1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật việt nam

101 304 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây cũng là một yếu tố quan trọng mà các bên tham gia giao kết hợp đồng phải lưu ý vì nếu hợp đồng mua bán hàng hóa nào vi phạm vào một trong những nội dung theo quy định của luật về điề

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT

VIỆT NAM

NGUYỄN HOÀNG DŨNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI - -

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và

đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Đào tạo sau đại học Viện Đại học mở Hà Nội

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Hoàng Dũng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm và giúp đỡ của các Thầy giáo, cô giáo, gia đình và bạn bè

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy, các Cô, Khoa Đào tạo sau đại học Viện đại học Mở Hà Nội đã tận tình giúp đỡ chỉ bảo, hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu, phân tích và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư, Tiến Sỹ: Vũ Thị Hồng Vân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn này

Cuối cùng tôi xin cảm ơn toàn thể bạn bè, người thân và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành tốt đề tài luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Hoàng Dũng

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự

LĐT: Luật đầu tư

LSHTT: Luật sở hữu trí tuệ

LTM: Luật thương mại

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNGMUA BÁN HÀNG HÓA 8

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 8

1.1.1 Khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa 8

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa 12

1.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa 17

1.2 Khái quát về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 20

1.2.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 20

1.2.2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 21

1.2.3 Ý nghĩa của việc xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Chương 2: ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 30

2.1 Điều kiện về chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa 32

2.1.1 Năng lực chủ thể của thương nhân là pháp nhân khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa 37

2.1.2 Năng lực chủ thể của thương nhân là cá nhân khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa 39

2.2 Nội dung và mục đích của hợp đồng không bị vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội 40

2.3 Các bên tham gia việc giao kết, xác lập hợp đồng hoàn toàn tự nguyện 44

2.4 Tuân thủ điều kiện về hình thức của hợp đồng trong trường hợp pháp luật quy định 50

2.4.1 Giới hạn tự do về hình thức bằng luật 50

2.4.2 Về loại hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 51

2.4.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa bị vi phạm về hình thức 57

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59

Trang 7

Chương 3: MỘT SỐ BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN THI HÀNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC THỰC HIỆN QUY ĐỊNH ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

MUA BÁN HÀNG HÓA 61

3.1 Một số bất cập trong pháp luật và thực tiễn thi hành quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 61

3.1.1 Về năng lực của chủ thể khi tham gia giao kết và xác lập hợp đồng 62

3.1.2 Về nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội 62

3.1.3 Vấn đề xác định sự tự nguyện quy định về điều kiện người tham gia xác lập hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện là chưa đầy đủ và rõ ràng 63

3.1.4 Về hình thức của hợp đồng 64

3.1.5 Bất cập trong quy định về nhầm lẫn là điều kiện yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu 65

3.1.6 Về vấn đề xử lý hợp đồng không đảm bảo điều kiện hiệu lực (hợp đồng vô hiệu) 70

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 72

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật 72

3.2.2 Giải pháp về tổ chức, thực hiện 85

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ xa xưa, hợp đồng vốn đã là một phương thức cơ bản để các chủ thể thực hiện việc lưu thông và trao đổi hàng hóa và dịch vụ Trong nền kinh tế thị trường hiện ngày nay với sự giao lưu kinh tế mở rộng trên phạm vi toàn thế giới thì mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại phổ biến nhất và có một vai trò vô cùng quan trọng Có thể nói mọi hoạt động, công việc kinh doanh của các thương nhân hay các chủ thể kinh doanh khác đều dựa trên nền tảng mua bán hàng hóa Chính vì vậy, mua bán hàng hóa là hoạt động đóng vai trò trung tâm, có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của nền kinh tế Đi cùng với sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa, các hợp đồng mua bán được ký kết ngày càng nhiều hơn Để một cuộc giao dịch mua bán được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, phù hợp với các quy định pháp luật thì việc ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa là tiền đề cần phải thực hiện Một hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên khi có hiệu lực pháp luật Hợp đồng mua bán hàng hóa để có hiệu lực cần có những điều kiện nhất định, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lí nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng góp phần nâng cao ý thức của các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng cũng như bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng và tạo nên

sự bình đẳng trong giao lưu dân sự Đây cũng là một yếu tố quan trọng mà các bên tham gia giao kết hợp đồng phải lưu ý vì nếu hợp đồng mua bán hàng hóa nào vi phạm vào một trong những nội dung theo quy định của luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa thì hợp đồng đó sẽ bị vô

Trang 9

hiệu Việc vô hiệu này có thể là vô hiệu về hình thức, vô hiệu về nội dung, vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần Tuy nhiên, cho dù thuộc trường hợp vô hiệu nào đi chăng nữa thì ý chí mong muốn giao kết hoặc thực hiện hợp đồng giữa các bên sẽ bị cản trở Trong những trường hợp này quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ hợp đồng sẽ không được pháp luật công nhận và bảo

vệ

Pháp luật Việt Nam có nhiều quy định điều chỉnh chung về hợp đồng

và hoạt động mua bán hàng hóa, nhưng có thể nói Bộ luật dân sự số 92/2015/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 (gọi chung là

BLDS năm 2015) và Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành hai đạo luật này được coi là nguồn quan trọng điều chỉnh vấn đề điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa ở nước ta hiện này Những quy định này thể hiện sự phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại, mua bán hàng hóa ở Việt Nam và về cơ bản phù hợp với thông lệ quốc tế góp phần tích cực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập toàn cầu Những quy định này về cơ bản giúp cho các thương nhân và các chủ thể khác tham gia vào hoạt động thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng xác định được cách thức để xác lập một hợp đồng có hiệu lực pháp luật, đặc biệt là BLDS năm 2015 có những quy định mới về hợp đồng nói chung và về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nói riêng Do vậy, cần được nghiên cứu và tìm hiểu một cách thấu đáo

Thực tế cho thấy hiện nay trong đời sống xã hội và trong hoạt động thương mại vẫn đang diễn ra nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa chưa được giao kết hợp pháp dẫn đến vô hiệu, nguyên nhân là do các vấn đề về điều kiện vẫn chưa được tuân thủ chặt chẽ nên có nhiều tranh chấp giữa các bên trong giao kết hợp đồng mà có liên quan đến điều kiện của hợp đồng Như vậy, phải

