1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện

83 166 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành để thấy rõ các ưu điểm, nhược điểm còn tồn tại trong hệ thống pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của

riêng tôi Các s ố liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin

c ậy, chính xác và trung thực Những kết quả khoa học của luận văn chưa

t ừng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trịnh Quang Dũng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ đạo nhiệt tình và quý báu của TS Nguyễn Thị Yến và tập thể các giảng viên Khoa sau Đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội

Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu Viện Đại học Mở Hà Nội, khoa Luật, Phòng Đào tạo và Khoa sau Đại học của nhà trường cùng các giảng viên, những người đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập

Với lòng biết ơn chân thành và sâu sắc, tác giả xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Yến – cô đã định hướng và chỉ dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này

Do thời gian có hạn, luận văn của tôi sẽ còn nhiều thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy/cô và quý độc giả

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà N ội, ngày 31 tháng 12 năm 2017

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC GIA NHẬP THỊ

TRƯỜNG ĐỐI VỚI NGÀNH NGHỀ KINH DOANH

CÓ ĐIỀU KIỆN

8

1.1 Khái quát về thủ tục gia nhập thị trường 8

1.1.1 Khái niệm thủ tục gia nhập thị trường 8 1.1.2 Đặc điểm của thủ tục gia nhập thị trường 13 1.1.3

1.2 Thủ tục gia nhập thị trường đối với một số ngành

nghề kinh doanh có điều kiện

1.3 Pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với

ngành nghề kinh doanh có điều kiện

32

1.3.1 Khái niệm pháp luật thủ tục gia nhập thị trường đối với

ngành nghề kinh doanh có điều kiện

32

1.3.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về thủ tục gia nhập thị

trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện

33

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ

TỤC GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

64

3.2 Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật 66

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐKĐTKD Điều kiện đầu tư kinh doanh

LDN Luật Doanh nghiệp

LĐT Luật Đầu tư

GPKD Giấy phép kinh doanh

ĐKKD Điều kiện kinh doanh

CCHN Chứng chỉ hành nghề

BĐS Bất động sản

Trang 7

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Hoạt động của doanh nghiệp góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề

xã hội như tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo Do vậy phát triển doanh nghiệp là một trong những mục tiêu mà Nhà nước ta hướng tới

Gia nhập thị trường là những thủ tục hành chính đầu tiên, “khai sinh” ra một doanh nghiệp Các chủ thể muốn được kinh doanh dưới các hình thức pháp lý quy định trong Luật Doanh nghiệp thì phải tiến hành các thủ tục gia nhập thị trường theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các luật chuyên ngành khác Xu hướng quốc tế hóa và toàn cầu hóa các hoạt động kinh doanh với nhu cầu giao dịch thương mại quốc tế ngày càng tăng đặt ra yêu cầu cấp thiết cần có một hệ thống pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường hoàn chỉnh Thông qua hệ thống này, các bên đối tác dễ dàng tìm hiểu thông tin tin cậy về tình trạng pháp lý của nhau Bất cứ một doanh nghiệp nhỏ nào muốn mở rộng giao dịch kinh doanh ra khỏi quỹ đạo hiện tại của mình cũng cần đến những dịch vụ xác nhận tình trạng pháp lý này Thủ tục gia nhập thị trường phức tạp và tốn kém sẽ hạn chế những cơ hội thành lập doanh nghiệp của người dân Nhận biết được điều đó, trong những năm qua, Nhà nước ta không ngừng cải cách thủ tục hành chính để giúp những người có nhu cầu thành lập doanh nghiệp giảm chi phí, tiết kiệm thời gian, nhanh chóng gia nhập thị trường và đã bước đầu đạt được những thành công đáng kể

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, thực tế áp dụng thủ tục gia nhập thị trường còn những bất cập, hạn chế và đặc biệt đối với các ngành nghề có yêu cầu về điều kiện kinh doanh Những rắc rối này liên quan tới nhiều loại giấy tờ, thủ tục rườm rà làm chậm tiến độ thành lập doanh nghiệp của chủ thể kinh doanh; hệ

Trang 8

2

thống cơ quan đăng ký doanh nghiệp bị phân tán… Những hạn chế đó đã làm giảm đáng kể hiệu quả của hoạt động thành lập doanh nghiệp, không khuyến khích đầu tư sản xuất, tác động xấu đến môi trường kinh doanh và làm chậm quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá của Việt Nam

Do đó, việc tìm hiểu thực trạng để hoàn thiện pháp luật về kinh doanh nói chung, pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường nói riêng là vấn đề cần thiết Vì vậy

tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với một số

ngành nghề kinh doanh có điều kiện” làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu

2.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan tới đề tài

(i) World Bank, “Doing Buisness 2016: Smarter regulations for small and

medium size enterprises”, 2016

Dự án và Báo cáo chung của Ngân hàng thế giới và Tổ chức tài chính Quốc tế

về Môi trường kinh doanh nghiên cứu năm 2016 với nội dung nghiên cứu áp dụng phương thức đánh giá khách quan sự tác động của các quy định kinh doanh ở tầm vi

mô tới các doanh nghiệp Báo cáo nghiên cứu rất chi tiết với 10 tiêu chí để đưa ra nhận định về môi trường kinh doanh của 185 quốc gia Khi đánh giá về quy trình, thủ tục thành lập doanh nghiệp, bản báo cáo chỉ ra những nước có quy trình thủ tục mất nhiều thời gian gây phiền hà là những nước vùng Trung Đông và Bắc phi gồm: Argentina có 14 thủ tục, Bruniei có 15 thủ tục và mất 101 ngày để thành lập doanh nghiệp… Singapore và Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) tiếp tục có môi trường pháp lý thuận lợi nhất thế giới cho doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc cũng được xếp vào nhóm 20 nước đứng đầu thế giới về mức độ thuận lợi trong kinh doanh

(ii) OECD, “Administrativie simplification in Việt Nam: Supporting the

competitiveness of the Vietnamese economy”, 2011

Trang 9

3

Báo cáo đánh giá về tình hình đơn giản thủ tục hành chính ở Việt Nam do Tổ chức và Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) phát hành năm 2011 Đây được coi là bản báo cáo có cái nhìn rất toàn diện về môi trường kinh doanh ở Việt Nam qua các đề án cải cách thủ tục hành chính như Đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính Theo OECD, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, do đó cần phải nỗ lực cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường đầu tư, kinh doanh tạo điều kiện, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa, tăng cường có các cuộc đối thoại giữa Chính phủ và các doanh nghiệp trong và ngoài nước; cải thiện phương thức, thủ tục thành lập doanh nghiệp, rút ngắn thời gian, chi phí cho nhà đầu tư kinh doanh

(iii) John Wille, Karim O Belayachi, Numa De Magalhaes, Frederic Meunier,

“Leveraging Technology to Support Business Registration Reform”, 2011

Nhằm hỗ trợ trong việc cải cách, quản lý hệ thống đăng ký kinh doanh, nhóm tác giả đã trình bày phương thức sử dụng công nghệ để hỗ trợ cải cách đăng ký kinh doanh Đưa ra những giải pháp trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để giảm thời gian cho các doanh nghiệp khi đi đăng ký kinh doanh, đồng thời cải thiện sự giám sát của Nhà nước và tạo điều kiện tiếp cận thông tin cho các doanh nghiệp Theo các tác giả, để ứng dụng tốt công nghệ thông tin trong hoạt động thành lập doanh nghiệp, nhà nước cần phải cải cách pháp luật và quy trình đăng ký trước khi ứng dụng công nghệ thông tin Ngoài ra, Nhà nước cũng cần phải xây dựng các mối liên kết dữ liệu giữa các cơ quan thực hiện hoạt động đăng ký kinh doanh

