Nguyễn Triều Dương, tôi đã thực hiện đề tài:“Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng từ thực tiễn tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” để nghiên cứu và làm Luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG TỪ THỰC TIỄN TẠI
CÁC TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
NGUYỄN VĂN LÂM
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Văn Lâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Viện Đại học Mở Hà Nội và của TS Nguyễn Triều Dương, tôi đã thực hiện đề tài:“Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng từ thực tiễn tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương” để
nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ luật kinh tế của mình
Để hoàn thành công trình này, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên hướng dẫn trực tiếp TS Nguyễn Triều Dương, đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi,
kể từ khi hình thành ý tưởng đến khi hoàn thiện Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy cô trong trường Viện Đại học Mở Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô Khoa Sau đại học đã luôn có những nhắc nhở kịp thời để tôi có thể hoàn thiện luận văn đúng thời hạn, cảm ơn Nhà trường đã tạo mọi điều kiện tốt nhất
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Tuy nhiên, lần đầu tiên tôi thực hiện nghiên cứu một đề tài có tính chuyên sâu, việc hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân còn chưa nhận thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để Luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Lâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa lý luận và những đóng góp mới của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP 7
HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng 7
1.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng 7
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng 8
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng 11
1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng 11
1.2.2 Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng 12
1.2.3 Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng 18
1.3 Nguyên nhân và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 21
Trang 51.3.1 Nguyên nhân của tranh chấp hợp đồng tín dụng 21
1.3.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 27
1.4 Các tiêu chí và yếu tố bảo đảm việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án 33
1.4.1 Các tiêu chí hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án 33
1.4.2 Các yếu tố bảo đảm việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD bằng Tòa án 36
Kết luận Chương 1 38
Chương 2 39
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 39
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về hợp đồng tín dụng 39
2.2 Thực trạng quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng Tòa án 51 2.2.1 Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp 51
2.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp 53
2.2.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp 55
Kết luận Chương 2 60
Chương 3 61
THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ CÁC KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 61
3.1 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương 61
3.1.1 Giới thiệu về Hải Dương và các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương 61
3.1.2 Tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại các Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương 63
3.1.3 Những ưu điểm và hạn chế, tồn tại trong quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng 75
3.2 Các kiến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng trong giai đoạn hiện nay 78
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật 78
3.2.2 Các kiến nghị về tổ chức và thực hiện 96
Trang 6Kết luận chương 3 99 KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số liệu vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại (trong đó có tranh chấp HĐTD) trong giai đoạn 2012 – 2016 64 Bảng 2.2 Số liệu vụ án về tranh chấp HĐTD thụ lý trong giai đoạn 2012 – 2016 65
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự HĐTD : Hợp đồng tín dụng TAND : Tòa án nhân dân TCTD : Tổ chức tín dụng XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất nước ta đang trong quá trình phát triểntrên mọi lĩnh vực vềchính trị, kinh tếvà xã hội, cũng như các lĩnh vực khác, góp phần tạo nên bước tiến đáng
kể vào công cuộc phát triển đất nước Với một nền kinh tế phát triển ngày một nhanh, hội nhập quốc tế ngày một sâu rộng, nhu cầu vốn cho nền kinh tế đó là rất lớn Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã hình thành nên thị trường tín dụng rộng lớn và có sức phát triển nhanh Hệ thống các TCTD hình thành và phát triển gắn với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, giải quyết nhu cầu về nguồn vốn, nhu cầu thanh toán… phục vụ sự phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế và cá nhân
Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thì hoạt động cấp tín dụng trong đó có cấp tín dụng thông qua HĐTD là hoạt động kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất Thông qua HĐTD được xác lập giữa TCTD và bên vay tiền, quan hệ tín dụng đã được hình thành HĐTD phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của BLDS, Luật các TCTD và các quy định khác của Ngân hàng nhà nước…Trong thực tế, cùng với sự phức tạp của quan hệ tín dụng nói chung và quan hệ HĐTD nói riêng, các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện HĐTD xảy ra tương đối nhiều Điều này đã ảnh hưởng lớn tới sự ổn định của thị trường tín dụng, ảnh hướng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân có liên quan
Trên cơ sở đó, việc hệ thống pháp luật có những quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp HĐTD là rất cần thiết Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển của quan hệ này, các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD đã được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện qua các văn bản như: BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011,
Trang 10BLDS năm 2005, Luật các TCTD năm 2010 và đặc biệt gần đây là việc Quốc hội đã ban hành BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015
