọng tài, để trọng tài có thể giải quyết tốt các tranh chấp mà các bên đã tin tưởng giao phó Ví dụ, trong quá trình thành lập Hội đồng trọng tài (HĐTT), có trường hợp

bị đơn không chọn được Trọng tài viên cho mình, hay các bên không chọn được Trọng tài viên duy nhất; nếu có một bên tranh chấp tẩu tán tài sản, làm thất thoát khối tài sản của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với bên kia thì trọng tài cũng không thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các hành vi đó,

Từ đó đặt ra vấn đề cần phải có sự “hỗ trợ” của Tòa án cho hoạt động của trọng tài

để “lấp” khoảng trống này của trọng tài

Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn giải quyết tranh chấp Các tranh chấp

phát sinh trong thực tiễn kinh doanh ở nước ta ngày càng nhiều hơn và đa dạng hơn

về chủng loại, phức tạp về tính chất Điều này đòi hỏi phải có nhiều phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả để đáp ứng các yêu cầu khác nhau của chủ thể kinh doanh

Ở nước ta, TTTM đã có lịch sử tồn tại khá lâu dài, tuy nhiên, chưa phải là hình thức được các nhà kinh doanh ưa chuộng, căn bản là do thiếu sự hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước nói chung và cơ quan Tòa án nói riêng Chính sự hỗ trợ đó sẽ làm cho hoạt động trọng tài được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước, đồng thời không làm mất đi ưu thế của hình thức giải quyết tranh chấp tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các đương sự

Thứ ba, từ tình trạng quá nhiều án tồn đọng tại các Tòa án, cùng với sự phát triển sôi động của các quan hệ kinh tế, các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực KDTM buộc phải đưa đến Tòa kinh tế ngày càng nhiều, đã tạo ra áp lực tăng, gây ra tình trạng “quá tải”, án tồn đọng với số lượng khá lớn, đặc biệt là ở một số thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước đối với hoạt động trọng tài Nhà nước nói chung và các cơ quan nhà nước nói riêng có thẩm quyền quản lý hoạt

Trang 22

động của cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong đó có trọng tài Nhà nước thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật quy định về trọng tài đã thể hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động của trọng tài, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của trọng tài

Có thể nói, mối quan hệ đặc trưng giữa Toà án và TTTM là mối quan hệ hỗ trợ

và giám sát Nhờ có mối quan hệ này, mà TTTM tuy là tổ chức tài phán phi chính phủ nhưng vẫn hoạt động một cách có hiệu quả Việc thừa nhận vai trò, trách nhiệm của Toà án nhân dân trong hỗ trợ, giám sát hoạt động tố tụng giải quyết tranh chấp của TTTM là một sự tiếp sức cho TTTM, thể hiện quan điểm của Nhà nước trong việc đa dạng hoá phương thức giải quyết tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các chủ thể kinh doanh được sự bảo hộ của Nhà nước về mặt pháp lý trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại

Theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật TTTM năm 2010, việc thành lập HĐTT

để giải quyết tranh chấp hoàn toàn là quyền của các bên tranh chấp Các bên tranh chấp có quyền lựa chọn thành lập HĐTT có thể bao gồm một hay nhiều Trọng tài viên tùy theo sự thỏa thuận của các bên, trường hợp các bên không có sự thỏa thuận

về số lượng Trọng tài viên thì HĐTT bao gồm ba Trọng tài viên Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 41 Luật TTTM năm 2010, đối với việc thành lập HĐTT

vụ việc, nếu bị đơn hoặc các bị đơn không chọn được Trọng tài viên, hoặc các Trọng tài viên không bầu được một Trọng tài viên khác làm Chủ tịch HĐTT, hoặc các bên không chọn được Trọng tài viên duy nhất (trường hợp các bên thỏa thuận vụ tranh chấp do một trọng tài viên duy nhất giải quyết) thì Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc nơi

có trụ sở theo yêu cầu của một hoặc các bên có quyền đưa ra quyết định chỉ định Trọng tài viên, chỉ định Chủ tịch HĐTT trong các trường hợp trên

Tại khoản 4 Điều 42 Luật TTTM năm 2010, quy định: “Đối với vụ tranh chấp

do Hội đồng trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi Trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay

Trang 23

Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn 15 ngày, kể

từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các Trọng tài viên nói trên, của một hoặc các bên tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên” Như vậy, đối với trường hợp cần phải thay đổi Trọng tài viên theo quy định của pháp luật (trong vụ tranh chấp do HĐTT vụ việc giải quyết), nếu các thành viên còn lại của HĐTT không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì Tòa

án có thẩm quyền (Tòa án nơi HĐTT giải quyết tranh chấp) có thể hỗ trợ việc quyết định thay đổi Trọng tài viên này Cụ thể là Chánh án Tòa án có thẩm quyền sẽ phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi Trọng tài viên

Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 43 Luật TTTM năm 2010 còn quy định: “Trường hợp các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế; nếu không thỏa thuận được, thì

có quyền khởi kiện ra Tòa án để giải quyết” Theo đó, Tòa án cũng có thể “hỗ

trợ” trong trường hợp Trọng tài viên được lựa chọn không thể tiếp tục tham gia giải quyết tranh chấp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan

1.3 Đặc điểm thẩm quyền về dân sự theo vụ viê ̣c của Tòa án nhân dân trong viê ̣c giải quyết tranh chấp kinh doanh thương ma ̣i

Thẩm quyền của Tòa án về giải quyết tranh chấp trong KDTM được pháp luật quy định phân theo vụ việc, theo cấp tòa xét xử, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn Việc phân định thẩm quyền như trên làm cho hoạt động xét xử của Tòa án đạt hiệu quả, không “dẫm chân” lên nhau Xác định thẩm quyền một cách chính xác, khoa học sẽ tránh được sự chồng chéo của Tòa án trong việc thực hiện nhiệm vụ, góp phần làm cho Tòa án giải quyết vụ án đúng đắn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự Thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án trong giải

Trang 24

quyết tranh chấp KDTM là một loại thẩm quyền dân sự cụ thể của Tòa án Vì thế, trước hết nó mang đặc điểm chung của thẩm quyền dân sự của Tòa án, đó là:

Thứ nhất, phạm vi xem xét, giải quyết của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp KDTM được giới hạn bởi yêu cầu của đương sự Theo đó, có thể hiểu rằng, giới hạn hay phạm vi xét xử của Tòa án không phải là vô hạn, thể hiện ý chí chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng mà nó được luật hóa Trong TTDS, vì tính chất của dân sự là việc tư của đương sự, nên bao giờ luật cũng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên Tòa

án trong xét xử vụ việc dân sự chỉ là cơ quan đứng ra giải quyết những mối xung đột, những sự kiện pháp lý mà đương sự cung cấp Vì vậy, khác với Tòa án hình sự là dựa trên cáo trạng của VKS thì trong TTDS, Tòa án xác định phạm vi xét xử của mình dựa trên cơ sở, yêu cầu của đương sự thể hiện dưới hình thức là đơn kiện, đơn yêu cầu

Thứ hai, khác với thẩm quyền hình sự hay thẩm quyền hành chính của Tòa án được giải quyết theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc thủ tục tố tụng hành chính thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM của Tòa án được thực hiện theo thủ tục TTDS

mà cụ thể là thủ tục giải quyết các vụ án dân dự

Thứ ba, Tòa án phải tôn trọng quyền tự thỏa thuận, tự định đoạt, tự nguyện không trái pháp luật của đương sự

Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa

án về giải quyết tranh chấp KDTM còn mang những đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, việc xác định thẩm quyền dân sự theo vụ việc về giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án phải căn cứ vào thành phần chủ thể của quan hệ pháp luật

về KDTM Yếu tố chủ thể trong quan hệ pháp luật cũng được các nhà lập pháp quan tâm khi phân loại các quan hệ xã hội Tương ứng với từng loại quan hệ xã hội các chủ thể tham gia có sự khác nhau về thành phần và phạm vi thẩm quyền Yếu tố này gắn liền với phạm vi hoạt động, mức độ thể hiện, quyền hạn trong các quan hệ pháp luật Vì có sự phân biệt các quan hệ pháp luật nên yếu tố chủ thể có địa vị pháp lý khác nhau khi tham gia thiết lập các quan hệ pháp lý đó Vì vậy, chủ thể của tranh

Trang 25

chấp KDTM được xác định là các thương nhân Theo quy định tại Điều 2 Luật Thương mại 2005 thì đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại là thương nhân có hoạt động thương mại và tổ chức cá nhân khác hoạt động liên quan đến thương mại (khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”) Như vậy chiếu theo quy định này thì bất kỳ cá nhân, tổ chức nào tham gia hoạt động thương mại đều được điểu chỉnh bằng Luật thương mại (Hoạt động thương mại theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại 2005 là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”) Việc xác định chính xác và đầy đủ chủ thể của tranh chấp KDTM có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quan hệ tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết dân sự theo vụ việc của Tòa án do BLTTDS quy định