Trang 10

chăng giữa cuộc sống và các quy định của pháp luật vẫn còn một khoảng cách không phải là nhỏ Vì nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề em quyết định

chọn đề tài: “Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam” để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm làm giảm việc giao

kết hợp đồng mua bán hàng hóa vi phạm quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, dẫn đến vô hiệu hợp đồng trong thực tế; đảm bảo quyền lợi cho

các chủ thể khi tham gia hợp đồng

2 Tình hình nghiên cứu

Có rất nhiều công trình về khoa học xã hội và công trình luật học nghiên cứu về các lĩnh vực hợp đồng nói chung, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự nói riêng và những công trình nghiên cứu riêng về hợp đồng thương mại, trong đó có hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau: Giáo trình Luật Thương mại

do Lê Quốc Tài chủ biên; giáo trình Luật Thương mại của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội năm 1998, 2002 do TS Phạm Duy Nghĩa chủ biên; giáo trình Luật Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011 (tái bản lần thứ 6) do PGS.TS Nguyễn Viết Tý chủ biên Ngoài ra, nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa còn được đề cập trong các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật khác như: Đại học Huế, Đại học Vinh, Đại học Kinh tế Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh

Chế định hợp đồng thương mại cũng được đề cập đến trong các công trình khoa học, bài viết có liên quan như: “Khái niệm thương mại trong pháp luật Việt Nam và những bất cập dưới góc dộ thực tiễn áp dụng và chính sách hội nhập” của TS Lê Hồng Hạnh trên tạp chí Luật học năm 2000, sách tham khảo “tìm hiểu luật Thương mại Việt Nam” của PGS TS Phạm Duy Nghĩa xuất bản năm 2000; cuốn “pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư

Trang 11

– Những vấn đề pháp lý cơ bản” năm 2009 do TS Nguyễn Thị Dung chủ biên… Những công trình nói trên đã đề cập đến chế định hợp đồng thương mại, hoạt động thương mại, pháp luật thương mại đồng thời cũng đề cập đến chế định hợp đồng thương mại từng dạng cụ thể như: Hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác…

khảo, công trình nghiên cứu có liên quan tới một số khía cạnh pháp lý của vấn đề hiệu lực hợp đồng, như cuốn “Việt Nam Dân luật - luợc khảo” của GS

Vũ Văn Mẫu, “Pháp luật về hợp đồng” của TS Nguyễn Mạnh Bách, “Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam” của TS Nguyễn Ngọc Khánh,

“Cẩm nang pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử" của GS.TS Nguyễn Thị Mơ, “Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và Bình luận bản án”, của TS Đỗ Văn Đại Ngoài ra, còn có nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, như “Hiệu lực và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng” của PGS.TS Đinh Văn Thanh, “Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam'" của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, “Thời điểm

có hiệu lực của hợp đồng” của TS Phạm Công Lạc

Bên cạnh đó, có một số Luận án tiến sỹ nghiên cứu các đề tài có liên

quan đến hiệu lực hợp đồng, như đề tài “Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của TS Phạm Hữu Nghị;

“Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu" của TS Lê Thị Bích Thọ; “Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu" của TS Nguyễn Văn Cường;

“Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam” của TS Lê

Minh Hùng, năm 2010…

Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quí báu giúp tác giả

có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn

Trang 12

Tuy nhiên, đối với những quy định liên quan đến điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam hiện hành mà cụ thể là theo quy định của BLDS năm 2015 thì chưa có công trình nào đề cập tới Bởi vậy, việc lựa chọn đề tài “Hiệu lực của hợp đồng theo qui định của pháp luật Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ luật là không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là tìm ra các luận cứ khoa học từ thực tiễn đề từ

đó đề xuất những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của Bộ luật dân sự cũng như các qui định của các luật chuyên ngành liên quan

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

- Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa; đánh giá ưu điểm, hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khó khăn, vướng mắc quá trình thực thi pháp luật

- Tìm ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn chủ yếu là những quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa của BLDS năm

2015 đặt trong mối tương quan với một số quy định của Luật Thương mại

Trang 13

năm 2005, Luật doanh nghiệp… và một số văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề này

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa Trên cơ sở những vấn đề lý luận, luận văn tập trung phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa (có tham khảo pháp luật của một số nước) Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành được đề tài nghiên cứu tập trung ở các đạo luật như: BLDS năm 2015; Luật Thương mại năm 2005

Cùng với việc nghiên cứu các qui định của pháp luật, luận văn cũng nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thời gian gần đây, đặc biệt là từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực đến nay

Đồng thời, luận văn cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lê nin

Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp phân tích nhằm tìm hiểu các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, phương pháp tổng hợp để sử dụng các tài liệu, sách, giáo trình và các thông tin trên website; phương pháp so sánh, đối chiếu, tham khảo cũng được tác giả sử dụng nhằm giải quyết vấn đề một cách hợp lý và

rõ ràng nhất

Trang 14

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Dưới góc độ khoa học, những kết quả nghiên cứu mới của luận văn sẽ

đề cập một cách có hệ thống, chi tiết về những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán; đưa ra những nhận xét, đánh giá về tính hợp lý, logic, sự phù hợp với thực tiễn của những quy định này đồng thời nêu lên những quan điểm, định hướng về sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật cùng với việc đề xuất những giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Dưới góc độ thực tiễn, trên cơ sở khảo sát, đánh giá việc áp dụng những quy định này trong thực tiễn, luận văn nêu lên những kết quả đạt được cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định này đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng, thực hiện pháp luật Từ đó, luận văn đề xuất những kiến giải nhằm góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng, thực hiện những quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại ở Việt Nam, nhằm nâng cao ý thức pháp luật của các thương nhân, đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế hiện nay

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu 3 chương, với các nội dung sau:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về điều kiện có hiệu lực của

hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 2 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa theo

quy định của pháp luật Việt Nam

Chương 3 Một số bất cập trong pháp luật, thực tiễn thi hành và một số

giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN

CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG

MUA BÁN HÀNG HÓA

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu của mình Tuy vậy, trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra được một thuật ngữ chính xác, như thuật ngữ “hợp đồng” đang được sử dụng trong pháp luật của hầu hết các quốc gia ngày nay, là việc không dễ dàng Hợp đồng là một trong những chế định quan trọng và xuất hiện sớm nhất trong lịch sử của pháp luật dân sự Cùng với sự xuất hiện của hợp đồng thì hợp đồng dân sự nói riêng là một trong những phương thức hữu hiệu để các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Theo nghĩa thông thường, hợp đồng là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định

Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có nhiều thuật ngữ khác nhau được

sử dụng để chỉ về hợp đồng: Khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, cam kết, tờ

cho đến ngày nay, thuật ngữ ‘văn tự' hay ‘văn khế’[26, Điều 363 và 366], hay mua, bán, cho, cầm đã được sử dụng khá sớm, trong Bộ Quốc triều Hình luật

[57, tr.156; 286, tr.57- 8]

