1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật việt nam

102 302 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, tổng thể các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết, góp p

Trang 1

1.1.1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ

NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ

Giáo viên hướng dẫn là TS Trần Minh Ngọc Các nội dung nghiên cứu và kết quả

trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Các kết quả nghiên cứu chưa được ai công bố trong các công trình khoa học

Tác giả

Thẩm Phương Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ của mình một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự giúp đỡ của các cán bộ lãnh đạo, đồng nghiệp nơi tôi công tác, bạn bè và những người thân đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS.Trần Minh Ngọc,

người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học, thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu, toàn thể cán bộ khoa Sau Đại học – Viện Đại học Mở Hà Nội; các thầy cô giáo khoa Pháp luật Quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình dạy bảo, truyền đạt cho tôi kiến thức nền tảng trong suốt thời gian học tập và quá trình thực hiện luận văn Luận văn tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

để luận văn được hoàn thiện hơn

Tác giả

Thẩm Phương Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

7 Kết cấu của báo cáo luận văn 4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 6

1.1.Khái quát về nhượng quyền thương mại 6

1.1.1.Khái niệm nhượng quyền thương mại………

6

1.1.2.Đặc điểm của nhượng quyền thương mại 9

1.1.3.Phân loại nhượng quyền thương mại 10

1.1.4 Vai trò của nhượng quyền thương mại 13

1.2 Khái quát chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 14

1.2.1.Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 14

1.2.2.Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 19

1.2.3.Ý nghĩa của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài trong giao thương quốc tế 20

1.2.4.Lược sử hình thành và phát triển của hợp đồng nhượng quyền thương mại 21

1.2.5.Phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài với một số dạng hợp đồng khác 23

1.2.5.1 Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và hợp đồng Li-xăng 24 1.2.5.2 Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và hợp đồng chuyển giao công nghệ 25

1.2.5.3 Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và Hợp đồng đại lý thương mại 26

1.2.5.4 Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và Hợp đồng Ủy thác mua bán hàng hóa 27

Trang 6

1.2.5.5 Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và Hợp đồng hợp tác kinh doanh 28 1.3.Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 28 1.3.1.Các quy định chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước

có yếu tố nước ngoài 36 1.3.3.5 Quy định về thời hạn, gia hạn của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 37 1.3.3.6 Quy định về phí nhượng quyền của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 38 1.3.3.7 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

Chương 2: NỘI DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI. 42 2.1 Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 42 2.2 Hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 45 2.3 Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 46

Trang 7

2.4 Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo

pháp luật Việt Nam 47

2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 48

2.4.1.1 Quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền 49

2.4.1.2 Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền 50

2.4.2 Thời hạn hiệu lực hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 52

2.4.3 Chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 54

2.4.4 Phí nhượng quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 57

2.4.5 Giải quyết tranh chấp trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61

Chương 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 62

3.1 Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 62

3.1.1 Tình hình thực tế hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 62

3.1.2 Môi trường pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam 68

3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 76

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài 76

3.2.2 Các kiến nghị khác 80

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Được biết đến như là một trong những phương thức kinh doanh hữu hiệu, mang lại danh tiếng và lợi nhuận cho các thương nhân cũng như sự tăng trưởng vững chắc cho cả nền kinh tế, nhượng quyền thương mại đã ngày càng khẳng định được vị trí vai trò của mình trong đời sống thương mại của các quốc gia trên thế giới

Tại Việt Nam, hoạt động nhượng quyền thương mại trong những năm gần đây đang có xu hướng phát triển nhanh Hàng loạt các doanh nghiệp có tên tuổi ở Việt Nam đã tiến hành nhượng quyền thương mại trong và ngoài nước Những cái tên như Cà Phê Trung Nguyên, Phở 24, AQ Silk, Kinh Đô Bakery, Thời trang Foci đã trở nên quen thuộc với nhiều người tiêu dùng Với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang là mảnh đất hứa đầy tiềm năng cho sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại Điều này đã đặt ra cho Việt Nam những thách thức lớn trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ thúc đẩy hoạt động này phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng cần hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại - một điều kiện vô cùng quan trọng cho sự thành công và phát triển của phương thức kinh doanh này

Sự hợp tác giữa các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại được thể hiện thông qua hợp đồng nhượng quyền thương mại Hợp đồng nhượng quyền thương mại là kết quả của sự tự do và thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ, là căn cứ pháp luật có giá trị ràng buộc cao nhất để các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng như là cơ sở để giải quyết tranh chấp

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài được đẩy mạnh, vì thế cho nên việc ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu

tố ngoài đang ngày càng gia tăng Nhiều doanh nghiệp Việt Nam mua nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp nước ngoài, các thương nhân Việt Nam đưa thương hiệu

Trang 9

Việt Nam ra thị trường thế giới … tất cả các hoạt động này đều được thực hiện thông qua hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Xuất phát từ tính chất phức tạp của quan hệ nhượng quyền thương mại, pháp luật điều chỉnh về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, cũng hết sức đa dạng, được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, tổng thể các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài là hết sức cần thiết, góp phần đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, thúc đẩy một môi trường kinh doanh lành mạnh, an toàn cho các chủ thể

Với những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Hợp đồng nhượng quyền thương

mại có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trên thế giới các công trình nghiên cứu về nhượng quyền thương mại đã được thực hiện gắn liền với suốt quá trình hình thành và phát triển nhượng quyền thương mại ở mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài là một phần của pháp luật về nhượng quyền thương mại và là nội dung quan trọng của pháp luật thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu và rộng như ngày nay Vấn đề này đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu Với từng phạm vi và mức độ khác nhau, có rất nhiều các công trình nghiên cứu đã được công bố, đề cập đến các khía cạnh kinh tế và pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại, điển hình như:

Nguyễn Bá Bình, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Nguyễn Bá Bình, “Bước đầu tìm hiểu hợp đồng nhượng quyền thương mại có

y ếu tố nước ngoài dưới giác độ pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, 2008

Bùi Ngọc Cường, “Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại”,

Tạp chí nhà nước và pháp luật, 2007

Trang 10

Bên cạnh đó, gần đây cũng có một số công trình tiếp cận nghiên cứu nhượng quyền thương mại dưới cả góc độ tổng quát và cụ thể của hệ thống pháp luật về nhượng quyền thương mại của Việt Nam như: Nguyễn Thị Vân, Luận văn thạc sĩ

luật học năm 2011, “Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam

2013, “Pháp luật về Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

d ưới giác độ pháp luật Việt Nam và tương quan so sánh với pháp luật một số nước

thạc sĩ luật học 2012, “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng nhượng quy ền thương mại tại hoa kỳ và những kinh nghiệm cho Việt Nam”…

Dựa trên những nền tảng nghiên cứu pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại nói chung, luận văn của tôi sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, để làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan đến loại hợp đồng này, qua đó làm căn cứ cho việc hoàn thiện pháp luật, hỗ trợ cho hoạt động nhượng quyền thương mại có tính quốc

tế ngày càng phát triển

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài trên thế giới; Quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài; Thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn cung cấp cho người đọc một cái nhìn sơ lược về quá trình hình thành

và phát triển của quan hệ nhượng quyền thương mại, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về bản chất của quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại

Từ những phân tích những vấn đề liên quan hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, luận văn sẽ giúp cho những chủ thể có ý định tham gia ký

Trang 11

kết hợp đồng nhượng quyền thương mại hiểu rõ hơn về các vấn đề cần đàm phán, thương lượng trước khi ký kết hợp đồng, đặc biệt hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng

Bên cạnh đó, từ sự đánh giá về thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại, cũng như việc thực hiện các hợp đồng nhượng quyền thượng mại có yếu tố nước ngoài ở trong và ngoài nước, sự điều chỉnh của pháp luật có liên quan đến nhượng quyền thương mại, và với những đề xuất, kiến nghị, luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà lập pháp, đặc biệt là các nhà kinh doanh muốn mở rộng mạng lưới kinh doanh của mình thông qua hệ thống nhượng quyền thương mại và ngược lại với các nhà đầu tư nhỏ, thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm khi tham gia vào các

hệ thống nhượng quyền thương mại sẽ giúp họ tiết kiệm được tiền bạc, thời gian và giảm thiểu rủi ro nhanh chóng trở thành những người chủ doanh nghiệp

Xuất phát từ mục đích như trên, mà luận văn cần phải thể hiện được những nhiệm vụ sau:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến nhượng quyền thương mại nói chung và hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài nói riêng

- Nêu được nội dụng quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

- Nêu được thực trạng hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam Đưa

ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật

Trang 12

Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp và phương pháp thực tiễn

7 Kết cấu của báo cáo luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và hợp đồng

nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Chương 2: Nội dung quy định pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng

quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Chương 3:Thực trạng hoạt động và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi

hành pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Trang 13

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái quát về nhượng quyền thương mại