Thứ hai, xác định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM căn cứ vào mục đích lợi nhuận của hoạt động KDTM Mục đích

là mong muốn của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật Đó là cái đích mà một chủ thể nào đó nhắm đến khi thiết lập các quan hệ xã hội Điều này liên quan mật thiết đến thẩm quyền xét xử mà cụ thể là sự phân loại án trong hoạt động tố tụng

và cơ quan xét xử Trong tố tụng dân sự, các loại vụ việc được phân chia thành bốn loại khác nhau, trong đó các hoạt động kinh doanh tiêu chí mục đích được xác định

là chủ yếu Đây là căn cứ để phân biệt với các vụ việc khác Mục đích tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là động lực trực tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng các giao lưu trong KDTM mà còn là lý do tồn tại của các chủ thể trong kinh doanh Hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể nảy sinh các quan hệ các công ty và các thành viên công ty trong việc thành lập, giải thể công ty, các quan hệ hợp đồng Các bên hưởng quyền

và có nghĩa vụ thực hiện đúng và đủ những điều khoản mà mình đã thống nhất ý chí ghi vào các điều khoản của hợp đồng Tuy nhiên, không phải lúc nào các chủ thể ký kết hợp đồng trong KDTM cũng nghiêm chỉnh tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ của mình Mục đích đạt được lợi nhuận tối đa đã trở thành động lực trực tiếp của các bên

Trang 26

tham gia trong hoạt động thương mại Từ đó tranh chấp kinh doanh xuất phát từ mâu thuẫn về lợi ích của các chủ thể do không thực hiện đúng, không thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Như vậy, tranh chấp KDTM phát sinh từ hoạt động kinh doanh, tức là phát sinh từ việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh Vì vậy

mà mọi tranh chấp KDTM đều liên quan đến quyền và nghĩa vụ về tài sản

Thứ ba, tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết dân sự của Tòa án khi giữa các bên không có thỏa thuận trọng tài hoặc tuy có thỏa thuận trong tài nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu Giải quyết tranh chấp KDTM chính là việc lựa chọn các hình thức, biện pháp thích hợp để giải tỏa mâu thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được Nói cách khác, đây chính là quá trình các chủ thể có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp (hòa giải viên, trọng tài viên, thẩm phán ) lựa chọn các biện pháp, hình thức phù hợp để giải tỏa mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên Tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, mức độ hoàn thiện của pháp luật, sự ảnh hưởng của văn hóa dân tộc của các quốc gia khác nhau có thể xây dựng các cách thức, biện pháp giải quyết tranh chấp thương mại khác nhau Theo quy định của pháp luật Việt Nam, một tranh chấp KDTM phát sinh thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện ra Tòa án hoặc yêu cầu Trọng tài thương mại giải quyết theo các thủ tục tố tụng khác nhau Vì vậy, cần phải có cơ sở để phân định thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM của Tòa án và Trọng tài thương mại Cơ sở để phân định thẩm quyền đó chính là thỏa thuận Trọng tài giữa các bên tranh chấp Điều 6 Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được” Xuất phát từ nguyên tắc tự nguyện – một nguyên tắc cốt lõi trong tố tụng trọng tài, sự hình thành trọng tài là do ý chí tự nguyện của các bên đương sự và trong quá trình tố tụng trọng tài đều nhân danh ý chí tối cao của các bên đương sự Việc quy định như trên nhằm

Trang 27

mục đích tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, tránh được sự chồng chéo về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM giữa Trọng tài và Tòa án Vì vậy, Tòa án đóng vai trò duy trì công lý, bảo đảm sự tôn trọng thỏa thuận trọng tài và ý chí của các bên trong việc đưa vụ tranh chấp ra Trọng tài Đó là trách nhiệm từ chối thụ lý

vụ tranh chấp, nếu một bên cố ý đưa nó ra Tòa án, trừ trường hợp xét thấy giữa các bên không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài là vô hiệu Như vậy, việc dựa vào các đặc điểm chung về thẩm quyền dân sự của Tòa án và các đặc thù cần xác định trong vụ việc tranh chấp KDTM sẽ là cơ sở, nền tảng pháp lý quan trọng giúp cho việc xác định chính xác thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM

1.4 Ý nghĩa của việc quy định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Thẩm quyền của toà án là một trong những chế định quan trọng trong pháp luật

tố tụng nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng Việc quy định này không chỉ

có ý nghĩa đối với nhà nước mà còn có ý nghĩa với các bên đương sự và các đối tượng có liên quan Việc quy định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM cũng có ý nghĩa như vậy

Thứ nhất, xác định đúng, hợp lý thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM là công cụ để nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân Để làm được điều này thì phải sử dụng đến công cụ là pháp luật và việc quy định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM

là không thể thiếu Bởi trong nền kinh tế thị trường thì không phải lúc nào lợi ích của các chủ thể cũng có thể thống nhất với nhau và tranh chấp KDTM xảy ra là điều tất yếu Các tranh chấp này có thể do mâu thuẫn về mặt lợi ích hoặc do các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác gây nên Dù do nguyên nhân nào thì các tranh chấp này vẫn có nguy cơ gây mất ổn định nền kinh tế, làm gián đoạn các hoạt động sản xuất kinh doanh và đi lệch so với định hướng của nhà nước Vì vậy để giải quyết các vấn

đề trên thì đương nhiên phải quy định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của tòa án về giải quyết tranh KDTM