Ngày nay, trước khi Bộ luật dân sự năm 1995 ra đời thì cũng đã có nhiều

Trang 16

văn bản pháp luật khác đưa ra những quy định điều chỉnh quan hệ hợp đồng Song đến khi Bộ luật dân sự ra đời năm 1995 và được sửa đổi bổ sung năm

2005 thì hợp đồng dân sự đã được xem xét, quy định một cách đầy đủ và hoàn thiện hơn Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu đảm bảo công bằng xã hội Cùng với sự phát triển thì các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và mức độ phức tạp ngày càng cao đòi hỏi pháp luật về hợp đồng dân sự phải hoàn thiện hơn để giải quyết một cách triệt để BLDS năm 2015 sử dụng thuật ngữ hợp đồng thay vì khái niệm hợp đồng dân sự trước đây Như vậy, các văn bản pháp luật của nhà

nước ta không còn sử dụng thuật ngữ ‘khế ước hay ‘hiệp ước như trước đây

mà sử dụng các thuật ngữ như hợp đồng [8, Điều 385], hợp đồng thương mại

[22, khoản 1 Điều 3], pháp luật của nhiều nước chỉ sử dụng chung thuật ngữ

‘hợp đồng’, chứ không sử dụng các thuật ngữ hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động như luật Việt Nam

Ngoài việc dùng “hợp đồng” làm thuật ngữ pháp lý chính thức trong

các văn bản pháp luật, các nhà làm luật cũng quan tâm tới việc làm rõ nội

hàm của khái niệm ‘hợp đồng’ Điều 388 BLDS 2015 định nghĩa hợp đồng như sau: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Điều 385 BLDS năm 2015, quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chất dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” Như vậy, so với BLDS năm 2005 thì

BLDS năm 2015 đã bỏ cụm từ “dân sự” sau hai từ “hợp đồng” Việc sửa đổi này có ý nghĩa rất quan trọng, đây không chỉ là sự sửa đổi về mặt kỹ thuật lập pháp mà còn thể hiện sự minh bạch trong thực tiễn áp dụng pháp luật Việc quy định như BLDS năm 2005 dẫn đến thực tiễn thi hành pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau, có trường hợp cho rằng những quy định của BLDS năm

Trang 17

2005 chỉ liên quan đến hợp đồng dân sự và do đó toàn bộ những quy định tại Mục 7 chương XVII của BLDS năm 2005 cũng như những quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng ở mục này chỉ áp dụng đối với hợp đồng dân sự, còn việc giao kết và thực hiện các loại hợp đồng khác như: Hợp đồng thương mại, hợp đồng đầu tư, hợp đồng kinh doanh bảo hiểm, hợp đồng lao động… không phải là hợp đồng dân sự nên chúng sẽ không chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự hiện hành Từ thực tiễn áp dụng pháp luật và những bất cập như

đã nêu ở trên cho thấy, việc sử dụng hai từ “dân sự” trong định nghĩa về hợp đồng nêu tại Điều 388 BLDS năm 2005 sẽ làm hạn chế phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự đối với tất cả các loại hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng dân

sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh hay hợp đồng thương mại Cho nên, quy định mới về khái niệm hợp đồng tại Điều 385 của BLDS năm 2015

là hợp lý, phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật

Chế định hợp đồng là một bộ phận các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau Cần phân biệt thuật ngữ hợp đồng với thuật ngữ pháp luật về hợp đồng Đây là hai khái niệm không đồng nhất với nhau Hợp đồng theo nghĩa chủ quan là quan hệ xã hội được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự Còn pháp luật về hợp đồng (nghĩa khách quan) là

sự thừa nhận và là yêu cầu của Nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó

Qua định nghĩa trên, ta có thể thấy, về bản chất hợp đồng được hình thành dựa trên cơ sở thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó Hậu quả pháp lý của sự thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng là nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có qui định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên Ngoài ra sự

Trang 18

thỏa thuận giữa các bên không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như giả tạo, nhầm lẫn, đe dọa… Xét về vị trí, vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, thì hợp đồng

là một loại giao dịch dân sự, là một căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Như vậy, hợp đồng là phương tiện pháp

lý để các bên tạo lập quan hệ nghĩa vụ

Mua bán hàng hóa là quan hệ chuyển giao quyền sở hữu để đổi lấy tiền,

theo đó “Mua bán hàng hóa bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận” (khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005)

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản Luật thương mại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa, do vậy, có thể dựa vào khái niệm hợp đồng mua bán tài sản Điều 430 trong BLDS năm 2015 để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa Một hợp đồng mua bán có thể là thỏa thuận về việc mua bán hàng hoá ở hiện tại hoặc mua bán hàng hoá sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tương lai Bất cứ khi nào, một người mua hàng hoá bằng tiền hoặc phương thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hoá thì khi đó hình thành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá

Theo Điều 430 BLDS năm 2015, “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua có trả tiền cho bên bán” Tất cả tài sản được quy định

Trang 19

tại Điều 105 BLDS năm 2015 đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó [8, Điều 431] Như vậy, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản

có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và có thể là quyền tài sản với điều kiện tài sản đó phải được phép giao dịch Chẳng hạn: nếu tài sản là vật thì vật đó phải được xác định rõ (vật gì; trọng lượng; khối lượng; số lượng); nếu là quyền tài sản, thì phải có giấy tờ hoặc các bằng chứng khác chứng minh Ngoài ra, đối tượng của hợp đồng mua bán còn có thể là các tài sản hình thành trong tương lai Trong trường hợp này, bên bán phải cung cấp đầy đủ các giấy tờ, tài liệu chứng cứ để có thể xác định được tài sản đó và chứng minh tài sản sẽ chắc chắn được hình thành trong tương lai, khi hình thành, chắc chắn tài sản đó

thuộc quyền sở hữu của mình “Hàng hóa” định nghĩa cũng được coi là một

loại tài sản Nhưng hàng hóa có phạm vi hẹp hơn tài sản, do vậy, có thể khẳng định, hợp đồng mua bán hàng hóa là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản [22, khoản 8 Điều 3]

Từ phân tích trên có thể định nghĩa: “Hợp đồng mua bán hàng hóa là

sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán” Điểm phân biệt

giữa hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán tài sản thể hiện ở những đặc trưng cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Nếu nghiên cứu mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán hàng hóa và hợp đồng theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng có thể nhận thấy, nhiều vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa được pháp luật điều chỉnh không có sự khác biệt với hợp đồng vì hợp đồng mua bán hàng hoá có bản