1.1.1 Khái niệm nhượng quyền thương mại

Trên thế giới hiện nay có khá nhiều khái niệm về nhượng quyền thương mại, hầu hết các khái niệm này có nội hàm cơ bản tương đối giống nhau Ở mỗi quốc gia khác nhau lại có những lại niệm về nhượng quyền thương mại khác nhau sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và quan điểm lập pháp của nước mình

Nhượng quyền thương mại có tên gốc tiếng Anh là Franchise, từ này lại được xuất phát từ từ “Franc” trong tiếng Pháp có nghĩa là “tự do”

Theo định nghĩa của từ điển Anh – Việt của Viện Ngôn ngữ học thì “Franchise

Webster thì “Franchise là một đặc quyền được trao cho một người hay một nhóm

ng ười để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thương hiệu” [2] Có lẽ đây là hai

khái niệm ngắn gọn nhất về nhượng quyền thương mại và nếu xét về mặt nội dung thì cả hai khai niệm này đều đúng và mặt bản chất Tuy nhiên do cách định nghĩa trong từ điển phải cô đọng, xúc tích nên cả hai khai niệm này chưa thể làm toát lên toàn bộ ý nghĩa của thuật ngữ “Nhượng quyền thương mại”

Theo Hiệp hội Nhượng quyền thương mại quốc tế (IFA): “Nhượng quyền

th ương mại đơn giản là một phương pháp để mở rộng kinh doanh, phân phối hàng

ng ười nhượng quyền (cá nhân hoặc công ty cấp phép cho một bên thứ ba để tiến

v ụ sẽ được cung cấp cho bên nhận quyền (cá nhân hoặc công ty được cấp Giấy

Cùng với đó, Liên đoàn Nhượng quyền thương mại Châu Âu (EFF) cũng đưa

ra định nghĩa trong Bộ quy tắc đạo đức về nhượng quyền thương mại, theo đó:

Trang 14

“Nhượng quyền thương mại là một hệ thống tiếp thị hàng hoá, dịch vụ hoặc công ngh ệ, dựa trên sự hợp tác chặt chẽ và liên tục giữa các cam kết về mặt pháp lý và

t ưởng của người nhượng quyền” [4]

Theo Mục 4, Đạo luật nhượng quyền thương mại của Malaysia (1998), sửa đổi năm 2006, quy định:

“Nh ượng quyền thương mại” có ý nghĩa là một hợp đồng hoặc thỏa thuận,

ho ặc bày tỏ hay ngụ ý, cho dù bằng miệng hoặc bằng văn bản, giữa hai hoặc nhiều

ng ười, theo đó:

định bởi bên nhượng quyền;

m ật thương mại, hoặc bất kỳ thông tin bí mật hoặc sở hữu trí tuệ, thuộc sở hữu

c ủa bên nhượng quyền hoặc liên quan thương hiệu, và bao gồm người sử dụng đăng ký, hoặc được cấp phép bởi người khác sử dụng, sở hữu trí tuệ, trợ cấp quy ền như vậy mà chủ sợ hữu cho phép nhận quyền sử dụng tài sản trí tuệ;

nh ượng quyền thương mại đối với doanh nghiệp được nhượng quyền;

động kinh doanh của mình bao gồm như cung cấp hoặc cung cấp nguyên vật

li ệu và dịch vụ, tiếp thị, kinh doanh, kỹ thuật hỗ trợ”

th ức xem xét;

m ối quạn hệ của bên nhận quyền và bên nhượng quyền không phải trong mọi

tr ường hợp đều được coi là một quan hệ đối tác, hợp đồng dịch vụ” [5]

Học giả Awalan Abdul Aziz, định nghĩa: “Nhượng quyền thương mại là một

ph ương thức tiếp thị và phân phối sản phẩm hay dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai đối tác, một bên là người nhượng quyền, bên còn lại là người nhận nhượng

Trang 15

quy ền Bên nhận nhượng quyền được cấp phép sử dụng thương hiệu của bên chuy ển giao tại một địa điển hay một khu vực nhất định trong một khoảng thời gian xác định” [6, tr.25]

Chúng ta có thể hiểu bên nhượng quyền thương mại là một cá nhân hay tổ chức sở hữu thương hiệu, sản phẩm hay dịch vụ hoặc bí quyết, mô hình kinh doanh tối ưu… và tiến hành kinh doanh bằng cách nhượng quyền cho một hay nhiều đối tác thông qua hợp đồng nhượng quyền thương mại Bên nhận nhượng quyền thương mại cũng là một cá nhân hay tổ chức được bên nhượng quyền cho phép sử dụng thương hiệu, mô hình kinh doanh, hệ thống các quy trình… để tiến hành kinh doanh sản phẩm, dịch vụ theo một chuẩn thống nhất mà bên nhượng quyền quy định Đối với Việt Nam khái niệm nhượng quyền thương mại lần đầu tiên được đề cập đến tại Điều 284, Luật Thương mại 2005, theo đó:

“Nh ượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quy ền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng

ch ức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng

Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy mặc dù quan điểm của các quốc gia về nhượng quyền thương mại là khác nhau nhưng tất cả các định nghĩa trên đều có đặc điểm chung là:

- Nhượng quyền thương mại có bản chất là việc chủ sở hữu (bên nhượng quyền) cho phép người khác (bên nhận nhượng quyền) sử dụng thương hiệu, mô hình kinh doanh, hệ thống các quy trình…của mình, để tiến hành trong hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của họ

Trang 16

- Bên nhận nhượng quyền, có quyền phân phối sản phẩm, cung cấp dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và phải tuân theo quy trình kỹ thuật do bên nhượng quyền xây dựng và sở hữu

- Bên nhận nhượng quyền phải trả một khoản phí và chấp nhận các điều kiện

do bên nhượng quyền quy định (các quy định về tiêu chuẩn hàng hóa, giá sản phẩm, các bài trí của hàng, phong cách phục vụ của nhân viên…)

Từ những phân tích và luận điểm trên, tôi xin đưa ra khái niệm về nhượng quyền thương mại:

“Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, theo đó thông qua

m ột hợp đồng, bên nhượng quyền cho phép bên nhận nhượng quyền độc lập tiến

ki ểm soát, bên nhượng quyền sẽ tiến hành việc hỗ trợ và kiểm soát thường xuyên đối với việc kinh doanh của bên nhận quyền, đổi lại, bên nhận nhượng quyền sẽ trả

1.1.2 Đặc điểm của nhượng quyền thương mại

Nhượng quyền thương mại là phương thức kinh doanh đặc biệt, dù rất giống với li-xăng, đại lý thương mại và chuyển giao công nghệ nhưng nó không phải là một trong các phương thức đó, chúng ta có thể nhận biết nhượng quyền thương mại qua một số đặc điểm cơ bẩn của nó như:

Th ứ nhất, chủ thể tham gia hoạt động nhượng quyền thương mại gồm bên

nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền là các chủ thể độc lập và hoàn toàn không phụ thuộc nhau về mặt pháp lý cũng như tài chính Bên nhận nhượng quyền mặc dù kinh doanh dưới thương hiệu của bên nhương quyền nhưng lại hoàn toàn chủ động trong việc kinh doanh của mình, việc có lãi hay chịu lỗ không liên quan trực tiếp đến bên nhượng quyền Mặc khác các chủ thể hoạt động nhượng quyền thương mại đều là những doanh nghiệp hoàn toàn độc lập về mặt trạch nhiệm đôi với khách hàng và các đối tác khác trong kinh doanh, vì vậy các chủ thể này sẽ có địa vị pháp lý ngang nhau trong kinh doanh

Trang 17

Th ứ hai, đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại là quyền thương

mại đó là một hệ thống nhất tạo bởi rất nhiều các quyền tài sản khác nhau như quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, bí quyết kỹ thuật…), quyền kinh doanh theo

hệ thống vận hành với phương thức quản lý, tiếp thị, đào tạo của bên nhượng quyền

Th ứ ba, nhượng quyền thương mại là mối quan hệ hỗ trợ mật thiết giữa bên

nhượng quyền và bên nhân nhượng quyền Bên nhận nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền để sản xuất, phân phối hàng hóa và cung ứng dịch vụ, đồng thời còn nhận được sự giúp đỡ về mặt kỹ thuật, đào tạo của bên nhượng quyền trong quá trình kinh doanh theo hợp đồng nhượng quyền thương mại

Th ứ tư, bên nhượng quyền luôn có quyền kiểm soát đối với hoạt động kinh

doanh của bên nhận nhượng quyền để đảm bảo tính đồng bộ cho toàn hệ thống nhượng quyền