2.2 Công trình nghiên cứu trong nước liên quan tới đề tài

(i) GS.TS Mai Hồng Quỳ (Chủ biên), “Tự do kinh doanh và vấn đề đảm bảo

quy ền con người tại Việt Nam”, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Lao động, 2012

Trong nội dung của cuốn sách, các tác giả phân tích, bình luận đánh giá pháp luật về doanh nghiệp Việt Nam trong việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh như những quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp, chủ thể tham gia thành lập doanh nghiệp, ngành nghề được phép kinh doanh và cấm kinh doanh Theo các tác giả, để

Trang 10

4

mở rộng đảm bảo quyền tự do theo đúng tinh thần của Hiến pháp, Nhà nước cần tạo

ra một môi trường kinh doanh thuận lợi thông qua hệ thống pháp luật về doanh nghiệp không được trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, đồng thời đẩy mạnh việc cải cách quy trình thành lập doanh nghiệp, rút ngắn thời gian và chi phí để doanh nghiệp được thực hiện kinh doanh một cách thuận lợi

(ii) TS Nguyễn Thị Dung, “Pháp luật về thành lập doanh nghiệp”, chương

11, Giáo trình Luật Thương mại tập 1, NXB Tư pháp 2017

Công trình nghiên cứu này là một chương trong giáo trình của một môn học,

do đó, tác giả đã trình bày một cách khoa học các vấn đề lý luận chung về thủ tục gia nhập thị trường của thương nhân, bao gồm thành lập doanh nghiệp và thủ tục đáp ứng các điều kiện kinh doanh Công trình nghiên cứu này của tác giả chỉ giải quyết khái quát vấn đề thành lập doanh nghiệp

(iii) TS Nguyễn Thị Yến, ths Trần Thị Bảo Ánh, “Pháp luật về ngành nghề

kinh doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Luật học – Trường Đại

học Luật Hà Nội, số 04/2013 Trong phạm vi một bài tạp chí, các tác giả nghiên cứu một cách tổng quan, không đi sâu vào phân tích từng loại điều kiện kinh doanh, mà chỉ nhấn mạnh một số các điều kiện kinh doanh tiêu biểu nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đich nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận về thủ tục gia nhập thị trường đối với một số ngành nghề có điều kiện và pháp luật điều chỉnh đối với những thủ tục này Dựa trên cơ sở lý luận đó để đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và đưa ra được những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với các ngành nghề có điều kiện

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết là:

Trang 11

5

- Nêu và phân tích các cơ sở lý luận về thủ tục gia nhập thị trường nói chung

và đối với một số ngành nghề có điều kiện nói riêng Cần làm rõ khái niệm, đặc điểm của thủ tục gia nhập thị trường, điều kiện kinh doanh, vai trò của của thủ tục gia nhập thị trường trong quản lý kinh tế

- Nêu và phân tích các cơ sở lý luận pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề có điều kiện Trong đó làm rõ khái niệm pháp luật điều kiện kinh doanh, mối quan hệ giữa pháp luật điều kiện kinh doanh với quyền tự do kinh doanh

- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành để thấy rõ các ưu điểm, nhược điểm còn tồn tại trong hệ thống pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện

- Xây dựng định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là các vấn đề lý luận và thực tiễn đối với thủ tục thành lập doanh nghiệp Ngoài ra, là khảo cứu một số ngành nghề đặc biệt có quy định về điều kiện kinh doanh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, phạm vi nghiên cứu là hệ thống các quy định pháp luật của Việt Nam về điều chỉnh hoạt động thành lập doanh nghiệp và các vấn đề có liên quan đối với một số ngành nghề có điều kiện

Các ngành nghề có điều kiện mà luận văn nghiên cứu đó là kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ thẩm định giá Các ngành nghề này có những điều kiện kinh doanh khác nhau, đòi hỏi những đặc thù riêng khi thành lập doanh nghiệp

Trang 12

6

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh doanh nói chung và pháp luật doanh nghiệp nói riêng Đối với từng nội dung cụ thể, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử

Phương pháp phân tích được áp dụng trong việc xây dựng các luận điểm trong từng nội dung của luận văn Thông qua việc phân tích từng khía cạnh của đối tượng nghiên cứu, luận văn sẽ xây dựng các khái niệm hoặc chứng minh các luận điểm đã được đưa ra

Phương pháp thống kê được áp dụng trong quá trình phân tích thực trạng thực thi quy định pháp luật về thủ tục thành lập doanh nghiệp Bằng việc sử dụng các số liệu thực tế thông qua phương pháp thống kê sẽ chứng minh cho các nhận định được đưa ra

Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình phát triển của hệ thống pháp luật về thủ tục thành lập doanh nghiệp đối với những ngành nghề có điều kiện gắn với bối cảnh phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn

Về ý nghĩa khoa học, Luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho việc nghiên cứu pháp luật, quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tìm kiếm mô hình đăng ký doanh nghiệp phù hợp Luận văn cũng làm rõ vai trò, chức năng của pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường, sự tác động của hệ thống pháp luật về đăng ký doanh nghiệp tới quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Trang 13

7

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là công trình khoa học

có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập và áp dụng pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 Khái quát về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Chương 2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục gia nhập thị trường đối

với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Chương 3 Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục

gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Trang 14

8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỦ TỤC GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG ĐỐI VỚI NGÀNH NGHỀ KINH

DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

1.1 Khái quát về thủ tục gia nhập thị trường

1.1.1 Khái niệm thủ tục gia nhập thị trường

Kinh doanh với hình thức ban đầu là hoạt động buôn bán xuất hiện từ hàng trăm năm trước đây (như việc buôn bán của người Do Thái ở Tây Nam Á, người nhà Thương ở Đông Bắc Á) và thực sự nở rộ cùng sự ra đời của chủ nghĩa tư bản phương Tây

Việt Nam với dấu ấn của một xã hội “trọng nông ức thương”, trước thế kỷ XIX, thương nhân không phải là một tầng lớp riêng trong xã hội Dù vậy, hoạt động thương mại vẫn được diễn ra cùng với tên tuổi của các địa danh như Vân Đồn, phố Hiến, Hội An Đến thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945), với mục tiêu cuối cùng của thực dân Pháp là mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa, khai thác nguyên liệu cho công nghiệp chính quốc để đạt siêu lợi nhuận tối đa, năm 1864 người Pháp đem Bộ Luật thương mại của mình áp dụng vào Nam kỳ và áp dụng vào Bắc kỳ năm 1888 Đây là

Bộ luật thương mại thành văn đầu tiên được áp dụng ở nước ta quy định các vấn đề

về thương gia, quyền và nghĩa vụ của thương gia, về các hội buôn, về thương phiếu, phá sản và về tòa án thương mại

Ngày nay, quyền tự do kinh doanh của người dân Việt Nam đã trở thành quyền hiến định Theo điều 33 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Luật Doanh nghiệp năm

2014 đã cụ thể hoá quyền tự do kinh doanh và coi đây là một trong những nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt các điều luật Khoản 1 điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014 khẳng định: “Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong các ngành, nghề mà luật không cấm”

Trang 15

9

Để kinh doanh, mọi tổ chức, cá nhân phải gia nhập thị trường “Gia nhập” là một thuật ngữ, có thể được hiểu triết tự: “gia” - thêm; “nhập” – vào [19] Do đó, “Gia nhập” được hiểu là ghi thêm tên mình để trở thành thành viên của một tổ chức nào