Trang 20

chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán Ngoài ra, do yêu cầu của hoạt động thương mại hàng hóa, một số vấn đề về hợp đồng trong thương mại được quy định trong pháp luật thương mại có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống về hợp đồng như chủ thể của hợp đồng, hình thức, nội dung hợp đồng Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm nhất định để phân biệt với hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán tài sản trong Luật dân sự nói riêng, vì như đã trình bày ở trên, về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa là dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, do vậy, hợp đồng

mua bán hàng hóa cũng có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự như [58]:

- Hợp đồng mua bán tài sản và mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ

Trong hợp đồng mua bán tài sản thì cả hai bên trong hợp đồng đều có những quyền và nghĩa vụ đối với nhau Nói cụ thể hơn, nếu bên bán có nghĩa

vụ giao vật bán cho bên mua thì bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán,

bên mua có quyền nhận vật thì bên bán có quyền nhận tiền

- Hợp đồng mua bán tài sản và mua bán hàng hóa là hợp đồng có đền bù

Quy luật trao đổi ngang giá là đặc trưng cơ bản của hợp đồng mua bán tài sản Quy luật này làm cho hợp đồng mua bán tài sản luôn mang tính chất đền bù tương đương Nghĩa là khi bên mua đã nhận được một lợi ích vật chất

từ bên bán (tài sản mua) thì bên bán cũng nhận được một lợi ích vật chất tương đương từ bên mua (tiền bán tài sản)

- Hợp đồng mua bán tài sản và mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận

Ưng thuận là một đặc điểm pháp lý quan trọng của hợp đồng mua bán Trong hợp đồng mua bán kể từ thời điểm các bên đã thoả thuận và thống nhất

Trang 21

ý chí với nhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng như: Đối tượng mua bán, giá cả, phương thức thanh toán thì hợp đồng đó được coi là đã xác lập

và có hiệu lực đối với các bên Sự thỏa thuận (ưng thuận) của các bên về những vấn đề nói trên có thể được thể hiện theo các hình thức khác nhau như bằng lời nói, bằng văn bản thông thường hoặc bằng văn bản có thị thực, song các hình thức xác lập này không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng mua bán, trừ các hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật đã quy định phải được xác lập theo một hình thức bắt buộc Tóm lại, đặc điểm này cho thấy, khi hợp đồng mua bán tài sản được coi là đã giao kết thì các bên phải thực hiện quyền

và nghĩa vụ đối với nhau, nghĩa là người bán phải giao tài sản, hàng hóa bán

và nhận tiền, người mua phải trả tiền và nhận tài sản mua, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Ngoài ra, với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng

hóa, hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm đặc thù xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa:

- Về chủ thể của hợp đồng

Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là

thương nhân, theo đó, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và

có đăng ký kinh doanh”[22, khoản 1 Điều 6] Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân

không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa khi họ có hoạt động liên quan đến thương mại như ký hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân Như vậy, về cơ bản các quy định của Luật Thương mại được áp dụng cho các quan hệ mua bán hàng hóa giữa các thương nhân với nhau và giữa một bên là thương nhân với một bên là (những) người tiêu dùng, giới hạn trong những tài sản được gọi là hàng hóa theo

Trang 22

khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại Các quy định này mang tính đặc thù so với quy định về mua bán tài sản của BLDS [45, tr91]

- Về đối tượng của hợp đồng

Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa Theo nghĩa thông thường có thể hiểu hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người Càng ngày cùng với

sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú

Hàng hóa là sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu mang tính xã hội Nhu cầu của con người phong phú và biến thiên liên tục như thế nào thì hàng hóa cũng đa dạng như vậy Để khái quát chúng, trong ngôn ngữ pháp lý, dựa vào đặc trưng từng loại mà hang hóa được phân thành bất động sản và động sản Hàng hóa có thể

là vật, là lao động của con người, là các quyền tài sản mang tính vô hình Dựa vào tính chất pháp lý, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất động sản, động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các quyền

về tài sản Tùy vào luật pháp của mỗi nước cũng như ở nước ta trong từng thời kỳ khái niệm hàng hóa được quy định hiện nay dù có những khác biệt nhất định song đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông Một số cách hiểu về phạm vi hàng hóa là đối tượng của mua bán thương mại trong pháp luật quốc tế và các nước như sau:

Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế quy định về hàng hóa với tính cách là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bằng phương pháp loại trừ, liệt kê những đối tượng không được coi là hàng hóa như: hàng mua đề dùng cho cá nhân, gia đình; hàng bán đấu giá; giấy tờ chứng khoán, cổ phiếu, giấy đảm bảo chứng từ và tiền lưu thông… Quan niệm trên đây có phạm vi rất rộng cũng giống như Bộ luật thương mại

Trang 23

của Anh quốc và pháp luật thương mại Hoa Kỳ và trong nhiều điều ước quốc

tế như: Hiệp định GATT, Hiệp định thành lập khối thị trường chung châu Âu… Song nhìn chung hàng hóa - đối tượng của mua bán thương mại đều có đặc điểm chung là động sản hữu hình, gồm những tài sản có hai thuộc tính cơ bản là: có thể đưa vào lưu thông và có tính chất thương mại (trừ tiền, chứng khoán và quyền vô hình)

Theo Luật Thương mại năm 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai (khoản 2 Điều 3) Quy định này về cơ bản là tương đối hợp lý, ngắn gọn nhưng vẫn đảm bảo bao quát được phạm vi những đối tượng có khả năng tham gia vào quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa và cũng loại trừ được bất động sản ra khỏi định nghĩa Bởi bất động sản là một loại tài sản đặc biệt, gắn liền với nhiều yếu tố quyền quan trọng và cần phải

có sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật không thể dễ dàng tham gia giao dịch như các loại hàng hóa khác

Tóm lại, xây dựng một khái niệm đúng đắn về hàng hóa là một việc quan trọng tạo cơ sở cho việc xây dựng hệ thống quy định pháp luật điều

chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa

- Về mục đích của hợp đồng

Mục đích của hợp đồng mua bán hàng hóa chính là lợi nhuận Do mục đích của hoạt động thương mại là nhằm sinh lợi nên khi các thương nhân tham gia ký kết một hợp đồng mua bán hàng hóa suy cho cùng cũng là vì lợi nhuận Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp một bên chủ thể của hợp đồng không phải là thương nhân, hoạt động không nhằm mục đích sinh lời, trong trường hợp này sẽ áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005 để xác định pháp luật điều chỉnh, theo đó, “hoạt động không

Trang 24

nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng luật này” Như vậy, việc chọn áp dụng Luật Thương mại để điều chỉnh quan

hệ hợp đồng này do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định

- Về hình thức của hợp đồng

Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập theo cách thức mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ: như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như: điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được ký kết dưới mọi hình thức, trừ những hợp đồng có quy định chuyên ngành như: hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng mua bán điện,… thì bắt buộc phải bằng văn bản Nói cách khác, hình thức của hợp đồng chỉ bắt buộc khi áp dụng cho một số loại hợp đồng mà pháp luật quy định cụ thể về hình thức chứ không phải áp dụng cho tất cả các hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.3 Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hóa

Xuất phát từ bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng như các hình thức khác nhau của hợp đồng đã được pháp luật ghi nhận và đã có ý nghĩa đối với đời sống xã hội Do đó hợp đồng mua bán hàng hóa có một số vai trò nhất định trong hoạt động thương mại như sau:

Hợp đồng mua bán hàng hóa là cơ sở quan trọng để xây dựng và thực

Trang 25

hiện kế hoạch kinh doanh thương mại của các thương nhân

Có thể khẳng định rằng trong tất cả mọi vấn đề nếu không xây dựng kế hoạch cụ thể và chi tiết thì mọi công việc tiến hành đều rơi vào tình trạng không có phương hướng và để bảo đảm việc xây dựng kế hoạch được bảo đảm thì một trong những cơ sở quan trọng bắt nguồn của vấn đề chính là hợp đồng Hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng là một phương tiện để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các thương nhân Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ sở để cho sự phân minh cũng như khẳng định tính đúng sai không thể có nội dung nào khác quan trọng hơn đó chính là hợp đồng Bên cạnh những nội dung chính của họp đồng như: tên của hợp đồng, tên chủ thể, tên mặt hàng, phương thức thanh toán nhưng trong đó có nhiều hợp đồng quy định rất cụ thể tiến độ thực hiện các nội dung được thoả thuận trong hợp đồng và như vậy nội dung hợp đồng

sẽ trở thành tiêu chí để kiểm tra việc thực hiện các thoả thuận của các bên Hay nói cách khác, hợp đồng được xem như công cụ để các thương nhân kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của mình

Hợp đồng mua bán hàng hóa làm cho lợi ích của các bên ký kết và phù hợp với lợi ích chung của nhà nước, lợi ích công công, lợi ích của nền kinh tế

Cho dù nội dung của hợp đồng chủ yếu được các bên tự thoả thuận nhưng sự thoả thuận đó phải trong khuôn khổ pháp luật và việc các bên ký kết và thực hiện hợp đồng luôn phải tính toán đến các lợi ích của nền kinh

Trang 26

của nhà nước và sự tự điều tiết của các quy luật thị trường Nhà nước chỉ tập trung quản lý ở tầm vĩ mô, còn quá trình tổ chức và quản lý sẽ thuộc về các doanh nghiệp Đối với các giao dịch dân sự thông thường, Nhà nước luôn đề cao quyền tự do của cá nhân, chính vì vậy việc quản lý của nhà nước cũng như việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên chủ yếu được đánh giá qua

sự thoả thuận của các bên Nếu như trước đây, Nhà nước luôn là trung tâm quản lý trực tiếp đối với doanh nghiệp thì nay sự quản lý đó lại để cho các doanh nghiệp tự quản lý và nhà nước chỉ tập trung quản lý theọ phương pháp mới như quản lý về thuế, quản lý tỷ giá hối đoái, quản lý về chính sách thương mại, và quản lý xã hội bằng pháp luật Như vậy, một trong những nội dung quan trọng để nhà nước quản lý và bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các

cá nhân và tổ chức đó là hợp đồng Bên cạnh nhà nước sử dụng hợp đồng như một công cụ quản lý mới thì chính các tổ chức với tổ chức, tổ chức với cá nhân thành viên có liên quan, cá nhân với cá nhân, hợp đồng cũng là cơ sở tạo

sự ràng buộc lẫn nhau và trở thành công cụ quản lý hiệu quả

Hợp đồng mua bán hàng hóa còn có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kinh doanh, thương mại của các bên, bởi nó tạo ra một cơ sở pháp lý an

toàn để các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng, nhằm giải quyết nhu cầu cung ứng hàng hóa mà các chủ thể mong muốn, theo đó, bên bán sẽ giao hàng hóa cho bên mua theo một cam kết thông qua một hợp đồng mua bán hàng hóa cụ thể để đảm bảo cam kết đó sẽ được thực hiện đúng như thỏa thuận; hợp đồng còn là căn cứ để xác định và ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên, góp phần thúc đẩy các bên tự nguyện thực hiện các quyền và nghĩa vụ

đó, thông qua đó có thể đánh giá được tiến độ làm việc, cách thức thực hiện hợp đồng, trách nhiệm của các bên tham gia và hậu quả khi các bên không thực hiện cam kết của mình; hợp đồng cũng là bằng chứng để giải quyết tranh chấp nếu một bên vi phạm hợp đồng, là căn cứ để các bên lựa chọn phương

Trang 27

thức giải quyết khi có tranh chấp xảy ra

Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng đóng vai trò quan trọng để xây dựng uy tín, thương hiệu cho các thương nhân Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế, đối với những hợp đồng được thực hiện nghiêm minh, có hành lang

pháp lý thuận lợi, nội dung hợp đồng chặt chẽ, chất lượng sẽ đem đến sự hài lòng cho đối tác từ đó sẽ trở thành kênh quảng cáo cho các thương nhân, giúp

họ có lợi thế trong cạnh tranh, dần mở rộng kinh doanh ra nước ngoài, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì hợp đồng lại càng có

ý nghĩa quan trọng

1.2 Khái quát về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán háng hóa

1.2.1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Tuy không có khái niệm cụ thể về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, nhưng xuất phát từ quy định của BLDS về “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 116 BLDS năm 2015) nên có thể hiểu, điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự chính là những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán háng hóa Từ điển luật học có đưa ra khái niệm về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là các yếu tố cần

và đủ được pháp luật quy định cho giao dịch dân sự để giao dịch được pháp luật

công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập đúng bản chất đích thực của nó Đây là

những điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng

được xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên

Như vậy, có thể hiểu điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng là những yếu tố cần và đủ được pháp luật quy định cho hợp đồng để

Trang 28

hợp đồng đó được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Theo đó, pháp luật đặt ra những điều kiện nhất định mà buộc các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa phải tuân thủ để đảm bảo cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý và được nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích

hợp pháp của mình Qua đó, ta có thể đưa ra khái niệm: Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa là những điều kiện do pháp luật quy định mà một hợp đồng muốn phát sinh hiệu lực pháp lý phải thỏa mãn các điều kiện đó