Th ứ năm, bên nhận nhượng quyền khi tham gia vào mạng lưới kinh doanh

nhượng quyền sẽ phải trả cho bên nhượng quyền các khoản tiền cho việc sử dụng đối tượng nhượng quyền thương mại để kinh doanh cũng như các khoản tiền cho các công việc đào tạo hỗ trợ mà mình nhận được

1.1.3 Phân loại nhượng quyền thương mại

Về mặt lý thuyết, muốn phân loại đầy đủ các hình thức hoạt động nhượng quyền thương mại cần phải dựa trên cơ sở hệ thống các tiêu chí về bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại; phạm vi lãnh thổ hoạt động của hoạt động nhượng quyền thương mại (hoạt động trong nước và hoạt động ra nước ngoài); đối tượng kinh doanh nhượng quyền thương mại (sản phẩm hàng hoá, sản phẩm dịch vụ ) và thậm chí cả mức độ kiểm soát của bên nhượng quyền với bên nhượng quyền

* Căn cứ vào tính chất phân phối dịch vụ, hàng hóa, nhượng quyền thương

mại được chia thành: Nhượng quyền phân phối sản phẩm và Nhượng quyền

phương pháp kinh doanh

Nhượng quyền phân phối sản phẩm (Product distribution franchise) : là

loại hình nhượng quyền thương mại, trong đó bên nhận nhượng quyền chỉ giới hạn

ở việc bán các sản phẩm được sản xuất và mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền

Trang 18

Theo hình thức này, thì bên nhượng quyền trực tiếp thực hiện việc sản xuất sản phẩm và phân phối sản phẩm đó cho bên nhận nhượng quyền để bên nhận nhượng quyền bán cho người tiêu dùng dưới nhãn hiệu của bên nhượng quyền và trong các cửa hàng mang biển hiệu của bên nhượng quyền

Đối với hình thức nhượng quyền này, bên nhận quyền thường không nhận được sự hỗ trợ đáng kể nào từ phía chủ thương hiệu ngoại trừ việc được phép sử dụng tên nhãn hiệu (trade mark), thương hiệu (trade name), biểu tượng (logo), khẩu hiệu (slogan) và phân phối sản phẩm hay dịch vụ của bên chủ thương hiệu trong một phạm vi khu vực và thời gian nhất định Điều này có nghĩa bên nhận nhượng quyền sẽ quản lý điều hành cửa hàng nhượng quyền của mình khá độc lập, ít bị ràng buộc nhiều bởi những quy định từ phía chủ thương hiệu Bên nhận nhượng quyền trong trường hợp này thậm chí có thể cải tiến cung cách phục vụ và kinh doanh theo

ý mình

Nhượng quyền phương pháp kinh doanh (Business format franchise): là

loại nhượng quyền thương mại mà bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền thực hiện hoạt động kinh doanh đối với tất cả các đối tượng nhượng quyền thương mại của mình như thực hiện kinh doanh dưới tên thương mại, nhãn hiệu của Bên nhượng quyền và sử dụng toàn bộ phương pháp quản lý và thực hiện kinh doanh, bao gồm tất cả các yếu tố cần thiết để hoạt động kinh doanh với các hoạt động đào tạo, trợ giúp cần thiết dựa trên những cơ sở được xác định trước

Bản chất của loại hình nhượng quyền thương mại trọn gói là bên nhận nhượng quyền mua quyền sử dụng các bí quyết kỹ thuật, bí mật thương mại, kinh nghiệm, phương pháp kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác của bên nhượng quyền Bên nhượng quyền cung cấp tất cả các loại dịch vụ cần thiết để bên nhận quyền có thể hoạt động kinh doanh độc lập một cách tốt nhất, bao gồm lựa chọn địa điểm, huấn luyện, cung cấp sản phẩm, kế hoạch Marketing, trợ giúp tài chính

Yếu tố cơ bản của nhượng quyền thương mại trọn gói là chiến lược kế hoạch Marketing, sách hướng dẫn thông tin, thực hành kinh doanh và cách trang trí đồng nhất Bên nhận nhượng quyền phải thanh toán một khoản phí ban đầu cho bên nhượng quyền, đồng thời trong suốt thời hạn hợp đồng thương mại có hiệu lực,

Trang 19

hàng tháng bên nhận nhượng quyền phải trả cho bên nhượng quyền một khoản lợi tức (tính theo tỷ lệ phần trăm doanh thu của bên nhận quyền) và trong suốt quá trình

đó, bên nhượng quyền sẽ thực hiện việc đào tạo bổ sung, nghiên cứu, phát triển và trợ giúp cho bên nhận quyền

* Căn cứ vào phương thức triển khai hoạt động, nhượng quyền thương mại được phân thành các loại sau đây:

Nhượng quyền thương mại cho từng cá nhân riêng lẻ (Single unit Franchise) là phương thức khá phổ biến khi bên nhận quyền ký một hợp đồng

nhượng quyền trực tiếp với bên nhượng quyền Bên nhượng quyền có thể là chủ thương hiệu hoặc chỉ là một đại lý độc quyền, còn bên nhận nhượng quyền có thể là một cá nhân hay một công ty nhỏ được chủ thương hiệu hay đại lý độc quyền của chủ thương hiệu cấp quyền kinh doanh tại một địa điểm và một thời gian nhất định Sau thời gian này, hợp đồng sẽ có thể gia hạn và người nhận nhượng quyền thương

mại sẽ trả một phí nhỏ để gia hạn hợp đồng

Lý do hợp đồng nhượng quyền phải có thời hạn là để người nhượng quyền có thể rút quyền kinh doanh thương hiệu trong trường hợp bên nhận nhượng quyền không tuân thủ các quy định chung của hệ thống nhượng quyền hoặc kinh doanh kém hiệu quả, gây ảnh hưởng không tốt đến uy tín của thương hiệu Người nhận nhượng quyền thương mại theo phương thức này không được quyền nhượng lại quyền cho người khác cũng như không được tự ý mở thêm một cửa hàng mang cùng thương hiệu

Phương thức đại lý nhượng quyền thương mại độc quyền (Master Franchise) là cách phổ biến nhất và nhanh nhất trong việc đưa thương hiệu ra nước

ngoài Đối với hình thức này, chủ thương hiệu sẽ chọn và chỉ định một đối tác địa phương làm đối tác nhận quyền độc quyền kinh doanh thương hiệu của mình trong

phạm vi khu vực, thành phố hay cả một quốc gia trong một thời gian nhất định

Để được độc quyền như vậy, doanh nghiệp mua quyền ban đầu riêng biệt, thường là cao hơn nhiều so với hợp đồng mua quyền riêng lẻ (single unit franchise) Trong trường hợp này, người nhận nhượng quyền có thể chủ động tự mở thêm nhiều cửa hàng hay bán quyền thương mại lại cho bất kỳ ai nằm trong phạm vi khu vực mà mình kiểm soát Khi đó, đại lý nhượng quyền độc quyền là người đại diện

Trang 20

chủ thương hiệu đứng ra ký hợp đồng nhượng quyền với bên thứ ba muốn nhượng quyền trong khu vực của mình và có nghĩa vụ cung cấp tất cả các dịch vụ hỗ trợ thay thế chủ thương hiệu đại lý Người nhận nhượng quyền thương mại độc quyền thường phải cam kết với chủ thương hiệu rằng trong một thời gian nhất định phải có bao nhiêu cửa hàng nhượng quyền được mở ra, và nếu không thực hiện đúng được cam kết này thì có nguy cơ bị cắt độc quyền trong khu vực hay lãnh thổ đó Do đó, bên nhận độc quyền, ngoài vốn kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan đến sản phẩm nhượng quyền, còn phải có xây dựng các một hệ thống để phục vụ cho tất cả các cửa hàng trong khu vực độc quyền kinh doanh của mình

Nhượng quyền thương mại phát triển khu vực (Area development franchise): là hình thức nhượng quyền thương mại nằm ở giữa hai hình thức

nhượng quyền thương mại riêng lẻ và nhượng quyền thương mại độc quyền Trong trường hợp này, bên nhận nhượng quyền thương mại phát triển khu vực cũng sẽ được độc quyền trong phạm vi và thời gian nhất định, tuy nhiên không được bán lại

quyền cho bất cứ ai

Dưới hình thức này, bên nhận nhượng quyền cũng phải cam kết phát triển được bao nhiêu cửa hàng theo một tiến độ thời gian đã được ghi rõ trong hợp đồng với chủ thương hiệu Nếu không đáp ứng đúng những thoả thuận trong hợp đồng, doanh nghiệp này sẽ bị mất ưu tiên độc quyền tương tự như đối với trường hợp của nhượng quyền thương mại độc quyền

Nhượng quyền thương mại thông qua công ty liên doanh (Joint venture)làhình thức chủ thương hiệu sẽ hợp tác với một doanh nghiệp địa phương

để thành lập công ty liên doanh Công ty liên doanh này trở thành công ty thay mặt cho chủ thương hiệu toàn quyền kinh doanh tại một thành phố, một quốc gia hay một khu vực nào đó, tức là công ty liên doanh này sẽ đóng vai trò của một đại lý độc quyền Cả hai đối tác trong công ty liên doanh sẽ đàm phán về cổ phần của mình và cách thức huy động vốn Thông thường, doanh nghiệp địa phương sẽ đóng góp bằng tiền và kiến thức địa phương còn chủ thương hiệu sẽ đóng góp bằng bí quyết kinh doanh, thương hiệu, cộng thêm một phần tiền, chủ thương hiệu thì ngoài

Trang 21

phần đóng góp bằng tiền, có đóng góp chủ yếu bằng bí quyết kinh doanh, thương

hiệu

Đây là hình thức mà chủ thương hiệu không mấy ưu tiên do phải chấp nhận rủi

ro về mặt tài chính một khi liên doanh thất bại Do đó, phương thức này thường chỉ được áp dụng trong trường hợp chủ thương hiệu muốn xâm nhập vào một thị trường nào đó mà không có đối tác mua quyền thương mại thuần tuý

1.1.4 Vai trò của nhượng quyền thương mại

* Đối với bên nhượng quyền

- Nhượng quyền thương mại giúp cho hệ thống kinh doanh của bên nhượng quyền được mở rộng quy mô, khả năng ảnh hưởng và tiếp cận với thị trường mạnh

mẽ hơn, tạo điều kiện cho bên nhượng quyền thu về lợi nhuận tối đa nhất có thể

- Nhượng quyền thương mại giúp cho bên nhượng quyền có khả năng tiết kiệm được một khoản đáng kể về mặt tài chính trong việc mở rộng quy mô kinh doanh Thông qua hoạt động nhượng quyền, chi phí đầu tư xây dựng một cửa hiệu mới sẽ do bên nhận nhượng quyền bỏ ra, các chi phí về tiếp thị, quảng cáo sẽ được giảm thiểu do có sự chia sẻ từ các bên nhận nhượng quyền; đồng thời, nếu có rủi ro xảy ra thì nó cũng được san sẻ cho cả hệ thống cho nên thiệt hại phát sinh cho từng chủ thể kinh doanh là nhỏ nhất

* Đối với bên nhận nhượng quyền

- Nhượng quyền thương mại là đòn bẩy làm gia tăng xác xuất thành công của bên nhận nhượng quyền trong hoạt động kinh doanh thương mại Bởi lẽ, kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn, cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ đã có sức cạnh tranh trên thị trường, phần trăm rủi ro trong kinh doanh được giảm xuống mức đáng kể Nắm trong tay thương hiệu nổi tiếng, sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn cho bên nhận quyền với các đối thủ khác trên thương trường Bên nhận nhượng quyền không phải tốn kém nhiều chi phí và thời gian vào việc xây dựng một mô hình kinh doanh, đào tạo một đội ngũ quản lý hoặc xây dựng một thương hiệu trên thị trường, bên nhận nhượng quyền có thể tiến hành kinh doanh ngay sau khi được nhượng

“quyền thương mại”

Trang 22

- Bên cạnh đó, khi nhận nhượng quyền thương mại, bên nhận nhượng quyền

sẽ nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, tiếp thị và quảng cáo từ bên nhượng quyền

vì vậy sẽ giảm tối đa các chi phí thực và chi phí cơ hội khi bắt đầu kinh doanh

1.2 Khái quát chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

1.2.1 Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Về cơ bản, hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài mang bản chất là hợp đồng, nằm trong lĩnh vực kinh doanh – thương mại Vì vậy, khi nghiên cứu lý luận, cũng như xây dựng, thực hiện hợp đồng này trong thực tế, chúng ta đều phải xuất phát những nền tảng cơ bản đó là lý thuyết về hợp đồng và các vấn đề liên quan đến nhượng quyền thương mại

Trong “Deluxe Black’s Law Dictionary” đưa ra các định nghĩa về hợp đồng Định nghĩa thứ nhất: “Hợp đồng là một sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người

mà t ạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể” Định nghĩa thứ hai: “Hợp đồng là một sự hứa hẹn hoặc một tập hợp sự hứa hẹn mà đối với việc vi

ph ạm nó, pháp luật đưa ra một chế tài, hoặc đối với sự thực hiện nó, pháp luật,

Bộ Luật dân sự Pháp 1804, tại Điều 1101 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thu ận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác chuyển

Học giả Daniel Khouny và Yvonne S Yamouni viết: “Hợp đồng là sự thỏa thu ận mà Tòa án cưỡng chế thi hành” [8, tr.7] Hay học giả Robert W Emerson và John W Hardwick cho rằng: “Hợp đồng là một thỏa thuận có thể được thi hành về

m ặt pháp lý, rõ ràng hoặc ngầm định” [9, tr.65]

Tóm lại, qua các định nghĩa trên ta có thể thấy hợp đồng có bản chất, là sự trao đổi và thống nhất ý chí giữa các bên (sự thỏa thuận) nhằm tạo lập nên một hậu quả pháp lý nhất định Chưa đề cập đến việc “có yếu tố nước ngoài”, nhưng ta có thể hiểu đơn giản, hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận giữa bên nhượng quyền

và bên nhận nhượng quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại

Trang 23

Luật doanh nghiệp của bang California, Hoa Kỳ định nghĩa hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng (có thể là dạng văn bản, lời nói hoặc ám chỉ) giữa hai hoặc nhiều người theo đó:

- Bên nhận nhượng quyền được bên nhượng quyền trao quyền chào bán, bán hoặc phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ, theo một kế hoạch marketing hoặc hệ thống được qui định bởi bên nhượng quyền

- Hoạt động kinh doanh của bên nhận nhượng quyền theo kế hoạch hoặc hệ thống trên được liên kết với thương hiệu, dấu hiệu dịch vụ, tên thương mại, logo bằng chữ, quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại khác chỉ rõ bên nhượng quyền hoặc chi nhánh của nó

- Bên nhận nhượng quyền, được yêu cầu phải trả một khoản phí nhượng quyền trực tiếp hoặc gián tiếp [10, tr.6-7]

Luật nhượng quyền thương mại của Australia định nghĩa hợp đồng nhượng quyền thương mại là sự thỏa thuận (có thể bằng văn bản, lời nói hoặc ám chỉ) thỏa mãn những đặc điểm sau đây:

- Bên nhượng quyền trao cho bên nhận nhượng quyền, quyền được kinh doanh bán, cung cấp và phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trong một hệ thống hoặc một kế hoạch marketing nhất định

- Việc kinh doanh về căn bản sẽ được liên kết bởi một thương hiệu, quảng cáo hoặc một biểu tượng thương mại được sở hữu, sử dụng, cấp phép hoặc chỉ rõ bởi bên nhượng quyền

- Bên nhận quyền được yêu cầu trả, hoặc đồng ý trả, một khoản phí cho bên nhượng quyền trước khi bắt đầu hoặc tiếp tục việc kinh doanh [11]

Theo Hiệp ước Cộng đồng chung Châu Âu thì: “Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một thỏa thuận trong đó, một bên là bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng được khai thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù

để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản tiền nhất định Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên, liên quan đến: (i) việc sử dụng

Trang 24

tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc một cách thức chung; (ii) việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền; (iii) việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian hợp đồng nhượng quyền thương mại còn hiệu lực” [12, tr.80]

Khái niệm này đã khái quát được những đặc trưng cơ bản của hợp đồng nhượng quyền thương mại, là cơ sở để phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại với các hợp đồng khác có những điểm tương đồng như hợp đồng chuyển giao công nghệ hay hợp đồng li-xăng Hợp đồng nhượng quyền thương mại dù cũng hướng tới việc sử dụngmột số đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như trong hợp đồng li-xăng, nhưng không chỉ dừng ở đó, đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại còn bao gồm cả cách thức, bí quyết, quy trình quản

lý kinh doanh Đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng có điểm chung đó là có sự trao đổi về công nghệ giữa hai bên chủ thể trong hợp đồng Tuy nhiên, nếu như ở hợp đồng chuyển giao công nghệ, sau khi

đã thực hiện xong việc chuyển giao, bên chuyển giao không còn nghĩa vụ hỗ trợ cũng như kiểm soát đối với bên nhận chuyển giao thì ở hợp đồng nhượng quyền thương mại, vấn đề hỗ trợ và kiểm soát của bên chuyển nhượng đối với bên nhận chuyển nhượng là lâu dài và liên tục trong suốt thời thời gian hợp đồng có hiệu lực

Mô hình hóa về hợp đồng nhượng quyền thương mại [13]

Hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trang 25

Từ những phân tích ở trên, ta có thể hiểu: “Hợp đồng nhượng quyền thương

m ại là sự thỏa thuận giữa các bên, trong đó bên nhượng quyền cho phép bên nhận

nh ượng quyền, có quyền độc lập tiến hành việc phân phối hàng hóa, cung ứng dịch

v ụ theo một phương thức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định, có gắn liền

v ới các đối tượng sở hữu trí tuệ do bên nhượng quyền sở hữu, đồng thời, bên

nh ượng quyền được nhận một khoản tiền nhượng quyền, có quyền kiểm soát và trợ

Đề cập đến yếu tố nước ngoài trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, hiện nay, trong mỗi quốc gia, điều ước quốc tế hay tập quán quốc tế đều xác định nội hàm “yếu tố nước ngoài” hay còn gọi là “tính quốc tế” theo những cách khác nhau Thông thường, các dấu hiệu để xác định “yếu tố nước ngoài” của hợp đồng thường

là các bên giao kết hợp đồng có quốc tịch khác nhau, nơi giao kết và thực hiện hợp

- Là chủ sở hữu các đối tượng của

quyền sở hữu trí tuệ: nhãn hiệu,

tên thương mại, bí mật kinh

doanh, bí quyết, công nghệ…

- Trợ giúp và định hướng:

• Quảng cáo và marketing

• Đào tạo và hướng dẫn kỹ thuật

• Một số trường hợp sẽ hỗ trợ tài

chính

- Được bên nhượng quyền cho phép quyền độc lập bán, phân phối, cung ứng hàng hóa và dịch vụ có

sử dụng nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, bí quyết, công nghệ….do bên nhượng quyền là chủ sở hữu, trong một phạm vi và thời gian nhất định

- Hoạt động kinh doanh dưới sự trợ giúp và định hướng của bên nhượng quyền

Nhận phí nhượng quyền thương mại Trả phí nhượng quyền thương mại

Trang 26

đồng ở nước ngoài khác với quốc gia mà một trong các bên có quốc tịch… [14, tr.234]

Theo những nguyên tắc của hợp đồng thương mại quốc tế (Principles of international commercial contracts – PICC) của Viện thống nhất Tư pháp quốc tế (UNIDROIT), phần bình luận mở đầu của PICC – là một phần của bộ nguyên tắc

hoàn chỉnh: “Tính quốc tế của hợp đồng có thể xác định bằng nhiều cách Những

qu ốc gia, từ việc căn cứ vào nơi kinh doanh hoặc nơi thường trú của các đối tác cho đến việc áp dụng tới những tiêu chuẩn tổng quát hơn như việc đánh giá hợp đồng “Có quan hệ quan trọng tới nhiều quốc gia”,“liên quan đến sự lựa chọn giữa

lu ật của các nước khác nhau”, hoặc “có ảnh hưởng đến các quyền lợi trong buôn

Nói ngắn gọn, theo PICC, tính quốc tế của hợp đồng cần phải được giải thích theo nghĩa rộng nhất có thể, chỉ không coi là hợp đồng không có tính chất quốc tế khi nó không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào – nghĩa là tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia duy nhất

Tổng hợp từ các án lệ của Châu Âu và Châu Mỹ, có ba yếu tố sau đây khiến

một hợp đồng nội địa thành một hợp đồng có “yếu tố nước ngoài”: Thứ nhất, một

trong hai bên thường trú ở nước ngoài hoặc thành lập ở nước ngoài hoặc có nơi kinh

doanh chính ở nước ngoài Thứ hai, hợp đồng được ký kết ở nước ngoài Cuối cùng,

hợp đồng được thực hiện ở nước ngoài [16, tr.9-10]

Tóm lại, hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài khi nó có một trong các dấu hiệu sau:

- Xét trên phương diện chủ thể, hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ có yếu tố

nước ngoài khi ít nhất một trong các bên là thương nhân nước ngoài Khái niệm

“Thương nhân nước ngoài” hiểu một các đơn giản là thương nhân không có quốc

tịch tại nước sở tại Việc xác định thương nhân nước ngoài hay thương nhân trong nước được dựa trên yếu tố quốc tịch Ví dụ: Hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa Cà phê Trung Nguyên với Daisu Corporation (Nhật Bản) năm 2001, giữa AQ

Trang 27

Silk với một thương nhân Mĩ vào năm 2002 đều là những hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

- Về sự kiện pháp lý của quan hệ, hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ có

yếu tố nước ngoài khi nó được ký kết ở nước ngoài hoặc thực hiện ở nước ngoài

Chẳng hạn, hợp đồng nhượng quyền thương mại giữa Phở 24 cho các bên nhận quyền là thương nhân Việt Nam nhưng hợp đồng được kí ở Singapore thì hợp đồng nhượng quyền thương mại đó cũng được coi là có yếu tố nước ngoài

1.2.2 Đặc điểm hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài mang những đặc điểm cơ bản sau:

- Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài có sự giao thoa giữa các loại hợp đồng khác nhau như hợp đồng li – xăng (chuyển giao đối tượng quyền sở hữu công nghiệp), hợp đồng chuyển giao công nghệ (chuyển giao các bí quyết, công nghệ, tài liệu, hướng dẫn, đào tạo…), và hợp đồng đại lý (sự hợp tác trong kinh doanh), tuy nhiên, đây vẫn là loại hợp đồng có những nét đặc trưng riêng, cho phép phân biệt với những hợp đồng kể trên

- Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại, gồm bên nhượng quyền và bên nhận nhượng quyền, trong đó, ít nhất một trong các bên phải là thương nhân

nước ngoài Khái niệm “Thương nhân nước ngoài” hiểu một các đơn giản là thương

nhân không có quốc tịch tại nước sở tại Việc xác định thương nhân nước ngoài hay thương nhân trong nước được dựa trên yếu tố quốc tịch

Việc xác định quốc tịch đối với thương nhân thể nhân, theo pháp luật của đa

số nước trên thế giới, “Người nước ngoài thường được hiểu là những cá nhân

hoạt động kinh doanh tại một quốc gia mà không mang quốc tịch quốc gia đó thì gọi

là thương nhân nước ngoài

Đối với thương nhân pháp nhân, pháp luật đa số các nước đã đưa ra hàng loạt tiêu chí làm cơ sở để xác định quốc tịch của pháp nhân Theo pháp luật và thực tiễn các nước này, nhìn chung, quốc tịch của một pháp nhân thương được xác định theo những tiêu chí cơ bản sau:

Trang 28

- Nơi thành lập pháp nhân hoặc nơi đăng ký điều lệ của pháp nhân đó (luật Anh, Mỹ thường áp dụng tiêu chí này)

- Nơi đặt trung tâm quản lý hoặc nơi đặt trụ sở của Ban quản lý hành chính, ban quản trị của pháp nhân đó (luật một số nước châu âu thường áp dụng tiêu chí này)

- Nơi kinh doanh chính hoặc nơi hoạt động đầu tư chính của pháp nhân (luật một sốnước đang phát triển) [17,tr.140-141]

Tại khoản 1, Điều 16, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định:

“Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận”

Pháp luật Việt nam dựa trên hai tiêu chí đó là nơi thành lập và nơi đăng ký kinh doanh để xác định quốc tịch của pháp nhân Nếu pháp nhân không mang quốc tịch Việt Nam thì lẽ dĩ nhiên, pháp nhân đó là thương nhân nước ngoài

- Về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài,

đó là các “quyền tài sản”

Bên nhượng quyền thường sở hữu những đối tượng sau đây:

- Nhãn hiệu, tên thương mại, và sự tín nhiệm với những mối quan hệ mà nó được liên kết

- Mô hình kinh doanh – một hệ thống được ghi nhận trong chỉ dẫn vận hành, chứa đựng các yếu tố, hoặc một vài điều được quan tâm bởi bên nhượng quyền như

bí mật kinh doanh Trong một vài trường hợp, đó là công thức, phương pháp bí mật, thông số lý thuật, bản vẽ thiết kế và tài liệu hoạt động

- Bản quyền của các đối tượng bên trên và được thể hiện ra những văn bản nhất định, có thể được bảo vệ khỏi những sự xâm phạm [18]

Về cơ bản, bên nhận nhượng quyền, sẽ có quyền được bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành công việc kinh doanh, phân phối cung cấp hàng hoá, dịch vụ theo hệ thống do bên nhượng quyền quy định và được liên kết với nhãn hiệu, tên thương mại, hoặc sử dụng các công thức, phương pháp bí mật, thông số lý thuật, bản vẽ thiết kế và tài liệu hoạt động… thuộc sở hữu của bên nhượng quyền

1.2.3 Ý nghĩa của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài trong giao thương quốc tế

Trang 29

- Hợp đồng nhương quyền thương mại có yếu tố nước ngoài được ký kết sẽ tạo lợi thế cho những doanh nghiệp mới trong quá trình khởi nghiệp, thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế doanh nghiệp, giảm thiểu các rủi ro, gia tăng lợi nhuận trong kinh doanh

Bởi lẽ, doanh nghiệp mới khởi nghiệp trong hoạt động kinh doanh nhiều lúc không tránh khỏi những rủi ro như làm ăn thua lỗ, khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu, tạo niềm tin với khách hàng, cạnh tranh trong lĩnh vực mà mình kinh doanh… Việc ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại giúp doanh nghiệp có bước xuất phát điểm cao hơn so với những doanh nghiệp khác, nhất là đối với những doanh nghiệp khởi nghiệp tai nước ngoài, hay những doanh nghiệp trong nước mua nhượng quyền thương mại của những doạnh nghiệp nước ngoài…

- Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, giúp tập trung nguồn lực, kêu gọi sự đoàn kết của các doanh nghiệp, làm nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế

Thật vậy, chúng ta đang kinh doanh trong một thị trường siêu kết nối, nơi mà mối quan hệ được đề cao tối đa để có thể đạt được thành công rực rỡ trên thương trường Đối với những doanh nghiệp đang có trụ sở tại nước ngoài, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong cũng một lĩnh vực kinh doanh mỗi thực thể lại nắm giữ cho mình những lợi thế khác nhau Có doanh nghiệp mạnh về mặt tài chính, có doanh nghiêp thì lại nắm trong tay những bí quyết, công thức, mô hình kinh doanh hiệu quả… Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp này sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp không những về mặt tài chính mà còn cả về mặt công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh, nhanh chóng tạo được chỗ đứng trên thị trường

- Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, là công cụ giúp cho doanh nghiệp mở rộng thị trường kinh doanh, nhất là việc tiến ra thị trường nước ngoài Với hợp đồng nhượng quyền thương mại, doanh nghiệp nhận nhượng quyền cũng có thể phần nào an tâm vì có thể được hỗ trợ về mặt tài chính và công nghệ Bên cạnh đó, đối với những doanh nghiệp đã tạo được chỗ đứng và có tiềm năng phát triển trên thị trường, điều này làm thu hút sự đầu tư từ những doanh nghiệp nước ngoài, hợp tác phát triển đôi bên cùng có lợi, đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước

Trang 30

1.2.4 Lược sử hình thành và phát triển của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Những dấu hiệu đầu tiên của hoạt động nhượng quyền thương mại xuất hiện từ thời quân chủ tại Anh Quốc, khi những địa chủ phong kiến cho phép nông dân, một số quyền trên phần đất của họ Và đổi lại người nông dân phải nộp cho địa chủ một khoản phí [19].Nhiều năm sau, hoạt động nhượng quyền thương mại đã được thể hiện rõ rệt hơn tại Anh với sự xuất hiện của hệ thống quán rượu có mối quan hệ liên kết với nhau Nguồn gốc của nhượng quyền thương mại được biết đến và định nghĩa như ngày nay, có thể được xác định rõ ràng bởi một người đàn ông: Isaac Singer Sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ trong những năm 1860, Singer đã đạt được khả năng sản xuất hàng loạt các máy may nổi tiếng của mình, nhưng không có cách nào để sửa chữa và bảo trì chúng trên khắp đất nước với quy mô rộng lớn như Mỹ.Việc Singer

sử dụng một hợp đồng cho thỏa thuận này đã cho thất hình thức sớm nhất của thỏa thuận nhượng quyền thương mại, và hệ thống nhượng quyền thương mại hiện đại đầu tiên đã được ra đời

Trong thế kỷ tiếp theo, các hình thức nhượng quyền đã trở nên phổ biến hơn ở Hoa Kỳ như là một cách để chuẩn hóa các sản phẩm và trở thành tiêu chuẩn từ lục địa này sang lục địa khác Đầu tiên là mô hình đại lý xe hơi tiên phong của General Motors vào đầu những năm 1900, cho phép độc quyền trên những vùng lãnh thổ nhất định Sau đó các công ty dầu mỏ và các cửa hàng tạp hóa bắt đầu tận dụng mô hình kinh doanh tiên tiến này, đưa họ đến con đường tăng trưởng nhanh đối với phân phối nội địa, với rủi ro giảm đáng kể

Kinh doanh hình thức nhượng quyền thương mại ra đời

Sau chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển mạnh, do các công ty muốn mở rộng thị trường một các nhanh chóng Các nhà sản xuất nước giải khát khổng lồ như Coca-Cola và Pepsi không thể điều hành và gánh vác về mặt kinh tế trên phạm vi toàn cầu, với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cao cùng với việc vận chuyển tốn kém Vì vậy, họ đã phát triển một hệ thống nhượng quyền thương mại, mà trong đó, cho phép bên nhận quyền được làm một số các công đoạn như: làm CO2 bão hòa và bổ sung nước vào sản phẩm cho các

Trang 31

công ty chính, sản xuất và phân phối các công thức si rô bí mật, đóng chai và bán tại địa phương…

Đây là sự bắt đầu của “kinh doanh hình thức nhượng quyền thương mại” như chúng ta đã biết; là sự cung cấp các quyền thương mại từ phía người nhượng quyền cho người nhận quyền

Hoạt động nhượng quyền thương mại bùng nổ trên thế giới vào những năm

60, phát triển ổn định vào những năm 70 và chín muồi vào thập kỷ 80 và 90 Ngày nay, nhượng quyền thương mại trở thành một trong những ngành dịch vụ có doanh

số rất lớn, với nhiều nhãn hiệu nổi tiếng như KFC, Mc Donald’s, Qualitea, Starbuck Cafe, Lotteria, Jollibee, Aptech, … Đơn giản vì đây là những lĩnh vực có tiềm năng thu được lợi nhuận cao

Nhận thấy lợi ích, hiệu quả của phương thức kinh doanh này, nhiều quốc gia

đã có các chính sách khuyến khích phát triển franchise Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên luật hoá franchise và có các chính sách ưu đãi cho cá nhân và doanh nghiệp Các nước phát triển ở châu Âu cũng noi gương Hoa Kỳ cũng thúc đẩy,ban hành chính sách về franchise đáp ứng nhu cầu mới của nền kinh tế

Ngày nay, nhiều tổ chức phi chính phủ với tôn chỉ thúc đẩy phát triển, hỗ trợ

và quảng bá hoạt động franchise đã được thành lập Điển hình là Hội đồng Franchise Thế giới (World Franchise Council), ra đời vào năm 1994, có thành viên

là các hiệp hội franchise của nhiều quốc gia Ngoài ra, một tổ chức uy tín và lâu đời nhất là Hiệp hội Franchise Quốc tế (International Franchise Association) được thành lập năm 1960, có khoảng 30.000 thành viên bao gồm các doanh nghiệp bán, mua franchise đã được thực hiện

1.2.5 Phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài với một số dạng hợp đồng khác

Với tư cách là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, hoạt động nhượng quyền thương mại cùng với các đặc điểm của nó, nếu không được tiếp cận một cách thấu đáo có thể dễ bị lầm tưởng với một số hoạt động thương mại tương tự khác Tuy nhiên, về bản chất hoạt động nhượng quyền

Trang 32

thương mại là một hoạt động thương mại đặc trưng hoàn toàn độc lập với các hoạt động khác

Trên thực tế, nhiều thương nhân khi muốn chọn lựa một mô hình kinh doanh phù hợp, đã nhầm lẫn hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài với các hợp đồng thương mại khác có một số đặc điểm tương đồng Việc phân biệt rõ các loại hợp đồng thương mại trên sẽ giúp thương nhân chủ động, tự tin hơn khi đàm phán, kết hợp kinh doanh với các đối tác trong và ngoài nước Khi so sánh Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và một số hợp đồng thương mại khác theo pháp luật hiện hành, chúng ta nhận thấy có những khác biệt cơ bản dưới đây

đồng Li-xăng

Hợp đồng li-xăng là một dạng đặc thù của hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong đó đối tượng của hợp đồng là các đối tượng sỏ hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa

Ta có thể phân biệt li-xăng quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp với nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài qua các đặc điểm sau:

Th ứ nhất, nếu như đối tượng chuyển giao của hợp đồng Li-xăng chỉ dừng lại ở

việc chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp, thì trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, quyền sử dụng các đối tượng

sở hữu công nghiệp chỉ là một phần của hoạt động chuyển giao Bởi bên cạnh đó, bên nhượng quyền còn đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại còn có thể là việc chuyển giao các cách thức, bí quyết tiến hành kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, thiết kế, trang trí địa điểm kinh doanh… nói một cách khái quát là chuyển giao cả phần nội dung và hình thức của quy trình kinh doanh

Rõ ràng, đối tượng của Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài rộng và bao quát hơn so với Hợp đồng Li-xăng

Th ứ hai, mục đích của quá trình chuyển giao trong Hợp đồng Li -xăng là nhãn

hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích nhằm xác định hình thức, nội dung sản phẩm; Còn trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, mục tiêu mà bên nhượng quyền và bên nhận quyền hướng tới là

Trang 33

phát triển, mở rông hệ thống kinh doanh, trong đó nhãn hiệu hàng hóa, các đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp chỉ là một bộ phận góp phần gia tăng thương hiệu của hệ thống kinh doanh đó

Th ứ ba, nghĩa vụ hỗ trợ và kiểm soát của Bên chuyển giao trong Hợp đồng

Li-xăng chỉ dừng lại ở hỗ trợ ban đầu khi chuyển nhượng các đối tượng sở hữu công nghiệp cho bên nhận chuyển giao, còn trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại

có yếu tố nước ngoài, sự hỗ trợ của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền là toàn diện và liên tục Bên cạnh đó, bên chuyển giao trong hợp đồng Li – xăng chỉ có quyền kiểm soát khi cần thiết và trong phạm vi hẹp đối với bên chuyển giao.Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, bên nhượng quyền có quyền kiểm tra sâu sát, toàn diện đối với hoạt động của bên nhận quyền thông qua các hình thức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất

đồng chuyển giao công nghệ

Nhượng quyền thương mại là một khái niệm còn rộng hơn cả chuyển giao công nghệ Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đã xác định rõ, Nhượng quyền

thương mại là hoạt động thương mại [20], chứ không phải là chuyển giao công ngh ệ như quy định hiện hành Điều này hoàn toàn phù hợp với tập quán thương mại

th ế giới” [21, tr.43-44] Ta có thể phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại

với hợp đồng chuyển giao công nghệ qua một vài điểm sau:

Th ứ nhất, về bản chất của Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước

ngoài là hình thức mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh bằng một thỏa thuận cho phép thương nhân khác được sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, quy trình kinh doanh, công nghệ của bên nhượng quyền, còn Hợp đồng chuyển giao công nghệ là hình thức chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu công nghệ để ứng dụng vào quy trình sản xuất, kinh doanh

Th ứ hai, về giới hạn quyền của Bên nhận chuyển giao trong Hợp đồng chuyển

giao công nghệ, bên nhận chuyển giao có quyền ứng dụng công nghệ được chuyển giao để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ nhãn hiệu, kiểu dáng, tên thương mại nào

mà bên nhận chuyển giao mong muốn Ngược lại, Bên nhận quyền trong Hợp đồng

Trang 34

nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài chỉ được phép sử dụng các công nghệ, quy trình, bí mật kinh doanh đã được nhượng quyền để cung ứng các loại sản phẩm, dịch vụ có cùng chất lượng, mẫu mã và dưới nhãn hiệu hàng hóa của Bên nhượng quyền

Th ứ ba, trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, bên chuyển giao thực hiện các

công việc kiểm tra, giúp đỡ bên nhận chuyển giao chỉ đơn giản là đảm bảo cho bên nhận biết cách khai thác các đối tượng chuyển giao công nghệ để ứng dụng và sản xuất kinh doanh Ngược lại trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, bên nhận quyền luôn bị ràng buộc phải triệt để tôn trọng và thực hiện đầy đủ các tiêu chuẩn, chi tiết kỹ thuật quy định trong văn bản hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh doanh do bên nhượng quyền cung cấp

Th ứ tư, về nghĩa vụ hỗ trợ, kiểm soát của Bên chuyển giao hợp đồng chuyển giao công nghệ Về nguyên tắc, sau khi chuyển giao công nghệ, bên chuyển giao sẽ không còn nghĩa vụ hỗ trợ hoặc kiểm soát thêm đối với bên nhận chuyển giao trừ khi các bên trong hợp đồng có thỏa thuận khác.Ngược lại trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài,bên nhượng quyền vừa có quyền kiểm soát, điều tiết một cách toàn diện, vừa có nghĩa vụ hỗ trợ đối với bên nhận quyền, nhằm bảo đảm tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền

Th ứ năm, chủ thế của Hợp đồng chuyển giao công nghệ có thể là tổ chức, cá

nhân nhưng trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, chủ thể nhượng quyền và nhận quyền bắt buộc phải là thương nhân nước ngoài Tùy thuộc vào quy định cụ thể của từng quốc gia mà điều kiện về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền có thể chặt chẽ hơn

đồng đại lý thương mại

Nếu dạo qua thị trường, ta sẽ thấy vô số các cơ sở kinh doanh với những dấu hiệu đầu tiên rất cơ bản là tính đồng bộ và thống nhất, ví dụ như chuỗi cửa hàng Nino-max, các trạm bán xăng dầu Metro…Vậy đó có phải là các sơ sở của hệ thống nhượng quyền thương mại không, hay chỉ đơn thuần là các đại lý bán hàng? Nếu xét hình thức bề ngoài thì khó có thể phân biệt được một cửa hàng đại lý và một cơ

sở của hệ thống nhượng quyền thương mại Tuy nhiên, xét bản chất thì hai đối

Trang 35

tượng này hoàn toàn không giống nhau, cho thấy sự khác biệt giữa hợp đồng đại lý thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Đại lý là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý hành động nhân danh bên giao đại lý mua và bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao[22].Thù lao đại lý là khoản tiền do bên giao đại lý trả cho đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch [23]

Th ứ nhất, Nếu như trong Hợp đồng đại lý thương mại, đại lý thương mại là đại

diện cho doanh nghiệp trong việc mua, bán hàng hóa với mức giá quy định và được hưởng hoa hồng hoặc được hưởng chênh lệch giá nếu bên giao đại lý không ấn định mức giá Bên nhận đại lý không phải trả bất kỳ khoản phí nào cho bên giao đại lý liên quan đến quyền được nhận đại lý Ngược lại, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, bên nhận quyền phải trả phí cho bên giao quyền khi được nhận quyền kinh doanh Hơn nữa, trong thời gian hoạt động với tư cách là đại lý, bên đại lý được hưởng thù lao do bên giao đại lý trả, trong khi đó bên nhận nhượng quyền phải trả phí hàng tháng cho bên nhượng quyền Phí này là phí mà bên nhận quyền phải trả cho việc duy trì sử dụng nhãn hiệu hàng hóa của bên nhượng quyền và những dịch vụ hỗ trợ mang tính chất tiếp diễn, liên tục như đào tạo huấn luyện nhân viên, tiếp thị, quảng bá, nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới…

Th ứ hai, trong hợp đồng đại lý thương mại, quan hệ giữa bên giao đại lý và

nhận đại lý là liên đới Ví dụ, bên giao đại lý phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ, nếu bên đại lý không có lỗi, hay liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bên đại lý nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi của bên giao đại lý gây ra Ngoài ra, bên giao đại lý cũng chịu trách nhiệm về tình hình hoạt động của các đại lý Khác với tư cách của bên tham gia quan hệ đại

lý, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, bên nhận nhượng quyền là một thương nhân có tư cách độc lập, tiến hành việc phân phối, cung cấp hàng hóa dịch vụ cho chính doanh nghiệp và tự hạch toán lỗ lãi… Chính

vì vậy, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới đã quy định việc báo cáo về tính

Trang 36

độc lập của bên nhượng quyền và bên nhận quyền để đảm bảo quyền lợi cho các bên cũng như khách hàng [24, tr 44-45]

thác mua bán hàng hóa

Th ứ nhất, về phạm vi hợp đồng, bên nhận ủy thác trong Hợp đồng ủy thác

mua bán hàng hóa thực hiện việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác Còn Bên nhận quyền trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng thực hiện mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ với tư cách độc lập của mình nhưng không nhận thù lao từ bên nhượng quyền mà do kết quả hoạt động kinh doanh mang lại

Th ứ hai, về tính chất chuyển giao và nghĩa vụ hỗ trợ, kiểm soát, Hợp đồng ủy

thác mua bán hàng hóa không bắt buộc phải chuyển giao các đối tượng sở hữu công nghiệp, quy trình kinh doanh, huấn luyện cũng như không tồn tại nghĩa vụ kiểm soát và hỗ trợ kinh doanh Ngược lại, trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, bên nhượng quyền có quyền kiểm soát toàn diện và có nghĩa vụ

hỗ trợ đối với bên nhận quyền, nhằm đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền

đồng hợp tác kinh doanh

So với Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh cũng có một số điểm chung: các bên trong hợp đồng không thành lập pháp nhân mới, thương nhân đã kinh doanh thành công trên thị trường phải đóng vai trò hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho thương nhân vừa tham gia vào thị trường Tuy nhiên, hai hợp đồng thương mại này có những điểm khác biệt căn bản: sự kết nối chặt chẽ giữa các chủ thể kinh doanh, vai trò hỗ trợ và kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền đã tạo nên những ưu thế hoàn toàn khác biệt của Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài so với Hợp đồng hợp tác kinh doanh

Trang 37

1.3 Khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

1.3.1 Các quy định chung về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu

tố nước ngoài

Là một dạng hợp đồng thuộc lĩnh vực thương mại, hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cũng chịu sự điều chỉnh của luật hợp đồng nói chung và pháp luật về hợp đồng thương mại nói riêng Các điều khoản trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài có thể chịu sự điều chỉnh của luật cạnh tranh gồm những điều khoản liên quan đến giá mà Bên nhận quyền phải

áp dụng cho sản phẩm/dịch vụ chào bán; và những điều khoản liên quan đến quyền độc quyền trao cho Bên nhận quyền Các điều khoản này có thể bị nghi ngờ là nhằm phân chia thị trường, hoặc phối hợp hành động giữa các thành viên trong mạng lưới nhượng quyền Bên cạnh đó, các tài sản trí tuệ là nền tảng cơ bản để xây dựng đối tượng của Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài và vì thế pháp luật sở hữu trí tuệ là lĩnh vực quan trọng trong việc điều chỉnh hợp đồng này Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài cònliên quan đến pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong trường hợp có điều khoản cấm cạnh tranh sau khi kết thúc hợp đồng Các quy định pháp luật này cũng có thể được áp dụng khi xem xét các thỏa thuận ràng buộc trong hợp đồng

Đối tượng chuyển giao trong Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài có thể bao gồm việc chuyển giao công nghệ, do vậy hợp đồng này cũng chịu sự điều chỉnh của luật chuyển giao công nghệ Hợp đồng có thể phải được sự đồng ý của chính quyền địa phương để được chuyển giao công nghệ hoặc phải đăng

ký theo quy định pháp luật Ngoài ra, Hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu

tố nước ngoài còn phải chịu sự điều chỉnh của nhiều chế định pháp luật khác như: luật doanh nghiệp; luật về đại diện và pháp luật điều chỉnh các hợp đồng phân phối khác; đầu tư tài chính; pháp luật về hoạt động cho thuê và các biện pháp bảo đảm; luật thuế; luật bảo hiểm; pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài và hạn chế nhập khẩu và/hoặc hạn ngạch; pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp (ví dụ: quy định về an toàn sức khỏe đối với hoạt độngkinh doanh nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực đồ ăn)

Trang 38

1.3.2 Các quy định riêng điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại

có yếu tố nước ngoài

Đa phần các quốc gia trên thế giới đều không có quy định riêng điều chỉnh về hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài Thông thường, pháp luật các nước sẽ có những quy định điều chỉnh cụ thể các vấn đề liên quan đến hợp đồng nhượng quyền thương mại: như khái niệm, chủ thể, đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên và nội dung khác của hợp đồng Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đây, có một vài câu hỏi được đặt ra đó là: Cơ sở nào giải quyết khi phát sinh tranh chấp, lựa chọn pháp luật và các điều khoản áp dụng? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp? khi xảy ra vi phạm hợp đồng, mà pháp luật của các quốc gia của các chủ thể lại có những quy định khác nhau cùng điều chỉnh quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại Hiện tượng này chúng ta gọi là xung đột pháp luật [25, tr.93]

Để giải quyết các vấn đề này ta sẽ căn cứ vào những quy định trong lĩnh vực luật tư pháp quốc tế của mỗi quốc gia

Với tính chất đặc thù của hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài là loại hợp đồng có liên quan tới hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, hiện tượng xung đột pháp luật sẽ tất yếu phát sinh với hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật có khả năng được áp dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng Do đó, việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng với mục đích nhằm lựa chọn ra những quy định pháp luật riêng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài là một việc tối cần thiết và quan trọng

Hợp đồng nhượng quyền thương mại, như trên đã phân tích (mục 1.2.2) được xem là có yếu tố nước ngoài khi mà các chủ thể có các quốc tịch khác nhau, được

ký kết hay thực hiện tại nước ngoài Thật ra, các quốc gia ít khi có quy định điều chỉnh cụ thể, trực tiếp loại hợp đồng này Trong hệ thống pháp luật của các nước trên thế giới, nguyên tắc tự do ý chí, tự do thỏa thuận là nguyên tắc vàng của hợp đồng Pháp luật các nước thừa nhận hợp đồng là “luật giữa các bên” [26] Theo sự điều chỉnh của tư pháp quốc tế của mỗi quốc gia, để tôn trọng bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận, do đó các bên trong hợp đồng sẽ có quyền tự do thỏa thuận,

và sự thỏa thuận này phải trong khuôn khổ của pháp luật, thì mới có giá trị pháp lý Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn pháp luật quốc gia của một trong các bên, lựa

Trang 39

chọn một công ước quốc tế phù hợp điều chỉnh quan hệ hợp đồng, hay đơn thuần là những thỏa thuận phát sinh từ ý chí của các bên miễn là không trái luật, không trái đạo đức xã hội Đây có thể coi là những quy định riêng điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài

Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, thông thường, bên nhượng quyền thành công trong việc áp đặt luật của nước sở tại (nước của bên nhận quyền) và chỉ rõ ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết sao nhằm mục đích đảm bảo được lợi ích của họ Trong trường hợp này, các điều khoản của hợp đồng sẽ chỉ ra rằng tòa án nước sở tại (Tòa án của bên nhận nhượng quyền) sẽ có thẩm quyền khi có vi phạm phát sinh liên quan đến quyền sở hữu của bên nhượng quyền Điều này cho phép bên nhượng quyền phản ứng lại một các nhanh chóng và hiệu quả đối với những vi phạm của bên nhận quyền [27]

1.3.3 Các quy định cụ thể điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại

có yếu tố nước ngoài

y ếu tố nước ngoài

Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, tồn tại hai chủ thể, đó là bên

nh ượng quyền và bên nhận quyền

Về mặt bản chất, hợp đồng nhương quyền thương mại là sự thoả thuận của hai chủ thể này về nội dung của hoạt động nhượng quyền Tuy nhiên, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, chủ thể tham gia có thể có đôi chút

sự khác biệt so với hợp đồng nhượng quyền thương mại nội địa Nếu như trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, các chủ thể tham gia đều là thương nhân có cùng quốc tịch, thì trong trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài, một số trường hợp một hoặc các bên chủ thể có thể là thương nhân nước ngoài

Khoản 1, Điều 16, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Thương nhân

n ước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của

Quan hệ nhượng quyền không chỉ dừng lại giữa một bên nhượng quyền và một bên nhận quyền mà còn xuất hiện thêm nhiều bên nhận quyền khác nữa tạo thành một hệ thống nhượng quyền thương mại Trong một số trường hợp nếu được

Trang 40

bên nhượng quyền chấp nhận thì Bên nhận quyền có thể chuyển nhượng “quyền

th ương mại” cho bên thứ ba, khi đó Bên nhận quyền trở thành “bên nhận quyền sơ

c ấp” và bên thứ ba trở thành “bên nhượng quyền thứ cấp”, bên nhận quyền thứ cấp

sẽ có các quyền và nghĩa vụ như bên nhận quyền ban đầu Những đặc trưng về chủ thể này của hợp đồng nhương quyền thương mại làm cho hợp đồng nhượng quyền thương mại có yếu tố nước ngoài có những đặc điểm khác biệt so với các loại hợp đồng khác

Tiếp theo, xét về mặt tư cách chủ thể, do nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại đặc thù, vì vậy, hầu hết các nước đều quy định chủ thể của quan

hệ nhượng quyền phải là thương nhân, có thẩm quyền kinh doanh và có quyền hoạt động trong lĩnh vực thương mại phù hợp với đối tượng được nhượng quyền

Quy Tắc Đạo Đức đối với hoạt động nhượng quyền của Châu Âu đòi hỏi bên nhượng quyền:

(i) Đã hoạt động thành công với mô hình kinh doanh của mình trong một khoản thời gian và đã có ít nhất một cơ sở kinh doanh thí điểm trước khi bắt đầu mạng lưới nhượng quyền của mình

(ii) Là chủ sở hữu hoặc có quyền hợp pháp sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa hoặc các đặc trưng phân biệt khác [28]

Theo pháp luật Trung Quốc thì bên nhượng quyền phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau đây:

(ii) Là một doanh nghiệp hoặc thực thể kinh tế khác được tổ chức hợp lệ theo luật và quy định;

(iii) Có quyền cấp cho các bên khác sử dụng các tài nguyên hoạt động kinh doanh bao gồm nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, phương thức hoạt động ;

(iv) Có khả năng cung cấp cho các bên nhận quyền các dịch vụ đào tạo và hướng dẫn hoạt động dài hạn;

(v) Có ít nhất hai cơ sở do công ty sở hữu tại Trung Quốc trong vòng hơn một năm;

Ngày đăng: 03/09/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w