đó

Dưới khía cạnh pháp lý, “gia nhập thị trường” được hiểu là quá trình một chủ

th ể kinh doanh thực hiện tất cả các thủ tục cần thiết để bắt đầu hoạt động kinh doanh

c ủa mình bao gồm các thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp (đăng ký doanh

nghi ệp), tiếp cận đất đai và các thủ tục để được cấp các loại giấy phép cũng như các điều kiện pháp lý cần thiết khác cho việc bắt đầu hoạt động kinh doanh

Nói cách khác, nếu giai đoạn hình thành ý tưởng kinh doanh, nhận diện thị trường là quá trình “gieo hạt” thì giai đoạn “gia nhập thị trường” chính là quá trình hạt được gieo có đầy đủ điều kiện (bao gồm điều kiện tự thân và điều kiện môi trường xung quanh) để nảy mầm thành cây và bắt đầu những giai đoạn phát triển cao hơn

Xây dựng ý tưởng (Idea formulation)

Lập kế hoạch chuẩn bị và nhận diện thị trường (Pre-start planning and screening)

Gia nhập thị trường (Entry and launch)

Phát triển (Post entry development)

Rút khỏi thị trường (Withdraw)

Một trong những yếu tố tác động đến quyết định gia nhập thị trường của các

chủ thể kinh doanh nói chung và với doanh nghiệp nói riêng đó là chi phí gia nhập thị

Trang 16

Những thủ tục này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa của WB trong báo cáo

“Doing Business” về thủ tục gia nhập thị trường đó là “các yêu cầu chính thức đối với mỗi doanh nghiệp bao gồm tất cả các giấy phép cần thiết, các yêu cầu thông báo và lưu trữ phải nộp cho tất cả các cơ quan chức năng để tiến hành kinh doanh hợp pháp”

(i) Đăng ký doanh nghiệp

- Giai đoạn 1991 - 1999, với sự ra đời của Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, việc đăng ký kinh doanh là sự “xin phép” của doanh nghiệp đối với Nhà nước Trình tự và thủ tục thành lập doanh nghiệp rất chặt chẽ, phải qua sự kiểm tra, thẩm định, đánh giá và chứng nhận của hệ thống cơ quan nhà nước Theo đó, nhà đầu tư xin phép thành lập doanh nghiệp tại UBND cấp tỉnh

và thực hiện đăng ký kinh doanh tại Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Trọng tài kinh

tế cấp tỉnh sau khi có giấy phép, thể hiện cơ chế “xin – cho” Năm 1994, Trọng tài kinh tế Nhà nước bị giải thể, Sở Kế hoạch và Đầu tư được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện công tác đăng ký kinh doanh

Có thể thấy thành tựu nổi bật trong sự phát triển của hệ thống pháp lý về đăng

ký kinh doanh thời kỳ này là đã có những bước cải thiện lớn về tính minh bạch trong các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện để được đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, với cơ chế “xin – cho” đã gây khó khăn cho các nhà đầu tư ngay từ những thủ tục đầu tiên để gia nhập thị trường

Trang 17

11

- Giai đoạn từ năm 2000 đến nay, với sự ra đời của Luật doanh nghiệp năm

1999, các quy định về đăng ký kinh doanh đã thể hiện tư duy đột phá về quản lý hành chính, kinh tế Đăng ký kinh doanh chuyển từ cơ chế “xin – cho, tiền kiểm” sang

“đăng ký, hậu kiểm”

Hệ thống cơ quan đăng ký kinh doanh được tổ chức theo 2 cấp, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp huyện, thị xã thuộc tỉnh Tiếp tục ghi nhận những cải cách đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005, hiện nay là Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn hiện hành đã quy định quy chế pháp lý chung cho việc thành lập và hoạt động của các doanh nghiệp

Người thành lập doanh nghiệp phải lập và nộp đủ hồ sơ theo quy định của pháp luật tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền để tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp Người thành lập doanh nghiệp phải tự kê khai hồ sơ đăng ký kinh doanh và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, tính hợp pháp, chính xác và trung thực của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký Thông thường, bộ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký (theo mẫu); Dự thảo điều lệ công ty; Bản sao hợp lệ giấy tờ chứng thực cá nhân của chủ doanh nghiệp, thành viên hoặc cổ đông sáng lập của công ty; Danh sách thành viên hoặc cổ đông sáng lập của công ty Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ, không có quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác và cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ Nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định tại điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và được ghi trên cơ sở thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không phải là giấy phép kinh doanh

Như vậy đăng ký doanh nghiệp là một bước quan trọng trong thủ tục gia nhập thị trường, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được coi như giấy khai sinh của doanh nghiệp, là điều kiện tiên quyết để các nhà đầu tư có thể tiến hành hoạt động

Trang 18

Điều kiện kinh doanh theo nghĩa rộng, có thể hiểu là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh của người dân nhằm đảm bảo những giá trị và lợi ích công cộng nhất định Hẹp hơn, điều kiện kinh doanh có thể hiểu là những yêu cầu bắt buộc để cơ sở kinh doanh tồn tại

Điều kiện kinh doanh có thể được phân loại thành các điều kiện liên quan đến đầu tư, xây dựng (đăng ký đầu tư, chứng chỉ quy hoạch, đăng ký hoặc thẩm tra đánh giá tác động môi trường, giấy phép xây dựng); khai thác tài nguyên (các điều kiện về tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản); điều kiện để thực hiện các hoạt động nhất định (giấy phép quảng cáo, công diễn ); điều kiện để sử dụng dây chuyền sản xuất, lưu hành sản phẩm hoặc dịch vụ (giấy phép sử dụng phương tiện, các tiêu chuẩn chất lượng, điều kiện về quy trình sản xuất)…

Với việc ban hành Luật Đầu tư năm 2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, khái niệm điều kiện kinh doanh đã được thống nhất,

và đây là căn cứ để các Bộ, ngành phải thực hiện soạn thảo các nghị định về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với một số ngành, nghề chưa có văn bản quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh, phải sửa đổi các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh được ban hành không đúng thẩm quyền của Luật Đầu tư

Theo quy định tại khoản 7 điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014:

“ Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo

quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện

Trang 19

13

ho ạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”

Theo quy định tại khoản 2 điều 9 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP, các điều kiện đầu tư kinh doanh được áp dụng theo các hình thức: giấy phép; giấy chứng nhận

đủ điều kiện; chứng chỉ hành nghề; chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp; văn bản xác nhận; các hình thức văn bản khác theo quy định của pháp luật ngoài các hình thức điều kiện trên; các điều kiện mà cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản

Luật Doanh nghiệp năm 2014 tiếp cận điều kiện đầu tư kinh doanh dưới góc

độ là những yêu cầu bắt buộc đối với doanh nghiệp khi kinh doanh ngành nghề trong danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện Với ý nghĩa như vậy, việc sử dụng giấy phép và điều kiện kinh doanh cho một số ngành nghề là hết sức cần thiết

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, để có thể gia nhập thị trường kinh doanh các ngành nghề không cần điều kiện, nhà đầu tư chỉ cần làm thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp; nhưng để thực tế kinh doanh được một số ngành nghề có điều kiện, nhà đầu tư còn phải thực hiện các thủ tục thỏa mãn các điều kiện kinh doanh Đó thực

sự là những thủ tục cần phải cải cách để góp phần bảo đảm môi trường kinh doanh tại Việt Nam

