LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Vũ Thị Duyên Thủy về đề tài luận văn: "Pháp luật về bảo hiểm y tế đố
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC SINH,SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN TÂN SƠN,TỈNH PHÚ THỌ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Sơn Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự đồng ý của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Vũ Thị Duyên Thủy về đề tài luận văn:
"Pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện Tân Sơn,
tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô giáo trong trường
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Viện Đại học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Viện
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học PGS.TS Vũ Thị Duyên Thủy
đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập Mặc
dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự nhận thấy được Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Sơn Bình
Trang 5MỤC LỤC
Trang
VIÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC
SINH, SINH VIÊN
7
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm y tế đối với học
sinh, sinh viên
11
kinh nghiệm cho Việt Nam
14
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về thực thi pháp luật bảo hiểm y tế đối với
học sinh, sinh viên cho Việt Nam
17
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC
SINH, SINH VIÊN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
20
2.1.2 Khái quát chung về cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn, tỉnh
Phú Thọ
23
Trang 62.2 Các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm y
tế đối với học sinh, sinh viên tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
25
đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
48
2.3.1 Những kết quả đã đạt được trong quá trình thi hành pháp luật về
bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện Tân
Sơn, tỉnh Phú Thọ
48
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến sự bất cập trong việc áp dụng pháp luật bảo
hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực tiễn huyện Tân Sơn,
tỉnh Phú Thọ
55
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO HIỆU QUẢ PHÁP VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
59
sinh, sinh viên
59
đối với học sinh, sinh viên trong thực tiễn
64
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng Trang
BHYT giai đoạn 2010 - 2016
50
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
Tên sơ đồ Trang
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một xã hội phát triển trước hết phải có những con người khỏe mạnh Có sức khỏe con người mới có thể thực hiện các hoạt động sống phục vụ cho chính bản thân mình và cộng đồng Nhưng không phải lúc nào con người cũng khỏe mạnh và không phải ai cũng có khả năng chi trả chi phí khám, chữa bệnh khi chẳng may gặp rủi ro bất ngờ như ốm đau, bệnh tật Ra đời từ năm 1992, bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những biện pháp hiệu quả nhất nhằm giúp đỡ mọi người khi gặp rủi ro về sức khỏe để trang trải phần nào chi phí khám, chữa bệnh, giúp ổn định đời sống góp phần bảo đảm an toàn xã hội
Bảo hiểm y tế là sự san sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng, là giải pháp hữu hiệu để mọi người vượt qua bệnh tật Theo đó người khỏe mạnh giúp đỡ người bị bệnh về mặt tài chính để họ được sử dụng thuốc men, trang thiết bị y tế sớm bình phục sức khỏe Trên thế giới, không một quốc gia nào có thể khẳng định ngân sách nhà nước đủ để chăm lo sức khỏe cho toàn cộng đồng mà không có sự huy động của các thành viên trong xã hội Càng ngày BHYT càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống con người
Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định chính sách BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội lớn của đất nước, đề ra mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân, phấn đấu đến năm 2020 có trên 100% dân số tham gia BHYT Muốn đạt được mục tiêu này, phải từng bước tăng nhanh đối tượng tham gia, trong đó đặc biệt chú trọng đến BHYT học sinh, sinh viên (HSSV)
Bảo hiểm y tế HSSV là một giải pháp cơ bản để chăm sóc sức khỏe cho HSSV Đây là đối tượng gắn liền với trường học nên công tác chăm sóc sức khỏe cho các em cũng gắn liền với công tác y tế học đường Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, công tác chăm sóc sức khỏe học sinh tại các trường học rất được chú trọng Một số nước như: Anh, Mỹ, Nhật, Philippin… hệ thống y tế học đường phát triển
Trang 10mạnh và hoạt động rất có hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe cũng như giáo dục kiến thức sức khỏe cho học sinh
Bảo hiểm y tế HSSV là chăm lo cho thế hệ trẻ một cách toàn diện, không những chăm lo về mặt sức khỏe mà còn giáo dục nhân cách và lối sống nhân ái Tham gia BHYT các em sẽ thấy được trách nhiệm đối với mọi người xung quanh, với bạn bè mình và chính bản thân mình Thông qua BHYT các em sẽ học được cách chia sẻ khó khăn, đồng cảm với người không may gặp rủi ro Nhân cách sống tốt đẹp ấy sẽ hình thành trong các em, theo các em đi hết cuộc đời và truyền từ đời này sang đời khác
Trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, BHYT đều có sự điều chỉnh, sửa đổi,
bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, bao gồm những nội dung về phạm vi đối tượng tham gia; loại hình BHYT; nội dung các chế độ; việc tổ chức quản lý quá trình thực hiện cũng như khung pháp lý cho việc ban hành và thực hiện chính sách BHYT
Việc Quốc hội khóa XII thông qua Luật BHYT ngày 14/11/2008 (Luật BHYT số 25/2008/QH12, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009) đã góp phần quan trọng vào việc hoàn thiện chính sách BHYT Luật BHYT số 25/2008/QH12 đã được triển khai thực hiện hơn 8 năm và từng bước đi vào đời sống xã hội, trở thành một công
cụ pháp luật có hiệu quả, góp phần điều tiết xã hội, phục vụ công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện chính sách BHYT đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế cần được bổ sung, sửa đổi cả về mặt nội dung luật và việc tổ chức thực hiện Ngày 13/6/2014, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII,
kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT (gọi tắt là Luật BHYT sửa đổi, bổ sung) và có hiệu lực từ 01/01/2015, tạo cơ sở pháp lý
để BHYT khẳng định vị trí trụ cột của chính sách an sinh xã hội
Trong thực tiễn, việc thực hiện pháp luật về BHYT, nhất là BHYT đối với HSSV còn nhiều hạn chế, gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người tham gia BHYT và mục tiêu chăm sóc sức khỏe của HSSV Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn
Trang 11minh", lấy con người làm trung tâm, tất cả vì con người thì việc nghiên cứu đánh giá thực hiện Luật BHYT có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững xã hội, góp phần bảo đảm an sinh cho đất nước
Thiết nghĩ đề tài nghiên cứu pháp luật về BHYT đối với HSSV từ thực tiễn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có giá trị góp phần triển khai và hoàn thiện chính sách BHYT trên địa bàn Để thực hiện tốt BHYT toàn dân thì việc phát triển pháp luật về BHYT đối với HSSV là việc làm cần thiết và được xem là một trong những nhóm giải pháp để thực hiện BHYT toàn dân Thông qua hình thức BHYT đối với HSSV