Trang 28

Thứ hai, tạo ra một cơ chế pháp lý hữu hiệu để giải quyết tranh chấp KDTM Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án là cơ sở pháp

lý để Tòa án thụ lý, giải quyết các tranh chấp KDTM phát sinh trong xã hội Đương

sự có rất nhiều phương án để lựa chọn như thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại hoặc tòa án Tuy nhiên, không phải khi nào họ cũng có thể thương lượng hòa giải được với nhau, kể cả trong trường hợp có thể thương lượng, hòa giải được thì thực thi cũng là điều khó khăn vì không có tính cưỡng chế Khi đó tòa án với tư cách

là một cơ quan công quyền và những ưu điểm của nó vẫn được các bên tranh chấp tin tưởng và lựa chọn làm phương thức giải quyết các tranh chấp của mình Vì vậy, việc quy định thẩm quyền tạo ra một cơ chế pháp lý hữu hiệu để giải quyết tranh chấp KDTM

Thứ ba, tạo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư và góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Việc quy định về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM không chỉ có ý nghĩa trong nước mà còn có ý nghĩa tạo tâm lý yên tâm cho các đối tác nước ngoài vào một môi trường đầu tư tốt

Thứ tư, các quy định về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM là cơ sở để phân định thẩm quyền của Tòa án với thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc xem xét, giải quyết các tranh chấp KDTM

Thứ năm, việc quy định về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM là cơ sở để đương sự thực hiện quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp KDTM theo thủ tục TTDS

1.5 Cơ sở khoa ho ̣c của viê ̣c xây dựng quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về thẩm quyền dân

sư ̣ theo vụ viê ̣c của Tòa án nhân dân trong viê ̣c giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

Việc phân định thẩm quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án nói riêng phải dựa trên những cơ sở nhất định Từ đó,

có thể thấy rằng cơ sở phân định thẩm quyền ở đây chính là cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn Sự phân định thẩm quyền dân sự theo vụ việc của tòa án về giải quyết tranh

Trang 29

chấp KDTM chủ yếu phụ thuộc vào chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp, tính chất quan hệ pháp luật nội dung mà Tòa án cần giải quyết, tính chất của nền kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, thực tiễn giải quyết các tranh chấp KDTM,

sự lựa chọn của đương sự và sự tiếp thu có chọn lọc các quan điểm lập pháp tiến bộ trên thế giới Cụ thể:

1.5.1 Xuất phát từ chủ trương của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp

Hiến pháp và pháp luật đã khẳng định: Ở nước ta Đảng Cộng Sản Việt Nam với tư cách là một tổ chức lãnh đạo của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đại diện cho quyền lợi của quần chúng nhân dân Trong pháp luật về giải quyết tranh chấp KDTM thì các đường lối, chính sách của Đảng luôn là cơ sở để xây dựng văn bản pháp luật tương ứng Năm 1986, Đại hội Đảng VI đã đề ra đường lối đổi mới với quyết tâm: “Triệt để xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Đường lối đổi mới của Đảng ta

đã đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện bộ máy bảo vệ pháp luật bằng công cuộc cải cách

tư pháp, nhằm xây dựng bộ máy gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả với sự phân định rõ ràng về quyền hạn, nhiệm vụ của từng tổ chức, từng cơ quan Trước yêu cầu đó, ngày 16/3/1994 Ủy ban thuờng vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án kinh tế (PLTTGQCVAKT) [15] Điều 12 PLTTGQCVAKT đã quy định thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế với phạm vi rộng hơn rất nhiều so với các quy

quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế thì nhiều quy định của PLTTGQCVAKT năm

1994 không còn phù hợp nữa Vì vậy, BLTTDS 2004 ra đời nay được thay thế bởi BLTTDS 2015 đã mở rộng thẩm quyền về giải quyết tranh chấp KDTM theo vụ việc của tòa án với nhiều quy định phù hợp hơn với tình hình kinh tế đất nước Nhận định

2 Điều 12 PLTTGQCVAKT không chỉ quy định việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế mà còn quy định việc giải quyết các tranh chấp giữa công ty và thành viên công ty, các tranh chấp về cổ phiếu, trái phiếu…v.v

Trang 30

được điều này, Đảng ta cũng đưa ra nhiều yêu cầu về công tác tư pháp Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020

đã đặt ra nhiệm vụ: Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định hợp đồng, bồi thường, bồi hoàn và khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án

hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp Trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân Kết luận số 92-KL/TW của Bộ Chính trị ngày 12 tháng 3 năm 2014

đã chỉ rõ cần tiếp tục thực hiện chủ trương tổ chức tòa án nhân dân, viện kiểm sát

nhân dân theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính

1.5.2 Xuất phát từ tính chất quan hệ pháp luật nội dung mà Tòa án cần giải quyết

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở nước ta, hoạt động KDTM ngày càng đa dạng, không ngừng phát triển trong tất cả mọi lĩnh vực kinh doanh sản xuất, thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư Trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp các cá nhân, tổ chức tiến hành thiết lập một mạng lưới các hành vi thương mại mà mục tiêu của các bên khi tham gia vào các quan hệ này là lợi nhuận