1.1.2 Đặc điểm của thủ tục gia nhập thị trường

(i) Th ứ nhất, gia nhập thị trường là thủ tục khởi đầu cho hoạt động kinh doanh

Để bắt đầu tham gia vào hoạt động kinh doanh, công việc đầu tiên của chủ thể kinh doanh là phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện đảm bảo cho hoạt động kinh doanh Điều kiện đầu tiên phải kể đến là thủ tục gia nhập thị trường

Gia nhập thị trường là hoạt động mà ở đó chủ thể kinh doanh phải thực hiện những thủ tục cần thiết để khai báo với cơ quan quản lý nhà nước về nhu cầu khởi sự kinh doanh Trong quá trình khai báo, chủ thể kinh doanh phải chịu trách nhiệm về tính chính xác nội dung ghi trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp Thông qua việc xem

Trang 20

14

xét tính hợp lệ của hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho từng chủ thể kinh doanh phù hợp với loại hình mà họ lựa chọn

Có thể thấy, thông qua quy trình gia nhập thị trường, Nhà nước thừa nhận sự tồn tại của một loại hình kinh doanh trên thương trường, đồng thời khẳng định tư cách pháp lý cho loại hình kinh doanh đó Ngoài ra, Nhà nước còn hướng cho chủ thể kinh doanh kinh doanh đúng pháp luật, phát huy khả năng sáng tạo về ý tưởng kinh doanh, ý chí làm giàu theo đúng quy định của pháp luật, chính sách của Nhà nước Bởi lẽ, trong nền kinh tế thị trường, luôn tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh, việc quy định chủ thể kinh doanh phải tiến hành gia nhập thị trường là một thủ tục bắt buộc, không những đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể kinh doanh mà còn đáp ứng nhu cầu quản lý của Nhà nước đối với tổ chức kinh tế Vì vậy, việc thành lập một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận phải luôn đảm bảo theo quy định của pháp luật

(ii) Th ứ hai, thông qua quản lý hoạt động gia nhập thị trường, Nhà nước

th ống nhất quản lý các loại hình kinh doanh

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký doanh nghiệp GCNĐKDN thực chất là một loại văn bản mang tính chất pháp lý do

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép hoặc đồng ý để một chủ thể kinh doanh (cá nhân hoặc tổ chức) tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh nhất định Thông qua việc cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Nhà nước có thể quản lý, nắm bắt và tổng hợp được tất cả các chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thương trường để thực hiện chức năng thu thuế, đồng thời đặt cơ sở ban đầu cho công tác quản lý trong khâu hậu kiểm, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh ngay từ khâu gia nhập thị trường

Trang 21

15

Quy trình quản lý thủ tục gia nhập thị trường không chỉ là việc Nhà nước thể hiện quyền lực của mình trong việc bảo vệ lợi ích cộng đồng, mà còn giúp Nhà nước chủ động hơn trong việc hạn chế và điều tiết những ngành nghề sản xuất kinh doanh không có lợi cho cộng đồng, không cần khuyến khích sản xuất Hơn nữa, quy trình này còn giúp Nhà nước tiến hành cấp phép, kiểm tra một cách nghiêm ngặt các điều kiện cơ bản do Nhà nước quy định và yêu cầu các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng Mặt khác, thông qua quản lý việc gia nhập thị trường, Nhà nước lập nên một khung pháp lý để các doanh nghiệp cùng tham gia, hoạt động theo quy định chung không xâm hại lẫn nhau, cạnh tranh lành mạnh, tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi,

an toàn, hướng đến một môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng Nhà nước quản lý mọi hoạt động của chủ thể kinh doanh theo đúng nội dung đã đăng ký để kịp thời xử lý các hành vi vi phạm nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh và bảo vệ lợi ích cộng đồng Đây được coi là hoạt động “hậu kiểm” phục vụ cho công tác quản lý kinh tế của Nhà nước; hậu kiểm thường chỉ áp dụng đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện

(iii) Th ứ ba, gia nhập thị trường là thực hiện quyền tự do kinh doanh

Tự do kinh doanh là một trong những quyền tự nhiên của con người, trong đó quyền tự do thành lập doanh nghiệp là quyền của nhà đầu tư được lựa chọn và đăng

ký loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh phù hợp với điều kiện và sở thích của mỗi nhà đầu tư Quyền tự do kinh doanh không có nghĩa là chủ thể kinh doanh được quyền làm tất cả những gì họ muốn, mà để đảm bảo sự ổn định và thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh, tránh tình trạng “cá lớn nuốt cá bé” đòi hỏi chủ thể kinh doanh thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình bằng cách đăng ký doanh nghiệp, gia nhập thị trường để thông qua đó xác lập tư cách pháp lý cho mình

Nhà nước có trách nhiệm công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình kinh doanh, đảm bảo cho chủ thể kinh doanh được quyền mở rộng ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn đầu tư kinh doanh, lựa chọn mô hình phù hợp… Thông qua việc gia nhập thị trường, các chủ thể kinh doanh được Nhà nước, bạn hàng, xã hội thừa nhận

Trang 22

16

trên thị trường Mặt khác, nếu các chủ thể kinh doanh thực hiện đầy đủ quy trình về đăng ký kinh doanh cũng có nghĩa chủ thể kinh doanh đó được Nhà nước đảm bảo tôn trọng sự quyết định về hình thức kinh doanh của chủ thể, được tạo điều kiện thuận lợi về môi trường hoạt động kinh doanh Do đó, xác định đây là một trong những nội dung của quyền con người nên pháp luật các quốc gia đều ghi nhận ở Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật: cần phải coi trọng và tạo ra môi trường kinh doanh thông thoáng để các chủ thể kinh doanh xuất phát từ nhu cầu, ý chí, nguyện vọng của mình thỏa mãn khát vọng làm giàu mà không phải là một đặc quyền

mà được Nhà nước ban phát thông qua cơ chế “xin cho”

Hiện nay, đáp ứng nhu cầu khởi sự kinh doanh, hoạt động đăng ký doanh nghiệp, gia nhập thị trường đã được cải cách, thay đổi về thủ tục với những hướng dẫn chi tiết tạo nên sự thuận tiện cho các nhà đầu tư… nhằm mở rộng hơn nữa quyền

tự do kinh doanh tạo thêm nhiều cơ hội cho các chủ thể kinh doanh

1.1.3 Vai trò của thủ tục gia nhập thị trường

Thủ tục gia nhập thị trường thực sự có ý nghĩa khi thực hiện các vai trò sau:

(i) Đối với Nhà nước

Thủ tục gia nhập thị trường là công cụ pháp lý để điều tiết có hiệu quả hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong tính đa dạng của nền kinh tế thị trường, trong quá trình đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân và trước yêu cầu hội nhập,

mở cửa nền kinh tế

(ii) Đối với các chủ thể kinh doanh

Giấy phép và điều kiện kinh doanh trong thủ tục gia nhập thị trường là công cụ kiểm soát và hạn chế độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh Đây sẽ là cơ sở để quyền tự do kinh doanh của các tổ chức, cá nhân được đảm bảo Đặc biệt, trong điều kiện lập pháp và ý thức pháp luật chưa cao, nếu không có những giới hạn điều kiện hoặc những khống chế bằng việc quy định ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì rất

Trang 23

17

dễ xảy ra việc lợi dụng, vi phạm pháp luật và hậu quả là vượt ra khỏi sự an toàn, cân bằng và trật tự chung trong xã hội