Các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTDvề cơ bản đã tương đối đầy đủ về hình thức cũng như nội dung Tuy nhiên, những quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD còn chưa thực sự đồng bộ giữa BLDS, BLTTDS với Luật các TCTD, trong khi BLDS, BLTTDS mới được ban hành mới thì Luật các TCTD 2010 chưa được sửa đổi, bổ sung Những quy định đặc thù về giải quyết tranh chấp HĐTD chưa thực sự cụ thể, còn có sự chồng chéo về chủ thể, quyền hạn giải quyết… Điều này dẫn đến hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD chưa thực sự cao, có nhiều vụ việc bị kháng cáo, kháng nghị phúc thảm, thậm chí có trường hợp bị kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ
Tỉnh Hải Dương là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế xã hội nhanh trên cả nước, quy mô kinh tế ngày một lớn, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội thì những tranh chấp phát sinh từ hoạt động tín dụng nói chung và HĐTD nói riêng trên địa bàn tỉnh Hải Dương ngày gia tăng Các tranh chấp này đã được TAND hai cấp của tỉnh Hải Dương thụ lý giải quyết góp phần quan trọng vào việc bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD trên địa bàn còn nhiều hạn chế, tồn tại, cần phải có những nghiên cứu để góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp này hơn nữa
Từ những sự phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng từ thực tiễn tại các Tòa
án nhân dântỉnh Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói chung và giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD nói riêng có thể liệt kê như:
Trang 11- Tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng “Thủ tục giải quyết tranh chấp HĐTD
qua thực tiễn xét xử tại Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội, Luận văn thạc
sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội năm 2013;
- Tác giả Hoàng Văn Bích “Giải quyết tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản qua thực tiễn xét xử tại Vĩnh Phúc” Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Năm 2014;
- Tác giả Hồ Thị Khuyên “Thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD tại
TAND thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2016
- Một số bài báo khoa học như:“Một sốvấn đề pháp lý vềHĐTD và thời
hiệu khởi kiện vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng tín dụng”, củaTh.s Nguyễn
Quỳnh Chi đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 3/2005; “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay” củaPGS.TS Nguyễn Như Phát, TS Lê Thị Thu Thủy đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2010;
“Tranh chấp hợp đồng vàcác phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng” của
TS Phan Chí Hiếu đăng trên tạp chí Luật học, số 2/2008;
- Một số Sách chuyên khảo như:“Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng
tài sản của các tổchức tín dụng” do TS.Lê ThịThu Thủy làm chủ biên,NhàXuất
bản Tư pháp2006, Cuốn sách “Hoàn thiện pháp luật vềhoạt động của Ngân hàng
Thươngmại trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của TS Ngô Quốc Kỳ,Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2005
Các công trình nghiên cứu này đã góp phần tạo cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nói chung và HĐTD nói riêng Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về HĐTD vẫn còn là cấp thiết, bởi lẽ các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế chưa phù hợp với thực tiễn
Với luận văn này, tôi mong muốn làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về HĐTD, giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD, chỉ ra những bất cập của việc
Trang 12thực hiện các quy định pháp luật trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD Từ đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường Tòa án ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
từ HĐTD bằng con đường Tòa án ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tranh chấp HĐTD và giải quyết tranh chấp HĐTD như khái niệm, đặc điểm; để từ đó xác định khái niệm, nội dung của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD;
- Nghiên cứu làm sáng tỏ quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam
về giải quyết tranh chấp HĐTD để từ đó đánh giá được những hạn chế, tồn tại trong hệ thống quy định này;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD tại các TAND trên địa bàn tỉnh Hải Dương, đưa ra được những hạn chế, bất cập trong thực tiễn giải quyết này;
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề phát sinh từ thực trạng giải
Trang 13quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường Tòa án ở Việt Nam Qua
đó, đề ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường Tòa án ởViệt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài có phạm vi nghiên cứu là những quan điểm, lý luận về giải quyết tranh chấp HĐTD đã được các tác giả đưa ra; những quy định của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp HĐTDtrong BLTTDS hiện hành và thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong 5 năm từ năm 2012 đến năm 2016
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp như: phương pháp thống kê, khảo sát; phương pháp tổng hợp, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam
về giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng con đường Tòa án
6 Ý nghĩa lý luận và những đóng góp mới của luận văn
Đề tài là công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học về hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD ở Việt Nam hiện nay
Đề tài có ý nghĩa lý luận như sau:
- Đưa ra được những phân tích lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD như khái niệm, đặc điểm, nội dung;
- Đánh giá được thực trạng quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD và thực tiễn áp dụng tại các TAND tỉnh Hải Dương;
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo luật và tài liệu tham khảo cho các cơ quan
Trang 14áp dụng pháp luật trên thực tiễn như:Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án dân sự…
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp HĐTD và hoàn thiện
pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD
Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD
Chương 3:Thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐTD các kiến nghị hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD
Trang 15Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
BLDS 2015: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu
có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định 1 ”.HĐTD về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Còn những hoạt động cấp tín dụng khác như bảo lãnh, cầm cố, chiết khấu giấy tờ có giá được gọi chung là hợp đồng cấp
sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay,
1 Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội
Trang 16hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận Như vậy, ngay trong quy chế cho vay của TCTD cũng chỉ qui định việc cho vay phải xác lập bằng HĐTD
Từ các phân tích trên, cho thấy pháp luật chuyên ngành chỉ đưa ra quy định về những nội dung cơ bản HĐTD phải có mà không đưa ra định nghĩa cụ thể về HĐTD Quan hệ tín dụng về bản chất là một quan hệ dân sự nên HĐTD cũng là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự Từ khái niệm hợp đồng dân sự được quy định theo Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự 2 ”, có thể hiểu “HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích và trong một thời hạn được xác định, khi đến hạn, bên vay phải trả cả gốc và lãi được xác định theo lãi suất
mà các bên đã thỏa thuận”
Như vậy, HĐTD ngân hàng là văn bản phản ánh thỏa thuận trực tiếp của TCTD và khách hàng trong việc xác lập một quan hệ cho vay, xác lập các quyền
và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các bên đó trong việc vay và hoàn trả vốn vay
Trang 17
vay của TCTD Bên vay thường phải chấp nhận những điều khoản trong hợp đồng mà không phải ai cũng có thể yêu cầu sửa đổi điều khoản theo hướng có lợi hơn cho mình Sự tự do ý chí được thể hiện thông qua việc khách hàng chấp nhận những điều khoản trong đó thì đồng ý giao kết hợp đồng, ngược lại thì không giao kết Thực tế cho thấy việc thỏa thuận sửa một số điều khoản trong HĐTD theo mẫu ít xảy ra và chỉ xảy ra với những tổ chức, cá nhân có uy tín, khoản vay lớn và TCTD có thể thu được lợi nhuận lớn từ hợp đồng này
Theo khoản 2, khoản 3 Điều 405 BLDS 2015: “2 Trường hợp hợp đồng
theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác 3 ” Như vậy, pháp luật cũng có cơ chế để bảo vệ khách hàng trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có những điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó hoặc điều khoản gây bất lợi cho khách hàng thì điều khoản này không có hiệu lực khi không có thỏa thuận khác
Tuy nhiên, HĐTD ngân hàng được ký kết dưới các hình thức pháp lý là văn bản bao gồm cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng thông điệp dữ
liệu Căn cứ khoản 1 Điều 119 BLDS 2015, “Giao dịch dân sự được thể hiện
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản 4 ”; và Điều
11, 12, 13, 14 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì dù HĐTD ngân hàng ký kết dưới hình thức nào trên đây đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch Trên thực tế thì HĐTD được ký kết dưới hình thức văn
3 Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội
4 Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội
Trang 18bản điện tử dạng thông điệp dữ liệu thường ít xảy ra
- HĐTD có đối tượng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Nhờ đó, hoạt động cho vay đã trở thành hoạt động sinh lời chủ yếu của các TCTD và trở thành một hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế thị trường Về nguyên tắc đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là một số tiền xác định, được các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng
- Một bên chủ thể của HĐTD bắt buộc là TCTD được thành lập và hoạtđộng cho vay theo Luật các TCTD năm 2010 và các văn bản liên quan; có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng TCTD bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều TCTD (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định
- HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay, lãi suất vay và bảo đảm thực hiện hợp đồng, phương pháp giải quyết tranh chấp TCTD không được cho vay vốn nhằm đáp ứng các nhu cầu bị cấm theo quy định của pháp luật TCTD không được cho vay các nhu cầu vốn sau đây: để mua sắm các tài sản và các chi phí hình thành nên tài sản mà pháp luật cấm mua bán, chuyển nhượng, chuyển đổi; để thanh toán các chi phí cho việc thực hiện các giao dịch mà pháp luật cấm; để đáp ứng các nhu cầu chính của các giao dịch mà pháp luật cấm”5 TCTD không được cho vay đối với khách hàng trong các trường hợp sau đây: Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của TCTD; Cán bộ, nhân viên của chính TCTD đó thực hiện nhiệm vụ thẩm định,
5 Ngân hàng Nhà nước (2016), Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 về quy định về hoạt
Trang 19quyết định cho vay; Bố, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó tổng giám đốc (Phó giám đốc)”6 Đối với người vay là bố, mẹ, vợ, chồng, con của Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh của TCTD do TCTD xem xét quyết định”7
Với vai trò đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia vào quan hệ tín dụng, HĐTD trở nên rất quan trọng Đặc biệt, các bên phải chú ý đến nội dung của hợp đồng, hợp đồng với những điều khoản chặt chẽ sẽ ràng buộc các bên thực hiện đúng trách nhiệm của mình, từ đó cũng góp phần giảm bớt các tranh chấp phát sinh và thúc đẩy sự phát triển trong hoạt động kinh doanh của cả TCTD và khách hàng
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Cùng với sự tồn tại và phát triển của các HĐTD là những tranh chấp trong HĐTD phát sinh từ sự mâu thuẫn hay không thống nhất về quyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên tham gia Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền lợi giữa các bên
đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được Theo TS Bùi Ngọc Cường: “Tranh chấp kinh tế được hiểu là những mâu
thuẫn, xung đột về quyền, nghĩa vụ và lợi ích kinh tế giữa các bên chủ thể khi tham gia kinh doanh”8
Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng Vi phạm hợp đồng
là hành vi pháp lý của các bên đã xử sự trái với các điều khoản được cam kết trong hợp đồng Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các
8Bùi Ngọc Cường, (2004), Một sốvấn đềvềquyền tựdo kinh doanhtrong pháp luật kinh tế
hiện hành ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trịQuốc gia, Hà Nội, tr.89
Trang 20bên về hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từ sự vi phạm đó và được thể hiện ra bên ngoài Cho nên, không phải cứ khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đó có tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước
và tranh chấp hợp đồng lại là sự kiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất định Và đôi khi có sự vi phạm HĐTD nhưng không thể có sự tranh chấp bởi các bên không bày tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ
Như vậy, tranh chấp HĐTD là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong HĐTD giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản đảm bảo, thế chấp…