Rõ ràng trong nền kinh tế thị trường, mục đích tối đa hoá lợi nhuận trở thành động lực trực tiếp của các bên tham gia quan hệ kinh tế thương mại Trong điều kiện đó, tranh chấp là một vấn đề tất yếu, không thể tránh khỏi, đòi hỏi phải có sự quan tâm giải quyết một cách thoả đáng Về nguyên tắc những nhóm quan hệ cùng tính chất cần điều chỉnh theo phạm vi riêng để trên cơ sở đó phân biệt với các loại quan hệ khác và đạt hiệu quả trong việc điều chỉnh pháp luật Về bản chất các quan hệ dân

sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động đều được coi là các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nên khi có tranh chấp, yêu cầu Tòa án giải quyết đều được giải quyết theo thủ tục TTDS Song để giải quyết về nội dung tranh chấp, yêu cầu thì phải áp dụng pháp luật nội dung Vì thế, xuất pháp từ quan hệ pháp luật nội dung mà các vụ việc này được quy định thành từng nhóm quan hệ khác nhau Việc xác định các quan hệ

Trang 31

pháp luật tranh chấp về KDTM dựa vào quy định của pháp luật tố tụng, cụ thể là

BLTTDS 2015

1.5.3 Xuất phát từ quyền định đoạt của các đương sự

Các quan hệ pháp luật dân sự đều có cùng tính chất là được hình thành trên cơ

sở bình đẳng, tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và định đoạt của các chủ thể Do vậy, các quy định về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM cũng được xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự trong TTDS Tuy nhiên, quyền tự định đoạt của các đương sự không mang tính tuyệt đối Quyền tự định đoạt về thẩm quyền phải trong khuôn khổ, giới hạn mà pháp luật quy định, sao cho việc định đoạt này thuận lợi cho việc tham gia tố tụng của đương sự, thuận lợi cho việc giải quyết vụ việc nhưng không xâm lấn quyền tự

do của các đương sự khác Do đó, khi xây dựng các quy định về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM của Tòa án, các nhà lập pháp phải đặt lên hàng đầu tiêu chí bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Từ đó mới nâng cao được hiệu quả của hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động tố tụng dân sự nói riêng, phù hợp với xu hướng chung

của nền tố tụng dân sự thế giới

1.5.4 Căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và xuất phát

từ thực tiễn giải quyết các tranh chấp

Trong những năm qua nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ Quá trình hội nhập của Việt Nam càng được đẩy mạnh thì những tranh chấp KDTM ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp Thực tế cho thấy có sự gia tăng của tranh chấp KDTM có yếu tố nước ngoài, tranh chấp về sở hữu trí tuệ, phá sản; xuất hiện những loại tranh chấp mới như thương mại điện tử, …v.v Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tất yếu đòi hỏi hệ thống pháp luật TTDS nước ta nói chung và pháp luật về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM của Tòa án nói riêng phải có sự thay đổi để điều chỉnh cho phù hợp hơn với thực tiễn Vì vậy, việc quy định thẩm quyền của tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM cũng phải được mở rộng theo

Trang 32

hướng bao quát được các tranh chấp KDTM phổ biến phát sinh trong nền kinh tế mới

Do đó, việc xây dựng các quy định về thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa

án về giải quyết tranh chấp KDTM phải căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong từng giai đoạn và cho cả tiến trình phát triển là điều hết sức cần thiết Ngoài ra, việc phân định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các

vụ việc về tranh chấp KDTM còn chịu ảnh hưởng nhất định của quan điểm lập pháp,

sự tiếp thu kinh nghiệm của các nước đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển

1.6 Lịch sư ̉ hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án

1.6.1 Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án trên thế giới

Trong giai đoạn xã hội sơ khai, công lý được thể hiện khá rõ nét thông qua cơ chế trả thù cá nhân, bằng luật báo thù, dĩ oán báo oán, với công thức ngang bằng

“răng đền răng, mắt đền mắt” Giai đoạn thứ hai của sự phát triển này là thay sự báo thù bằng hình thức bồi thường, phạt vạ, nhằm giữ yên ổn, hoà hảo trong nội bộ các

bộ tộc, bộ lạc Đến giai đoạn thứ ba, để ngăn chặn các cuộc trả thù cá nhân, duy trì hòa bình, trật tự, ổn định của toàn xã hội, thiết chế toà án đã được thành lập để thẩm định, đánh giá mức độ thiệt hại, từ đó hoà giải, điều đình cho các xung đột giữa các

cá nhân trong xã hội Công lý và tư pháp xét xử đã vững bước song hành từ những

Đến đầu thế kỷ thứ VI TCN, quan chấp chính Xôlông đã tiến hành một loạt các cải cách dân chủ của nhà nước Athen, trong đó có việc lập ra Tòa án nhân dân và tuyên bố mọi công dân đều có quyền chống án và bào chữa cho mình, qua đó tạo cơ

