Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau: - Nghiên cứu và phân tích một số vấn đề lý luận về quyền tác giả nói chung; - Nghiên cứu về vấn đề khai thác thươ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI CỦA QUYỀN TÁC GIẢ
- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ĐẶNG TRẦN ANH DŨNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả được nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn nêu trong Luận văn đảm bảo chính xác, trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Trần Anh Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Đăng Hiếu, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em thực hiện và hoàn thành luận văn Em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập tại Viện Đại học Mở Hà Nội
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Trần Anh Dũng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 1
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
6 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠICỦA QUYỀN TÁC GIẢ 4
1.1 Khái niệm Quyền tác giả và Khai thác thương mại quyền tác giả 4
1.1.1 Quyền tác giả 4
1.1.2 Khái niệm khai thác thương mại 39
1.1.3 Vai trò của hoạt động khai thác thương mại quyền tác giả 44
1.2 Các hình thức thương mại của quyền tác giả 45
1.2.1 Đối tượng để khai thác thương mại của quyền tác giả 45
1.2.2 Cách thức xác định giá trị của quyền tác giả 45
1.2.3 Các hình thức khai thác thương mại của quyền tác giả 47
1.3 Các hành vi xâm phạm và các biện pháp xử lý các hành vi xâm phạm khai thác thương mại quyền tác giả 55
1.3.1 Các loại xâm phạm khai thác thương mại quyền tác giả 55
1.3.2 Các phương thức xử lý xâm phạm khai thác thương mại quyền tác giả 59
Chương 2 THỰC TIỄN KHAI THÁC THƯƠNG MẠI QUYỀN TÁC GIẢTẠI VIỆT NAM - NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC 62
2.1 Thực tiễn khai thác thương mại quyền tác giả tại Việt Nam 62
2.1.1 Các hoạt động chuyển giao quyền tác giả tại Việt Nam 62
2.1.2 Hoạt động của các trung tâm khai thác thương mại quyền tác giả Việt Nam 63
2.2 Những bất cập trong khai thác thương mại quyền tác giả và hướng khắc phục 65
2.2.1 Những bất cập trong khai thác thương mại quyền tác giả 65
2.2.2 Các kiến nghị đề cập khắc phục những bất cập trong khai thác thương mại quyền tác giả 78
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học không chỉ làm phong phú đời sống tinh thần của con người mà còn góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và khoa học công nghệ Giá trị của quyền tác giả ngày càng được đề cao hơn trong bối cảnh công nghệ thông tin và công nghệ giải trí phát triển như hiện nay Những bài hát triệu đô, những bộ phim bom tấn hay những cuốn sách best seller không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho chính tác giả mà còn có thể mang lại lợi nhuận cho cả một công ty lớn Xuất phát từ vai trò, giá trị quan trọng đó, pháp luật quyền tác giả được hình thành nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể sáng tạo, thúc đẩy sáng tạo đồng thời khai thác hiệu quả các sản phẩm trí tuệ trong lĩnh vực này Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp nhằm khai thác một cách có hiệu quả các đối tượng của quyền tác giả là một vấn đề quan trọng Từ ý nghĩa đó, tác giả mong muốn tìm hiểu các quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến vấn
đề khai thác thương mại quyền tác giả cũng như thực tiễn của vấn đề này nhằm đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn
đề khai thác thương mại quyền tác giả ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kể từ khi ra đời Luật Sở hữu trí tuệ đến nay, vấn đề bảo hộ quyền tác giả đã nhận được sự quan tâm đúng mực, trở thành đối tượng nghiên cứu của không ít các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học ở rất nhiều trường đại học khác nhau Đồng thời, khi nghiên cứu về các hoạt động thương mại cũng đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu của một số tác giả Nhưng vẫn chưa có bất kỳ một đề tài nghiên cứu nào có được cái nhìn tổng quan, toàn diện về vấn đề khai thác thương mại quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, đặt ra những yêu cầu hoàn thiện pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam
Trang 7trong điều kiện hội nhập toàn cầu Do vậy, tác giả đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về việc khai thác thương mại quyền tác giả tại Việt Nam hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu khoa học này chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến việc khai thác thương mại quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời có dẫn chiếu và phân tích các quy định của các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền tác giả nói chung và khai thác thương mại đối với quyền tác giả nói riêng Bên cạnh đó, đề tài cũng xem xét thực trạng khai thác thương mại quyền tác giả ở Việt Nam trong thời gian qua và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa vấn đề khai thác thương mại quyền tác giả
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác-Lênin, đề tài đã sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính gồm phân tích, tổng hợp và so sánh, trong đó phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng chủ yếu Phương pháp phân tích được sử dụng chủ yếu để phân tích các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật, tìm ra mối liên hệ từ quy định pháp luật đến thực tiễn thi hành các quy định này trên thực tế ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, phương pháp tổng hợp giúp xác định, đưa ra các đánh giá, kết luận về những vấn đề liên quan đến
đề tài nghiên cứu Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu để phát hiện những điểm giống và khác nhau giữa quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế, so sánh hiệu quả thực thi pháp luật giữa các quốc gia, từ đó đưa ra giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam
Ngoài ra, để hỗ trợ việc nghiên cứu, đề tài cũng có sử dụng phương pháp thống kê các số liệu trên thực tế nhằm tổng hợp những thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, qua đó chứng minh cho các nhận định được đề cập đến trong đề tài này
Trang 85 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam về khai thác thương mại đối với quyền tác giả, mang đến cho người đọc những kiến thức pháp lý
cơ bản về vấn đề này; nghiên cứu thực tiễn thực thi các quy định pháp luật này để từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề khai thác thương mại quyền tác giả
Để đạt được mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu và phân tích một số vấn đề lý luận về quyền tác giả nói chung;
- Nghiên cứu về vấn đề khai thác thương mại quyền tác giả, sự khác biệt giữa việc khai thác thương mại đối với quyền tác giả và các hoạt động khai thác phi thương mại khác;
- Phân tích những nội dung cơ bản về khai thác thương mại quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam, từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học cho việc ban hành pháp luật và thực thi pháp luật ở Việt Nam liên quan đến vấn đề này;
- Tìm hiểu thực trạng khai thác thương mại quyền tác giả ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, những thành tựu đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của các hạn chế đó, từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục cũng như những phương hướng hoàn thiện pháp luật về khai thác thương mại quyền tác giả ở Việt Nam
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết Luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu được kết cấu bởi 2 chương:
- Những bất cập và hướng khắc phục
Trang 9Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHÍA CẠNH THƯƠNG MẠI
CỦA QUYỀN TÁC GIẢ 1.1 Khái niệm Quyền tác giả và Khai thác thương mại quyền tác giả
1.1.1 Quyền tác giả
1.1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của pháp luật quyền tác giả trên thế giới