sẽ tạo điều kiện cho các em được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất Sau khi nghiên cứu, xem xét, tổng hợp, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật BHYT đối với HSSV trong thực tiễn, chúng ta có thể chỉ ra được những ưu điểm và nhược điểm của loại hình bảo hiểm này đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, để từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực thi của pháp luật BHYT đối với HSSV trong lộ trình tiến tới BHYT toàn dân ở tương lai Với những lý do trên, tác
giả xin chọn đề tài: "Pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên từ thực
tiễn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ" làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài pháp luật về BHYT đối với HSSV vốn đã được nghiên cứu khá nhiều, đặc biệt là giai đoạn khi Luật BHYT 2008 bắt đầu có hiệu lực Có thể kể đến các công trình nghiên cứu đi trước như: Luận án tiến sĩ, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, đề tài khoa học cấp trường, những nghiên cứu cấp nhà nước, báo cáo số liệu hàng năm…phân tích, nghiên cứu về mặt lý luận cũng như thực tiễn, chẳng hạn:
Dưới góc độ Luận án tiến sĩ như: Luận văn tiến sĩ Dược học Nghiên cứu
đoạn 2002-2006, (2012); Luận án Tiến sĩ Y tế công cộng: Thanh toán chi phí khám
đến nguồn thu của quỹ bảo hiểm y tế ở Việt Nam, tác giả Trần Quang Lâm, Trường
Đại họch Kinh tế Quốc dân (2016)
Trang 12Một số luận văn, đề tài tốt nghiệp như: Luận văn thạc sĩ Y học: Thực trạng
tham gia B ảo hiểm y tế của sinh viên một số trường Đại học, Cao đẳng tại tỉnh Thái
Nguyên 2006-2008, của Mai Thị Thu Nga - Đại học Y dược Thái Nguyên, (2009);
Chuyên đề tốt nghiệp: Thực trạng Bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên tại Bảo hiểm xã
45A; Luận văn thạc sĩ Luật học: Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế tự
(2014); Luận văn thạc sĩ Luật học: Thực trạng thi hành Bảo hiểm y tế bắt buộc ở
Luận văn thạc sĩ Luật học: Thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế ở Việt Nam hiện
Tuy pháp luật về BHYT đối với HSSV chỉ là một phần nhỏ trong hệ thống pháp luật về BHYT Một số công trình cũng đã đề cập đến trong phạm vi nào đó, Tuy nhiên, tác giả vẫn mạnh dạn nghiên cứu vấn đề về pháp luật về BHYT đối với HSSV từ thực tiễn huyện nhà và cơ quan đang công tác nhằm góp một cái nhìn tổng hợp, khái quát và chi tiết hơn về ưu, nhược điểm trong quá trình triển khai, áp dụng thi hành luật BHYT đối với HSSV tại địa phương, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về BHYT đối với HSSV trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về BHYT HSSV và pháp luật BHYT đối với HSSV đồng thời nắm được quá trình thay đổi của luật quy định về BHYT đối với HSSV qua các thời kỳ để phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội
Tìm hiểu thực trạng thi hành pháp luật BHYT đối với HSSV của người dân hiện nay thông qua một số công trình khoa học, báo cáo, nghiên cứu số liệu trong thực tế ở một số địa phương trên cả nước Từ những con số cụ thể đó đưa ra được đánh giá về tình hình áp dụng pháp luật BHYT đối với HSSV trên địa bàn nghiên cứu còn những thiếu sót, bất cập gì
Trang 13Rút ra những bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng trong thực tiễn để từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành của pháp luật ngày một tốt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Như đã nêu ở trên, trong giới hạn mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên
cứu các vấn đề về triển khai pháp luật BHYT đối với HSSV Thực tiễn thực hiện tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua đồng thời chỉ ra được những sai sót để khắc phục, những bài học kinh nghiệm trong quá trình lập pháp và quản lý
* Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: phạm vi trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, trong
đó có tham khảo một số vùng, địa phương cụ thể để so sánh
Về thời gian: Nghiên cứu trong vòng 3 năm từ 2014 đến 2016, là khoảng thời gian bắt đầu Luật BHYT sửa đổi năm 2014 có hiệu lực thi hành Việc luận văn giới hạn thời điểm nghiên cứu từ 1/1/2014 là bởi đây là mốc đánh dấu việc BHYT HSSV chuyển từ hình thức BHYT tự nguyện sang hình thức BHYT bắt buộc
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh Ngoài ra còn kế thừa và phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước; các bài viết trên báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan đến đề tài nghiên cứu; các báo cáo, thống kê số liệu hàng năm của Bảo hiểm xã hội (BHXH) huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
viên và thực tiễn thực hiện tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 14Ch ương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và biện pháp nâng cao hiệu quả
pháp luật về bảo hiểm y tế đối với học sinh sinh viên từ thực tiễn thi hành tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 15Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN
1.1 Khái quát về bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
1.1.1 Bảo hiểm y tế và vai trò của bảo hiểm y tế đối với đời sống xã hội
Bảo hiểm y tế trước hết là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội Cùng với các hệ thống an sinh xã hội và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội Chính vì vai trò quan trọng của BHXH, cho nên mọi quốc gia trên thế giới hoạt động BHXH luôn do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH BHYT là một trong chín nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH Theo Luật BHYT 2008, BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật [27, Điều 2, Khoản 1] Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi người tham gia không may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó mà không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh Cơ quan
BHXH sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT
Bảo hiểm y tế là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ sở y tế mà còn
là thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham gia khám chưa bệnh cho nhân dân Chính sách BHYT của Việt Nam được bắt đầu thực
Trang 16hiện từ năm 1992 và trong suốt hơn 20 năm qua, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nước, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước
và người nghèo, để mọi người có bệnh đều được điều trị với điều kiện họ có tham gia BHYT, mọi người sẽ được bình đẳng hơn, được điều trị theo bệnh BHYT mang tính nhân đạo cao cả và được xã hội hóa theo nguyên tắc "số đông bù số ít" Số đông người tham gia để hình thành quỹ và quỹ này được dùng để chi trả chi phí khám chữa bệnh cho một số ít người không may gặp rủi ro bệnh tật, điều này vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội
định về mặt tài chính khi không may gặp phải rủi ro ốm đau Nhờ có BHYT, người dân sẽ yên tâm phần nào về sức khỏe cũng như kinh tế, bởi vì họ đã có một phần như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khỏe, đặc biệt với những người nghèo chẳng may mắc bệnh Do đó, BHYT có tác dụng khắc phục hậu quả và kịp thời ổn định được cuộc sống cho người dân khi họ bị ốm đau, tạo cho họ một niềm lạc quan trong cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho chính bản thân và cho xã hội, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của xã hội
tính nhân đạo theo phương châm "lá lành đùm lá rách", đặc biệt là với trẻ em
hoạt động quỹ BHYT đầu tư Lúc đó trang thiết bị sẽ hiện đại hơn, có kinh phí để sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo, có điều kiện nâng cấp các cơ
sở khám chữa bệnh một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi khám chữa bệnh được thuận lợi Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y, bác sĩ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích lũy kinh nghiệm, có trách nhiệm với công việc, dẫn đến sự quản lý dễ dáng và chặt chẽ hơn