(iii) Đối với cộng đồng

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội sẽ có rất nhiều lợi ích đại chúng cần được bảo vệ như vấn đề an ninh quốc phòng, vệ sinh an toàn thực phẩm, quyền lợi của người tiêu dùng… Việc kinh doanh thực phẩm nếu không được kiểm soát có thể sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của mọi người Hoạt động quảng cáo, khuyến mại không có sự kiểm soát cũng sẽ có khả năng có gian lận, lừa gạt người tiêu dùng Các hoạt động đào tạo, xuất khẩu lao động, giới thiệu việc làm… không có những điều kiện nhất định về nhân sự, về vốn pháp định, về giấy phép của

cơ quan quản lý chuyên ngành sẽ gây ra những hậu quả to lớn về mặt xã hội

(iv) Đối với môi trường kinh doanh

Thủ tục gia nhập thị trường là một trong các công cụ kiểm soát và hạn chế độc quyền, góp phần đưa lại một môi trường kinh doanh bình ổn và phát triển bền vững Một chủ thể dự định kinh doanh ngành nghề có điều kiện không thể chỉ với sức mạnh

về khả năng tài chính có thể độc quyền kinh doanh hoặc khống chế thị trường Bên cạnh đó, bằng việc quy định giấy phép và điều kiện kinh doanh, Nhà nước xác định

rõ chủ thể, đối tượng được quyền kinh doanh một hoặc một số ngành nghề nhất định, theo đó các chủ thể kinh doanh có điều kiện như nhau sẽ có cơ hội kinh doanh ngang bằng Nói cách khác, bên cạnh mục đích duy trì và bảo vệ lợi ích công cộng, thủ tục gia nhập thị trường góp phần tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thủ tục gia nhập thị trường

Th ứ nhất, Quyền tự do kinh doanh

Quyền tự do kinh doanh là quyền của con người, là quyền của công dân lựa chọn hình thức tổ chức kinh tế, ngành, nghề và quy mô kinh doanh để tiến hành các hoạt động kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận Quyền tự do kinh doanh của con người luôn được Nhà nước coi đó là mục tiêu phấn đấu và hoàn thiện để đảm bảo cho con

Trang 24

Do đó, có thể thấy, quyền tự do kinh doanh là một quyền rất mở của công dân cần phải được mở rộng và đảm bảo thực thi trong đời sống xã hội

Sự tự do kinh doanh không có nghĩa là chỉ thực hiện một mình, mà đòi hỏi phải có đối tác “buôn có bạn, bán có phường” khi đã có đối tác trong quan hệ kinh doanh không thể tránh được những bất đồng mâu thuẫn, quyền lợi bị ảnh hưởng Do

đó, sự tự do kinh doanh phải được đảm bảo thực thi tốt thì đòi hỏi các chủ thể tham gia quan hệ kinh doanh cùng tham gia quan hệ pháp luật để cùng thực hiện nghĩa vụpháp lý, đồng thời yêu cầu các bên có liên quan tôn trọng việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ mới phát sinh cũng như chấm dứt các hành vi cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trên thực tế Để việc tiến hành kinh doanh thuận lợi và theo nguyên tắc “quyền tự do của người này không thể hạn chế quyền tự do của người khác”, vì vậy, nhà nước đã ban hành những quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh, quy trình, thủ tục thành lập các loại hình kinh doanh… Trong từng nội dung

cụ thể đều có sự điều chỉnh pháp luật theo hướng quyền tự do thành lập doanh nghiệp

là quyền của nhà đầu tư được lựa chọn và đăng ký loại hình doanh nghiệp, ngành, nghề kinh doanh phù hợp với điều kiện và sở thích của mỗi nhà đầu tư

Như vậy, quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền của con người phải được đảm bảo bằng pháp luật Khi trở thành quyền pháp định, quyền con người trong kinh doanh sẽ được xã hội ghi nhận và được Nhà nước bảo vệ bằng pháp luật

Trang 25

19

Th ứ hai, Yếu tố về chính trị

Môi trường chính trị có ảnh hưởng lớn đến việc khởi sự kinh doanh của chủ thể kinh doanh thể hiện trên các phương diện sau: bản chất chế độ và định hướng về chế độ chính trị của giai cấp thống trị; vai trò của nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế; chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đảng cầm quyền

Đăng ký kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với bất kể một nền kinh

tế nào Do vậy, việc nhận thức đúng trong tư duy, chính sách, đường lối, chủ trương của Nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu khởi sự của công dân Một nền chính trị ổn định, phù hợp sẽ tạo nên môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, các nhà đầu tư sẽ được đảm bảo an toàn về đầu tư đủ thời gian kinh doanh để thu hồi được vốn và tìm kiếm lợi nhuận, thậm chí còn thu hút các nhà đầu tư với những

dự án đầu tư dài hạn Nếu nền chính trị không ổn định sẽ gây ảnh hưởng tới lợi ích,

dự định, kế hoạch góp vốn làm giàu của công dân

Bên cạnh đó, vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô đã ban hành những chủ trương, chính sách về hoạt động kinh doanh được thuận lợi, ổn định, giảm bớt sự can thiệp của nhà nước vào thủ tục gia nhập thị trường, nhằm tạo nên những cơ hội, thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, tránh việc đăng ký doanh nghiệp để làm các hoạt động phi pháp, buôn gian, bán lậu…

Chủ trương, chính sách của nhà nước luôn phấn đấu hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường, bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững, chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh

tế độc lập, tự chủ, bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được trong xây

Trang 26

20

dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế

- xã hội

Hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế, chính sách, thực hiện đồng bộ các giải pháp

để phát triển, vận hành thông suốt, hiệu quả các loại thị trường và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, phân bổ nguồn lực cho sản xuất kinh doanh và quản lý giá phải theo cơ chế thị trường Đồng thời, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước, các công cụ điều tiết, chính sách phân phối, phân phối lại để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Mặc dù, hiện nay nhận thức về quyền tự do kinh doanh đã và đang có sự thay đổi rất lớn không chỉ quy định trong Hiến pháp, mà các đạo luật khác cũng có những

sự thay đổi tạo nên sự thông thoáng về một môi trường kinh doanh Sự nỗ lực từ Chính phủ cam kết thúc đẩy mạnh mẽ cải cách về thủ tục hành chính, tạo sự thuận lợi cho chủ thể kinh doanh khi tham gia ĐKKD, rút ngắn thời gian, chi phí đã mang lại những lợi ích thiết thực, khuyến khích người dân làm giàu, tạo điều kiện cho người dân được phép kinh doanh những lĩnh vực ngành nghề mà pháp luật không cấm

Th ứ ba, Yếu tố kinh tế

Chiến lược phát triển kinh tế, là mục tiêu mang tính dài hạn của bất kỳ một nhà nước nào Do vậy, những chính sách, biện pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế phải được hoạch định và thực hiện một cách đồng bộ Thông qua những chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, xã hội khuyến khích phát triển những chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh với nhiều hình thức đa dạng, phong phú hơn

Hiện nay, chính sách phát triển kinh tế chú trọng đến việc mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật Bảo đảm quyền tự do kinh doanh các lĩnh vực mà luật pháp không cấm, xây dựng, thực thi đồng bộ, hiệu quả cơ chế hậu kiểm, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh, tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước

Trang 27

21

và độc quyền doanh nghiệp, kiểm soát độc quyền kinh doanh Hoàn thiện thể chế bảo

vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản Hoàn thiện pháp luật phá sản doanh nghiệp theo cơ chế thị trường

Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần.Trong quản lý

và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cần phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước, đồng thời kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực theo quy định của pháp luật

Dưới góc độ, yếu tố kinh tế có sự tác động rất lớn đến việc thu hút đầu tư kinh doanh, nhà nước cần phải xem xét các yếu tố như: lãi suất ngân hàng, giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ Vì các yếu tố này tương đối rộng nên cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinh doanh Chẳng hạn như lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởng tới xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới họat động của các doanh nghiệp Lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu cầu vay vốn để đầu tư mở rộng họat động kinh doanh, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Ngoài ra khi lãi suất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, do vậy cũng sẽ làm cho nhu cầu cầu tiêu dùng giảm xuống

Th ứ tư, Môi trường thông tin

Trong nền kinh tế tri thức, môi trường thông tin hay nguồn thông tin bên ngoài

có giá trị cực kỳ quan trọng đối với mọi chủ thể trong nền kinh tế thị trường Việc nắm bắt kịp thời, chính xác và tính dự báo của thông tin quyết định sự thành công không chỉ của doanh nghiệp mà cả nền kinh tế một quốc gia

Môi trường thông tin có vai trò quan trọng đối chủ thể kinh doanh trong tất cả các vấn đề, từ xác định và định hướng nhu cầu thị trường, xây dựng phương án kinh doanh, quyết định phương thức huy động vốn, tuyển dụng nhân sự, lựa chọn công

Trang 28

22

nghệ, lựa chọn cách thức tổ chức quản lý, đến tìm kiếm đối tác, tìm kiếm khách hàng, xây dựng và quảng bá thương hiệu, thay đổi thái độ doanh nghiệp của mình cũng như nhiều vấn đề quan trọng khác Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý đăng ký kinh doanh được phổ biến rộng rãi Chủ thể kinh doanh khi có nhu cầu khởi sự hoạt động kinh doanh việc tìm hiểu những điều kiện cần và đủ trước khi thành lập doanh nghiệp rất thuận lợi, không những thế, việc thực hiện đăng

ký kinh doanh không chỉ áp dụng thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh mà ch ủ thể kinh doanh còn có thể ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện việc đăng ký của mình

1.2 Thủ tục gia nhập thị trường đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện

1.2.1 Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh

1.2.1.1 Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện

Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định 118/2015/NĐ-CP đưa ra các định nghĩa

về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh, theo đó:

“Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 1 điều 7 LĐT 2014)

Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật đầu tư (khoản 7 điều 2 Nghị định 118/2015/NĐ-CP)

Danh mục tại Luật Đầu tư năm 2014 đã qua một lần sửa đổi năm 2016, điều chỉnh từ 267 xuống còn 243 ngành nghề kinh doanh có điều kiện, trong đó đã loại bỏ khá nhiều ngành, nghề kinh doanh

Trang 29

23

1.2.1.2 Các điều kiện kinh doanh cụ thể theo quy định tại khoản 2 điều 9 Nghị

định số 118/2015/NĐ-CP

(i) Gi ấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Ở một số lĩnh vực thuộc những ngành nghề nhất định, doanh nghiệp sẽ không thể tiến hành hoạt động kinh doanh nếu không được sự thông qua, cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Biểu hiện cao nhất của sự cho phép ấy được thể hiện thông qua: giấy phép kinh doanh và giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Dưới góc độ quản lý nhà nước, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh là những văn bản xác nhận, cho phép thực hiện hoạt động kinh doanh những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho doanh nghiệp khi họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh cần thiết Ở đây, đối tượng áp dụng của hai loại giấy tờ này là doanh nghiệp chứ không phải là các nhà đầu tư đã góp vốn để thành lập nên doanh nghiệp đó Do vậy, việc cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hay giấy phép kinh doanh sẽ đều phải thực hiện sau khi doanh nghiệp đó được thành lập một cách hợp pháp (khi đã được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp)

Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh biểu thị cho mối quan hệ “đề nghị - thông qua” giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chứng nhận được hiểu là việc thừa nhận, công nhận là có tồn tại, là đúng sự thật; do đó giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh được xem như chứng thư xác nhận doanh nghiệp đó đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu đối với ngành nghề kinh doanh cụ thể Giấy phép kinh doanh được coi là “đỉnh cao của sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh” [15] Sự tồn tại của giấy phép kinh doanh là đặc trưng của cơ chế “xin - cho” giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; theo đó một đặc quyền đã được trao cho cơ quan nhà nước, họ có thể cho phép hay không cho phép doanh nghiệp tiến hành một hoạt động kinh doanh cụ thể Khác với giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, việc cấp giấy phép kinh doanh không chỉ dựa vào việc doanh nghiệp đó đã đáp ứng đầy đủ điều kiện kinh doanh hay chưa, mà còn phụ

Trang 30

24

thuộc vào chủ trương, chính sách và ý chí của nhà cầm quyền Chính vì thế mà trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp tuy có đầy đủ điều kiện kinh doanh nhưng vẫn không được cấp phép thực hiện hoạt động kinh doanh như mong muốn

(ii) Ch ứng chỉ hành nghề và chứng nhận bảo hiểm nghề nghiệp

- V ề chứng chỉ hành nghề

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chứng chỉ hành nghề (CCHN) là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc hội nghề nghiệp cấp cho cá nhân có đủ trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp về một ngành nghề nhất định Việt Nam cũng giống như nhiều nước trên thế giới đòi hỏi cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh phải đáp ứng CCHN đối với một số lĩnh vực đặc biệt Thông thường đây là những lĩnh vực mà cá nhân trực tiếp thực hiện phải có trình độ chuyên môn nhất định mới đảm bảo được hiệu quả hoạt động, không gây ảnh hưởng đến người sử dụng dịch vụ nói riêng và đối với an toàn xã hội nói chung Thông thường pháp luật chuyên ngành sẽ quy định về CCHN với những nội dung cơ bản như: số lượng CCHN tối thiểu mà doanh nghiệp cần phải có, chủ thể phải đáp ứng CCHN và những yêu cầu đi kèm với CCHN

Theo những quy định hiện nay, CCHN là giấy tờ cần phải có khi doanh nghiệp chính thức thực hiện hoạt động kinh doanh đối với những ngành nghề mà pháp luật đòi hỏi phải có CCHN Như vậy, CCHN mang tính chất là điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh Tại thời điểm được cấp CCHN, chủ thể này mới chỉ được Nhà nước cho phép hành nghề nhưng chưa thể thực hiện hoạt động kinh doanh trên cơ sở CCHN đó, mà phải thực hiện thông qua một cơ sở kinh doanh (doanh nghiệp, hộ kinh doanh…) Đây là điểm khác biệt rõ ràng nhất của CCHN với giấy phép kinh doanh

- V ề chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp

Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người được bảo hiểm, phát sinh do việc vi phạm trách nhiệm nghề nghiệp Doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp sự bảo đảm về mặt tài chính cho các cá nhân, tổ chức, công ty

Trang 31

25

hành nghề chuyên môn đối với trách nhiệm dân sự phát sinh từ việc hành nghề chuyên môn (có thể do hành động hoặc thiếu sót của người chịu trách nhiệm chuyên môn chính cũng như của nhân viên của họ)

Gắn với đặc tính của các lĩnh vực hoạt động chuyên môn khác nhau, các sản phẩm bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp rất đa dạng như: bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiến trúc sư, kỹ sư trong xây dựng; bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp môi giới bảo hiểm, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp môi giới chứng khoán, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiểm toán, tư vấn tài chính…

(iii) Quy định về văn bản xác nhận

- Quy định về xác nhận vốn pháp định

Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp Ở Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1999, vốn pháp định là một trong những điều kiện cơ bản khi thành lập doanh nghiệp Nghị định 221/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành ngày 23/07/1991 đã công bố danh mục của gần 100 ngành nghề phải đáp ứng mức vốn pháp định

Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã đánh dấu nỗ lực, cố gắng từ phía Nhà nước, vốn pháp định lúc này chỉ còn được đặt ra đối với còn 4 ngành nghề

là kinh doanh tiền tệ - tín dụng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán và kinh doanh vàng bạc Đến nay, khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời, vốn pháp định cũng chỉ được coi là điều kiện kinh doanh đối với một số ngành nghề thuộc Danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chứ không áp dụng đại trà như trước đây Tại Phụ lục về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, hiện nay có khoảng 20 ngành với gần 40 phân ngành có yêu cầu về vốn pháp định [22]

- V ăn bản khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Bên cạnh những hình thức ĐKKD cụ thể, pháp luật doanh nghiệp đề cập đến những ĐKKD được thể hiện bằng các chấp thuận khác của cơ quan có thẩm quyền

mà không phải là: GPKD, giấy chứng nhận đủ ĐKKD, CCHN, chứng nhận bảo hiểm

Trang 32

26

trách nhiệm nghề nghiệp và xác nhận vốn pháp định Thông thường các chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ liên quan nhiều đến việc thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau đăng kí thành lập

Quy định này của pháp luật mang hướng mở, tạo ra sự chủ động cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thiết lập các công cụ quản lý đóng vai trò là ĐKKD Thực tế, chúng ta bắt gặp ĐKKD là các chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: giấy chấp nhận phù hợp với quy hoạch, chấp thuận biểu đồ chạy xe khi mở tuyến xe khách liên tỉnh, chấp thuận danh sách tổ chức kiểm toán, chấp thuận đào tạo đại lý bảo hiểm của Bộ tài chính…

(iv) Các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh không cần sự xác nhận, chấp

thu ận dưới hình thức văn bản

Bên cạnh những ĐKKD cần sự chấp thuận của cơ quan nhà nước, tổ chức có thẩm quyền như đã trình bày ở trên, pháp luật doanh nghiệp quy định có những ngành nghề kinh doanh đòi hỏi chủ thể kinh doanh cam kết đáp ứng đủ các yêu cầu kinh doanh theo quy định của pháp luật mà không cần phải thực hiện thủ tục xin cấp phép, xin giấy chứng nhận hay bất kì các chấp thuận khác nào của cơ quan nhà nước Ở đây, gọi chung là các ĐKKD không cần sự chấp thuận

Việc áp dụng các ĐKKD không cần sự chấp thuận có ý nghĩa rất lớn trong việc làm tăng tính tự chịu trách nhiệm của thương nhân trong hoạt động kinh doanh Với phương thức này, Nhà nước chỉ ghi nhận chứ không chịu trách nhiệm về các ĐKKD do thương nhân kê khai Thương nhân phải có trách nhiệm cao và thường xuyên về những cam kết kinh doanh đã đăng kí Cơ quan nhà nước có vai trò giám sát thực hiện và tạo ra cơ chế hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các cam kết này Như vậy, một trong những thành công của Luật Đầu tư năm 2014 và nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư chính là đã quy định rõ ràng về các loại hình điều kiện kinh doanh, đặc biệt là liệt kê cụ thể các ngành nghề kinh doanh Chỉ Quốc hội mới là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thêm, bớt các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, hạn chế việc lạm quyền của các cơ quan hành pháp

Trang 33

27

Trong khuôn khổ giới hạn của luận văn, tác giả luận văn lựa chọn nghiên cứu hai ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện là kinh doanh bất động sản và dịch vụ thẩm định giá

Các điều kiện đối với ngành nghề kinh doanh bất động sản thể hiện rõ nét nhất quan điểm quản lý của Nhà nước đối với loại hàng hóa hết sức quan trọng cũng như nhạy cảm này Các điều kiện kinh doanh này thể hiện qua các yêu cầu vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề cũng như các yêu cầu về quy mô kinh doanh…

Đối với dịch vụ thẩm định giá, đây là ngành nghề kinh doanh mà các điều kiện kinh doanh chủ yếu là điều kiện về chứng chỉ, năng lực người quản lý và người lao động làm dịch vụ thẩm định giá… liệu những điều kiện này có ảnh hưởng tới doanh nghiệp khác và nền kinh tế hay không?

1.2.2 Thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh bất động sản

Thị trường bất động sản là một trong những thị trường có vị trí và vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, có quan hệ trực tiếp với các thị trường tài chính tiền tệ, thị trường xây dựng, thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao động Phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường này sẽ góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo khả năng thu hút các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình phát triển đô thị và nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước

Trong giai đoạn của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, thị trường này chưa có điều kiện phát triển Nhưng khi chuyển sang thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường, thị trường bất động sản ở nước ta đã từng bước hình thành và phát triển với tốc độ nhanh, đã đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế đất nước Cuộc khủng hoảng tài chính thế giới xuất phát từ chính sách cho vay thế chấp bất động sản tại Hoa Kỳ là tác nhân cơ bản gây nên sự suy thoái kinh tế của hầu hết các nước trên thế giới chứng tỏ những ảnh hưởng rất lớn từ thị trường bất động sản đối với nền kinh tế

Trang 34

28

Bất động sản có những đặc điểm khác biệt so với những hàng hoá khác như tính cố định, tính tăng trị, tính cá biệt và giá trị phụ thuộc nhiều vào mục đích sử dụng Trong đó, tính cố định là đặc trưng khác biệt giữa hàng hóa bất động sản so với các loại hàng hoá khác Đặc tính này đòi hỏi phải có phương thức giao dịch và quản lý hoạt động giao dịch khác với các thị trường hàng hoá khác Với các hàng hoá khác, người bán, người mua có thể dễ dàng đem hàng hoá về nơi nào tuỳ ý nhưng với bất động sản thì chủ nhân của nó phải chuyển đến nơi có bất động sản Hàng hoá bất động sản không thể đem ra thị trường (chợ, siêu thị) để trưng bày như các loại hàng hoá khác mà thường phải giới thiệu nó thông qua mô tả bằng mô hình, hình ảnh hoặc bản vẽ thiết kế Tính cố định đặt ra vấn đề phải có sự điều tiết thị trường bất động sản khác so với các thị trường hàng hoá khác Với hàng hoá bình thường có thể điều chỉnh cung - cầu bằng cách chuyển hàng hoá từ những nơi dư thừa đến nơi thiếu Nhưng với bất động sản phải chủ động điều chỉnh cung - cầu thông qua công tác dự báo và lập kế hoạch phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương, khu vực Do

đó, quản lý việc gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh trong nhóm ngành về bất động sản cũng cần được điều chỉnh một cách hợp lý

Kinh doanh bất động sản thuộc lĩnh vực xây dựng, theo quy định của Luật Kinh doanh Bất động sản năm 2014, ngành nghề kinh doanh bất động sản bao gồm 3 phân ngành nhỏ như: kinh doanh bất động sản dưới hình thức đầu tư vốn để thực hiện hoạt động xây dựng, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; kinh doanh bất động sản dưới hình thức thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản; kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản Để có thể gia nhập thị trường, các nhà đầu tư phải thực hiện các thủ tục cụ thể như sau đối với từng phân ngành nhỏ trong kinh doanh bất động sản, cụ thể:

(i) Kinh doanh b ất động sản dưới hình thức đầu tư vốn để thực hiện hoạt động

xây d ựng, nhận chuyển nhượng để bán, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại, cho

thuê mua b ất động sản:

Trang 35

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ bất động sản quy định tại Chương IV Luật Kinh doanh bất động sản

(ii) Kinh doanh b ất động sản dưới hình thức thực hiện dịch vụ môi giới bất động sản