Nhu cầu quản lý đối với quyền tác giả đã xuất hiện từ khi con người có những sáng tạo đầu tiên về văn học, nghệ thuật, khoa học; tuy nhiên bước chuyển mình lớn nhất, kích thích nhu cầu đối với luật quyền tác giả là khi những chiếc máy in đầu tiên của Johannes Gutenberg xuất hiện Vào những năm 1440, công nghệ in ấn ra đời, việc nhân bản những sản phẩm trí tuệ của con người diễn ra dễ dàng và nhanh chóng hơn, tác giả khi cho phép xuất bản sáng tạo của mình sẽ nhận được một số tiền từ nhà in hay nhà xuất bản nhưng cùng với đó thì họ cũng dần dần mất đi sự quản lý, kiểm soát với tác phẩm
Từ đó, yêu cầu phải quản lý, bảo vệ quyền tác giả đối với tác phẩm một cách sát sao hơn tất yếu được đặt ra Sự xuất hiện của những nhà in lậu tạo ra một thách thức lớn cho việc kinh doanh của nhà in đầu tiên- người đã bỏ ra một khoản tiền bạc cũng như công sức lớn cho việc trả tiền cho tác giả, cho công nghệ in ấn và lương cho công nhân khi đầu tư sức lao động; ngoài ra, những cuốn sách in lậu thường có lỗi hay bị sửa chữa làm xâm phạm đến sáng tạo nguyên gốc của tác giả Chính vì lẽ đó, các tác giả cũng như các nhà in đã cùng nhau kiến nghị chính quyền ban cho họ một đặc quyền để chống lại nạn
in lại, in lậu của các nhà in khác, bảo hộ quyền in ấn và quản lý in ấn, xuất bản: Cấm in lại tác phẩm trong một thời gian nhất định Đặc quyền này của tác giả và nhà in gắn liền với lợi ích văn hoá của quốc gia cũng như nhà cầm quyền của chính quốc gia đó - bảo hộ và tạo ảnh hưởng lên những sáng tạo trong phạm vi lãnh địa của mình Những kiến nghị của tác giả và nhà in đạt
Trang 10được sự chấp thuận và thành công đầu tiên ở Pháp - nơi chế độ chuyên chế được hình thành từ rất sớm, nhu cầu quản lý của chính quyền đối với tác phẩm cũng phát sinh đồng thời với sự ra đời của chế độ nhà nước
Bước phát triển đầu tiên của quyền tác giả trong hệ thống thông luật xuất phát từ phán quyết của Toà án Anh quốc về đặc quyền in ấn Điều lệ Ann (1710) lần đầu trao quyền in ấn, độc quyền sao chép một tác phẩm cho tác giả của nó Tuy nhiên, những quyền lợi mà điều lệ Ann đặt ra cho tác giả khi ở trong hoàn cảnh xã hội ấy có vẻ chưa phát huy được tác dụng Công nghệ in
ấn và hệ thống phân phối khi đó rất đắt đỏ, chưa hề có các thư viện công cộng, tác giả hầu như không có lựa chọn nào khác ngoài ký kết chuyển giao một số quyền của mình cho nhà in để tác phẩm được xuất bản đến công chúng, việc coi những sáng tạo như một loại tài sản để định giá thực chất chỉ
có ý nghĩa với nhà xuất bản, đảm bảo lợi thể độc quyền trong in ấn, chứ ít có giá trị với người sáng tạo Tuy nhiên, sau một thời gian quy định trước, những quyền này lại trở về tay của tác giả
Song song với hệ thống thông luật, vấn đề quyền tác giả trong hệ thống dân luật được phát sinh từ cuộc Cách mạng Pháp 1789, với cách tiếp cận từ các quyền tự nhiên, quyền đối với tác phẩm là loại quyền đặc biệt của cá nhân tác giả - người đã có những lao động tư duy để sáng tạo ra tác phẩm
Nước đầu tiên ban hành luật về quyền tác giả là Anh (1710) rồi sau đó
là Mỹ (1790), Pháp (1791) và Đức (1837) Như vậy, quyền tác giả phát sinh theo những nước theo hệ thống luật Anh- Mỹ trước rồi mới đến các nước theo
hệ thống luật lục địa
1.1.1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật quyền tác giả ở Việt Nam
Tư tưởng bảo hộ quyền của tác giả đối với những sáng tạo tư duy đã được ghi nhận từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Hiến pháp 1946 với những quyền cơ bản của công dân có liên
Trang 11quan đến quyền tác giả: quyền tự do ngôn luận, quyền tự do xuất bản, quyền
tư hữu tài sản (bao gồm cả tài sản trí tuệ) Theo đó Nhà nước nắm giữ quyền lực chung, cam kết bảo vệ quyền lợi tri thức, sáng tạo tinh thần của công dân
Tư tưởng này được tiếp nối và phát huy như một tư tưởng xuyên suốt và chủ đạo qua các bản Hiến pháp Việt Nam từ 1959, 1980, 1992 và 2013
Nghị định 142/HĐBT năm 1986 với sự giúp đỡ của hãng VAB (Hãng bảo hộ quyền tác giả Liên Xô cũ) là văn bản riêng biệt đầu tiên trong hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tác giả với những quyền cơ bản nhất, chung nhất để bảo vệ cho người sáng tạo với tác phẩm của mình được ban hành