nước Hiện nay kinh phí cho y tế được cấu thành chủ yếu từ bốn nguồn: ngân sách
Trang 17nhà nước, quỹ BHYT, thu một phần viện phí và dịch vụ y tế, tiền đóng góp của các
tổ chức quần chúng, các tổ chức từ thiện và viện trợ quốc tế Trước khi có BHYT thì ngân sách nhà nước là nguồn cung chủ yếu, sau khi có quỹ BHYT thì ngân sách nhà nước đã được giảm bớt gánh nặng
phát triển của nước đó Do vậy, BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện tốt phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khỏe của người dân
theo phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh" Với việc kết hợp với các cơ sở khám chữa bệnh BHYT kiểm tra sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho đại đa số những người tham gia BHYT từ đó phát hiện kịp thời những căn bệnh hiểm nghèo và có phương pháp chữa trị kịp thời tránh những hậu quả xấu mà nếu không tham gia BHYT tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện, coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong
1.1.2 Khái niệm, bản chất của bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
Bảo hiểm y tế nói chung và BHYT đối với HSSV nói riêng là sự san sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng, là giải pháp hữu hiệu để mọi người vượt qua bệnh tật Theo đó người khỏe mạnh giúp đỡ người bị bệnh về mặt tài chính để họ được sử dụng thuốc men, trang thiết bị y tế sớm bình phục sức khỏe Trên thế giới, không một quốc gia nào có thể khẳng định ngân sách nhà nước đủ để chăm lo sức khỏe cho toàn cộng đồng mà không có sự huy động của các thành viên trong xã hội Càng ngày BHYT càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong đời sống con người
Bảo hiểm y tế là cần thiết với tất cả mọi người do nó có tác dụng rất thiết thực Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã triển khai BHYT dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau; BHYT, Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam: Là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa
Trang 18bệnh cho nhân dân Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật, BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng
Theo Khoản 2 Điều 1 Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014, BHYT
là hình thức bảo hiểm bắt buộc để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận
Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi
cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nước đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trước cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi người tham gia không may ốm đau phải
sử dụng các dịch vụ đó, mà không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh Cơ quan BHXH sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT
Xét về bản chất xã hội, BHYT là tập hợp có tổ chức của các thành viên xã hội nhằm chống lại những biến cố, rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân Nhờ sự hợp sức, đoàn kết trên tinh thần tương thân tương trợ này mà những rủi ro, biến cố khó khăn của các cá nhân sẽ được dàn trải trên phạm vi rộng, giúp họ giảm gánh nặng tài chính, nhanh chóng khắc phục khó khăn BHYT mang trong mình bản chất xã hội sâu sắc nhưng cũng cần hiểu rõ rằng BHYT không phải là sự ban ơn, sự chiếu
cố của xã hội mà đó là cộng đồng trách nhiệm của xã hội đối với thành viên của mình Điều đó vừa thể hiện trình độ văn minh, tính tổ chức xã hội, vừa thể hiện bản chất nhân văn, tính người của mỗi cá nhân
Về bản chất kinh tế, có thể khẳng định ngay BHYT không nhằm mục đích kinh doanh, lợi nhuận nhưng lại là công cụ thực hiện phân phối lại thu nhập xã hội
Trang 19tuy nhiên sự phân phối này không có nghĩa lấy của người giàu chia cho người nghèo mang tính cực đoan hay bình quân mà còn dựa theo nguyên tắc phân phối theo lao động, đảm bảo công bằng mà ở đó có người được giúp nhiều, có người được giúp ít Phần hưởng của người hưởng thụ còn phải được tính toán trên cơ sở đóng góp và mức độ của các rủi ro, biến cố
1.2 Khái quát về pháp luật bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của pháp luật bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
Nhìn lại bối cảnh đất nước giai đoạn từ năm 1986, công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế đã tạo những tác động tới tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
đó có lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Mặc dù đầu tư của Nhà nước cho y tế tăng nhanh, song trước nhu cầu sử dụng thuốc và các dịch vụ y tế của người dân không ngừng gia tăng, số chi từ ngân sách chỉ đáp ứng được khoảng 50% Thực
tế đó đòi hỏi cơ chế tài chính y tế phải có những thay đổi nhằm tạo thêm nguồn kinh phí hoạt động ngoài nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động y tế
Trước yêu cầu khách quan đó, ngày 24/04/1989, Hội đồng Bộ trưởng (nay
là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 45/HĐBT cho phép các cơ sở khám, chữa bệnh được thu một phần viện phí để cải thiện điều kiện phục vụ cho bệnh nhân Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, việc thực hiện chính sách này cũng đã ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế của một bộ phận không nhỏ những người không có khả năng chi trả, nhất là người dân ở khu vực nông thôn, người nghèo, người sống ở những vùng kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn… Đây chính là bối cảnh ra đời chính sách BHYT - chính sách nhằm huy động sự đóng góp tài chính từ cộng đồng để tăng cường và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", dựa trên nguyên tắc "lấy số đông bù số ít" Ngày 26/10/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã có Công văn số 3504/KG đồng ý để một số địa phương thực hiện thí điểm BHYT
Trang 20Giai đoạn từ năm 1992 đến 1998: Trong giai đoạn này, Nhằm tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc giáo dục sức khỏe cho học sinh và để thực hiện Nghị định 299-HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), ban hành Điều lệ BHYT, Quyết định 241/TTg ngày 24/5/1993 của Thủ tướng Chính phủ "Về việc thu và sử dụng học phí" trong đó cho phép thu BHYT học sinh Liên
Bộ Giáo dục, Đào tạo - Y tế đã có Thông tư 14/TTLB-BGD&ĐT-BYT ngày 19/9/1994 về hướng dẫn thực hiện BHYT tự nguyện cho học sinh (gọi tắt là BHYT học sinh) trên phạm vi cả nước
Giai đoạn từ 1998 đến năm 2007: Giai đoạn chính sách BHYT được thực
hiện theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ, Thông tư 40/1998/TTLT-BGD&ĐT-BYT và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác quy định về pháp luật BHYT đối với học sinh sinh viên
Giai đoạn từ 2008 đến 2013: Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008
ra đời cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn quy định chi tiết về đối tượng, mức đóng, quyền lợi và chế độ chính sách về BHYT đối với HSSV Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020"; đây là giai đoạn tiền
đề triển khai thực hiện BHYT toàn dân và chuyển dần hình thức BHYT đối với HSSV từ tự nguyện sang bắt buộc
Giai đoạn từ 2014 đến nay: Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014
Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT; Nghị định 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT
có hiệu từ 01/01/2015; Thông tư số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24/11/2014 Về hướng dẫn thực hiện BHYT có hiệu lực từ ngày 01/02/2015; Ngoài ra các cấp ngành từ Trung ương đến địa phương cũng đó có các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn việc thực hiện pháp luật BHYT đối với HSSV tạo nên khung pháp lý đủ mạnh để triển khai thực hiện có hiệu quả pháp luật BHYT đối với HSSV