3 Trong cuốn “Lịch sử văn minh nhân loại”, với nhiều khảo nghiệm nhân loại học phong phú, nhà sử học Hoa Kỳ Will Durant đã khái quát và luận giải sự ra đời, vai trò và ý nghĩa của thiết chế bảo vệ công lý - Tòa án

Trang 33

sở cho sự ra đời của chế định luật sư Cũng trong giai đoạn này, nhiều nguyên tắc xét

xử ban đầu, sơ khai để bảo đảm công lý đã được đưa ra và còn được duy trì, tồn tại cho đến ngày nay Trong giai đoạn đầu, thủ tục tố tụng còn mang tính chất tư tố Theo đó, quyền triệu tập một cá nhân ra tòa, quyền buộc tội thuộc về tất cả mọi người Đối với quan hệ hình sự mang tính chất tư tố, người bị hại đồng thời cũng là người truy tố, buộc tội Bước sang giai đoạn đầu của xã hội phong kiến, các phiên tòa xét xử được tổ chức dưới dạng đại hội công dân nhưng nó bắt đầu được chủ trì bởi các quan lại hoặc chính Nhà vua, qua đó từng bước chuyển từ chế độ xét xử công cộng sang xét xử Nhà nước Trong các nhà nước sơ khai cũng như các nhà nước phong kiến sau này, mặc dù bộ máy tư pháp có quy mô khác nhau, thậm chí có những giai đoạn là khá đồ sộ để thực hiện nhiệm vụ đàn áp nhưng đều có chung một đặc trưng nổi bật là thẩm quyền của tư pháp chưa tách rời thẩm quyền hành chính, ranh giới giải quyết hành chính và quyền tư pháp là rất mờ nhạt Tập quyền chuyên chế phong kiến là nơi thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vào cá nhân hoàng đế với sự hỗ trợ đắc lực của niềm tin tôn giáo rằng quyền hành của hoàng đế

là “thiên mệnh”

Có thể nói, trong lịch sử văn minh nhân loại, nhà nước đã được hình thành từ rất sớm, cách đây khoảng hơn 5.000 năm Tuy nhiên, bộ máy nhà nước được phân quyền với cơ quan đảm nhận nhiệm vụ tư pháp xét xử mới chỉ được thiết lập cách đây gần 300 năm

Thế kỷ thứ 18, học thuyết phân quyền của Montesquieu ra đời với tên gọi “tam quyền phân lập” (Seperation of powers) và trở thành “hòn đá tảng” trong lý luận tổ chức quyền lực nhà nước tư sản, theo đó, quyền lực nhà nước được phân công và tổ chức thành ba nhánh: Lập pháp, hành pháp, tư pháp

Trên cơ sở học thuyết tam quyền phân lập, các nhà lập hiến Hoa Kỳ cho rằng việc thiết lập công lý phải được giao cho một cơ quan có tính ổn định, lâu dài và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi của các yếu tố chính trị thoáng qua, nhất thời như các cơ quan được hình thành trên cơ sở bầu cử, đó chính là hệ thống các cơ quan

Trang 34

xét xử Lập pháp và hành pháp là những cơ quan chính trị có trách nhiệm đề ra những chủ trương, chính sách trong việc giải quyết những yêu cầu, đòi hỏi thường nhật của dân chúng Còn Tư pháp - Tòa án phải ở một cương vị khác hơn, ở đó, đòi hỏi thái

độ bình tĩnh, suy xét để phán quyết sự đúng sai của các vụ việc đã qua

1.6.2 Lịch sư ̉ hình thành và phát triển của hệ thống Tòa án, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án

1.6.2.1 Giai đoạn trước năm 1994

Tại Việt Nam, trong giai đoạn đầu của Nhà nước cách mạng nhân dân 1950), Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định cách tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một văn bản được Bộ trưởng Bộ

(1945-Tư pháp Vũ Trọng Khánh - một trí thức được đào tạo luật học một cách bài bản của nền giáo dục Cộng hòa Pháp chắp bút, đã thể hiện khá đậm nét truyền thống triết học pháp lý Pháp, theo đó, khẳng định Tòa án là thiết chế có thiên chức bảo vệ công lý,

hệ thống tư pháp là độc lập, “các vị thẩm phán sẽ chỉ trọng pháp luật và công lý”,

“các vị phụ thẩm phải thề trước công lý suy xét cẩn thận những án đem ra xử và công bằng xét định mọi việc” Từ năm 1950, Việt Nam đã tiếp thu những di sản lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin và học thuyết tập quyền XHCN của Liên