Ngày 28/10/1995 tại kỳ họp thứ 8 khoá IX, Quốc hội biểu quyết thông qua Bộ luật dân sự 1995 với 36 Điều quy định riêng về quyền tác giả tại Chương I của Phần thứ 6, điều chỉnh quyền của người sáng tác trong phạm vi quan hệ pháp luật dân sự
Năm 2005 là một cột mốc quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ nước ta Ngày 14/6/2005 tại kỳ họp thứ
7 Quốc hội khoá XI, Bộ luật dân sự 2005 được thông qua với những quy định
về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ tại phần thứ 6 với ba chương, từ Điều 736 đến 757 Bên cạnh đó, tại kì họp thứ 8 khóa XI ngày 29/11/2005, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ với 222 điều, đặt ra những quy định bảo hộ sản phẩm trí tuệ đối với ba đối tượng sau: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng Lần đầu tiên quy định về quyền của tác giả với sản phẩm sáng tạo của mình được ghi nhận thành một “Luật” riêng biệt Bộ luật dân sự và Luật Sở hữu trí tuệ đã pháp điển hoá những quy định về quyền tác giả trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ…trong
đó bảo đảm quyền tự do dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật, phát huy những tư tưởng văn hoá, văn học, lịch sử Tuy vậy, trong quá trình thực thi, Luật sở
Trang 12hữu trí tuệ 2005 đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, không phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại, của quốc gia và quốc tế, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sở hữu trí tuệ tại kì họp thứ 5 ngày 19/6/2009 với 33 điều sửa đổi, bổ sung
Ngoài ra, Pháp luật chuyên ngành điều chỉnh các lĩnh vực trong đời sống có liên quan đến quyền tác giả cũng có những cơ chế pháp lý vững chắc cho bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ - quyền tác giả trong lĩnh vực mình như Luật Xuất bản, Luật Quảng cáo, Luật Báo chí, Luật Điện ảnh… Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật hành- hình- dân cũng đã hình thành, bảo hộ quyền tác giả bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước: Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012,
Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009…
1.1.1.3 Một số điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam tham gia
Nhu cầu được bảo hộ tài sản trí tuệ của người sáng tạo không chỉ giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà người đó là công dân, họ còn có mong muốn tác phẩm của mình được bảo hộ ở cả những quốc gia, vùng lãnh thổ khác để đảm bảo tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của mình Để bảo vệ quyền của công dân quốc gia mình cũng như bảo vệ quyền sở hữu tài sản trí tuệ với tác phẩm hình thành trên lãnh thổ mình trước quốc tế, Việt Nam đã ký kết và tham gia một số điều ước quốc tế song phương cũng như đa phương với các quốc gia hữu quan trong lĩnh vực quyền tác giả
* Các điều ước quốc tế đa phương
Tính từ năm 2004 cho đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã là thành viên của 5 hiệp ước quốc tế đa phương về quyền tác giả, quyền liên quan như sau:
Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật
Công ước Berne có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày 26/10/2004, có 165 quốc gia thành viên (tính đến năm 2012) Các quốc gia thành viên khi tham gia ký kết hiệp ước này được đảm bảo điều chỉnh lợi ích bởi ba nguyên tắc:
Trang 13- Nguyên tắc đối xử quốc gia có cột lõi là sự bảo hộ công bằng giữa tác giả trong nước và tác giả nước ngoài, tác phẩm trong nước và tác phẩm ngoài nước, theo đó đặt ra cho các quốc gia thành viên thực hiện bảo hộ tác phẩm có nguồn gốc từ các quốc gia thành viên khác tương tự như sự bảo hộ tác phẩm của công dân quốc gia mình, bảo đảm sự bình đẳng trong đối xử với công dân
và pháp nhân của các quốc gia thành viên Nguyên tắc này được quy định chi tiết tại Khoản 1 Điều 5 Công ước Berne
- Nguyên tắc bảo hộ đương nhiên quy định tại Khoản 2 Điều 5 Công ước Berne, là sự bảo hộ không lệ thuộc vào bất kì thể thức, thủ tục nào, khi tác phẩm được hình thành dưới dạng một vật chất nhất định thì quyền của tác giả cũng tất yếu phát sinh mà không cần phải thông qua bất kỳ thủ tục nào như là thủ tục đăng kí cấp giấy chứng nhận, việc nộp lưu chiểu, hoặc các thủ tục tương tự khác