Trang 211.2.2 Đặc điểm của pháp luật bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
từ bậc tiểu học đến đại học và trên đại học, các trường công lập, tư thục, bán công trên cả nước thuộc phạm vi của pháp luật BHYT điều chỉnh Với mục tiêu tham gia BHYT để chăm sóc toàn diện sức khỏe cho HSSV, theo quy luật số đông bù số ít
Là hình thức BHYT bắt buộc trên cơ sở tự nguyện tham gia một phần để tạo lập, ổn định quỹ BHYT cũng như hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân
nhất trong số tất cả các loại hình bảo hiểm BHYT đối với HSSV đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe với chất lượng ngày càng cao của đại bộ phận HSSV Tham gia BHYT HSSV vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội bởi thông qua sự đóng góp vào quỹ, quỹ sẽ thanh toán những khoản chi phí đã thỏa thuận khi không may người
có thẻ BHYT gặp phải rủi ro ốm đau, bệnh tật Có một số trường hợp mắc bệnh hiểm nghèo, sự đóng góp cả cuộc đời họ không đủ chi phí cho một lần, do đó thông qua quỹ, cộng đồng xã hội sẽ giúp họ Đóng BHYT là sự chi trả cho chính mình, khi khỏe thì người ốm chi dùng, còn ốm đau thì được cả cộng đồng chăm sóc BHYT nhằm mục đích san sẻ rủi ro, gánh nặng chi phí cho người bệnh, thể hiện sự đùm bọc lẫn nhau khi khó khăn xảy đến, thể hiện sự văn minh của nền kinh tế - xã hội
toàn bộ các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương nhất là ngành Tài chính - ngành Giáo dục - ngành Y tế - ngành BHXH Từ đó đòi hỏi sự đồng nhất cao giữa các ngành trong việc triển khai thực hiện nhằm đảm bảo việc thực thi pháp luật và đạt hiệu quả cao nhất
hiểm con người khác nhằm khắc phục nhanh chóng những hậu quả xảy ra với con
người Đó cũng là lý do mà Chính phủ các nước luôn quan tâm đến pháp luật BHYT HSSV hay các chính sách chăm sóc sức khỏe cộng đồng nói chung
lượng khám chữa bệnh và điều trị, nâng cấp các cơ sở y tế, từ đó làm chất lượng
Trang 22ngành y tế không ngừng được nâng cao Trong khi nguồn ngân sách nhà nước đầu
tư cho ngành y tế còn eo hẹp thì việc huy động các nguồn vốn khác cho chi tiêu của ngành còn chậm và thiếu đồng bộ Thu viện phí khối lượng rất ít song lại tạo rất nhiều khe hở cho các tiêu cực phát triển dẫn tới một thực tế bệnh nhân phải tăng phí tổn khám chữa bệnh, đầu tư cho ngân sách không hề bị giảm bớt mà bệnh viện vẫn
bị xuống cấp Bên cạnh đó các nguồn khai thác của dân, các tổ chức kinh tế, các nguồn viện trợ trực tiếp chậm được thể chế hóa và chưa dung hòa chung vào ngân sách y tế, làm hạn chế phát huy các nguồn vốn quan trọng này Do đó, khi thực hiện pháp luật BHYT sẽ tạo ra nguồn kinh phí hỗ trợ cho ngành y tế nhằm góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và điều trị, nâng cấp các cơ sở y tế ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu về chăm sóc sức khỏe nhân dân
1.3 Pháp luật về bảo hiểm y tế của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Các mô hình BHYT xuất hiện trước hàng thế kỷ nay là vào thế kỷ 18, 19 tại Cộng hòa Liên bang Đức, Pháp, Mỹ… và đến nay tại các nước trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… cũng đang phát triển BHYT theo nhiều hướng Tuy nhiên, mô hình tổ chức BHYT và tác dụng của mô hình đó với mỗi nước là rất khác nhau Trên thế giới, phần lớn các nước thực hiện hình thức BHYT nhằm bổ sung thêm quyền lợi cho người tham gia ngoài gói quyền lợi cơ bản khi tham gia BHYT bắt buộc Theo tổng kết 178 chương trình BHYT của các nước trên thế giới cho thấy: BHYT chỉ là loại hình BHYT bổ sung và người tham gia được bổ sung thêm quyền lợi vào gói quyền lợi cơ bản của mình; điều này nhằm mục đích: thu hút thêm các đối tượng khác nhau nhằm mở rộng diện tham gia, bổ sung thêm các quyền lợi mà BHYT bắt buộc chưa có điều kiện đáp ứng và tạo thêm sức cạnh tranh của các loại hình BHYT Tất cả đều nhằm thúc đẩy các dịch vụ phục vụ cho các đối tượng tham gia BHYT ngày càng tốt hơn, đẩy nhanh tiến độ của lộ trình BHYT toàn dân nhanh hơn
1.3.1 Pháp luật bảo hiểm y tế tại Liên bang Nga
Ngoài BHYT bắt buộc, ở Nga còn hiện hữu hệ thống BHYT (VHI) Bảo hiểm VHI này do bệnh nhân tự mua, mức giá từ 500 đến 1.500 dollar/năm Dùng
Trang 23loại bảo hiểm này, người mua có thể tự mình lập chương trình BHYT cho bản thân (ví dụ bảo hiểm phòng chống bệnh nghề nghiệp có thể mắc phải), tùy ý chọn cơ sở
y tế muốn đến điều trị, tiến độ chữa bệnh diễn ra dưới sự theo dõi của công ty bảo hiểm mà người ấy đã đăng ký Ngày càng có nhiều người Nga sử dụng bảo hiểm VHI cũng bởi hình thức y tế miễn phí trên thực tế không phải luôn luôn là hưởng dụng không mất tiền, bệnh nhân thường phải đối mặt với sự vòi vĩnh gây phiền hà từ phía
cơ sở y tế Cuộc cải cách trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe công dân hiện tại được hoạch định để giải quyết vấn nạn này
Mới đây, Nga đã đưa ra dự luật từ năm 2015 lao động nhập cư sẽ nộp phí vào Quỹ BHXH (FSS), và họ sẽ không được tham gia vào BHYT bắt buộc (OMS) Chính phủ Nga vừa soạn thảo xong các dự luật, quy định việc đóng phí bảo hiểm vào FSS trong mục nghỉ ốm, áp dụng tiêu chuẩn, theo đó lao động nhập cư sẽ không được tham gia vào OMS, và chủ tuyển dụng sẽ phải mua cho họ DMS (BHYT tự nguyện) theo mức giá do Chính phủ quy định Bộ Lao động Nga cũng cho biết, trong trường hợp các sửa đổi về luật được thông qua, khoảng 3 triệu người nước ngoài đến làm việc tại Nga sẽ được chăm sóc y tế Công dân nước ngoài giờ đây có thể mua BHYT tại các chi nhánh của "Bưu chính Nga", dự án này hiện được triển khai tại một số tỉnh thành lớn của Liên bang Nga như thành phố Matxcơva và tỉnh Matxcơva, tỉnh Novosibirsk, tỉnh Rostov, tỉnh Chelyabinsk, vùng Perm, Cộng hòa Tatarstan Bất kỳ người nước ngoài nào ở độ tuổi từ 18 đến 65 đều có thể sử dụng dịch vụ mới này Người mua BHYT được chi trả các chi phí về nghiên cứu chuẩn đoán, phẫu thuật và tiền thuốc, các chi phí liên quan đến chữa trị khi bị chấn thương các loại, bị bỏng, khi mô bị lạnh hỏng, bị ngộ độc và khi bị hồi hương Mức bồi thường tối đa của bảo hiểm này là 100 nghìn rúp, giá bán bảo hiểm là 599 rúp với thời hạn hiệu lực là 3 tháng Để mua BHYT nói trên tại các chi nhánh của "Bưu chính Nga", người nước ngoài chỉ cần xuất trình thẻ nhập cảnh
1.3.2 Pháp luật bảo hiểm y tế ở Trung Quốc
Trung Quốc là đất nước có số dân cư đứng hàng đầu thế giới song nhiều năm qua BHYT của Trung Quốc chưa tìm được những hướng đi phù hợp để thu hút
Trang 24được cộng đồng tham gia BHYT Tuy nhiên giai đoạn trước năm 1999 với mô hình BHYT cho khu vực nông thôn dựa trên cơ sở hệ thống y tế các hợp tác xã làm nòng cốt, cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho đối tượng tham gia BHYT của Trung Quốc đã đưa tỷ lệ người tham gia BHYT lên đến 90% dân số, tương ứng với trên 1 tỷ dân vào những năm của thập kỷ 70 Số người tham gia BHYT bắt buộc tập trung tại các khu vực đô thị trong đó có cả người ăn theo được chi trả 50% chi phí Trong quá trình đổi mới các thành phần kinh tế của Trung Quốc dẫn đến sự tan rã của hệ thống y tế hợp tác xã kèm theo sự yếu kém về mặt quản lý quỹ BHYT, sự thiếu thống nhất trong các chế độ BHYT dẫn đến khả năng chia sẻ rủi ro thấp, BHYT cho khu vực nông thôn không thể tồn tại Mặc dù đã có
sự cải tổ trong chính sách BHYT, đó là năm 1999 thành lập hệ thống BHYT mới với 4 nguyên tắc hoạt động là: phí thấp, diện bao phủ rộng, hai bên cùng đóng góp, phối hợp quỹ chung và tài khoản cá nhân, BHYT chỉ được coi như loại hình BHYT
bổ sung cho BHYT bắt buộc của người lao động (mức phí dưới 4% lương) sau khi