Xô Nội dung hạt nhân của học thuyết này là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân (Xô viết tối cao hay Quốc hội) Các cơ quan khác của nhà nước, bao gồm

cả Tòa án nhân dân, chỉ là cơ quan phái sinh do cơ quan quyền lực cao nhất thành lập và phải chịu sự kiểm tra, giám sát tối cao của Quốc hội Trong thực tế, thống nhất quyền lực chính là sự tập trung quyền lực về Quốc hội và tập quyền XHCN với nhận thức như trên đã được xem là nền tảng lý luận cho việc tổ chức chính quyền Việt Nam từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980

Trong giai đoạn này, ở nước ta, Tòa án nhân dân luôn được xác định là thiết chế thực hiện quyền chuyên chính của Nhà nước dân chủ nhân dân, là công cụ trấn

Trang 35

áp, trừng trị bọn tay sai đế quốc và bọn phản cách mạng để bảo vệ chủ quyền tự do, độc lập dân tộc, bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất Tổ quốc Theo đó, vai trò và nhiệm vụ của Tòa án nhân dân mới được nhấn mạnh từ khía cạnh là cơ quan xét xử chứ chưa thực sự chú trọng ở khía cạnh là quyền lực tư pháp và là cơ quan bảo vệ công lý Các cơ quan Tòa án nhân dân mang nặng đặc điểm của một thiết chế thời kỳ chiến tranh, bao cấp và chưa

Trong những năm 1950-1960, từ khi miền Bắc tiến hành chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội thì trong một thời gian dài các tranh chấp kinh tế chỉ được coi là các tranh chấp về hợp đồng kinh tế và các tranh chấp về hợp đồng kinh tế được giải quyết tại Tòa án nhân dân tức là được giải quyết theo trình tự tư pháp Quy định này được thể hiện tại Nghị định 735-TTg ngày 10/04/1956 ban hành điều lệ tạm thời về Hợp đồng kinh tế

Đến giai đoạn từ 1960-1994 các tranh chấp kinh doanh thương mại lại được

ngày 04/01/1960, trọng tài kinh tế được thành lập và tổ chức ở cấp trung ương, khu, thành phố, tỉnh và bộ với chức năng chủ yếu là xét xử các tranh chấp kinh tế Tới ngày 14/04/1975 đã ban hành Nghị định 75/CP về điều lệ tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Theo đó, trọng tài kinh tế được thành lập như một cơ quan nhà nước có chức năng quản lý công tác hợp đồng kinh tế, đảm bảo tính kỷ luật của nhà nước, giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế Đến năm 1984, Hội đồng bộ trưởng (hiện nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định 64-HĐBT ngày 17/04/1984

4 Truyền thống này được duy trì và thể hiện trung thành tại các Điều 63-69 Hiến pháp năm

1946, Điều 97-108 Hiến pháp năm 1959, các Điều 127-141 Hiến pháp năm 1980 và các Điều 126-140 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001)

5 Trong giai đoạn 1960-1994, tòa án không có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KDTM

Trang 36

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Trọng tài kinh tế cấp huyện, tỉnh, bộ lần đầu tiên hình thành ở nước ta hệ thống trọng tài kinh tế cấp huyện Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, ngày 10/01/1990, Hội đồng nhà nước (nay là Quốc hội) đã ban hành Pháp lệnh trọng tài kinh tế, trong đó, có nhiều nội dung đổi mới về tổ chức, phân cấp thẩm quyền và thủ tục tố tụng trọng tài Trong đó,

có quy định Trọng tài kinh tế là hệ thống các cơ quan do nhà nước thành lập ra, gồm

ba cấp trung ương, tỉnh, huyện, chịu sự quản lý theo ngành dọc cũng như chịu sự quản lý chính quyền địa phương, nằm trong bộ máy hành pháp của nhà nước Tới Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29/11/1989 đã thể hiện

sự quan tâm của Nhà nước, của xã hội đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

1.6.2.2 Giai đoạn 1994 đến 2004

Từ năm 1986, chính sách Đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã khơi nguồn cho quá trình dân chủ hóa mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Dân chủ hóa trong lĩnh vực kinh tế đòi hỏi Nhà nước ta công nhận và vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Dân chủ trong lĩnh vực chính trị đòi hỏi lựa chọn mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN với những điểm ưu việt bảo đảm tốt hơn các quyền tự do, dân chủ cho Nhân dân Từ năm 1994, thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền XHCN” lần đầu tiên được Đảng ta chính thức sử dụng tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc của Đảng giữa nhiệm kỳ khóa VII và sau đó chính thức được định danh tại Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Giai đoạn này đánh dấu bằng sự ra đời của pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ

án kinh tế năm 1994, từ đó song song tồn tại hai thiết chế tài phán giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, bao gồm:

Thứ nhất, đối với thiết chế trọng tài, bên cạnh trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam được mở rộng thẩm quyền theo Quyết định 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ

Trang 37

tướng chính phủ thì có thêm trọng tài kinh tế được thành lập theo Nghị định số 116/CP ngày 05/09/1994 của Chính phủ

Sau đó, Pháp lệnh số 08/2003/PLUBTVQH về trọng tài thương mại đã thay thế cho các văn bản trên Từ đây trọng tài thương mại được tổ chức dưới hình thức trọng tài phi chính phủ do Bộ tư pháp xem xét và cấp giấy phép thành lập

Thứ hai, đối với thiết chế Tòa án, năm 1994 Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành PLTTGQCVAKT ngày 06/03/1994 Trước thực tế PLTTGQCVAKT không đáp ứng đòi hỏi của việc giải quyết các tranh chấp KDTM, sau một thời gian thực hiện, Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 thay thế cho pháp lệnh này Theo đó thẩm quyền giải quyết vụ việc về tranh chấp KDTM của Tòa án được quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004

1.6.2.3 Giai đoạn 2004 đến nay

Để phù hợp với tư duy xây dựng nhà nước pháp quyền, đề cao quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, coi con người là chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và là mục đích của sự phát triển, Hiến pháp năm 2013 đã chính thức ghi nhận, khẳng định Tòa án nhân dân là “cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” và giao Tòa án nhân dân “nhiệm vụ bảo vệ công lý” Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân và các Tòa án quân sự do luật định

là những cơ quan thực hiện quyền tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khác với Quốc hội - cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp, tòa án không giải quyết các vấn đề chung, ở tầm vĩ mô, chính sách mà có chức năng giải quyết các vấn đề cụ thể, từng tình huống, sự kiện trong đời sống xã hội, thực hiện việc áp dụng pháp luật

Bộ luật tố tụng dân sự 2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004 và chính thức có hiệu lực ngày 01/01/2005 đã đưa ra các quy định về thẩm quyền dân sự của Tòa án, trong đó có thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp KDTM đã được hướng dẫn thi hành bởi Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/03/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Qua đó vấn đề

Trang 38

thẩm quyền được quy định tương đối đầy đủ, thống nhất, tạo hành lang pháp lý để Tòa án các cấp giải quyết tranh chấp kịp thời, đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giải quyết nhanh chóng và hiệu quả các vụ việc, tranh chấp trong đời sống xã hội nói chung và các tranh chấp trong lĩnh vực KDTM nói riêng Sau nhiều năm áp dụng, một số quy định của BLTTDS 2004 đã bộc lộ những hạn chế, khiến cho việc giải quyết các tranh chấp cũng gặp nhiều khó khăn Xuất phát từ nhu cầu cần sửa đổi những quy định của BLTTDS 2004, Ngày 29/3/2011, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS

Kế thừa BLTTDS 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS số 65/2011/QH12, ngày 25/11/2015, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 đã thông qua BLTTDS 2015 thay thế BLTTDS năm 2004 BLTTDS 2015

đã có nhiều sửa đổi căn bản, toàn diện nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật; khắc phục những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn công tác giải quyết các vụ án tranh chấp dân

sự nói chung, trong đó có các vụ án tranh chấp KDTM nói riêng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Những nội dung được phân tích ở Chương 1 giúp chúng ta có cái nhìn rõ ràng hơn về các vấn đề lý luận liên quan thẩm quyền dân sự theo vụ việc của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM Bên cạnh đó, việc nhìn lại lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống Tòa án, cũng như quy định pháp luật thế giới và Việt Nam liên quan thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM đã phần nào đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình áp dụng, hoàn thiện các quy định của pháp luật

về vấn đề này

Trang 40

CHƯƠNG 2:

SỰ THEO VỤ VIỆC CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH

THƯƠNG MẠI

Điều 30 Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự 2015 đã kế thừa các quy đi ̣nh pháp luâ ̣t của BLTTDS năm 2011 khi xác định 5 loa ̣i quan hê ̣ tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Bên ca ̣nh đó, BLTTDS năm

2015 đã có sự điều chỉnh để phù hợp hơn với bản chất quan hê ̣ kinh doanh thương

lượng và đô ̣ phức ta ̣p trong bối cảnh toàn cầu kinh tế hiê ̣n nay

2.1 Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

Theo quy định tại Điều 29 BLTTDS 2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS thì các loại tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm: Mua bán hàng hóa; Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy nội địa; Vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; Thăm dò, khai thác BLTTDS đã sử dụng phương pháp liệt kê để xác định các hoạt động được coi là các hoạt động KDTM Như vậy, tranh chấp phát sinh giữa cá nhân,

tổ chức phát sinh từ hoạt động thương mại thuộc thẩm quyền dân sự của Tòa án khi những tranh chấp đó có đủ 3 điều kiện như sau:

Một là, các tranh chấp này phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại phải

có mục đích lợi nhuận Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội

Ngày đăng: 03/09/2018, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm