động hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng nhưng việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở các quy định của BLTTDS mới 2015 nên cũng có ý nghĩa tham khảo như tác giả Đỗ Thị Bình năm 2
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
NGUYỄN HOÀNG HẢI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã ngành: 60 38 01 07
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN PHƯƠNG THẢO
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện Đại học Mở Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn Hoàng Hải
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn với những kiến thức đã được học, tham khảo tài liệu và tình hình thực tế, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Như Quỳnh, sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo tại Viện Đại học Mở Hà Nội và các bạn bè đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận văn của mình Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới thầy/cô giáo -
TS Trần Phương Thảo là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Học viên
Nguyễn Hoàng Hải
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1; MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm 13
1.1.3 Ý nghĩa 15
1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy định về hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 18
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 18
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 21
1.2.3 Giai đoan từ năm 2005 đến năm 2011 22
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2011 đến nay 22
1.3 Hòa giải theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới 24
1.3.1 Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Pháp 24
1.3.2 Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản 26
1.3.3 Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Trung Quốc 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28
Trang 5CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI
TÒA ÁN 29
2.1 Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án thương mại 30
2.1.1 Việc hòa giải tranh chấp thương mại của tòa án phải đảm bảo tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình 30
2.1.2 Nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội 32
2.2 Phạm vi hòa giải tranh chấp thương mại 33
2.2.1 Những vụ án không được hòa giải 33
2.2.2 Những vụ án thương mại không tiến hành hòa giải được 36
2.2.3 Những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn 39
2.3 Nội dung hòa giải tranh chấp thương mại 40
2.4 Thành phần tiến hành và tham gia hòa giải tranh chấp thương mại 40
2.4.1 Các chủ thể tiến hành hòa giải 40
2.4.2 Chủ thể tham gia hòa giải tranh chấp thương mại 41
2.5 Thủ tục hòa giải tranh chấp thương mại 43
2.5.1 Chuẩn bị phiên hòa giải 43
2.5.2 Tiến hành phiên hòa giải 43
2.5.3 Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 46 2.5.4 Giải quyết trường hợp hòa giải không thành hoặc không tiến hành hòa giải được 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48
Trang 6CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HÒA GIẢI TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 50
3.1 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án 50
3.1.1 Những kết quả đạt được 50
3.1.2 Một số bất cập, hạn chế còn tồn tại 53
3.1.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 54
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án 59
3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án 59
3.2.2 Các giải pháp khác 61
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 75 TAND : Tòa án nhân dân
6 TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
7 UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay với nền kinh tế nhiều thành phần được quản lý theo cơ chế thị trường, các nhà kinh doanh có nhiều mối quan hệ kinh tế, thương mại với nhau Khi thực hiện các mối quan hệ đó, các nhà kinh doanh thường hợp tác chặt chẽ, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển Tuy nhiên, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, giữa các nhà kinh doanh cũng
có khi phát sinh mâu thuẫn về quyền lợi và tranh chấp về kinh tế, thương mại Nhà nước, xã hội, nhất là các doanh nghiệp luôn luôn có một nh cầu bức thiết
là phải giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng, thuận lợi, có hiệu quả và không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không nhiều đến quá trình hoạt động kinh doanh của mình Từ nhu cầu của thực tiễn đó đã hình thành nhiều phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại, như: tự thương lượng, hòa giải, giải quyết theo thủ tục trọng tài, giải quyết theo thủ tục tư pháp Trong các phương thức này thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải (hòa giải ngoài tố tụng cũng như hòa giải trong tố tụng) có nhiều ưu điểm
và được áp dụng phổ biến trên thế giới
Ngày 25 tháng 11 năm 2015 Quốc hội khóa 13 đã ban hành BLTTDS năm 2015 với những quy định đầy đủ và hoàn thiện hơn, trong đó chế định hòa giải được sửa đổi, bổ sung để trở thành một phương thức hữu hiệu khi thực hiện hòa giải trong giải quyết các tranh chấp thương mại Bên cạnh đó, với tầm nhìn của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhà nước ta đã xác
định: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương
lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”
Trang 9Chế định hòa giải có ý nghĩa nhiều mặt, vì nó không những góp phần bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang có tranh chấp thương mại, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp thương mại, mà còn bảo đảm cả lợi ích của Nhà nước và của xã hội Hòa giải thành có tác dụng làm cho các bên tranh chấp thương mại tự nguyện, tự giác thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của họ, tránh việc phải sử dụng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trong quá trình thi hành án dân sự, đồng thời làm cho việc giải quyết tranh chấp thương mại không phải xử đi xử lại nhiều lần, giảm bớt tốn kém về nhiều mặt của các bên Kết quả của việc tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại cho thấy hầu hết các Tòa Kinh tế từ khi được thành lập đến nay đã cô gắng hoạt động một cách có hiệu quả Tòa án ở các địa phương đã vận dụng rộng rãi phương thức hòa giải vụ án dân sự nói chung, hòa giải các tranh chấp thương mại nói riêng, từ đó giảm đáng kể số vụ tranh chấp phải đưa ra xét xử
Tuy vậy, trong quá trình hòa giải tranh chấp thương mại, Tòa án ở một số địa phương còn mắc phải những sai sót đáng tiếc về nội dung và hình thức hòa giải Do đó, một số quyết định công nhận hòa giải thành của một số Tòa án đã bị Tòa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị và bị sửa đổi hoặc bị hủy Điều đó ảnh hưởng xấu đến việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như làm giảm uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự Với những thực tế trên thì việc nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện về mặt lý luận cũng như thực tiễn
về hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại không những mang tính thời sự đối với ngành Tòa án mà còn đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thiện
hệ thống pháp luật tố tụng của Tòa án ở Việt Nam
Trang 10Nhận thức được vấn đề trên, em đã chọn đề tài: “Hòa giải trong giải
quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn tòa án thành phố Hải Phòng” là
đề tài tốt nghiệp thạc sĩ của mình Qua quá trình nghiên cứu, em mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, đặc biệt là những quy định mới trong BLTTDS năm 2015 về hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này, nhận định được những kết quả đạt được cũng như hạn chế, bất cập, mạnh dạn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và những kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động hòa giải tranh chấp thương mại
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung và hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại nói riêng là vấn đề khá hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý Đây không chỉ là một đề tài có tính pháp lý mà nó còn
là một đề tài có tính xã hội rất cao Tuy có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này nhưng hầu như các nhà nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu về hòa giải vụ án dân sự nói chung chứ chưa nhiều nhà nghiên cứu đề cập chuyên sâu đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến ở đây là:
- Giáo trình Luật Kinh tế (2000) của Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam (2001) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề tài "Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam" thuộc Dự án VIE/94/003 của Bộ Tư pháp;
- Một số luận văn tốt nghiệp bậc cử nhân hay luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ của một số tác giả thực hiện trong thời gian gần đây mặc dù nghiên cứu về hoạt động hòa giải vụ án dân sự nói chung chứ không nghiên cứu sâu về hoạt
Trang 11động hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng nhưng việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở các quy định của BLTTDS mới 2015 nên cũng có ý nghĩa tham khảo như tác giả Đỗ Thị Bình năm 2016 nghiên cứu về “Hòa giải vụ án
dân sự và thực tiễn thực hiện”, tác giả Nguyễn Văn Đạt năm 2016 nghiên cứu
về “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án trong tố tụng dân
sự, tác giả Ngô Thị Hà năm 2016 nghiên cứu về “Vấn đề công nhận sự thỏa thuận của đương sự trong tố tụng dân sự”, tác giả Nguyễn Thị Huệ năm 2017 nghiên cứu về “Vấn đề hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam”
Nhìn chung các công trình nêu trên chủ yếu tiếp cận vấn đề hòa giải nói chung hay hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nói riêng
từ góc độ luật thực định nên chưa nghiên cứu chế định này một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống trên cơ sở giải quyết thực tiễn Các công trình đó cũng chưa có những đề xuất, kiến nghị một cách tổng thể, đầy đủ và cụ thể về việc hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu chế định hòa giải trong thủ tục giải quyết các tranh chấp thương mại tại Tòa án một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống
cả về lý luận và thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả của việc hòa giải, tránh để xảy ra những sai lầm, thiếu sót trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án và làm phong phú thêm lý luận về giải quyết tranh chấp kinh tế tại Tòa án nói chung Với mục tiêu nghiên cứu đó, việc thực hiện đề tài này sẽ cố gắng tập trung vào những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể về hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại có thể được nghiên cứu dưới góc độ là một thủ tục tố tụng dân sự, một hoạt động tố tụng dân sự, một chế định của pháp luật tố tụng dân sự Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tốt nghiệp, em xin nghiên cứu hòa giải tranh chấp thương mại chủ
Trang 12yếu dưới góc độ là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện chế định này tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn trên được thực hiện với mục đích:
- Nhận diện được tranh chấp thương mại trong thực tiễn, hòa giải tranh chấp thương mại trên thực tiễn, lý giải được tại sao cần phải hòa giải tranh chấp thương mại, ý nghĩa của của hòa giải tranh chấp thương mại, làm rõ bản chất của thủ tục hòa giải trong quá trình giải quyết các tranh chấp thương mại, luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại ở nước ta
- Nắm được một cách có hệ thống các quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này tại các Tòa án nhân dân nói chung và tại tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng
- Đề xuất được kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án
Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu để đưa ra khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án
- Nêu và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết các tranh chấp thương mại, đặc biệt là phân tích, làm sáng tỏ các quy định mới của BLTTDS năm 2015 về hòa giải vụ việc dân sự nói chung, hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng, từ đó chỉ ra những điểm còn bất cập, chưa hợp lý trong quy định của BLTTDS 2015
Trang 13- Nêu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hòa giải trong giải quyết các tranh chấp thương mại đã thực hiện tại Tòa án nói chung, tại tòa án thành phố Hải phòng nói riêng, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại tại Tòa án.
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về phép duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện đề tài gồm phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp thống kê, hệ thống hóa,
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về hòa giải tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật hiện hành Đồng thời, luận văn cũng đề xuất những kiến nghị về hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp thương mại tại tòa án
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
về hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành và
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án Thành phố Hải Phòng
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án
1.1.1 Khái niệm
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh doanh, thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận, sinh lời nảy sinh ngày càng đa dạng Xung đột về lợi ích từ các quan hệ kinh doanh, thương mại cũng từ đó ngày càng nhiều và phức tạp Có thể nói tranh chấp kinh doanh, thương mại là hệ quả tất yếu của hoạt động kinh doanh, thương mại, là hiện tượng phổ biến và thường xuyên diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường Trong hoạt động kinh doanh, thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh
bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu Trong thời gian gần đây, thuật ngữ tranh chấp kinh doanh, thương mại hay gọi ngắn gọn là tranh chấp thương mại đang dần thay thế thuật ngữ tranh chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa trước đây
tại Việt Nam
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn
về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan Những bất đồng, mâu thuẫn này phát sinh từ những quan hệ xã hội do ngành luật nào điều chỉnh thì được gọi theo ngành luật đó và như vậy tranh chấp thương mại là những xung đột, mâu thuẫn từ các quan hệ thương mại Thuật ngữ “tranh chấp thương mại” thì từ trước đến nay có thể có nhiều cách hiểu khác nhau, tuy nhiên giữa chúng đều có một điểm tương đồng là tranh chấp thương mại
Trang 15là những bất đồng, xung đột về lợi ích giữa các bên chủ thể trong quá trình
So với các tranh chấp khác như tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, lao động thì tranh chấp thương mại có những đặc điểm khá khác biệt như tranh chấp về thương mại phát sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh doanh, thương mại và luôn gắn liền với mục đích sinh lời Chủ thể của các tranh chấp thương mại là các chủ thể kinh doanh với nhau trong quan hệ kinh doanh, thương mại khi họ tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, ký gửi, thuê và cho thuê, đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ… Căn cứ phát sinh tranh chấp thương mại giữa các chủ thể này là hành vi vi phạm hợp đồng thương mại hoặc vi phạm pháp luật thương mại Các bên trong tranh chấp thương mại thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân có đăng ký kinh doanh hoặc có tư cách của nhà kinh doanh. Thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, ngoài ra trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích
quyết tranh chấp thương mại là do các bên tranh chấp tự định đoạt Tranh chấp thương mại là tranh chấp mang yếu tố vật chất, thường có giá trị lớn và mục đích của các bên tham gia tranh chấp đều hướng tới việc tìm kiếm lợi nhuận So với các tranh chấp khác, tranh chấp kinh doanh, thương mại thường
có mức độ gay gắt, tính chất phức tạp hơn, thậm chí tranh chấp thương mại không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến những tổn thất về mặt kinh tế không chỉ cho các bên tranh chấp mà còn gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Tranh chấp thương mại rất đa dạng, bao gồm tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức
Trang 16có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau
và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty, tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công
ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
Vì tranh chấp thương mại thường khá gay gắt và liên quan đến lợi ích kinh tế không nhỏ, gắn liền với cơ hội thương mại nên đòi hỏi phải có những phương thức giải quyết tranh chấp này một cách phù hợp và có có hiệu quả Yêu cầu đầu tiên của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại là phải giải quyết một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất, trên cơ sở tôn trọng quyền thỏa thuận, định đoạt của mỗi bên Một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, thuận lợi, nhanh chóng, chính xác cùng với những đảm bảo về quyền tự định đoạt, dân chủ và bình đẳng của các bên tranh chấp luôn là mục tiêu hướng đến không chỉ của các bên tranh chấp mà còn là mục tiêu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại hiệu quả còn có ý nghĩa góp phần đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như sự phát triển lành mạnh của nền kinh
tế thị trường hiện nay
Tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau như các bên tự thỏa thuận, hòa giải thông qua bên thứ ba, giải quyết tại trọng tại thương mại hoặc giải quyết tại Tòa án Mỗi phương thưc giải quyết đều có những ưu điểm riêng song thực tiễn cho thấy phương thức
Trang 17giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án được một hoặc các bên tranh
chấp lựa chọn, áp dụng ngày càng nhiều So với các phương thức giải quyết
khác, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
có những đặc điểm riêng như là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của
cơ quan tài phán có thẩm quyền của nhà nước, được nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra các phán quyết buộc các bên phải chấp hành, phán quyết đó được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Việc giải quyết các tranh chấp thương mại tại tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ
do pháp luật quy định và đặc biệt là phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Trình tự các thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án cũng bao gồm các bước trong quy trình giải quyết vụ án dân sự nói chung, tức là cũng bao gồm các bước khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử, hòa giải trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, xét xử sơ thẩm… Trong các thủ tục cần phải được tiến hành này thì hòa giải tranh chấp thương mại do tòa án tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là thủ tục bắt buộc phải thực hiện với hầu hết các vụ án kinh doanh, thương mại
Hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng hay hòa giải vụ án dân sự trong tố tụng dân sự nói chung có thể nhìn nhận dưới hai góc độ: Một là, hòa giải là một chế định pháp lý, hai là, hòa giải là hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành Theo đó, hòa giải vừa là một nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết
vụ án thương mại theo thủ tục tố tụng dân sự, vừa là chế định quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự Để tìm hiểu hòa giải vụ án dân sự trong tố tụng dân
sự nói chung để trên cơ sở đó hiểu về hòa giải tranh chấp thương mại trong tố
tụng dân sự nói riêng thì trước tiên ta tìm hiểu về thuật ngữ “hòa giải”
Theo từ điển Tiếng Việt: “Hòa giải là thuyết phục các bên đồng ý
chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [21 tr.430], còn theo Từ
điển Luật học: "Hòa giải là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải, hành vi
Trang 18của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục hoặc dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ Việc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua người trung gian hòa giải”
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua sự tác động, giúp đỡ của chủ thể thứ ba đóng vai trò trung gian để các bên tranh chấp tự nguyện chấm dứt tranh chấp bằng thỏa thuận Hòa giải khác với tự thỏa thuận ở chỗ nếu tự thỏa thuận chỉ có hai bên tranh chấp thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc chấm dứt mâu thuẫn, tranh chấp thì hòa giải phải có ba bên trong đó có bên thứ ba đứng ra làm trung gian giúp đỡ hai bên tranh chấp thỏa thuận với nhau Trên cơ sở hiểu chung nhất về hòa giải như vậy thì hòa giải tranh chấp thương mại sẽ được hiểu là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại trong
đó bên thứ ba làm trung gian giúp đỡ hai bên tranh chấp thương mại tự nguyện thỏa thuận về việc chấm dứt tranh chấp thương mại
Trong quy trình tố tụng dân sự giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án nhân dân, hòa giải là một thủ tục trong các hoạt động tố tụng tại tòa Hòa giải tranh chấp thương mại do Tòa án tiến hành, cụ thể hơn là do Thẩm phán được Chánh án phân công phụ trách giải quyết vụ án tiến hành để giúp các bên đương
sự giải quyết tranh chấp thương mại Hoạt động hòa giải này phải được tiến hành phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên đương sự trong giao lưu Hòa giải tranh chấp thương mại do Thẩm phán tiến hành nhưng vẫn trên cơ sở quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp thương mại khi tham gia tố tụng dân sự tại tòa án Hòa giải tranh chấp thương mại là một nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án đã được ghi
nhận tại Điều 10 của BLTTDS năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa
giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”
Trang 19Tranh chấp thương mại khi được mang đến tòa án yêu cầu tòa án giải quyết thì sẽ trở thành vụ án thương mại nên trong việc hòa giải vụ án dân sự nói chung, hòa giải vụ án thương mại nói riêng, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án thương mại Điều này có nghĩa, hòa giải trước hết vẫn là sự tự nguyện thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án thương mại nhưng
có sự giúp đỡ của Tòa án (cụ thể là Thẩm phán) nhằm hướng sự thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự đúng pháp luật Trong quá trình giải quyết
vụ án thương mại tại tòa án, hòa giải là một thủ tục đặc trưng và mang tính bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm đối với hầu hết các vụ án thương mại, trừ những vụ án vụ án mà pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được Khi tiến hành hòa giải vụ án thương mại, Tòa
án thực hiện theo một trình tự và thủ tục nhất định, Tòa án giải thích pháp luật giúp các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ tranh chấp nhằm mục đích hướng các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết
tranh chấp giữa họ Như vậy: Dưới góc độ là một hoạt động tố tụng, hòa giải
tranh chấp thương mại là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, hưởng dẫn, động viên các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thương mại
và đi đến kết quả giải quyết vụ án một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất
Dưới góc độ pháp lý, hòa giải được nhìn nhận là một chế định pháp luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tòa án hòa giải vụ ánthương mại Theo chế định này, hòa giải là một nguyên tắc, một thủ tục bắt buộc trong quy trình giải quyết vụ
án thương mại do Tòa án tiến hành giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Các vấn đề liên quan đến hòa giải được pháp luật tố tụng dân
Trang 20sự quy định bao gồm: Nguyên tắc hòa giải, chủ thể hòa giải, phạm vi hòa giải
và thủ tục tiến hành hòa giải
1.1.2 Đặc điểm
Trên cơ sở những đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự nói chung, hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án, hay nói cách khác là hòa giải vụ án thương mại nói riêng thể hiện những đặc điểm sau:
- Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án là phương thức hòa giải trong tố tụng dân sự, do vậy hòa giải tranh chấp thương mại cũng là một hoạt động tố tụng được tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định
Trên cơ sở pháp luật tố tụng dân sự quy định thì tại khoản 1 Điều 205
BLTTDS năm 2015 ghi: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa
án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn” Hòa giải là một hoạt động mà Tòa án phải
tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án thương mại Ở bất kỳ thời điểm nào, giai đoạn tố tụng nào, Tòa án cũng có trách nhiệm khuyến khích các đương sự thỏa thuận, điều đó thể hiện ở:
Thứ nhất, việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án thương
mại là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án tiến hành trừ trường hợp không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án không được hòa giải Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thương mại mà không hòa giải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự
Thứ hai, pháp luật khuyến khích các đương sự tự thỏa thuận ở các giai
đoạn tiếp theo Tòa án khuyến khích các đương sự thỏa thuận trong các giai
Trang 21đoạn tố tụng khác bằng việc luôn công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở bất kỳ thời điểm nào, nếu những thỏa thuận đó là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội Ngoài ra, việc khuyến khích hòa giải này còn thể hiện rất rõ ràng trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Tại phiên tòa sơ thẩm, nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận, quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn
cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa
án ra bản án sửa đổi bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Sở dĩ, Tòa án không bắt buộc phải tiến hành phiên hòa giải ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo để tránh việc lạm dụng hòa giải để kéo dài thời gian giải quyết vụ án trong khi vụ án không có khả năng hòa giải thành
- Trong hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án thì tòa án chỉ là chủ thể trung gian tiến hành hòa giải, không phải là một chủ thể có quyền thỏa thuận với các đương sự về việc giải quyết vụ án
Khác với các loại hòa giải khác (như hòa giải tại cơ sở do Hòa giải viên cơ sở tiến hành, hòa giải tiền tố tụng tại Ủy ban nhân dân do Ủy ban nhân dân tiến hành), hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung, hòa giải vụ án thương mại nói riêng do Tòa án là cơ quan duy nhất tiến hành Tòa án tiến hành hòa giải với vai trò chủ thể trung gian giúp đỡ các bên tranh chấp thương mại trong suốt quá trình giải quyết vụ việc để các bên đạt được thỏa thuận, đồng thời đảm bảo tính pháp lý của hòa giải Tòa án có nhiệm vụ tổ chức cho các bên đương sự gặp nhau để thương lượng, thỏa thuận về quyền lợi của họ Khi hòa giải, Tòa án phải giải thích pháp luật liên quan đến các
Trang 22quan hệ tranh chấp, chính sách nhà nước, định hướng và khuyến khích các đương sự hòa giải đảm bảo đúng quy định pháp luật
- Kết quả của hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án là sự thỏa thuận của các bên tranh chấp thương mại về việc giải quyết các vấn đề của
vụ án thương mại
Các đương sự là các bên trong tranh chấp thương mại thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp thương mại trên tinh thần tự nguyện, trung thực, không bị bất kỳ một sự cưỡng ép hay can thiệp nào khác Chỉ đương sự
là các bên trong tranh chấp thương mại mới có quyền quyết định về việc giải quyết quyền và lợi ích của họ trong quá trình hòa giải Có thể nói đây là điểm đặc thù nhất của hòa giải tại Tòa án và cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và xét xử vì khi xét xử, Tòa án ra phán quyết buộc các đương sự phải tuân thủ nghiêm chỉnh Như vậy, nếu không đảm bảo nguyên tắc các bên tự thỏa thuận
và quyết định về việc hòa giải vụ việc của mình, mà có bên bị nhầm lẫn, đe dọa, cưỡng ép thỏa thuận, tức là hoạt động hòa giải tại tòa án đã bị vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, sẽ là căn cứ để bị Viện kiểm sát kháng nghị đề nghị hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
1.1.3 Ý nghĩa
Hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung, hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại nói riêng không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án, với các bên đang có tranh chấp mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế, xã hội
Đối với Tòa án
Trong trường hợp hòa giải thành vụ án thương mại, Tòa án sẽ giảm bớt được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết vụ án thương mại, đồng thời giúp giải quyết nhanh chóng có hiệu quả vụ án thương mại Bởi, giải quyết vụ án thương mại là một quá trình kéo dài qua các thủ tục tố tụng nối
Trang 23tiếp nhau theo quy định của BLTTDS 2015 Mỗi thủ tục tố tụng được quy định một thời hạn riêng nhất định và phải trải qua một thời gian người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng mới có thể hoàn thành Hòa giải là một thủ tục tố tụng dân sự nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án thương mại Nếu hòa giải thành, Tòa án sẽ giảm bớt được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết vụ án Đặc biệt, nếu hòa giải thành trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa sơ thẩm và không phải tiến hành các thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm tiếp theo Mặt khác, nếu làm tốt công tác hòa giải thì không chỉ số lượng xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm giảm xuống mà số lượng ở Tòa án cấp phúc thẩm cũng giảm một cách rõ rệt từ đó giảm bớt gánh nặng xét xử và nâng cao hiệu quả xét xử Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan xét xử nói riêng cũng như cơ quan nhà nước nói chung
Ngay cả trong trường hợp hòa giải vụ án thương mại không thành, việc tiến hành hòa giải vụ án thưpưng mại cũng sẽ giúp Tòa án có điều kiện tìm hiểu sâu hơn nội dung tranh chấp, hiểu biết rõ hơn tâm tư, nguyện vọng cũng như các vướng mắc của các đương sự để từ đó có thể xác định phương hướng giải quyết vụ án thương mại được đúng đắn hơn khi đưa vụ án ra xét xử Qua
đó, đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được ban hành và thi hành nhanh chóng, có hiệu quả
Đối với các đương sự
Hòa giải vụ án thương mại sẽ đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên trong tranh chấp thương mại, đồng thời giúp tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc và góp phần giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên
Có thể hiểu, hòa giải tranh chấp thương mại bắt nguồn từ sự giao lưu dân sự theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên
Trang 24đương sự Hòa giải thể hiện quyền tự định đoạt của các bên khi tham gia tố tụng dân sự Việc BLTTDS 2015 quy định hòa giải là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quy định Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thương mại là nhằm bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết Tòa án với vai trò là trung gian hòa giải không can thiệp vào nội dung giải quyết vụ án của các đương sự Các đương sự tự quyết định toàn bộ các vấn đề của vụ án thương mại
Cũng như đối với Tòa án, hòa giải thành sẽ giúp các đương sự tránh phải kéo dài vụ việc qua các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hoặc giám đốc thẩm từ đó tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho các bên tranh chấp thương mại Ngay cả với trường hợp hòa giải không thành, thì việc các bên cùng ngồi lại bày tỏ ý chí của mình, cùng thương lượng sẽ giúp các đương sự hiểu rõ nguyên nhân, chi tiết vụ việc, để làm căn cứ giải quyết cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Ngoài ra, hòa giải giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau, góp phần khôi phục lại tình đoàn kết, mối quan hệ tốt đẹp giữa họ, giúp họ giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa phát sinh tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp
Đối với kinh tế - xã hội
Thông qua hòa giải, nhiều tranh chấp thương mại đã được giải quyết mà tòa án không cần phải mở phiên tòa xét xử Trong trường hợp hòa giải không thành thì cũng giúp các bên đương sự là các bên trong tranh chấp thương mại hiểu rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và giúp kiềm chế mâu thuẫn Như vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh trật tự, công bằng xã hội, làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội
Trang 25Mặt khác, hòa giải làm cho sự hiểu biết chính sách pháp luật của các đương sự nói riêng và của người dân nói chung được nâng cao Qua đó, góp phần tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân
1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy định về hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Là một bộ phận quan trọng, đặc trưng của pháp luật tố tụng dân sự, chế định hòa giải được hình thành trên cơ sở kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử và chịu tác động sâu sắc của các yếu tố kinh tế, chính tộ, văn hóa xã hội đương thời Quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong
tố tụng dân sự mang tính liên tục, kế thừa và phát triển nhằm đáp ứng với yêu cầu của cuộc sống hiện đại Chế định hòa giải đã xuất hiện trong hệ thống cổ luật Việt Nam từ thời Lý - Trần - Lê Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, em xin chỉ tập trung nghiên cứu chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam giai đoạn từ những năm 1945 đến nay
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Trong thời kỳ này, chúng ta chưa thể xây dựng ngay được các văn bản pháp luật mới nên sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định: Cho đến khi xây dựng được bộ luật mới thì những luật lệ cũ vẫn tạm thời được sử dụng nếu không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa Như vậy, trong giai đoạn này, vấn đề hòa giải vẫn được áp dụng theo các quy định của chế
độ cũ Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là sắc lệnh số 13 ngày
21/1/1946 về tổ chức Tòa án, trong đó quy định “Ban Tư pháp xã có quyền hòa
giải tất cả các việc kiện dân sự và thương mại Nếu hòa giải được Ban tư pháp
xã có thể lập biên bản hòa giải có các ủy viên và những đương sự ký”
Điều 4 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định biên bản hòa giải thành chỉ có hiệu lực từ chứng thư Tại điều 12 sắc lệnh số 51/SL quy định
Trang 26“Những việc kiện dân sự và thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án đệ nhị cấp đều phải giao trước về ông Thẩm phán sơ cấp thứ hòa giải”
Điều 9 Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy Tư pháp và
luật tố tụng quy định: “Tòa án nhân dân hòa giải tất cả các vụ kiện về dân sự
và thương mại kể cả việc xin ly dị trừ những vụ kiện mà theo pháp luật đương
sự không có quyền điều đình” Theo Điều 10 của sắc lệnh này biên bản hòa
giải thành là một công chứng thư có thể đem chấp hành ngay Tuy nhiên cho đến lúc biên bản hòa giải được chấp hành xong nếu Biện lý xét thấy biên bản
ấy xâm phạm đến trật tự chung thì có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền sửa đổi hoặc bác bỏ điều hai bên đã thỏa thuận Hạn kháng cáo là 15 ngày tròn kể từ ngày phòng biện lý nhận được biên bản hòa giải thành
Thông tư số 556/TTg ngày 24/12/1958 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường sự lãnh đạo đối với việc bắt giữ, truy tố, xét xử đã nhấn mạnh:
“Đối với xích mích, xung đột, thưa kiện giữa nhân dân với nhau thì phải kiên trì dàn xếp ổn thỏa”
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn, đất nước tạm thời chia cắt hai miền, tình hình đất nước có nhiều thay đổi Để đáp ứng với nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 1946 là một tất yếu khách quan Tại kỳ họp thứ XI (ngày 31/12/1959) Quốc hội Khóa I đã chính thức thông qua Hiến pháp sửa đổi, ngày 01/01/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh công bố Hiến pháp 1959
Sau khi Hiến pháp năm 1959 ra đời, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 được ban hành Điều 16
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960 quy định: “Tòa án nhân dân huyện, thị
xã, thành phố thuộc huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc đơn vị hành chính tương đương có nhiệm vụ hòa giải những tranh chấp về dân sự và hướng dẫn công tác hòa giải ở xã và khu phố”
Trang 27Để triển khai nhiệm vụ này, TANDTC đã ra Thông tư số 1080-TATC
ngày 25/9/1961 quy định: “Trong khi thực hiện thẩm quyền mới các Tòa án
nhân dân cần đề phòng khuynh hướng đưa ra xét xử nhiều việc và thiếu kiên trì hòa giải, giáo dục các đương sự và nhân dân”
Thông tư số 2421-TATC ngày 29/12/1961 cũng nêu rõ: “Về nguyên tắc
việc hòa giải của Tòa án không có Hội thẩm nhân dân tham gia”
Báo cáo tổng kết công tác năm 1966 của ngành Tòa án đã nhấn mạnh việc tiếp tục tăng cường công tác hòa giải của Tòa án nhân dân các cấp trong quá trình xét xử các vụ án dân sự
Để khắc phục những bất cập của chế định hòa giải trong hệ thống pháp luật, đáp ứng nhu cầu giải quyết các vụ án dân sự, ngày 30/11/1974, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư 25-TATC hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự Thông tư này đã quy định thẩm quyền, trình tự và phương pháp hòa giải các vụ án dân sự
Có thể nói, Thông tư số 25-TATC ngày 30/11/1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc hòa giải trong tố tụng dân sự đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng của chế định hòa giải Các quy định trong Thông tư này có những điểm khác biệt so với các quy định trước đó, thủ tục và phương pháp tiến hành hòa giải đã được quy định một cách chi tiết, rõ ràng, cụ thể
Thông tư số 81-TATC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án nhân dân địa phương giải quyết tranh chấp về thừa kế
quy định: “Cần kiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và phát triển tình
đoàn kết thương yêu trong nội bộ gia đinh, đảm bảo sản xuất và công tác và phải quán triệt phương châm hòa giải, khuyến khích sự tương trợ lẫn nhau giữa các đương sự đảm bảo cho việc xét xử có lý, có tình và tạo thuận lợi cho việc thi hành án”
Trang 28Như vậy, trong giai đoạn đầu của đất nước, chế định về hòa giải đã bước đầu được thiết lập và dần được hoàn thiện Có thể thấy rằng, thành tựu đạt được là hòa giải đã được coi là một thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Các quy định về hòa giải đã từng bước được hoàn thiện không chỉ về mặt nội dung mà cả về hình thức và hiệu lực pháp lý góp phần
để giải quyêt vụ việc đạt hiệu quả cao
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004
Để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự nói chung, các vụ
án thương mại nói riêng, góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước, ngày 29/12/1989, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Pháp lệnh này quy định cụ thể thủ tục giải quyết vụ án dân sự, trong đó, hòa giải được ghi nhận là một nguyên tắc, một thủ tục mà Tòa án phải tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án Đây là một bước phát triển mới của pháp luật Tố tụng dân sự nói chung và của chế định hòa giải nói riêng
Sau khi pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có hiệu lực thi hành, TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hương dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, trong đó đã hướng dẫn về thủ tục, phạm vi của hòa giải Ngoài ra, TANDTC cũng ban hành nhiều công văn nhằm hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, trong đó có pháp luật về hòa giải trong tố tụng dân sự như:
- Công văn số 130/NCPL ngày 16/12/1991 của TANDTC hướng dẫn giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự ở nước ngoài, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm và hướng dẫn
áp dụng khoản 1 Điều 52 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Trang 29- Công văn số 81/TATC ngày 10/6/2002 của TANDTC hướng dẫn về công tác xét xử, trong đó có hướng dẫn về thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa phúc thẩm và hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm
Các văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hướng dẫn có liên quan nêu trên đã quy định cụ thể về hòa giải như: Nguyên tắc hòa giải, thẩm quyền hòa giải của Tòa án nhân dân các cấp; thủ tục hòa giải;
1.2.3 Giai đoan từ năm 2005 đến năm 2011
BLTTDS năm 2004 được thông qua tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI
đã quy định tương đối đầy đủ các chế định của Tố tụng dân sự trong đó có chế định về hòa giải Sau khi BLTTDS năm 2004 được ban hành, TANDTC và các cơ quan hữu quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật này
Ngoài việc kế thừa những điểm hợp lý của các quy định trong các văn bản trước đây về hòa giải, BLTTDS năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này còn bổ sung nhiều quy định mới như quy định về thành phần hòa giải, việc thông báo hòa giải, trình tự, thủ tục hòa giải Các quy định của BLTTDS năm 2004 và các vãn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này về hòa giải vụ việc dân sự là một bộ phận chủ yếu của chế định hòa giải trong pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành Việc ban hành BLTTDS năm 2004 đánh dấu bước phát triển quan trọng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2011 đến nay
Để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh việc giải quyết các tranh chấp dân sự, trong đó có tranh chấp thương mại trong tình hình mới, khắc phục những tồn tại trong hệ thống pháp luật, ngày 23/3/2011, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Trang 30BLTTDS năm 2004 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2012 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 đã bổ sung Điều 185a về thủ tục tiến hành phiên hòa giải Cùng với sự ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004, Hội đồng Thẩm phán TANDTC cũng đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 Nghị quyết đã hướng dẫn chi tiết, cụ thể áp dụng một số điều luật quy định về hòa giải vụ án dân sự tại Điều 15 đến Điều 21 Đây là căn cứ quan trọng để các Tòa án thống nhất việc hòa giải các vụ án dân sự và nâng cao hiệu quả hòa giải trên thực tế
Ngày 25/11/2015, Quốc hội đã thông qua BLTTDS số: 92/2015/QH13
sẽ có hiệu lực vào ngày 1/7/2016 BLTTDS năm 2015 đã có những sửa đổi bổ sung một số Điều của chế định hòa giải theo hướng phù hợp hơn trong giai đoạn phát triển mới của đất nước Cụ thể, Bộ luật đã sửa đổi bổ sung những quy định về nguyên tắc hòa giải, trường hợp không hòa giải được, người tham gia hòa giải, quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án tại Chương XXXIII, quy định rõ ràng về việc buộc hòa giải trong trường hợp thuận tình ly hôn tạo điều kiện cho việc thống nhất thực hiện pháp luật giữa các Tòa án Ngoài ra, BLTTDS năm 2015 cũng đã có bổ sung những quy định
về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong đó có thủ tục
về hòa giải vụ việc dân sự
Như vậy, đến nay các quy định về hòa giải của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã được hoàn thiện trên cơ sở kế thừa, pháp điển hóa các quy định
về hòa giải các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động Các quy định này là chuẩn mực chung cho hòa giải các vụ án dân
sự, hôn nhân, kinhdoanh, thương mại và lao động; đồng thời tạo cơ sở để đa dạng hóa các hình thức hòa giải tranh chấp dân sự nói chung nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự và thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Ngoài ra,
Trang 31quy định về hòa giải của BLTTDS 2015 cũng đã cá thể hóa trách nhiệm của Thẩm phán tiến hành hòa giải là Thẩm phán được Chánh án phân công phụ trách giải quyết trong việc hòa giải Trước đây pháp luật chỉ quy định chung chung trách nhiệm hòa giải của Tòa án dẫn đến quan niệm cho rằng bất cứ cán bộ nào của Tòa án cũng có thể tiến hành hòa giải được
1.3 Hòa giải theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới
Để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng dân sự nói riêng
và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung thì việc học tập, tiếp thu những yếu tố họp lý của pháp luật nước ngoài và vận dụng có chọn lọc, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam là điều hết sức cần thiết Vì vậy, để có cái nhìn toàn diện hơn về hòa giải vụ án dân sự theo pháp luật Tố tụng em dân sự Việt Nam, em xin được tiến hành nghiên cứu pháp luật để tham khảo về hòa giải của một số nước như Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc
1.3.1 Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Pháp
BLTTDS Pháp ban hành năm 1806 là một trong những bộ luật được ban hành sớm nhất và đồ sộ nhất trên thế giới Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung,
bộ luật gồm 1.507 điều quy định một cách chi tiết và đầy đủ các vấn đề trong quá trình tố tụng
Theo quy định của BLTTDS Pháp, hòa giải là một thủ tục bắt buộc phải tiến hành trừ trường hợp nguyên đơn đã cố gắng hòa giải trước khi ra Tòa về nguyên tắc chung, có hai hình thức hòa giải là các đương sự tự thỏa thuận với nhau và các đương sự hòa giải theo sáng kiến của Thẩm phán (Điều 127) Khi hòa giải được tiến hành theo hình thức tự hòa giải, các bên đương
sự có quyền yêu cầu Thẩm phán ghi nhận sự hòa giải giữa các bên (Điều 129) Nếu các đương sự không tự hòa giải được, việc hòa giải sẽ được thực hiện theo sáng kiến và sự hướng dẫn của Thẩm phán Việc xác định thời gian,
Trang 32địa điểm để tiến hành hòa giải sẽ do Thẩm phán quyết định để đảm bảo cho việc hòa giải được thuận lợi Kết quả của việc thỏa thuận dù đạt được một phần hay tất cả các vấn đề của sự việc, việc hòa giải được tiến hành theo hình thức tự hòa giải hay có sự hướng dẫn của Thẩm phán đều phải được ghi nhận trong một biên bản do Thẩm phán, các bên đương sự cùng ký tên Biên bản hòa giải đó có hiệu lực thi hành Trong BLTTDS Pháp tự hòa giải cũng có giá trị pháp lý và hiệu lực bắt buộc thi hành cao
Ngoài thủ tục chung được quy định như trên, mỗi cấp xét xử BLTTDS Pháp cũng quy định những trình tự thủ tục tố tụng khác nhau Ở cấp sơ thẩm trong trình tự thủ tục tố tụng thông thường vấn đề hòa giải được quy định tại Điều 766 và Điều 767 BLTTDS Pháp Theo các quy định này, việc hòa giải chỉ được tiến hành khi có đủ các đương sự; các Thẩm phán phụ trách việc thẩm cứu hoàn tất hồ sơ phải ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự dù chỉ
là một phần Cũng trong trình tự tố tụng thông thường, đối vói Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền rộng, hòa giải có thể được tiến hành trước phiên tòa hoặc tại phiên tòa sơ thẩm Khi hòa giải được tiến hành trước phiên tòa sơ thẩm thì thông báo và giấy triệu tập ghi rõ các đương sự phải đích thân có mặt tại phiên tòa hòa giải (Điều 833) Nếu hòa giải thành thì thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và biên bản có hiệu lực thi hành mà Tòa án không phải ra một quyết định nào nữa Trong trường hợp hòa giải không thành, Thẩm phán giao cho nguyên đơn một phiếu hòa giải không thành trừ khi các đương sự thỏa thuận là việc kiện được xét xử ngay Trong quá trình hòa giải này, Thẩm phán
có thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận tạm thời, sau đó hướng dẫn các đương sự thỏa thuận chính thức Đối với thủ tục hòa giải tại phiên tòa, Điều
840 quy định: Thẩm phán cố gắng hòa giải các đương sự Việc hòa giải có thể tiến hành trong phòng làm việc của Thẩm phán Nếu hòa giải không thành, việc kiện có thể được xử ngay hoặc để một phiên Tòa sau
Trang 331.3.2 Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản
Nhật Bản có truyền thống lâu đời về giải quyết tranh chấp bằng phương pháp thỏa thuận Tranh tụng mới chỉ được biết đến khi được du nhập từ các nước phương Tây vào những năm đầu thế kỷ XIX
Hòa giải trong pháp luật của Nhật Bản được thực hiện thông qua một Hội đồng hòa giải Hội đồng này thường bao gồm một thẩm phán và hai hòa giải viên trở lên Các hòa giải viên này thường là những người có chuyên môn trong lĩnh vực mà các bên tranh chấp Điều này sẽ giúp cho hiệu quả hòa giải được cao hơn bởi hòa giải tranh chấp trong những lĩnh vực mang tính chất đặc thù như tranh chấp thương mại hoặc tranh chấp xây dựng thì Thẩm phán thường không có kiến thức chuyên sâu Do vậy, việc tham gia của những ngưòi có chuyên môn sẽ giúp Thẩm phán rất nhiều trong quá trình hòa giải Đây là điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và Nhật Bản về hòa giải Trong pháp luật Việt Nam, chủ thể chủ trì phiên hòa giải chỉ là một Thẩm phán
Ở Nhật Bản, hòa giải được tiến hành bằng nhiều buổi gặp gỡ các bên Buổi đầu tiên Hội đồng hòa giải sẽ thông báo cho các bên về thủ tục hòa giải Các buổi tiếp theo Hội đồng hòa giải sẽ gặp từng bên để từ đó tìm ra bản chất của vấn đề và các vấn đề liên quan
Ở Việt Nam, việc hòa giải được diến ra dưới hình thức là phiên hòa giải với sự có mặt của Thẩm phán và các bên liên quan
Điều 267 BLTTDS Nhật Bản quy đinh: “Khi có sự thỏa hiệp hoặc ý kỉến
chấp thuận hay từ bỏ chấp nhận yêu cầu được thể hiện trong biên bản thì biên bản này có hiệu lực như một bản ản không thể bác bỏ được” Như vậy, theo quy
định của pháp luật Nhật Bản thì biên bản hòa giải thành có hiệu lực ngay sau khi lập chứ không phải sau thời hạn 7 ngày như pháp luật Việt Nam
Trang 341.3.3 Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Trung Quốc
Theo Điều 9 Luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung
Hoa thì hòa giải là một nguyên tắc hoạt động của các cơ quan xét xử “Tòa án
nhân dân giải quyết cả vụ án dân sự phải tiến hành hòa giải theo nguyên tắc
tự nguyện và hợp pháp”
Chế định hòa giải được quy định cụ thể tại Chương 8 Luật tố tụng dân
sự Trung Quốc gồm một số điểm sau:
Theo Điều 86 và Điều 87 Luật tố tụng dân sự Trung quốc thì người tham gia hòa giải gồm: Thẩm phán, nguyên đơn, bị đơn, nhân chứng, đơn vị
và cá nhân có liên quan
Về nguyên tắc, hòa giải đi đến thỏa thuận, Tòa án nhân dân phải làm bản hòa giải ghi rõ kết quả hòa giải Bản hòa giải sau khi có chữ ký của hai bên đương sự là có ngay hiệu lực pháp luật Hòa giải không đi đến thỏa thuận thì Tòa án nhân dân kịp thời ra phán quyết
Như vậy, điểm khác biệt về hòa giải trong pháp luật Trung Hoa so với pháp luật Việt Nam là bản hòa giải sau khi được lập sẽ có ngay hiệu lực pháp luật Trong một số trường hợp thì hòa giải thành Tòa án không cần lập bản hòa giải mà chỉ cần ghi vào biên bản, sau khi có chữ ký hoặc đóng dấu của hai bên được sự, Thẩm phán, thư ký là có hiệu lực pháp luật ngay
Thông qua việc tham khảo pháp luật quy định về hòa giải ở một số nước, chúng ta có thể thấy rằng, pháp luật các nước quy định về hòa giải có những điểm khác biệt nhất định so với pháp luật Việt Nam Điều này xuất phát từ truyền thống, văn hóa, pháp lý, điều kiện kinh tế xã hội của từng nước Chúng ta có thể học tập, áp dụng những hạt nhân hợp lý từ pháp luật các nước
để hoàn thiện hơn nữa chế định hòa giải nói riêng, pháp luật tố tụng dân sự nói chung cho phù hợp với thực tiễn phát triển và xây dựng đất nước
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hòa giải là biện pháp truyền thống giải quyết tranh chấp trong xã hội
và đã được pháp luật ghi nhận qua các thời kỳ lịch sử Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành thì hòa giải vụ án là một hoạt động do Tòa
án tiến hành nhằm giúp đỡ các bên đang có tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với nhau Hòa giải có ý nghĩa giúp các đương sự đi đến giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đồng thời giúp Tòa án giảm bớt gánh nặng xét xử nâng cao hiệu quả giải quyết các
vụ án từ đó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội Việc phân tích chế định hòa giải qua các thời kỳ từ năm 1945 đến nay đã chỉ ra được những phát triển rõ rệt của pháp luật nói chung và sự phát triển của chế định hòa giải nói riêng Đặc biệt, BLTTDS năm 2015 đã có những quy định đầy đủ và hoàn thiện hơn về chế định hòa giải nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Qua đây, có thể thấy, pháp luật Việt Nam cũng có những điểm giống và khác với pháp luật các nước trên thế giới cụ thể là Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc Nhiều quy định về chế định hòa giải của các nước bạn Việt Nam có thể tham khảo tuy nhiên phải đảm bảo phù họp với điều kiện kinh tế, văn hóa và thói quen lập pháp để đảm bảo cho sự hiệu quả trong áp dụng pháp luật
Tầm quan trọng của chế định hòa giải đối với hoạt động tố tụng dân sự nói chung, đối với giải quyết tranh chấp thương mại nói riêng được thể hiện không chỉ ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử phát triển mà còn thể hiện đối với những quốc gia có nền lập pháp lâu đời Những nội dung trên nhằm tạo nền tảng về lý luận và thực tiễn để xây dựng và nghiên cứu các chương tiếp theo của luận văn
Trang 36CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
Theo quy định tại Điều 317 Luật Thương mại 2005 thì tranh chấp thương mại có thể được giải quyết tại tòa án Khi tranh chấp thương mại được một hoặc các bên tranh chấp đưa đến tòa án, yêu cầu tòa án giải quyết và được tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết thì sẽ phát sinh ra vụ án thương mại Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì vụ án kinh doanh, thương mại hay còn gọi ngắn gọn là vụ án thương mại (theo luật Thương mại) là một loại vụ án dân sự, thuộc thẩm quyền dân sự của của tòa
án nhân dân Vì là một loại vụ án dân sự nên khi tiến hành hòa giải thì trình
tự, thủ tục hòa giải vụ án thương mại phải tuân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về hòa giải vụ án dân sự Chế định hòa giải vụ án dân
sự được quy định tại nhiều điều luật của BLTTDS năm 2015, bắt đầu từ việc đưa ra những quy định mang tính nguyên tắc cơ bản như Điều 5 về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, Điều 10 về hòa giải trong tố tụng dân sự, đồng thời đưa ra những quy định chi tiết cụ thể hơn nhằm đảm bảo thực hiện những nguyên tắc đó, cụ thể là những quy định về nguyên tắc tiến hành hòa giải (Điều 205), quy định về nội dung, phạm vi, trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải (Điều 206, Điều 207, Điều 208, Điều 209, Điều 210, Điều 211), quy định về hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành (Điều 212, Điều 213)
Trong phạm vi Chương 2 này, em xin được nêu ra và phân tích những quy định của pháp luật hiện hành về chế định hòa giải, đồng thời có sự so sánh và cập nhật quy định của BLTTDS năm 2015
Trang 372.1 Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án thương mại
Nguyên tắc Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải trong việc giải quyết vụ án dân sự nói chung, vụ án thương mại nói riêng được quy định tại Điều 10 và khi tòa án tiến hành hoạt động hòa giải đó thì nguyên tắc tiến hành hòa giải được quy định cụ thể tại Điều 205 BLTTDS năm 2015 Đó là các nguyên tắc sau:
2.1.1 Việc hòa giải tranh chấp thương mại của tòa án phải đảm bảo tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình
Nguyên tắc này được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 205 BLTTDS
2015 Sự tự nguyện của các đương sự là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật dân sự nói chung và hòa giải các vụ án dân sự nói riêng Nguyên tắc này xuất phát từ quyền tự định đoạt của các đương sự trong hoạt động thương mại Luật Thương mại 2005 cũng đã quy định tại Điều 11 “Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó” và “Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào” Khi tranh chấp thương mại xảy ra, vẫn trên tinh thần đó các bên có quyền thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện Sự tự nguyện này được thể hiện ở hai nội dung: tự nguyện tham gia hòa giải và tự nguyện thỏa thuận nội dung giải quyết vụ án
- Tự nguyện tham gia hòa giải:
Đương sự có quyền lựa chọn có tham gia hoạt động hòa giải do tòa án tiến hành hay không Theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS 2015, nếu