đã đóng đủ BHYT bắt buộc (6% lương do chủ sử dụng lao động và 2% lương do người lao động đóng góp) Cho đến hết 2003, Trung Quốc có khoảng trên dưới 10% dân số tham gia (86,9 triệu người tham gia tính đến tháng 12/2002)
Năm 2002, Trung Quốc đã đưa ra mô hình hợp tác xã y tế kiểu mới dựa trên nguyên tắc tương trợ tự nguyện Thủ đô Bắc Kinh đã thí điểm mô hình này tại một
số điểm, với sự chia sẻ tài chính giữa nông dân, cộng đồng và chính quyền địa phương nhằm tạo ta một quỹ chia sẻ rủi ro cho những bệnh tật nghiêm trọng Năm
2003, chính phủ Trung Quốc bắt đầu triển khai thí điểm "Chế độ bảo hiểm y tế hợp tác nông thôn kiểu mới", khi nông dân tham gia chế độ này, khám chữa bệnh, chi phí nằm viện có thể do ba bên như cá nhân, tập thể và chính quyền cùng gánh vác Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Chính phủ Trung Quốc đầu tư quy mô lớn nhằm giải quyết vấn đề điều trị y tế cơ bản của nông dân
1.3.3 Pháp luật bảo hiểm y tế tại Thái Lan
Thái Lan là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, có nền kinh tế phát triển tương đối nhanh so với các nước trong khu vực đặc biệt là phát triển kinh tế du
Trang 25lịch BHYT bắt đầu hoạt động ở Thái Lan từ năm 1983 với đối tượng là khu vực nông dân và đã nhanh chóng phát triển trên diện rộng, đến 2001 đạt tỷ lệ cao nhất trong các loại hình BHYT của Thái Lan BHYT cho công chức, doanh nghiệp nhà nước do Bộ Tài chính quản lý chiếm 8,5% dân số; BHYT cho doanh nghiệp tư nhân
do Bộ Lao động quản lý chiếm 7,2% dân số; BHYT thương mại chiếm 2,1% dân số; BHYT do Bộ Y tế quản lý chiếm 20,8% dân số
Trên cơ sở hoạt động của BHYT, Chính phủ Thái Lan đã thành lập Văn phòng BHYT quốc gia là đầu mối quản lý và cấp ngân sách cho người cung ứng dịch vụ BHYT xây dựng, thí điểm chương trình "Thẻ vàng 30 bạt chữa mọi bệnh" vào năm 2001 và thực hiện trên toàn quốc vào năm 2002 Tháng 7/2002 Thái Lan tuyên bố đạt mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân Nội dung của "Thẻ vàng 30 bạt chữa mọi bệnh" đó là: trả 30 bạt/1lần khám, đăng ký khám chữa bệnh tại một cơ sở
y tế; đầu mối khám chữa bệnh ở nông thôn là bệnh viện các tuyến huyện và các văn phòng khám tại khu vực, ở thành thị là các bệnh viện tỉnh, bệnh viện trung ương, các phòng khám; khi khám chữa bệnh ngoại trú được thanh toán theo khoán định xuất, khám chữa bệnh nội trú được thanh toán theo nhóm chẩn đoán
Hệ thống BHYT Thái Lan là một trong những hệ thống BHYT phức tạp trong khu vực Đông Nam Á Mặc dù là quốc gia thực hiện BHYT nhanh nhất trong khi vực nhưng hệ thống BHYT Thái Lan đứng trước rất nhiều khó khăn, thách thức
do chịu ảnh hưởng của sự bất ổn về hệ thống chính trị cũng như trong công tác quản
lý và thực hiện BHYT như tình trạng lạm dụng BHYT, chi phí gia tăng, hệ thống quản lý bị phân tán
1.3.4 Bài học kinh nghiệm về thực thi pháp luật bảo hiểm y tế và bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên cho Việt Nam
Từ những kết quả mang lại của mô hình BHYT đối với HSSV tại các nước khác nhau, có thể thấy muốn đảm bảo thực hiện tốt pháp luật BHYT đối với HSSV, Việt Nam cần lưu ý những điểm cơ bản như sau:
BHYT: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được thông qua tại kỳ
Trang 26họp thứ 7 Quốc hội khóa XIII vừa qua đã đưa ra một số thay đổi nhằm bảo đảm thực hiện BHYT HSSV tích cực hơn Cụ thể, quy định rõ trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện xác định, quản lý HSSV tham gia BHYT; thanh kiểm tra việc thực hiện BHYT HSSV; chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, các bộ ngành liên quan hướng dẫn thành lập, kiện toàn hệ thống y
tế trường học để chăm sóc sức khỏe ban đầu với trẻ em, HSSV Luật mới cũng quy định cụ thể, danh sách tham gia BHYT của HSSV do các cơ sở giáo dục - đào tạo,
cơ sở dạy nghề lập
Từ định hướng chỉ đạo đến các văn bản pháp lý liên quan đến BHYT HSSV
đã được Đảng, Nhà nước ban hành đầy đủ, thể hiện sự nhất quán trong chủ trương thực hiện BHYT HSSV là bước đi quan trọng trong hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân ở nước ta Với vai trò là cơ quan tổ chức thực hiện, BHXH các tỉnh, thành phố, các huyện, quận cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của công tác phát triển BHYT HSSV; tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền đưa ra những chỉ đạo mạnh mẽ; đẩy mạnh phối hợp cùng cơ quan của Ngành Giáo dục, Y tế ở các cấp, tăng cường tuyên truyền từng bước tăng tỷ lệ HSSV tham gia trên địa bàn Cần nhận thức rõ, thực hiện tốt BHYT HSSV là một bước đi hết sức quan trọng, tạo tiền đề và nền tảng vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu BHYT toàn dân
tác tuyên truyền cần được thực hiện bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, qua nhiều kênh thông tin Tiếp tục đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của phụ huynh và HSSV về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHYT HSSV và nghĩa vụ của mỗi người dân trong tham gia BHYT và thực hiện chính sách BHYT cho con, em mình Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền rộng rãi trong HSSV về chính sách BHYT, làm chuyển biến và nâng cao hiểu biết
về tính ưu việt của chính sách BHYT đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho các em ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Đào tạo, ngành Y tế trong tổ chức thực hiện chính sách BHYT đối với HSSV theo
Trang 27Luật: Để việc tổ chức thực hiện chính sách BHYT nói chung, BHYT HSSV nói riêng đạt hiệu quả, cần có sự phối hợp của các cấp các ngành, đặc biệt là cơ quan giáo dục và đào tạo và cơ quan BHXH Liên Ngành cần phối hợp tham mưu với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và Ủy ban nhân dân huyện, quận tổ chức tổng kết công tác BHYT HSSV năm học trước và triển khai công tác năm học mới Báo cáo tổng kết cần có thống kê, đánh giá, nhận định rõ đặc thù của địa phương từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, đề ra giải pháp tăng tỷ lệ bao phủ BHYT HSSV một cách mạnh mẽ
Kết luận Chương 1
Khái quát chung về pháp luật BHYT đối với HSSV cho chúng ta thấy ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của BHYT đối với hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay Quá trình hình thành và phát triển của BHYT luôn gắn liền với sự phát triển của đất nước, luôn là người bạn đồng hành đáng tin cậy của mọi người dân và các thế hệ HSSV
Mặt khác, chúng ta cũng cùng nhìn nhận và so sánh pháp luật về BHYT đối với HSSV một số nước trên thế giới Các nước đã có lịch sử phát triển và nền móng rất lâu đời về BHYT đối với HSSV Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng vào thực tế đất nước ta, với mục đích thực hiện có hiệu quả pháp luật BHYT đối với HSSV nhằm hướng tới lộ trình BHYT toàn dân từ nay đến năm 2020
Trang 28Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
2.1 Khái quát đặc điểm địa bàn và cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn
2.1.1 Đặc điểm địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Tân Sơn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, được thành lập theo Quyết định 61/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập 2 huyện: huyện Thanh Sơn mới
và huyện Tân Sơn
Huyện Tân Sơn nằm về phía Tây Nam của tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 75km
+ Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 68.858 ha
+ Diện tích đất nông nghiệp: 5.297 ha
+ Diện tích đất lâm nghiệp: 52.577,5 ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng: 8.779 ha
Ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông giáp huyện Thanh Sơn của tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình, phía Tây giáp huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La
Huyện Tân Sơn có 17 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm các xã: Minh Đài, Tân Phú, Mỹ Thuận, Thu Ngạc, Thạch Kiệt, Thu Cúc, Lai Đồng, Đồng Sơn, Tân Sơn, Kiệt Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn,Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền Ngoại trừ 3 xã Minh Đài, Văn Luông, Mỹ Thuận, 14 xã còn lại của huyện Tân Sơn đều thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135
giai đoạn II
Trang 29* Dân s ố - dân tộc
Dân số trung bình năm 2016 gồm có 20.980 hộ với 81.790 người Trong đó
7 nhóm hộ dân tộc thiểu số chiếm 82,9%, cụ thể: dân tộc Mường chiếm 75%, Dao 6,4%, H'mông 0,67% ).Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,26% Mật độ dân số trung
+ Tốc độ tăng trưởng bình quân: 19,7%
+ Thu nhập bình quân đầu người: 4.1 triệu đồng/năm
+ Thu ngân sách huyện năm 2016 đạt 4.552 tỷ đồng
+ Tỷ trọng nông nghiệp - công nghiệp - thương mại dịch vụ là: 78,2% - 6,92% - 9%
Tính đến cuối năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo là 26,38% giảm 26,04% so với năm
2008 (52,42%), trong đó số hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm đến 95% tổng số hộ nghèo Mục tiêu năm 2017 tiếp tục giảm tỷ lệ hộ nghèo thêm 4% trở lên
- Giá trị tăng thêm bình quân đầu người năm 2016 là 17,1 triệu đồng/ người/ năm (ước tính thu nhập bình quân đầu người năm 2016 là 12,8 triệu đồng/người/năm), tăng 9,6 triệu đồng/ người/ năm so với năm 2008 (7,5 triệu đồng) Mục tiêu hết năm 2017 là 18 triệu/người/năm (ước tính thu nhập bình quân đầu người năm 2017 là 13,5 triệu đồng/người/năm)
- Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng, tuy nhiên đạt thấp so mục tiêu đề ra là lao động nông nghiệp còn dưới 60% lao động xã hội; năm 2017, cơ cấu Nông lâm nghiệp 83,5%, Công nghiệp 7,9%, Dịch vụ 8,6%
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề đạt trên 40%; năm 2017 ước đạt 44%
Trang 30- Tỷ lệ xã có đường giao thông đến trung tâm và thông suốt bốn mùa là 11/17 xã bằng 64,7%
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,2%; năm 2017 ước 1,2%
- Hệ thống giáo dục đào tạo: Toàn huyện có 57 cơ sở giáo dục đào tạo,
trong đó (Mầm non: 19; tiểu học: 17; trung học cơ sở: 15; tiểu học và trung học cơ
Thành lập thêm: 02 trường mầm non; hệ thống, quy mô trường lớp cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ em, học sinh Số trường học đạt chuẩn quốc gia tính đến hết năm 2016 là: 36/57 trường đạt 63,15%, năm 2017 ước đạt 71%
- Công tác y tế chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được đẩy mạnh; công tác y tế dự phòng được chú trọng, kiểm soát tốt dịch bệnh; tỷ lệ dân số được cấp thẻ BHYT đạt 97,59%, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 17,5% Năm 2017 ước đạt 17% tỷ lệ nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh
Sau 5 năm triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững của Chính phủ, huyện Tân Sơn đã có bước tiến vượt bậc trong phát triển kinh
tế - xã hội Các cơ sở hạ tầng thiết yếu như giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục,… tiếp tục được đầu tư, trụ sở làm việc của một số đơn vị từng bước được hoàn thiện;
an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ, về nguồn vốn đầu tư,… Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Tân Sơn xác định trong giai đoạn tới sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ về phát triển kinh tế, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với đẩy mạnh phát triển văn hóa, xã hội, đảm bảo an sinh xã hội Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xã hội để tiếp tục thực hiện 3 khâu đột phá về đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt - đào tạo nguồn nhân lực - phát triển kinh tế phục vụ du lịch Đảm bảo đạt được các nội dung của đề án giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ vào năm 2018
Trang 312.1.2 Khái quát chung về cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn trực thuộc BHXH tỉnh Phú Thọ, chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc BHXH tỉnh, chịu sự quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của Ủy ban nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/07/2007 theo Quyết định số 657/QĐ-TTCB ngày 04/05/2007 của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam về việc thành lập BHXH huyện Tân Sơn sau khi chia tách địa giới hành chính huyện Thanh Sơn
Cơ quan BHXH huyện Tân Sơn có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng và
có trụ sở đóng tại xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của BHXH Việt Nam Chịu sự quản lý trực tiếp về chuyên môn của BHXH tỉnh Phú Thọ, sự quản lý nhà nước của Huyện ủy - UBND huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Hệ thống bộ máy tổ chức của BHXH huyện Tân Sơn bao gồm 06 bộ phận:
Bộ phận Kế toán; Bộ phận thu; Bộ phận Chế độ chính sách; Bộ phận Giám định BHYT; Bộ phận tiếp nhận quản lý hồ sơ - trả kết quả; Bộ phận Cấp và quản lý Sổ, thẻ
Bảo hiểm xã hội huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ hiện nay có tổng số: 15 cán
bộ, công chức, viên chức gồm có Ban giám đốc và các Bộ phận nghiệp vụ được sắp xếp theo sơ đồ cụ thể như sau:
Bộ phận Chế độ
Bộ phận Giám định
y tế
Bộ phận Tiếp nhận
và QLHS
Bộ phận Cấp và quản
lý sổ, thẻ
Trang 32S ơ đồ: 2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của BHXH huyện Tân Sơn
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác triển khai pháp luật bảo hiểm y
tế đối với học sinh, sinh viên
* Thuận lợi:
Công tác BHYT học sinh, sinh viên trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ luôn nhận được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền từ tỉnh, huyện đến cơ sở, sự chỉ đạo sâu sát của Ban Chỉ đạo BHYT các cấp, tinh thần quyết tâm khắc phục khó khăn của ngành BHXH, sự chỉ đạo nghiêm túc của các nhà trường,
sự đồng thuận của các bậc phụ huynh học sinh
Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành đồng bộ, đầy đủ và kịp thời là căn cứ cho việc triển khai thực hiện
* Khó Khăn:
Tân Sơn là huyện miền núi, điều kiện kinh tế khó khăn, thu nhập và đời sống của nhân dân nhìn chung còn thấp; các trường học rải rác ở vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại khó khăn, việc tuyên truyền cũng như khám, chữa bệnh cho HSSV còn hạn chế Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế về chính sách BHYT nói chung và BHYT đối với HSSV nói riêng, chưa coi đây là chính sách bắt buộc phải tham gia Mặc dù là xã không thuộc vùng khó khăn theo quy định của Thủ tướng Chính phủ nhưng lại thường xuyên gặp thiên tai, thoát nghèo chưa bền vững, tái nghèo nên việc phát triển đối tượng này rất khó khăn Nhiều cơ
sở giáo dục chưa phối hợp với cơ quan BHXH trong việc thu tiền mua thẻ BHYT và không lập danh sách tổng hợp học sinh có thẻ BHYT tham gia theo đối tượng khác
để làm cơ sở cấp kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu; một số trường còn lúng túng trong triển khai nội dung chi và quyết toán; số kinh phí thực hiện chăm sóc sức khỏe ban đầu còn nhiều mà nhà trường không đủ điều kiện để trích và không lập danh sách đề nghị trích nên cơ quan BHXH không trích được số tiền này dẫn đến
Trang 33HSSV chưa được chăm sóc như quy định và gây không ít khó khăn cho cơ quan BHXH trong công tác tuyên truyền và thực hiện chính sách này