Các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực là những yêu cầu pháp

lý phải được tuân thủ khi xác lập, giao kết hợp đồng mà nếu thiếu một trong các điều kiện đó thì hợp đồng đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu Tuy cách tiếp cận vấn đề còn nhiều điểm khác nhau, nhưng hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều xem các điều kiện về chủ thể, nội dung và ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng là những yêu cầu pháp lý bắt buộc phải tuân thủ khi xác lập hợp đồng Xuất phát từ bản chất của hợp đồng, pháp luật của Việt Nam qui định mọi hợp đồng phải tuân thủ các điều kiện bắt buộc như: điều kiện về chủ thể hợp đồng; điều kiện về nội dung, mục đích của hợp đồng và điều kiện về ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng

1.2.2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực thì hợp đồng đó phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Luật Thương mại năm 2005 không có điều khoản nào quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa Do đó, việc xác định các điều kiện

sẽ dựa trên cơ sở khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa cũng như các quy định của BLDS năm 2015 về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và các văn bản khác có liên quan để làm căn cứ Điều 117 BLDS năm

2015 quy định:

Trang 29

a) Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng (hay chủ thể của quan hệ hợp đồng) là những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó Để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, các hệ thống pháp luật đều qui định chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn hợp đồng mua bán háng hóa, chủ thể tham gia hợp đồng mua bán chủ yếu là các thương nhân Khi tham gia hợp đồng mua bán nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiện kinh doanh, thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật [59] Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, mỗi chủ thể phải có điều kiện nhất định thích ứng với loại hợp đồng mà chủ thể đó tham gia

Ngoài ra, để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực, đại diện của các bên

giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền Vì vậy, pháp luật có quy định

để khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên phải xác định người có thẩm quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng, đó là người đại diện hợp pháp của các bên Đại diện hợp pháp có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền, nếu hợp đồng giao kết không đúng thẩm quyền, sẽ không phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên

b) Điều kiện về nội dung và mục đích của hợp đồng

Quan hệ dân sự nói chung và quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng đều là quan hệ được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Nhưng để bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, pháp luật cần qui định một số

Trang 30

trường hợp hạn chế quyền tự do của các bên trong việc thiết lập hợp đồng

Theo đó, nội dung và mục đích của hợp đồng “không được vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”

Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, thì hàng hóa là đối tượng của hợp đồng phải là hàng hóa không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật Tùy thuộc vào từng giai đoạn của nền kinh tế, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước mà những hàng hóa bị cấm kinh doanh được pháp luật quy định một cách phù hợp Vì vậy, đối tượng của hợp đồng phải là những hàng hóa được pháp luật cho phép trao đổi, mua bán… vào thời điểm giao kết

c) Các bên hoàn toàn tự nguyện trong việc giao kết, xác lập hợp đồng

Tự nguyện xác lập, thực hiện hợp đồng là việc chủ thể tự mình quyết định là có tham gia hay không tham gia vào hợp đồng theo nguyện vọng của

cá nhân mình, mà không chịu sự chi phối hay sự tác động, can thiệp chủ quan nào từ những người khác Pháp luật đòi hỏi những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện Tự nguyện còn là nguyên tắc pháp lý cơ bản của pháp luật dân sự và pháp luật thương mại [8, Điều 4; 22, khoản 2 Điều 11]

Ý chí tự nguyện của chủ thể là một dấu hiệu thuộc yếu tố chủ quan, nếu không được biểu hiện ra bên ngoài, thì người khác không thể biết được Có

tác giả cho rằng, “tự do ý chí và bày tỏ ý chí là hai mặt của tự nguyện” Tự nguyện nghĩa là phải có tự do ý chí, tự do “bày tỏ ý chí” và phải có “sự thống nhất giữa ý chí với sự bày tỏ ý chí” Không có tự do ý chí và sự bày tỏ ý chí

hoặc phá vỡ tính thống nhất giữa hai yếu tố này, thì sẽ không có sự tự nguyện

[36, tr.7] Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân Tối cao xác định “người tham gia

giao dịch (hợp đồng) hoàn toàn tự nguyện được hiểu là: Các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự do bày tỏ ý chí, nguyện vọng của mình, tự nguyện thoả

Trang 31

thuận với nhau về các nội dung của giao dịch mà không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép từ phía bên kia hoặc của người khác; các bên tự nguyện thoả thuận các vấn đề nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

của mình” [42, tr.40]

Hợp đồng do chủ thể xác lập, thực hiện không tự nguyện, thì có thể bị

vô hiệu hoặc đương nhiên vô hiệu Những trường hợp không có sự tự nguyện

là những trường hợp mà việc xác lập, thực hiện hợp đồng không đúng ý chí đích thực của chủ thể hoặc không có sự thống nhất giữa ý chí của chủ thể với

sự bày tỏ ý chí của chính chủ thể đó ra bên ngoài Như vậy, việc quy định

nguyên tắc giao kết hợp đồng đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với

ý chí thực của họ, hướng tới những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến các lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Những hành vi cưỡng

ép, đe dọa, lừa dối để giao kết hợp đồng… là lí do dẫn đến hợp đồng mua bán hàng hóa không có hiệu lực pháp luật

Tóm lại, các yếu tố chủ thể, nội dung và mục đích, sự tự nguyện của các bên là những yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình hình thành và tồn tại của hợp đồng Năng lực của chủ thể là yếu tố nhằm đảm bảo chủ thể có tư cách độc lập để tự mình xác lập, thực hiện hợp đồng; nội dung và mục đích là những điều khoản, căn cứ để thực hiện hợp đồng; tự nguyện là yếu tố đảm bảm cho hợp đồng được tạo ra đúng ý chí đích thực của các bên Bởi vậy, đây

là ba yếu tố pháp lý quan trọng được pháp luật qui định là điều kiện bắt buộc của mọi hợp đồng

d) Hình thức hợp đồng - điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa trong trường hợp pháp luật quy định

Theo nghĩa thông thường, hình thức được hiểu là “cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung” [28, tr.809] Ở góc độ triết học, nội dung và hình thức

Trang 32

của các sự vật, hiện tượng là cặp phạm trù cơ bản, thể hiện “những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật” và là “phương thức tồn tại và phát triển của

sự vật” [25, tr.244] Cũng như các sự vật, hiện tượng khác của thế giới khách

quan, hình thức biểu lộ ý chí của các bên trong việc tạo lập hợp đồng thường

được biểu hiện ở hai cấp độ: hình thức bên trong và hình thức bên ngoài của

nó [25, tr.245]