1.2.2 Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Vì tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nói chung, do đó có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất đặc thù của HĐTD, tranh chấp HĐTD mang một số đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác
Thứ nhất, giá trị của tranh chấp HĐTD thường có giá trị lớn hoặc thậm chí là rất lớn
Khi kí kết HĐTD thì thường là do bên đi vay có nhu cầu về vốn mà không thể tự mình xoay xở được Nhu cầu đó thường là để bổ sung vốn kinh doanh đối với tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình Do đó, số tiền này không phải là nhỏ và dễ dàng vay được từ các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội mà không phải là ngân hàng
Về phía bên cho vay là ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì TCTD còn đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao thì các TCTD thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay Do bên vay vốn dùng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh
Trang 21doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các TCTD sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của TCTD đó Thực tế không hiếm các trường hợp các TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả
do “nợ xấu’ Một khi khách hàng vay không thể thanh toán được nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã bị khởi kiện tại Tòa
án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả nợ cho TCTD Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì TCTD sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình Do đó, có thể nói tranh chấp HĐTD là loại tranh chấp có giá trị thiệt hại lớn, không chỉ ảnh hưởng đến bên cho vay mà còn
cả đối với bên đi vay Thậm chí nếu tranh chấp xảy ra nhiều thì ảnh hưởng đó không chỉ ảnh hưởng đến một TCTD mà có thể ảnh hưởng dây chuyền đến các TCTD khác trong nền kinh tế
Thứ hai, tranh chấp HĐTD ngân hàng được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự
do thỏa thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp
Pháp luật Việt Nam tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, cụ thể, Điều 3
BLDS 2015 ghi nhận: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng 9 ”
HĐTD về bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đoạt giữa các bên Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì các bên cũng có quyền thỏa thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định
9 Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội
Trang 22đoạt này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục tùng như các quan
hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia tranh chấp có thể thỏa thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc thỏa thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều và phức tạp như hiện nay
Đặc biệt, vấn đề thỏa thuận về phương thức giải quyết tranh chấp đối với các TCTD là ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Bởi các chủ thể này khác với các TCTD trong nước, chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam và sự khác nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều không thể tránh khỏi
Vì vậy, việc cho phép, tôn trọng quyền tự thỏa thuận của các bên khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột pháp luật có thể xảy ra trong quá trình giải quyết các tranh chấp Tuy nhiên, nguyên tắc đối với các thỏa thuận này là phải phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam
Nguyên tắc tự do thỏa thuận khi giải quyết tranh chấp giữa các bên cũng được BLTTDS thể hiện ở chế định hòa giải Theo đó, hòa giải là trách nhiệm của
cơ quan tài phán khi có tranh chấp xảy ra và khi đó các bên có thể thỏa thuận về việc giải quyết vụ án Ngay cả trước khi diễn ra hoặc tại phiên Tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bên cũng vẫn có quyền thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp miễn sao thỏa thuận đó phù hợp với các quy định của pháp luật
Thứ ba, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là TCTD và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là TCTD cho vay, bị đơn là bên
đi vay
Với đặc thù của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những
tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức, cá nhân
Trang 23có thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD
Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia thỏa thuận Nhưng với tư cách là chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm xảy ra Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ có trình
độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định Trong khi đó, chủ thể đi vay là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD luôn nắm đằng chuôi với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại
vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo
Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo
là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay Vì lý do đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD10
10Chính phủ (2012), Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 củaChính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Hà
Trang 24Thứ tư, đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng chính là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD
Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như: tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm Sở dĩ như vậy là bởi vì những nghĩa vụ này chính
là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các TCTD nhưng không phải
là cơ bản nên ít xảy ra hơn so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Thứ năm, tranh chấp HĐTD ngân hàng thường là tiền đề làm phát sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Các TCTD khi tham gia vào HĐTD đều có mục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó vì bản chất của TCTD là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường TCTD chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng của TCTD khi rủi ro xảy ra Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay Tùy trường hợp mà đó có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba Những điều khoản về
Nội
Trang 25quyền và nghĩa vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ HĐTD đã được kí kết và mục đích cuối cùng
là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay
Như vậy, không có trường hợp nào, hợp đồng bảo đảm lại tách rời ra khỏi HĐTD với tư cách là một hợp đồng độc lập mà giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau Có thể ví mối quan hệ này như là mối quan hệ giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ Sự vô hiệu loại hợp đồng này có ảnh hưởng đến loại hợp đồng kia tùy trường hợp “Trong trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ
được bảo đảm vô hiệu mà các bên chưa thực hiện hợp đồng thì giao dịch bảo đảm chấm dứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không chấm dứt, trừ trường hợp có thỏa
thuận khác” Ngược lại, “giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác” Như vậy,
có thể khẳng định rằng tranh chấp HĐTD, với tư cách là hợp đồng chính, luôn gắn liền và làm cơ sở phát sinh tranh chấp hợp đồng bảo đảm - hợp đồng phụ trong quan hệ tín dụng giữa các bên
Thứ sáu, tranh chấp HĐTD phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp
Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng Mặc dù vậy trong quan hệ dân sự, pháp luật hiện hành quy định một số cơ quan đoàn thể có thể khởi kiện
để đảm bảo quyền lợi cho tổ chức, cá nhân khác mà không phải là lợi ích của chính cơ quan, đoàn thể đó Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD Không có trường hợp nào mà tranh chấp HĐTD phát sinh do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD Như vậy, tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp
Trang 26pháp của mình trong quan hệ tín dụng, hay nói cách khác, tranh chấp HĐTD thường gắn liền với lợi ích của các bên tranh chấp11
1.2.3 Phân loại tranh chấp hợp đồng tín dụng
Khách hàng vay vốn có thể là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh hoặc không đăng ký kinh doanh và mục đích vay vốn để kinh doanh, sản xuất hoặc tiêu dùng, sinh hoạt Vậy, tranh chấp HĐTD có thể là tranh chấp về hợp đồng dân sự và cũng có thể là tranh chấp kinh doanh, thương mại Vậy khi nào tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự và khi nào là tranh chấp kinh doanh, thương mại? Để trả lời câu hỏi này, ta cần nhận định rằng bản chất HĐTD là hợp đồng vay tài sản Vì vậy, HĐTD ngân hàng là một dạng đặc biệt của hợp đồng dân sự xuất phát từ hoạt động cho vay của ngân hàng Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là cá nhân, tổ chức và mục đích vay nhằm đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt và tiêu dùng thì HĐTD ngân hàng mang tính chất
là một hợp đồng dân sự theo đúng nghĩa Nếu ngân hàng thực hiện cho vay mà bên vay là các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh và mục đích nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, thương mại thì HĐTD ngân hàng mang tính chất là hợp đồng kinh doanh, thương mại Do đó, tuỳ theo đối tượng
và mục đích trong hoạt động cho vay của ngân hàng mà chúng ta nhìn nhận HĐTD ngân hàng ở góc độ thích hợp
Từ phân tích trên chúng ta có thể thấy rằng tranh chấp phát sinh từ HĐTD
có hai loại:
- Thứ nhất, tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là hộ gia đình, cá nhân hay tổ chức không có đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận
- Thứ hai, tranh chấp HĐTD là tranh chấp kinh doanh - thương mại khi
11Ngân hàng Nhà nước (2016), Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30-12-2016 về quy định
về hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng, Hà Nội
Trang 27bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận
* Các dạng tranh chấp HĐTD:
- Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong HĐTD:
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay (ngân hàng) khi HĐTD có hiệu lực, vì một lý do nào đó bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng xấu tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi của bên vay Rõ ràng khi cần tiền
để thực hiện kế hoạch, mục tiêu của mình thì khách hàng mới đi vay Cũng vì lý do này nên ban đầu thông thường thì khách hàng chấp nhận với lãi suất của ngân hàng đưa ra nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý Đồng thời, quá trình sử dụng vốn vay không hiệu quả nên dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ gốc và lãi Đây là dạng tranh chấp xảy ra nhiều nhất trong các tranh chấp HĐTD
- Tranh chấp liên quan đến tư cách chủthể xác lập, thực hiện hợp đồng
Tranh chấp nàytrên thực tế tương đối đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài Điều này gây không ít khó khăn cho cơ quan giải quyết tranh chấp Trong quá trình ký kết HĐTD, việc xem xét tư cách chủ thể của bên vay vốn là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của HĐTD Trên thực tế, nếu TCTD xem nhẹ vấn đề này, không xác định đúng tư cách chủ thể (đặc biệt là trường hợp khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp) dẫn đến việc ký HĐTD với chủ thể không có thẩm quyền ký kết Hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu gây thiệt hại nặng nề cho các TCTD
- Tranh chấp xảy ra từ việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD
có bảo đảm bằng tài sản và xử lý tài sản bảo đảm.
Chính bởi bản chất HĐTD mang tính rủi ro cao nên các TCTD coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (các lưu chuyển
Trang 28tiền tệ) không thể thanh toán được nợ Hiện nay, theo quy định của pháp luật có
ba hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố, thế chấp, bảo đảm tài sản bằng bảo lãnh Quá trình xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại BLDS 2015, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không phải khi nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật, nên trên thực tế, các tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm tương đối nhiều
Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này chủ yếu liên quan đến việc
xử lý tài sản bảo đảm Khi thẩm định hồ sơ vay vốn, nếu như nhân viên ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm thì sẽ dẫn đến những tranh chấp phát sinh khi ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm Chẳng hạn, nếu không xác định được tài sản bảo đảm thuộc sở hữu chung hay riêng của vợ chồng hoặc tài sản bảo đảm không thuộc của người cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh thì cũng gây khó khăn khi xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản của Hộ gia đình
- Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD: Nếu như khi kýHĐTD mà các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng (nếu như có yếu tố nước ngoài) thì sau này có nhiều khả năng xảy ra việc tranh chấp về luật áp dụng để giải quyết các tranh chấp phát sinh
từ HĐTD Thực tiễn cho thấy tranh chấp này ít xảy ra
Hiện nay, khi nền kinh tế Việt Nam ít nhiều chịu sự ảnh hưởng không nhỏ bởi các cuộc khủng hoảng của các nước trên Thế giới dẫn đến việc xảy ra tranh chấp trong HĐTD ngày càng nhiều và diễn biến phức tạp Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết Từ đó, có những