- Nguyên tắc độc lập bảo hộ (Khoản 3 Điều 5): nêu yêu cầu cho các quốc gia thành viên việc bảo hộ để công dân và các pháp nhân được hưởng và thực thi các quyền được cấp theo Công ước là độc lập với những gì được hưởng tại nước xuất xứ của tác phẩm.Việc bảo hộ quyền tác giả cho một tác phẩm nước ngoài trên một quốc gia không phải nơi xuất xứ tác phẩm hoàn toàn phụ thuộc vào luật thực định của quốc gia đó
Công ước cũng đưa ra những quy định về bảo hộ tối thiểu, chuẩn mực chung, áp dụng tại mọi quốc gia thành viên, được thể hiện tại các quy định của Công ước, đặc biệt là quy định về các quyền của tác giả và thời hạn bảo hộ
Bên cạnh đó, Công ước Berne cũng mở rộng quyền cho các quốc gia thành viên nhưng những quyền được bảo hộ ở quốc gia đó không được trái với Công ước; các nước thành viên cũng có thể ký kết với nhau những hiệp định riêng biệt để mở rộng quyền cho tác giả nhưng không được trái với Công
Trang 14ước chung; Ngoài ra, Công ước cũng mang đến những ưu đãi đặc biệt cho các quốc gia thành viên là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, tạo điều kiện hội nhập quốc tế cho các quốc gia này: trong một số trường hợp đặc biệt, công dân các nước thành viên có thể tự dịch và sao chép các tác phẩm
mà không cần có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả: phục vụ mục đích học tập, giảng dạy và nghiên cứu tuy nhiên phải tuân thủ theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ và phải đảm bảo những nghĩa vụ với quyền tác giả Những ưu đãi này có giá trị với Việt Nam đến hết năm 2014 Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển nên vẫn được hưởng những ưu đãi này bằng việc gia hạn “thêm 10 năm tiếp theo, bằng một thông báo gửi cho Tổng giám đốc không quá 15 tháng nhưng không
ít hơn 3 tháng trước khi hết hạn 10 năm hiện hành” Những ưu đãi này có ý nghĩa to lớn với công dân nói riêng và quốc gia Việt Nam nói chung trong việc tiếp cận thông tin trước sự bảo hộ bản quyền vô cùng nghiêm ngặt ở thời điểm hiện nay
Công ước Brussels về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh
Công ước Brussels có hiệu lực tại Việt Nam ngày 12/1/2006, có 35 quốc gia thành viên (Tính đến năm 2012) Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp thích đáng, để ngăn chặn việc phân phối không được phép trên lãnh thổ của nước mình các tín hiệu mang chương trình được truyền qua vệ tinh Việc phân phối sẽ là bất hợp pháp khi không được tổ chức phát sóng giữ vai trò quyết định chương trình phát sóng cấp phép Nghĩa vụ xin phép là bắt buộc của tổ chức mang quốc tịch của các quốc gia thành viên Tuy nhiên, các quy định của Công ước không áp dụng đối với việc phân phối các tín hiệu được thực hiện từ vệ tinh phát sóng trực tiếp
Trang 15Công ước Geneva về bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm chống lại việc sao chép trái phép bản ghi âm của họ
Công ước Geneva có hiệu lực tại Việt Nam ngày 6/7/2005, có 77 quốc gia thành viên (tính đến năm 2012) Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên về việc bảo hộ các nhà sản xuất bản ghi âm mang quốc tịch của các quốc gia thành viên khác, chống lại việc làm bản sao và việc nhập khẩu các bản sao nhằm mục đích phân phối công cộng, việc phân phối các bản sao tới công chúng không được sự đồng ý của nhà sản xuất
Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi
Hiệp định Trips về những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
Hiệp định có hiệu lực tại Việt Nam ngày 11/1/200, có 157 quốc gia thành viên (tính đến năm 2012)
Đối tượng điều chỉnh của Hiệp định này gồm: quyền tác giả và quyền liên quan, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lí, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bí mật và kiểm soát các hoạt động chống cạnh tranh không lành mạnh
Trang 16Hiệp định áp dụng các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế về