Hình thức bên trong của hợp đồng là sự thể hiện ra bên ngoài của các

quyền và nghĩa vụ của chủ thể, dưới dạng các điều khoản cụ thể của hợp

đồng Dưới góc độ này, ý chí của các bên và sự thống nhất ý chí giữa các bên

thường được thể hiện dưới dạng các điều khoản cụ thể của hợp đồng Các điều khoản qui định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng lại được trình bày, thể hiện ra bên ngoài dưới những hình thức bằng lời nói, văn bản và

theo những thủ tục nhất định như công chứng, đăng ký gọi là hình thức bên ngoài của hợp đồng Pháp luật của hầu hết các nước khi qui định về hình thức

hợp đồng, chủ yếu là nói đến hình thức bên ngoài của hợp đồng Trong khoa

học pháp lý, hình thức của hợp đồng được định nghĩa là “cách thức thể hiện

sự thỏa thuận giữa các bên” [55, tr.363]

Nhìn từ vai trò của hình thức đối với sự tồn tại của hợp đồng, cho thấy hình thức hợp đồng là sự công bố ý chí của các bên tham gia hợp đồng, là cách thức để truyền đạt thông tin giữa các bên tham gia hợp đồng cũng như với người thứ ba về sự xác lập và tồn tại của hợp đồng đó Hình thức của hợp đồng cũng là phương tiện thể hiện nội dung cụ thể của hợp đồng Theo nghĩa

đó, hình thức hợp đồng bao gồm cả thể thức của hợp đồng và thủ tục tạo lập

hợp đồng Ví dụ: Hợp đồng bằng văn bản có thể được tạo lập bằng các thủ tục như: Văn bản không có người làm chứng, văn bản có người làm chứng, hoặc văn bản được lập theo thủ tục công chứng, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép

Trang 33

Để hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lập theo những hình thức được pháp luật thừa nhận Hình thức là một yếu tố pháp lý quan trọng của hợp đồng, có quan hệ biện chứng với bản chất, nội dung, giá trị hiệu lực, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, và là phương tiện để diễn đạt ý chí của các bên, cũng như để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng Người ta sẽ không biết đến sự tồn tại của hợp đồng, nếu nó không được thể hiện dưới một hình thức xác định

Với ý nghĩa đó, hình thức của hợp đồng được thừa nhận và quy định trong pháp luật của hầu hết các quốc gia [38, tr.177-83; 40, tr.64; 41, tr.73 -4], nhưng cách thể hiện và vai trò của yếu tố này trong pháp luật hợp đồng ở các quốc gia là không hoàn toàn giống nhau

Tóm lại, hình thức hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp

đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng [58]

1.2.3 Ý nghĩa của việc xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng là kết quả của sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên đồng thời là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Tuy nhiên không phải cứ có sự thỏa thuận thống nhất ý chí của các bên là có hợp đồng mua bán hàng hóa và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà nó còn phải là những thỏa thuận hợp pháp Tức là những thỏa thuận đó còn phải tuân theo những quy định của pháp luật thì mới có thể có giá trị pháp lý và trở thành căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ Vì vậy các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa có ý nghĩa pháp lý quan trọng, thể hiện:

- Tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao kết

Trang 34

Pháp luật quy định về các điều kiện để các chủ thể tham gia hợp đồng phải tuân theo, đồng thời quy định biện pháp chế tài nếu các bên tham gia không tuân thủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng mua bán hàng hóa có thể bị vô hiệu, các bên phải chịu hậu quả pháp luật bất lợi Quy định này tạo hành lang pháp lý an toàn cho các chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự Vì thế chế định pháp lý về hợp đồng, trong đó có các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đóng vai trò là công cụ pháp lý quan trọng bảo đảm an toàn cho các chủ thể nhằm thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt tiêu dùng của họ Bên cạnh đó còn góp phần nâng cao ý thức của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ hợp đồng, bởi lẽ họ ý thức được hậu quả pháp lý bất lợi của việc không tuân thủ các điều kiện do pháp luật quy định để bảo vệ cho chính mình và cho người khác

- Là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp hợp đồng

Ngày nay việc tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng xảy ra rất nhiều,

vì thế khi quy định về điều kiện của hợp đồng là một căn cứ pháp lý phát sinh không thể thiếu trong quá trình giải quyết các tranh chấp phát sinh Bởi lẽ bên cạnh những chứng cứ trực tiếp là những thỏa thuận của các bên, pháp luật cũng có những quy định cần thiết để bảo vệ lợi ích của các bên tham gia

- Góp phần ổn định quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng và quan hệ

xã hội nói chung

Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

có ý nghĩa quan trọng để cho các chủ thể khi tham gia quan hệ hợp đồng nghiêm túc thực hiện, tránh không vi phạm các quy định của nhà nước Nếu một trong các bên tham gia mà vi phạm các quy định đó thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu và phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi cho chính họ, bên có lỗi sẽ phải bồi thường Điều này có ý nghĩa khắc phục những thiệt hại do bên vi phạm gây ra

Trang 35

cho bên bị vi phạm, đồng thời còn tạo ra sự công bằng cho xã hội và cũng là lời cảnh cáo cho các bên chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự tạo thái độ nghiêm túc cho các chủ thể trong việc thực hiện các quy định của pháp luật nhằm tạo ra

sự ổn định trong giao lưu dân sự cũng như quan hệ thương mại góp phần ổn định quan hệ sở hữu

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Từ việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

+ Bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa là sự tự do cam kết, thỏa thuận giữa các bên nhằm thiết lập quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ dân sự cụ thể Hợp đồng mua bán hàng hóa không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dẫn đến việc hợp đồng mua bán hàng hóa đó bị vô hiệu Đó là các trường hợp:

- Không có tự nguyện trong giao kết hợp đồng của các bên Yếu tố tự nguyện là yếu tố cơ bản để xác lập quan hệ hợp đồng Điều này đòi hỏi các bên giao kết hợp đồng phải thể hiện ý chí trung thực của mình Mọi thỏa thuận không phản ánh đúng ý chí của các bên hoặc một bên ký kết hợp đồng đều có thể bị vô hiệu

- Chủ thể tham gia giao kết hợp đồng không có năng lực hành vi dân sự cần thiết để giao kết hợp đồng Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi người ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự để xác lập hợp đồng Chủ thể của hợp đồng có thể là pháp nhân hay cá nhân, đảm bảo các điều kiện mà pháp luật quy định cho từng loại chủ thể Người ký kết hợp đồng có thể tự mình đứng

ra ký kết hoặc thông qua người đại diện (đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền)

Trang 36

- Mục đích và nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Những hợp đồng được giao kết vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội gây thiệt hại cho Nhà nước, cho cộng đồng đều không có hiệu lực

- Hình thức của hợp đồng không phù hợp với quy định của pháp luật trong những trường hợp nhất định Hình thức của hợp đồng là phương thức biểu hiện nội dung của hợp đồng Đối với từng loại hợp đồng khác nhau pháp luật có thể quy định những hình thức ký kết hợp đồng tương ứng