Ngoài ra, công tác y tế học đường nhận được sự quan tâm tạo điều kiện trong hoạt động, song trên thực tế vẫn gặp khó khăn vì cơ sở vật chất nhiều trường trên địa bàn huyện chưa đáp ứng điều kiện để thực hiện việc chăm sóc sức khỏe ban đầu Công tác khám, chữa bệnh BHYT tuyến cơ sở còn bất cập, đặc biệt là tuyến xã chưa đáp ứng được nguyện vọng của người dân cũng như HSSV
2.2 Các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm
y tế đối với học sinh, sinh viên tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
2.2.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên
Chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho HSSV là mối quan lớn của Đảng, Nhà nước, mỗi gia đình và toàn xã hội Việc tham gia BHYT cho HSSV là sự kết hợp toàn diện từ việc giáo dục sức khỏe, chăm sóc sức khỏe ban đầu tại trường học đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế khi không may bị ốm đau phải nằm viện, phòng tránh rủi ro, bệnh tật, có điều kiện chăm sóc sức khỏe ban đầu,… và mang tính cộng đồng, thể hiện trách nhiệm và tình thương
Theo quy định khoản 4 Điều 12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 được ban hành ngày 13/06/2014 (gọi tắt Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định HSSV thuộc đối tượng bắt buộc tham gia BHYT tại nhà trường và được ngân sách nhà nước hỗ trợ tối thiểu 30% phí bảo hiểm
Trong những năm qua, thực hiện tốt quy định của pháp luật công tác BHYT đối với HSSV tại BHXH huyện Tân Sơn luôn được chú trọng và thực hiện có hiệu quả với sự phối hợp chặt của Ngành BHXH nói chung và Ngành giáo dục và đào tạo nói riêng Công tác phối hợp tuyên truyền và phối hợp giữa các ngành, các đơn
vị các từ đó đã có chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng; tạo chuyển biến quan trọng trong nhận thức về mục đích ý nghĩa, hiểu rõ quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tạo sự đồng thuận trong xã
Trang 34hội; trực tiếp thúc đẩy việc tăng nhanh chỉ tiêu, phát triển nhiều đối lượng tham gia Tiến tới bao phủ BHYT theo lộ trình BHYT toàn dân
Theo thống kê, báo cáo của BHXH huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ thì số liệu HSSV tham gia BHYT HSSV năm học 2015 - 2016 cụ thể như sau:
Nhìn vào bảng số liệu dưới đây cho ta thấy, số lượng đối tượng HSSV thuộc diện tham gia BHYT HSSV rất ít chiếm tỷ lệ 6,47% so với tổng số HSSV trên địa bàn toàn huyện Lý do Tân Sơn là huyện miền núi, huyện nghèo theo QĐ30a/CP của Thủ tướng Chính phủ, đại đa số người dân cũng như HSSV được nhà nước hỗ trợ cấp thẻ dân tộc thiểu số, thẻ người nghèo, cận nghèo, thẻ người kinh sống vùng đặc biệt khó khăn
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu học sinh tham gia BHYT HSSV 2015-2016
TT Tên khối, trường lớp Số Tổng số HSSV thuộc diện HSSV
chính sách
Số học thuộc diện tham gia
Số đã tham gia
Số HSSV tham gia BHYT HSSV ở các khối chưa đồng đều, càng lên cấp học cao hơn thì tỷ lệ tham gia càng cao hơn (khối các trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm hướng nghiệp dạy nghề…) tham gia đạt 100% kế hoạch giao Điều này cho thấy ở cấp học cao hơn các em và gia đình phụ huynh học sinh đã có nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chế độ, chính sách pháp luật về BHYT đối với HSSV
Trang 35Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh những con số, tỷ lệ số người tham gia BHYT đạt được, vẫn còn đến 16,74% số HSSV chưa tham gia BHYT trong giai đoạn năm học 2016 - 2017, điều này cũng đặt ra nhiệm vụ nặng nề để phát triển BHYT đối với HSSV năm học 2017 - 2018 Nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế về chính sách BHYT nói chung và BHYT đối với HSSV nói riêng; một số cơ sở giáo dục chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm chỉ đạo triển khai BHYT học sinh tại các nhà trường, chưa quan tâm đến công tác y tế trường học Nhiều cơ sở giáo dục bậc tiểu học, THCS chỉ liệt kê số tiền đóng BHYT HSSV vào các khoản thu đầu năm học mà thiếu đi công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật BHYT bằng nhiều hình thức đến HSSV và các bậc phụ huynh, ý nghĩa nhân văn của việc thực hiện chính sách này
Số học sinh thuộc diện tham gia BHYT HSSV nhưng chưa tham gia của năm học 2016 - 2017 là 16,74% tương đương với 165 em HSSV Tuy là số HSSV
ít, nhưng là một tỷ lệ% chưa tham gia khá cao so với mặt bằng chung toàn tỉnh Phú Thọ (tỷ lệ thu BHYT HSSV trên toàn tỉnh Phú Thọ năm học 2015 - 2016 là 93% kế hoạch giao)
Qua nghiên cứu 4 năm triển khai thực hiện pháp luật về BHYT đối với HSSV (từ năm 2013 đến 2016), trên địa bàn huyện Tân Sơn đã tiến hành đồng bộ các giải pháp, nhằm phát triển tăng nguồn thu, tăng đối tượng tham gia ở tất cả các khối loại hình đảm bảo năm sau cao hơn năm trước
Tăng đối tượng tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp nói chung
và đối tượng BHYT đối với HSSV nói riêng là yêu cầu ưu tiên hàng đầu của ngành BHXH, với phương châm có thu mới có chi Số đối tượng tăng lên đi đôi với số thu
kế hoạch tăng, điều đó góp phần quan trọng trong việc bình ổn quỹ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp Số đối tượng tham gia BHYT qua các năm trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ được thống kê báo cáo cụ thể như sau:
Trang 36Bảng 2.2: Tổng số đối tượng tham gia BHYT trên địa bàn huyện
Nhìn vào bảng số liệu trên cho ta thấy, số đối tượng tham gia BHYT qua các năm đều tăng, năm sau cao hơn năm trước Trên địa bàn huyện Tân Sơn số đối tượng ngân sách nhà nước chiếm tỷ lệ khá cao trên 92% - 93%, số đối tượng này bao gồm chủ yếu là người dân tộc thiểu số, người nghèo, người cận nghèo, người sinh sống vùng đặc biệt khó khăn được ngân sách nhà nước hỗ trợ mua thẻ 100% Năm 2013 tổng số người có thẻ trên địa bàn thấp do khối ngân sách nhà nước do BHXH tỉnh phụ trách quản lý thu và cấp thẻ BHYT
Đối tượng ở khối thu BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, khối hành chính sự nghiệp, khối xã phường Số lao động tương đối ổn định Tăng giảm ở các năm này không đáng kể lý do trên địa bàn huyện đã cơ bản ổn định về cơ cấu biên chế, số tuyển dụng mới tương đương với số lao động nghỉ chế độ, hoặc chuyển đi
Đối tượng tham gia BHYT tự nguyện nhân dân tăng cao ở thời điểm 2015, khi đó luật BHYT sửa đổi năm 2014 mới có hiệu lực, công tác tuyên truyền vận động người dân được thực hiện mạnh mẽ, sâu rộng đến rộng khắp các địa bàn trong huyện nhất là bốn xã không thuộc vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn huyện Điều
đó đã tác động mạnh mẽ đến nhận thức của người dân về chế độ chính sách BHYT Tuy nhiên, năm 2016 số đối tượng này lại giảm xuống, mặc dù nhà nước đã quy định giảm tỷ lệ đóng đối với nhóm đối tượng hộ gia đình là: từ người thứ hai trở đi đóng bằng 70% mức đóng của người thứ nhất, người thứ ba đóng bằng 60%, người
Trang 37thứ tư đóng bằng 50%, còn từ người thứ năm trở đi chỉ phải đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất (với mức lương tối thiểu 1.300.000đồng/tháng như hiện nay thì từ người thứ tư trở đi chỉ phải tham gia 280.800đ/năm Tuy nhiên lý do giảm đối tượng ở khối này là do phần lớn được chuyển từ tham gia BHYT tự nguyện nhân dân, sang đối tượng người kinh sống vùng đặc biệt khó khăn được nhà nước cấp thẻ BHYT
Nếu như năm học 2006 - 2007, cả nước mới chỉ có 45% HSSV tham gia BHYT, thì đến năm học 2010 - 2011, tỷ lệ HSSV tham gia đã tăng lên gần 70% Đến năm học 2014 - 2015, con số này là 85%, tương ứng gần 14,82 triệu HSSV có thẻ BHYT Đáng chú ý, năm học 2015 - 2016 là năm học đầu tiên thực hiện BHYT HSSV theo Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014, mặc dù mức đóng được điều chỉnh tăng từ 3% lên 4,5% mức lương cơ sở; giảm mức chi chăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học từ 12% xuống 7% kèm theo các điều kiện cụ thể về y tế trường học để được cấp kinh phí, nhưng kết quả đạt được vẫn khả quan khi tỷ lệ HSSV tham gia BHYT đạt 90,5%, với khoảng 15,6 triệu HSSV, trong đó số HSSV tham gia tại trường học là 12,8 triệu em; tham gia theo các nhóm đối tượng khác (người nghèo, cận nghèo, hộ gia đình…) hơn 2,8 triệu em Đến năm học 2016 -