Trang 29biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm thiểu đáng kể số lượng tranh chấp
1.3 Nguyên nhân và các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.3.1 Nguyên nhân của tranh chấp hợp đồng tín dụng
Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xuất phát từ phía bên cho vay (ngân hàng) và cũng có thể xuất phát từ phía bên vay (khách hàng)
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay có thể bao gồm:
+ Thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vốn (vấn đề giải ngân): Tại khoản 4 Điều 400 BLDS 2015: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm
bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản 12 ” ; tại Điều 401 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết
hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác 13 ” Trong HĐTD bắt buộc phải nêu rõ mục đích vay của khách hàng, thời hạn phải hoàn trả nợ vay… và ngược lại TCTD có nghĩa vụ giải ngân đúng số tiền và thời gian đã thỏa thuận cũng như có quyền kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay hoặc thu hồi nợ theo quy định trong HĐTD
mà hai bên đã ký kết Vì thế, sau khi HĐTD có hiệu lực, việc thực hiện nghĩa vụ giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay, làm hạn chế khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh như dự kiến, hiệu quả kinh doanh đạt được thấp gây ảnh hưởng đến việc trả lãi và gốc sau này
+ Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng:
Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp lý và quy trình cho vay
12 Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội
13 Quốc hội (2015), BLDS, Hà Nội
Trang 30hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế nên các tranh chấp thường xảy ra trước hết là do lỗi nghiệp vụ, đó là:
Thứ nhất, do sựhạn chếvề năng lực nghiệp vụcủa cán bộ ngân hàngnên việc đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn nhiều bất cập, chưa phân tích, đánh giá hết các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay một cách chính xác Thậm chí, một số nhân viên ngân hàng bị suy thoái phẩm chất đạo đức cố ý làm trái các quy định, chẳng hạn trong việc cho vay có đảm bảo nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp mà bên vay vẫn được giữ cả giấy tờ gốc chứng minh tài sản thế chấp của mình Điều này dẫn đến có thể bên vay lại đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba Lúc này ngân hàng và người thứ ba có sự tranh chấp
về quyền tài sản Hầu như, các vụ tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của ngân hàng thông qua các hình thức thế chấp, cầm cố đều có sự vi phạm của cán bộ tín dụng như vi phạm quy chế cho vay hoặc vì động cơ, mục đích khác
mà làm trái các quy định gây hậu quả nghiêm trọng
Thứ hai, do các ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sứccho việc thẩm định trước khi cho vay mà không kiểm soát sử dụng vốn cho vay (lơi lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay) Trên thực
tế bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng, không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng hay không Cho nên giám sát sử dụng vốn vay(theo dõi nợ)
là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong HĐTD giữa khách hàng và ngân hàng Tuy nhiên, trong thời gian qua các ngân hàng chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin
mà ngân hàng yêu cầu
Trang 31- Nguyên nhân từ phía bên vay:
+ Tranh chấp liên quan đến thanh toán nợ gốc và lãi suất
Bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi suất của mình có thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan chi phối
Các nguyên nhân khách quan, thể hiện ngoài ý chí của khách hàng như do thiên tai, hỏa hoạn, do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch ngành, sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hoá thay đổi … làm cho hoạt động của bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra
Các nguyên nhân chủ quan được hiểu là hành vi cố ý vi phạm nghĩa vụ trả
nợ của khách hàng Nguyên nhân này có thể bắt nguồn từ sự yếu kém của khách hàng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn vay, hoặc có thể do khách hàng có
đủ tiền trả nợ nhưng không thiện chí trong việc trả nợ vay Trong quá trình lập
hồ sơ vay vốn, đa số khách hàng là các doanh nghiệp đều chứng minh được tính khả thi và phương án sử dụng vốn vay hoặc chứng minh được tài chính tốt Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn vay không phải lúc nào cũng được thuận lợi, đạt hiệu quả cao như mong muốn Cũng có trường hợp do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả
Hầu như, các tranh chấp liên quan về HĐTD xuất phát từ việc khách hàng vay không thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng về mục đích vay vốn, thời hạn trả nợ gốc và lãi Việc khách hàng thực hiện không đúng các cam kết trong hợp đồng bởi những lý do sau đây:
Thứ nhất, do quy trình xét duyệt cho vay là cả quá trình tương đối dài,tốn khá nhiều thời gian, đặc biệt đối với những dự án lớn, những HĐTD trung và dài hạn thì quá trình này còn dài hơn nữa Chính vì thời gian để được vay vốn khá lâu như thế làm cho khách hàng vay mất đi cơ hội kinh doanh của mình Cho đến
Trang 32khi nhận được tiền vay từ TCTD thì kế hoạch kinh doanh đã thay đổi, dẫn đến tình trạng người vay sử dụng số tiền vay sai mục đích với cam kết trong hợp đồng Điều này, dẫn đến hiệu quả của sử dụng đồng tiền đó rất thấp khiến cho khách hàng rơi vào tình trạng không trả được nợ, vi phạm hợp đồng cụ thể điều khoản sử dụng vốn vay không đúng mục đích
Thứ hai, khi xét duyệt cho vay TCTD thường cho vay thấphơn nhiều lần
so với nhu cầu vay vốn của khách hàng việc đó cũng ảnh hưởng đến kế hoạch đề
ra đồng thời ảnh hưởng đến khả năng sử dụng vốn kém hiệu quả của khách hàng dẫn đến mất khả năng thanh toán gốc và lãi
TCTD được pháp luật trao những quyền to lớn đối với khách hàng vay của mình trong việc chấp thuận cho cơ cấu lại thời gian trả nợ Pháp luật không cho phép bên đi vay có quyền cùng tham gia đề nghị TCTD cho cơ cấu lại thời gian trả nợ Chính điều này các TCTD có thể áp dụng các biện pháp thu nợ tuỳ tiện dẫn đến tranh chấp vẫn cứ xảy ra
Tóm lại, việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận của khách hàng đa số dẫn đến việc không thể trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ như trong hợp đồng Đây là nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến tranh chấp phát sinh từ HĐTD
+ Tranh chấp do khách hàng thiếu hiểu biết về pháp luật.