sở hữu trí tuệ với các quốc gia thành viên, đặc biệt là quy chế đối xử tối huệ quốc và đối xử công dân Hiệp định cũng trình bày những tiêu chuẩn liên quan đến việc có bảo hộ, phạm vi và việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với những đối tượng của quyền này Hiệp định Trips cũng đặt ra những ưu đãi tích cực cho các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam khi gia nhập
“thành viên là nước đang phát triển được quyền hoãn thời hạn thi hành các quy định của Thoả thuận này trừ các Điều 3, 4 và 5 thêm 4 năm so với thời hạn xác định tại Khoản 1” (Khoản 2 Điều 65 Hiệp định Trips) và “thành viên
là nước phát triển phải dành hợp tác về kỹ thuật và tài chính cho những thành viên là nước đang phát triển và kém phát triển… bao gồm cả sự trợ giúp trong việc chuẩn bị luật và quy định quốc gia về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như việc ngăn ngừa sự lạm dụng các quyền đó và hỗ trợ việc thành lập và củng cố các cơ quan và tổ chức trong nước liên quan đến các vấn đề đó bao gồm đào tạo nhân lực” (Điều 67) Ký kết Trips là một bước tiến quan trong trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng của Việt Nam, giúp nước ta có được những sự hỗ trợ nhân lực, vật lực từ phía quốc tế để hoàn thiên pháp luật sở hữu trí tuệ
* Các điều ước quốc tế song phương
- Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và Chính phủ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả (BCA), có hiệu lực ngày 23/12/1998
- Hiệp định giữa Chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Thuỵ Sỹ về bảo hộ Sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực ngày 8/6/2000;
- Hiệp định Thương mại giữa Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, có hiệu lực ngày 11/12/2001
Trang 17Như vậy, các cam kết tại các điều ước quốc tế đã tạo ra cơ sở pháp lý
về việc hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ cho các nước thành viên, đem lại những tác động tích cực song cũng có những thách thức nhất định bắt nguồn
từ điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay
1.1.1.4 Quy định về quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam
* Khái niệm quyền tác giả
Quyền tác giả theo pháp luật Việt Nam được ghi nhận tại Khoản 2 Điều
4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi, bổ sung 2009 với nội dung như sau:
“Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”
Như vậy, quyền tác giả là tổng hợp các quy phạm pháp luật ghi nhận và bảo vệ quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc do mình sở hữu; đồng thời đặt ra nghĩa vụ đối với các chủ thể trong việc sáng tạo, khai thác, sử dụng những giá trị văn hoá- nghệ thuật- khoa học đó
Quyền tác giả được coi là một độc quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đảm bảo cho việc khai thác duy nhất tác phẩm, giúp họ bảo vệ tác phẩm của mình tránh khỏi sự xâm hại, sao chép, sử dụng bất hợp pháp từ phía các cá nhân, tổ chức khác Nói chung lại, quyền tác giả là chế định pháp luật bảo hộ các quyền lợi cá nhân cũng như quyền lợi kinh tế của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với việc sáng tạo, khai thác, sử dụng công trình văn hoá- nghệ thuật do mình tạo ra hoặc sở hữu Sở dĩ pháp luật nước ta sử dụng thuật ngữ “quyền tác giả” là do xuất phát từ quan điểm gắn chặt mối quan hệ giữa tác giả với tác phẩm, chú trọng đến việc bảo hộ quyền của tác giả, đặc biệt là các quyền nhân thân của người sáng tạo ra tác phẩm Ngược lại, song song với hệ thống luật châu Âu lục địa là hệ thống pháp luật Anh- Mỹ lại chú trọng đến khía cạnh thương mại, nhấn mạnh vào hành vi sao chép, khai thác
Trang 18tác phẩm, chủ yếu quan tâm vào giá trị kinh tế - quyền tài sản mà một tác phẩm mang lại cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền nhân thân của tác giả với sáng tạo của mình trở thành thứ yếu, ít được chú ý hơn trong hệ thống luật này
* Đặc trưng của quyền tác giả
Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, vì vậy nó mang đầy đủ đặc trưng của quyền sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu trí tuệ có đối tượng
là một loại tài sản đặc biệt - tài sản vô hình, phi vật thể, con người không thể cầm, nắm hay trao đổi thứ tài sản đó; con người chỉ được tiếp cận quyền tác giả khi nó được kết tinh và thể hiện ra dưới một hình thức cụ thể: bài văn, bài thơ hay một bản nhạc… Do vậy, vấn đề đặt ra với quyền tác giả không còn là
ai có quyền chiếm hữu nó nữa mà là ai là người có quyền khai thác, sử dụng, sao chép, nhân bản nó
Ngoài những đặc điểm chung như là một quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả còn mang những đặc trưng khác biệt như sau:
- Đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học Tác phẩm là thành quả của quá trình lao động trí óc, sáng tạo những giá trị văn hoá- tinh thần của người nghệ sĩ, chỉ khi sản phẩm tạo ra là kết tinh của trí tuệ của chính tác giả, không phải là sự sao chép lại từ bất kỳ sáng tạo nào khác thì tác giả đó sẽ có quyền với tác phẩm của mình
- Quyền tác giả thiên về việc bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm
Pháp luật Sở hữu trí tuệ chỉ bảo hộ hình thức mà không bảo hộ nội dung của tác phẩm Nói cách khác, quyền tác giả không được bảo hộ khi nó chỉ là một ý tưởng bởi không hề có một căn cứ cụ thể để công nhận và bảo hộ một điều chưa được bộc lộ ra bên ngoài, quyền tác giả với những ý tưởng về
Trang 19văn học, nghệ thuật và khoa học được giới hạn trong phạm vi hình thức thể hiện của nó dù được định hình ở bất kì dạng vật chất nào: lời nói, chữ viết, âm thanh, đường nét…
- Hình thức xác lập quyền theo cơ chế bảo hộ tự động
Quyền tác giả được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc vào trình tự, thủ tục nào mà pháp luật quy định, quyền tác giả không bị giới hạn bởi bất cứ chế định pháp luật nào về việc phải đăng ký để được bảo hộ Ngược lại, quyền sở hữu công nghiệp lại được xác lập dựa theo cơ chế cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu các đối tượng đó
- Quyền tác giả không được bảo hộ một cách tuyệt đối
Pháp luật Sở hữu trí tuệ cũng ban hành những ngoại lệ đối với việc cá nhân, tổ chức được phép sử dụng tác phẩm của người khác nếu việc sử dụng
đó không nhằm mục đích kinh doanh, ảnh hưởng đến việc sử dụng, khai thác bình thường của tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp khác của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả
* Đối tượng quyền tác giả: Tác phẩm
a) Khái niệm tác phẩm
Theo quy định tại Khoản 7 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì “Tác phẩm là
sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào”
Qua khái niệm trên chúng ta có thể thấy tác phẩm là sản phẩm sáng tạo của con người Chúng thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học - những lĩnh vực phục vụ chủ yếu cho đời sống tinh thần của con người Và những tác phẩm đều phải được thể hiện bằng một hình thức hay một phương tiện nhất định để có thể truyền tải nội dung nghệ thuật đến công chúng như tác phẩm văn học phải được thể hiện dưới hình thức chữ viết hoặc ký tự
Pháp luật cũng có quy định về các loại hình tác phẩm được bảo hộ theo quy định của pháp luật (Công ước Berne; Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ; và Nghị định 100/2006/NĐ-CP) bao gồm:
Trang 20+ Tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc kí tự khác như tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí, thơ, kịch bản, công trình nghiên cứu khoa học… Ví dụ tiểu thuyết Tuổi thơ
dữ dội của Phùng Quán, truyện ngắn Lão Hạc của nhà văn Nam Cao…
Ngoài ra, tác phẩm được bảo hộ còn bao gồm các tác phẩm được thể hiện bằng các kí hiệu thay cho chữ viết như chữ nổi cho người khiếm thị, ký hiệu tốc ký và các ký hiệu tương tự khác mà các đối tượng tiếp cận có thể sao chép được bằng nhiều hình thức khác nhau
+ Các bài giảng, bài phát biểu và các bài nói khác được thể hiện bằng ngôn ngữ nói và phải được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định Trong trường hợp tác giả tự thực hiện việc định hình bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình thì tác giả được hưởng quyền đối với bài giảng, bài phát biểu, bài nói khác, đồng thời là chủ sở hữu quyền đối với bản ghi âm, ghi hình