+ Trên cơ sở vận dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp đề tài đã làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 37

những điều kiện cần và cũng là tiền đề pháp lý nhằm đảm bảo cho hợp đồng

được xác lập hợp pháp và có hiệu lực ràng buộc đối với các bên Các điều kiện bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực là những yêu cầu pháp lý phải được tuân thủ khi xác lập, giao kết hợp đồng mà nếu thiếu các điều kiện đó thì hợp đồng đương nhiên vô hiệu hoặc có thể bị vô hiệu Tuy cách tiếp cận vấn đề còn nhiều điểm khác nhau, nhưng hầu hết các hệ thống pháp luật trên thế giới đều xem các điều kiện về chủ thể, nội dung và ý chí tự nguyện của các bên tham gia hợp đồng là những yêu cầu pháp lý bắt buộc phải tuân thủ khi xác lập hợp đồng Chẳng hạn: Theo qui định trong BLDS Pháp, hợp đồng được thừa nhận là có hiệu lực thì phải thỏa mãn bốn điều kiện chủ yếu (Điều 1108): Các bên giao kết hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện (Điều 1109-2); các bên giao kết phải là người có năng lực (hành vi dân sự) để giao kết hợp đồng (Điều 1123-5); đối tượng và nội dung chủ yếu của hợp đồng phải xác định (Điều 1126-30); mục đích, căn cứ của hợp đồng phải hợp pháp (Điều 1131-3) [5]

BLDS Đức cũng có những qui định tương đồng với BLDS 2005 trong

việc qui định các điều kiện xác lập giao dịch: Về năng lực giao dịch pháp luật của cá nhân (Điều 104 – 10), không được thiếu yếu tố tự nguyện: nhầm lẫn (Điều 119.1), lừa dối (Điều 122), nội dung giao dịch không trái pháp luật và

đạo đức (Điều 138) [3]

Trang 38

Theo luật Anh – Mỹ, để có hiệu lực thì hợp đồng phải tuân thủ các yêu cầu: (i) có sự đề nghị; (ii) có sự chấp nhận đề nghị; (iii) lợi ích đối ứng (consideration); (iv) các bên phải có ý định thực sự muốn giao kết hợp đồng; (v) cam kết chắc chắn và sự thỏa thuận hoàn chỉnh; hoặc (vi) phải tuân thủ các qui định khác, như: Các bên phải có năng lực chủ thể để giao kết hợp đồng, không thiếu những yếu tố mà thiếu nó có thể làm cho hợp đồng bị vô hiệu, bị hủy bỏ, hoặc không có giá trị pháp lý Về nguyên tắc, một hợp đồng được lập thiếu một trong các điều kiện trên thì có thể bị xem là không có hiệu

lực Tuy vậy, trong một số trường hợp riêng biệt, các hợp đồng thiếu yếu tố đối ứng có thể được tòa án công nhận là có giá trị thực thi, vì một bên bị tước quyền hủy bỏ hợp đồng, do tòa án căn cứ vào thuyết không được rút lại lời nói hay hành vi đã cam kết (promissory estoppel)

Xuất phát từ bản chất của hợp đồng, pháp luật của Việt Nam đã qui

định hợp đồng phải tuân thủ các điều kiện bắt buộc Do Luật Thương mại

năm 2005 không có quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, trong khi về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hóa là một là hợp đồng, vì vậy có thể áp dụng những quy định về hợp đồng trong BLDS cho hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, tại Mục 7, Chương XV, Phần thứ Ba của BLDS năm 2015 cũng không quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, do vậy, với quy định tại Điều 116 BLDS năm 2015 thì có thể áp dụng những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự cho hợp đồng, theo đó, Điều

117 và 408 trong BLDS năm 2015, xác định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bao gồm: Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; các bên tham gia hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện; tuân thủ điều kiện về

Trang 39

hình thức của hợp đồng trong trường hợp pháp luật quy định Sau đây là các điều kiện cụ thể:

2.1 Điều kiện về chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Chủ thể của quan hệ hợp đồng là những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó Để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, pháp luật quy định chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định

Pháp luật Việt Nam qui định chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập [8, điểm a

khoản 1 Điều 117] Chủ thể tham gia giao dịch dân sự ở đây có thể hiểu theo nghĩa rộng là các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và các tổ chức khác không có tư cách pháp nhân Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa như đã phân tích ở trên chủ yếu là thương nhân, nghĩa là thương nhân là chủ thể bắt buộc một bên của hợp đồng, còn bên kia có thể là cá nhân, có thể là pháp nhân (một tổ chức tồn

tại theo một hình thức nhất định) Vì vậy xem xét điều kiện về năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia hợp đồng mua bán

hàng hóa cần xem xét tư cách chủ thể của từng loại chủ thể nói trên khi họ tham gia

Thương nhân có quyền hoạt động thương mại dưới các hình thức ngành nghề ở các địa bàn mà pháp luật không cấm và quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ

Ngày xưa, những người chuyên buôn bán hàng hóa, giao lưu thương mại tự do nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận được gọi là thương nhân hay thương gia

Trang 40

Ngày nay, thương nhân là chủ thể chủ yếu của của hợp đồng mua bán hàng hóa và được quy định khá chặt chẽ trong pháp luật thương mại Cụ thể,

tại khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005, quy định:“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” [22, khoản 1 Điều

6] Như vậy, để trở thành thương nhân theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam, các chủ thể phải có những điều kiện cần và đủ sau:

a) Thương nhân phải tồn tại dưới dạng cá nhân hoặc tổ chức kinh tế (pháp nhân) được thành lập hợp pháp

Cá nhân được hiểu là công dân Việt nam và công dân nước ngoài từ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không bị pháp luật cấm kinh doanh, thương mại Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp là những tổ chức kinh tế có đủ những điều kiện nhất định được pháp luật thành lập, thừa nhận và công nhận có khả năng tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Tuy nhiên không phải mọi tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp hoặc cá nhân nào cũng được pháp luật Việt Nam công nhận là thương nhân Để là thương nhân, các chủ thể nói trên phải mang các đặc điểm pháp lý khác…

b) Thương nhân phải thực hiện các hoạt động thương mại

Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, quy định: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”

Hoạt động thương mại trước hết là các hành vi mua bán hàng hóa, các hành vi mua bán hàng hóa có thể diễn ra trực tiếp giữa người mua và người bán hoặc cũng có thể thông qua hoạt động của người thứ ba, ví dụ: môi giới,

ủy thác… Hoạt động thương mại không chỉ là các hành vi mua bán hàng hóa

Ngày đăng: 03/09/2018, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w