Ngày nay, trình độ hiểu biết về pháp luật của bên vay còn hạn chế về những kiến thức pháp luật liên quan Có trường hợp bên vay hay bên bảo lãnh ký hợp đồng trong khi bản thân không hiểu rõ về pháp luật, nên khả năng xảy ra những bất lợi cho mình là rất lớn Chủ yếu tranh chấp xảy ra là ở các hợp đồng bảo lãnh
- Nguyên nhân do bất cập của các qui định pháp luật:
Ở Việt Nam, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có nhưng việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất cập Các qui định
Trang 33của pháp luật còn chưa thống nhất, chồng chéo lẫn nhau đặc biệt là các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm
Thực tế cho thấy, hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảm chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế Việc đăng ký giao dịch bảo đảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo kẽ hở trong quản lý Theo Nghị định số 163/2006/NĐ- CP và Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ
về đăng ký giao dịch bảo đảm, cho phép các TCTD được lựa chọn hình thức xử
lý đa dạng như bán tài sản thế chấp, nhận các khoản tiền và tài sản từ người thứ
ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, phương thức khác do các bên thoả thuận Tuy nhiên, trên thực tế ngân hàng không thật sự làm chủ trong việc xử lý tài sản thế chấp vì vấp phải các quy định trong BLDS năm 2015, Luật Đất đai
2013, Luật nhà ở 2014 và các qui định khác Như vậy, dù đã tuân thủ nghiêm ngặt một trình tự, thủ tục phức tạp do luật định nhưng các hợp đồng công chứng trong lĩnh vực giao dịch bảo đảm chưa thể hiện được vị trí, vai trò của mình trên thực tế cuộc sống Điều này, tạo điều kiện thuận lợi cho các khách hàng không có thiện chí trong việc thanh toán các khoản nợ và lãi Tất nhiên, tranh chấp sẽ xảy ra
- Nguyên nhân từ thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước
về bình ổn kinh tế:
Theo điều 7 Luật các TCTD năm 2010 qui định: “TCTD, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài có quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Không tổ chức, cá nhân nào được can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có quyền từ chối yêu cầu cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ khác nếu thấy không đủ điều kiện, không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật” 14
Như vậy, pháp luật quy định TCTD có toàn quyền quyết định về việc xét
14 Quốc hội (2010), Luật các TCTD, Hà Nội
Trang 34duyệt cho vay cũng như chịu rủi ro nếu khách hàng vay không trả được nợ Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào TCTD cũng toàn quyền quyết định trong hoạt động cho vay của mình mà Nhà nước vẫn còn can thiệp rất sâu vào hoạt động kinh doanh của các TCTD, đặc biệt là giao dịch cho vay của ngân hàng đối với khách hàng là các doanh nghiệp nhằm phục vụ mục đích phát triển kinh tế và các chính sách về an sinh xã hội
Thậm chí, ở một số nơi, vì chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, Chính quyền địa phương cũng “chỉ đạo” các ngân hàng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh thua lỗ tránh làm tăng mức độ thất nghiệp Ngoài ra, các quan chức Chính phủ cũng thường can thiệp vào quyết định cho vay của ngân hàng, khiến các hoạt động tín dụng không hiệu quả Đối với những loại HĐTD được ký kết vì bị tác động thường thì không đảm bảo các điều kiện về cho vay thì nguy cơ gây ra tranh chấp do không thu hồi được nợ rất cao
- Nguyên nhân từ việc thay đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng vay tiền tại các TCTD không đúng quy định pháp luật:
Một hợp đồng đã được sửa đổi, bổ sung chỉ có hiệu lực pháp luật khi mà đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Do đó, nếu một hợp đồng vay tiền tại các TCTD được sửa đổi, bổ sung không tuân thủ những quy định trên thì chắc chắn phần thay đổi đó sẽ không có hiệu lực pháp luật, từ đây tranh chấp rất có thể xảy ra
Thông thường hợp đồng vay tiền tại các TCTD chấm dứt khi bên vay đã trả hết nợ vay, kể từ đây hợp đồng vay xem như đã được thanh lý Tuy nhiên, có trường hợp bên vay đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với TCTD nhưng hợp đồng chưa được thanh lý vì TCTD chưa tiến hành giải chấp (tức chưa thanh lý hợp đồng thế chấp, cầm cố…mà vẫn lưu giữ những tài sản hoặc quyền sở hữu tài sản của bên vay) Trong trường hợp này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu là do lỗi vi phạm thuộc về TCTD không thực hiện đúng trách nhiệm của mình trong việc giải chấp hoặc có thể làm thất lạc tài sản thế
Trang 35chấp, cầm cố Điều này cũng làm phát sinh tranh chấp liên quan đến HĐTD
1.3.2 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng
Giống như các phương thức giải quyết tranh chấp khác, pháp luật hiện hành công nhận các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD cụ thể như: thương lượng, hòa giải, trọng tài và Tòa án Theo đó, khi xảy ra tranh chấp kinh doanh các bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua việc trực tiếp thương lượng với nhau Trong trường hợp không thương lượng được, việc giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện với sự trợ giúp của bên thứ ba thông qua phương thức hòa giải, trọng tài hoặc Tòa án Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD dựa trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên
Cơ quan Nhà nước và Trọng tài thương mại chỉ can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp
Để đảm bảo phát triển và duy trì sự phát triển, vấn đề lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD được các bên cân nhắc, lựa chọn phù hợp dựa trên các yếu tố như mục tiêu đạt được, bản chất của tranh chấp, mối quan hệ làm ăn giữa các bên, thời gian và chi phí dành cho việc giải quyết tranh chấp Chính vì vậy, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên cần hiểu rõ bản chất và cân nhắc các ưu điểm, nhược điểm của một phương thức để
Trang 36Chính vì điều này, pháp luật không đưa ra bất cứ quy định nào cho phương thức giải quyết này
Phương pháp thương lượng là phương thức được các bên tiến hành đầu tiên bởi các ưu điểm của nó như: thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, linh hoạt, ít tốn kém về thời gian, về tiền bạc, không ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, đảm bảo bí mật, uy tín của các bên Nếu thương lượng thành công thì ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí còn được tăng cường về sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau khi kết thúc cuộc thương lượng
Tuy vậy, bên cạnh các ưu điểm trên, thương lượng cũng có những nhược điểm như: thương lượng thành công phụ thuộc vào các bên có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp Nếu bên vay muốn dùng hình thức thương lượng để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém
và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn Sự thực thi kết quả thương lượng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện thi hành của các bên tham gia Cũng chính vì phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng không bị ràng buộc bởi bất kỳ các cơ chế pháp lý nào nên kết quả thương lượng cũng không được bảo đảm bởi bất kỳ cơ chế pháp lý nào dẫn đến tính bắt buộc thực hiện không cao Mặt khác, hình thức giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng hoà giải:
Cũng giống như thương lượng, hoà giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề tranh chấp nhưng khác là hoà giải
có sự hỗ trợ của bên thứ ba là hòa giải viên Người trung gian có thể là cá nhân,
tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn Bên thứ ba trung lập chỉ hỗ trợ các bên đưa ra thoả thuận, không có thẩm quyền phán xét, điều này khác với phương pháp giải quyết bằng Trọng tài thương mại Kết quả hòa giải phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹ năng của trung gian hòa giải, quyết định cuối cùng của việc giải
Trang 37quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà hoàn toàn phụ thuộc các bên tranh chấp Trên thực tế, phương thức hòa giải đã được sử dụng, nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng còn ở mức khiêm tốn
Với phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hoà giải, chúng ta có thể thấy các ưu điểm như: thủ tục, thời gian, địa điểm hoà giải có thể được thỏa thuận và điều chỉnh do các bên tham gia giải quyết tranh chấp, các bên có quyền
tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải Hòa giải mang tính thân mật nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên Tính thân mật trong hòa giải được thể thiện qua không gian và môi trường, phong thái và ngôn ngữ trong hòa giải, hành vi giao tiếp và ứng xử của những người tham gia Giá trị của tính thân mật là ở chỗ nó có thể làm cho quá trình trung gian hòa giải gần gũi và thân thiện với các bên tranh chấp hơn, không tạo ra sự lo lắng và căng thẳng so với hoạt động xét xử tại Tòa
án Trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại Tòa án, duy trì được mối quan hệ vốn có của các bên Do hòa giải xuất phát từ sự tự nguyện tham gia và tự do thỏa thuận của các bên, nên nội dung thỏa thuận luôn hướng tới lợi ích của tất cả các bên Mặt khác, là khi giải quyết bằng con đường này các bên kiểm soát được những bí mật của mình bởi phiên họp hòa giải được tổ chức kín, trong khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảm bảo do Tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai
Bên cạnh những ưa điểm trên, giải quyết tranh chấp HĐTD bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định: việc hòa giải có được tiến hành hay không phụ thuộc vào sự nhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp thỏa thuận hòa giải, không có tính bắt buộc thi hành như phán quyết của
Trang 38Trọng tài thương mại hay của Tòa án Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên Vì vậy, phương pháp này ít được sử dụng nếu các bên không có sự tin tưởng với nhau
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng trọng tài thương mại:
Phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD bằng trọng tài thương mại cũng bắt nguồn từ sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên để thành lập Hội đồng (hoặc
Ủy ban) trọng tài giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành Điều này khác với phương thức thương lượng và hòa giải
Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng trọng tài thương mại cho thấy có một số ưu điểm sau: Thứ nhất, phương pháp trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp có nguyên tắc xử kín nếu các bên không
có thỏa thuận khác Thoả thuận phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thường được sử dụng trong HĐTD mà bên vay là các doanh nghiệp Nguyên tắc xử kín trong phương pháp này là một ưu điểm mà các bên tranh chấp luôn coi trọng bởi các bên không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra công khai trước Tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình Việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài thương mại trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức độ xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ nhàng, mang nặng tính trao đổi để tìm ra sự thật khách quan của vụ việc Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau Thứ hai, quyết định của trọng tài thương mại là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị bắt buộc đối với các bên, các bên không có quyền chống án hay kháng cáo Việc xét
Trang 39xử tại trọng tài thương mại chỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với xét xử tại Tòa án bởi thông thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp Hội đồng trọng tài sau khi tuyên phán quyết xong là đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và chấm dứt sự tồn tại Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng động, linh hoạt và mềm dẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài trong khi Tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan Thứ tư, giải quyết trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp cho mình
Tuy nhiên, bên cạnh đó phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
có những nhược điểm đáng kể như là: Quyết định trọng tài thương mại không có tính cưỡng chế cao như quyết định của Tòa án; việc thi hành quyết định trọng tài thương mại không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản
án mà phụ thuộc chủ yếu vào thiện chí và sự hợp tác giải quyết của các bên Giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao
- Đối với phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng Tòa án:
Vấn đề giải quyết tranh chấp HĐTD là vấn đề mang tính thường xuyên trong giai đoạn hiện nay, việc tự giải quyết tranh chấp của các bên gặp nhiều khó khăn vì nhiều nguyên nhân khác nhau và vì vậy cần thiết có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phổ biến là Tòa án nhân dân Phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến HĐTD thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng mà các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp khi không còn lựa chọn nào khác Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thông qua Tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng cơ chế thương lượng và hoà giải không có hiệu quả và các bên tranh chấp cũng không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tranh chấp tại
Trang 40trọng tài thương mại
Như vậy, có thể hiểu giải quyết tranh chấp HĐTD bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn đưa vụ tranh chấp của họ để giải quyết bằng trọng tài thương mại
Việc đưa tranh chấp ra xét xử tại Tòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định, ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án là: đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp bằngTòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành Vì vậy, quyết định của Tòa
án có tính cưỡng chế cao, quyền lợi của người thắng kiện sẽ được đảm bảo nếu như bên thua kiện có tài sản để thi hành án Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án còn trực tiếp góp phần vào việc nâng cao ý thức, tôn trọng pháp luật cho các bên tham gia So với phương thức trọng tài thương mại, việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án được thực hiện qua hai cấp xét xử, nhờ vậy
mà những sai sót trong quá trình giải quyết tranh chấp có khả năng được phát hiện, khắc phục đảm bảo quyền lợi chính đáng của các bên tham gia Chi phí giải quyết tranh chấp bằng Tòa án ít hơn nhiều so với chi phí giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và chi phí này không tỷ lệ thuận với thời gian giải quyết tranh chấp như ở phương pháp trọng tài thương mại Việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD bằng Tòa án có tính bắt buộc tham gia cao đối với các bên tranh chấp không như các phương thức khác chỉ có tính tự nguyện
Trước khi đưa vụ án tranh chấp ra xét xử, Tòa án phải tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật Hoà giải ở đây được gọi là hoà giải trong tố tụng