Môi giới bất động sản là công việc tìm kiếm đối tác đáp ứng các điều kiện của khách hàng để tham gia đàm phán, ký hợp đồng Đại diện theo ủy quyền để thực hiện các công việc liên quan đến các thủ tục mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản Cung cấp thông tin, hỗ trợ cho các bên trong việc đàm phán, ký hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải thành lập doanh nghiệp và phải có ít nhất 02 người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản

- Cá nhân có quyền kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản độc lập nhưng phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản và đăng ký nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản không được đồng thời vừa là nhà môi giới vừa là một bên thực hiện hợp đồng trong một giao dịch kinh doanh bất động sản

(iii) Kinh doanh d ịch vụ sàn giao dịch bất động sản

Trang 36

30

Sàn giao dịch bất động sản là nơi thực hiện việc giao dịch mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; tổ chức việc bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản; giới thiệu, niêm yết, cung cấp công khai thông tin về bất động sản cho các bên tham gia có nhu cầu giao dịch; kiểm tra giấy tờ về bất động sản bảo đảm đủ điều kiện được giao dịch; làm trung gian cho các bên trao đổi, đàm phán và ký kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê mua bất động sản

- Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải thành lập doanh nghiệp

- Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất

02 người có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; người quản lý, điều hành sàn giao dịch bất động sản phải có chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản

- Sàn giao dịch bất động sản phải có quy chế hoạt động, tên, địa chỉ, cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hoạt động

Những điều kiện trên được giải thích cụ thể trong Luật Kinh doanh Bất động sản và các văn bản hướng dẫn

1.2.3 Thủ tục gia nhập thị trường đối với kinh doanh dịch vụ thẩm định giá

Hoạt động thẩm định giá là một dịch vụ chuyên nghiệp, cần thiết cho sự vận hành của nền kinh tế thị trường, do các nhà chuyên môn đã qua đào tạo, có kiến thức, kinh nghiệm và trung thực cao trong nghề thực hiện Có thể coi thẩm định giá là trung tâm của các hoạt động kinh tế, vì mọi hoạt động kinh tế đều chịu tác động bởi khái niệm giá trị, mà việc thẩm định giá là để xác định giá trị của tài sản ở trên thị trường Thẩm định giá có vai trò quan trọng đối với tất cả các quyết định liên quan đến việc mua, bán, tài chính, quản lý, sở hữu, đánh thuế, cho thuê, bảo hiểm, cầm cố… Trên thế giới, hoạt động thẩm định giá chính thức được thừa nhận là một dịch

vụ chuyên nghiệp vào năm 1940 và ngày càng phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Để phản ánh những nét đặc trưng của hoạt động thẩm định

Trang 37

Giáo sư W.Sebrooke, Viện Đại học Portsmouth, Vương quốc Anh: “Thẩm định giá là sự ước tính về giá trị các quyền sở hữu tài sản cụ thể bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích đã được xác định rõ.”

Fred Peter Marone, Giám đốc Maketinh của AVO (Hiệp hội thẩm định giá Australia) trình bày trong lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thẩm định giá tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25/5/1999: “Thẩm định giá là việc xác định giá trị của bất động sản tại một thời điểm, có tính đến bản chất của bất động sản và mục đích của thẩm định giá Do vậy, thẩm định giá là áp dụng các dữ kiện thị trường so sánh mà bạn thu thập được và phân tích, sau đó so sánh với tài sản được thẩm định giá để hình thành giá trị của chúng” [14]

Tại Việt Nam, một nước tiếp cận với hoạt động thẩm định giá muộn hơn so với các nước trên thế giới nên trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nước kết hợp với tình hình thực tế của hoạt động này ở Việt Nam, lần đầu tiên Pháp lệnh giá năm

2002 đã đưa ra định nghĩa về thẩm định giá tại và hiện nay là Luật Giá quy định tại điều 4 như sau: “Thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá

xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự phù

h ợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích

nh ất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá.”

Để gia nhập thị trường thực hiện hoạt động thẩm định giá, trước hết nhà đầu tư phải thành lập doanh nghiệp theo các quy định của Luật Doanh nghiệp Ngoài ra, còn phải thoả mãn các điều kiện sau:

Trang 38

32

- Được Bộ Tài chính cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá

- Là doanh nghiệp hoạt động độc lập và chuyên kinh doanh dịch vụ thẩm định giá

- Có thẩm định viên về giá có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm

- Có quy trình, phương pháp thẩm định giá đối với từng tài sản, phù hợp với từng mục đích được yêu cầu thẩm định giá

Các quy định cụ thể về thủ tục gia nhập thị trường đối với hai ngành nghề trên

sẽ được phân tích cụ thể ở chương 2 luận văn

1.3 Pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có

Có thể hiểu pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện bao gồm pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường và quản lý nhà nước đối với các ngành nghề kinh doanh tại thời điểm thành lập doanh nghiệp

Có thể hiểu, “Pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề

kinh doanh có điều kiện là tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã

h ội phát sinh giữa cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện việc

qu ản lý của nhà nước đối với việc gia nhập thị trường kinh doanh trong các ngành

ngh ề có điều kiện”

Trang 39

33

Pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện có các đặc điểm sau:

Th ứ nhất, pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh

doanh có điều kiện điều chỉnh những quan hệ mang tính chất hành chính giữa các cá nhân, tổ chức và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước và trong khi thực hiện một hoặc một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Th ứ hai, phương pháp điều chỉnh của pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường

đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp hành chính

Th ứ ba, pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh

doanh có điều kiện luôn gắn liền với các quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện, theo đó, bộ phận pháp luật này có phạm vi áp dung hẹp, liên quan đến một số ngành nghề kinh doanh nhất định trong hệ thống kinh tế quốc dân

1.3.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về thủ tục gia nhập thị trường đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện

Thực hiện vai trò quản lý nền kinh tế, pháp luật các nước trên thế giới đều có quy định riêng điều chỉnh quá trình gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh Tổng thể các quy định này tạo nên thể chế (khung pháp luật) về gia nhập thị trường đối với tổ chức, cá nhân dự định kinh doanh trên lãnh thổ nước đó Tại Việt Nam, nội dung này bao gồm các quy định như sau:

Trang 40

34

Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của mình hợp pháp chủ thể kinh doanh

sẽ phải tiến hành đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh do anh với toàn bộ những thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập Khi tiến hành đăng ký thành lập kinh doanh chủ thể kinh doanh mới được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh như: sản xuất, trao đổi, mua bán, thực hiện các dịch vụ…Như vậy, thủtục đăng ký kinh doanh là một thủ tục hành chính, ở đó cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ đưa ra một quyết định hành chính cho phép một cá nhân hoặc một tổ chức được thành lập doanh nghiệp hoặc được tiến hành một hoạt động kinh doanh nào đó Quyết định của

cơ quan đăng ký kinh doanh được thể hiện dưới hình thức “giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp”

Thông qua việc cấp “giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp” là một biện pháp quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh, hạn chế hoạt động kinh doanh trái pháp luật, đồng thời qua đó Nhà nước nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế trong các ngành, các lĩnh vực từ đó và có các chính sách thích hợp để điều tiết nền kinh tế Ngoài ra, việc cấp giấy phép còn góp phần đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người kinh doanh và người tiêu dùng

- Các quy định về giấy phép và điều kiện kinh doanh nhằm công nhận việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện một cách hợp pháp

- Các quy định về bộ máy tổ chức thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, đăng ký thành lập doanh nghiệp

Ngày đăng: 03/09/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w