2017, số HSSV tham gia BHYT tăng khoảng 15,9 triệu HSSV đạt 92,5% Với kết quả này, HSSV là một trong những nhóm đối tượng có tỷ lệ tham gia BHYT cao nhất và là đối tượng có tỷ lệ tham gia cao nhất trong nhóm đối tượng được Nhà nước hỗ trợ [3] Trong đó nhiều địa phương đã trở thành điểm sáng trong cả nước khi liên tục số HSSV tham gia BHYT với tỷ lệ cao như: Hải Dương ba năm liền có 100% số HSSV tham gia; Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh luôn xấp xử 90% [23]
Nhóm HSSV có ưu thế lớn trong hưởng thụ các dịch vụ y tế từ quỹ BHYT Bên cạnh việc được chi trả khi đi khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; mặc dù hiện Luật BHYT hiện nay chưa quy định chi cho y tế dự phòng, nhưng nhóm HSSV là đối tượng được hưởng gián tiếp các quyền lợi này thông qua công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nhà trường BHYT là chỗ dựa cho bản thân mỗi em HSSV, giúp
Trang 38các em và gia đình vượt qua khó khăn, bệnh tật, yên tâm học tập BHYT thực sự là
chiếc phao "cứu sinh" cho các em HSSV
dị tật bẩm sinh vách tim phải nằm điều trị tại Bệnh viện Sản - Nhi Nghệ An 21 ngày được BHYT chi trả 64.376.200 đồng; em Lê Khắc Hiểu (xã Quỳnh Văn, Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) được BHYT chi trả viện phí hơn 47 triệu đồng và còn rất nhiều trường hợp HSSV khác nhờ có Quỹ BHYT chi trả đã chữa khỏi bệnh tật để tiếp tục yên tâm học tập [1]
Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh những con số, tỷ lệ số người tham gia BHYT đạt được, vẫn còn đến 7,5% số HSSV chưa tham gia BHYT trong giai đoạn năm học 2016 - 2017, điều này cũng đặt ra nhiệm vụ nặng nề để phát triển BHYT đối với HSSV năm học tiếp theo đảm bảo 100% số HSSV tham gia BHYT Nguyên nhân chính là do phần lớn các địa phương chưa tìm được nguồn hỗ trợ thêm phần kinh phí đóng BHYT ngoài mức hỗ trợ 30% của ngân sách nhà nước Mức phí đóng BHYT HSSV phải đóng khá cao, cùng với những khoản phí đầu năm học tạo những khó khăn nhất định cho các hộ gia đình nông thôn, miền núi Tại một số địa phương, sự chỉ đạo của các cấp ủng đảng, chính quyền về BHYT HSSV chưa thật
sự cao, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ngành giáo dục và đào tạo với BHXH Mặc dù Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014 hiện nay quy định HSSV là đối tượng bắt buộc tham gia BHYT, nhưng thực tế cũng không có chế tài nào mang tính
"b ắt buộc" Đặc biệt, trong đối tượng bắt buộc tham gia BHYT HSSV thì sinh viên
là nhóm đối tượng được coi là khó khăn nhất khi vận động tham gia BHYT Đối tượng này thường chỉ tham gia BHYT vào đầu năm học khi mới nhập trường và giảm dần vào các năm học sau Theo thống kê của BHXH Việt Nam, chỉ tính riêng khối các trường đại học, cao đẳng trong cả nước mới có khoảng 1,1 triệu sinh viên tham gia BHYT, đạt 70% tổng số phải tham gia theo quy định của Luật BHYT sửa đổi, bổ sung năm 2014
Cùng với đó, nhiều trường học đã tổ chức tuyên truyền, vận động HSSV tham gia BHYT nhưng đa số HSSV không mặn mà với việc tham gia Một phần do
Trang 39hoàn cảnh của một số bộ phận gia đình còn khó khăn, không có tiền mua BHYT, phần còn lại không muốn tham gia, vì theo các em, BHYT chưa mang lại lợi ích trong khám chữa bệnh Nhà trường không thể đưa ra các chế tài hay áp dụng các quy định bắt buộc HSSV phải tham gia BHYT, mà chỉ vận động, khuyến khích HSSV tham gia BHYT
2.2.2 Quỹ bảo hiểm y tế đối với học sinh, sinh viên
Tất cả HSSV tham gia BHYT đều phải đóng phí và Quỹ BHYT được hình thành từ phần đóng góp này Quỹ BHYT đối với HSSV là một Quỹ tài chính tập trung có quy mô phụ thuộc vào số lượng HSSV đóng góp và mức độ đóng góp vào quỹ của HSSV Quỹ BHYT HSSV đã hòa nhập thống nhất trên địa bàn cả nước, san
sẻ trong cộng đồng lớn sẽ đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người tham gia cũng như cân đối quỹ BHYT HSSV Quỹ BHYT HSSV cơ bản đã giải quyết khó khăn về mặt tài chính cho HSSV ốm đau, bệnh tật, tai nạn, bị mắc các bệnh hiểm nghèo phải điều trị nội trú tại các cơ sở y tế từ tuyến Trung ương đến địa phương Ngoài ra, Quỹ BHYT HSSV còn được bổ sung bằng một nguồn khác theo quy định trong các văn bản pháp luật về BHYT như: sự hỗ trợ của Ngân sách nhà nước, sự đóng góp
và ủng hộ của các tổ chức từ thiện,…
Việc phân bổ và sử dụng Quỹ BHYT nói chung và Quỹ BHYT đối với HSSV được quy định tại Điều 6 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT (gọi tắt là Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014), cụ thể:
- 90% số tiền đóng BHYT dành cho khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi là quỹ khám bệnh, chữa bệnh) được sử dụng cho các mục đích:
+ Chi trả các khoản chi phí thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT theo quy định tại Điều 22 sửa đổi, bổ sung của Luật BHYT và Điều 4 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014
+ Trích để lại cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có
đủ điều kiện theo quy định của Bộ Y tế để mua thuốc, vật tư y tế tiêu hao, trang
Trang 40thiết bị và dụng cụ y tế thông thường để tổ chức khám bệnh, chữa bệnh trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ em, HSSV
Mức trích để lại cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bằng 7% tổng thu quỹ BHYT tính trên tổng số HSSV đang theo học tại cơ sở giáo dục có tham gia BHYT (kể cả HSSV tham gia BHYT theo nhóm đối tượng khác) và mức đóng tương ứng đối với từng đối tượng theo quy định tại Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014; bằng 5% tổng thu quỹ BHYT tính trên tổng số trẻ em dưới 6 tuổi đang theo học tại cơ sở giáo dục mầm non
Vào tháng đầu của năm học hoặc khóa học, tổ chức BHXH có trách nhiệm chuyển số tiền nêu trên cho các cơ sở giáo dục và tổng hợp số kinh phí này vào quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT thuộc phạm vi quản lý Cơ sở giáo dục nhận kinh phí có trách nhiệm sử dụng, thanh quyết toán với cơ quan quản lý cấp trên theo quy định
+ Trích để lại cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có tổ chức y tế cơ quan
để thực hiện khám bệnh, chữa bệnh trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các đối tượng do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp quản lý (trừ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có tổ chức y tế cơ quan có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu với tổ chức BHXH) Mức để lại bằng 1% tổng số tiền đóng BHYT của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng cho tổ chức BHXH
Bộ Y tế, Bộ Tài chính hướng dẫn chi tiết về điều kiện, quy mô tổ chức, nội dung chi, quản lý và thanh quyết toán nguồn kinh phí này tại Điều 18 Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24/11/2014 về hướng dẫn thực hiện BHYT
- 10% số tiền đóng BHYT dành cho quỹ dự phòng và chi phí quản lý quỹ BHYT, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng BHYT cho quỹ dự phòng và được quy định như sau:
+ Tổng mức chi phí quản lý quỹ BHYT hằng năm do Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam quyết định trong tổng chi phí quản lý của BHXH Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
+ Quỹ dự phòng là phần còn lại sau khi đã trích trừ chi phí quản lý quỹ BHYT