+ Tác phẩm báo chí bao gồm các thể loại như phóng sự, ghi nhanh, tường thuật, phỏng vấn, phản ánh, điều tra, bình luận, xã luận, chuyên luận,
ký báo chí và các thể loại báo chí khác nhằm đăng, phát trên báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử hoặc các phương tiện khác
+ Tác phẩm âm nhạc: Là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn
+ Tác phẩm sân khấu: Là tác phẩm thuộc các loại hình nghệ thuật biểu diễn, bao gồm kịch (kịch nói, nhạc vũ kịch, ca kịch, kịch câm), xiếc, múa, múa rối và các loại hình tác phẩm sân khấu khác Ví dụ: Tác phẩm Hồn Chương Ba Da Hàng Thịt của Lưu Quang Vũ
+ Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự: là những tác phẩm được hợp thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo
Trang 21nên hiệu ứng chuyển động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên chất liệu nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới công chúng bằng các thiết bị kỹ thuật, công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt hình và các loại hình tương tự khác
Ví dụ: tác phẩm Cánh đồng bất tận của Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất
+ Tác phẩm tạo hình, mỹ thuật ứng dụng:
Tác phẩm tạo hình là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục như: hội hoạ, đồ hoạ, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức thể hiện tương tự, tồn tại dưới dạng độc bản Riêng đối với loại hình
đồ hoạ, có thể được thể hiện tới phiên bản thứ 50, được đánh số thứ tự có chữ
ký của tác giả
Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng là tác phẩm được thể hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích có thể gắn liền với một đồ vật hữu ích, được sản xuất hàng loạt bằng tay hoặc bằng máy như: biểu trưng; hàng thủ công mỹ nghệ; hình thức thể hiện trên sản phẩm, bao bì sản phẩm + Tác phẩm nhiếp ảnh: Là tác phẩm thể hiện hình ảnh của thế giới khách quan trên vật liệu bắt sáng hoặc trên phương tiện mà hình ảnh được tạo
ra hay có thể được tạo ra bằng bất cứ phương pháp kỹ thuật nào (hóa học, điện tử hoặc phương pháp khác) Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh hay tương tự như điện ảnh không được coi là tác phẩm nhiếp ảnh mà
là một phần của tác phẩm điện ảnh đó
+ Tác phẩm kiến trúc: là các bản vẽ thiết kế dưới bất kỳ hình thức nào thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình xây dựng, quy hoạch không gian (quy hoạch xây dựng) đã hoặc chưa xây dựng Tác phẩm kiến trúc bao gồm các bản vẽ thiết kế về mặt bằng, mặt đứng, mặt cắt, phối cảnh, thể hiện ý tưởng sáng tạo về ngôi nhà, công trình, tổ hợp công trình kiến trúc, tổ chức
Trang 22không gian, kiến trúc cảnh quan của một vùng, một đô thị, hệ thống đô thị, khu chức năng đô thị, khu dân cư nông thôn
Mô hình, sa bàn về ngôi nhà, công trình xây dựng hoặc quy hoạch không gian được coi là tác phẩm kiến trúc độc lập
+ Bản họa đồ, sơ đồ, bản đồ, bản vẽ liên quan đến địa hình, kiến trúc, công trình khoa học
+ Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền thống của một nhóm hoặc các cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng, thể hiện tương xứng đặc điểm văn hoá và xã hội của họ, các tiêu chuẩn và giá trị được lưu truyền bằng cách mô phỏng hoặc bằng cách khác Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian bao gồm:
• Các loại hình nghệ thuật ngôn từ như truyện tiếu lâm, ngụ ngôn, sử thi, thần thoại, truyền thuyết, giai thoại, thơ, ca dao, tục ngữ, câu đố và các hình thức thể hiện tương tự khác;
• Các loại hình nghệ thuật biểu diễn như tuồng, chèo, cải lương, điệu hát, làn điệu âm nhạc; điệu múa, vở diễn, trò chơi dân gian, hội làng, các hình thức nghi lễ dân gian và các hình thức thể hiện tương tự khác
• Các loại hình nghệ thuật tạo hình như đồ họa, hội họa, điêu khắc, nhạc cụ; hình mẫu kiến trúc và các loại hình nghệ thuật khác được thể hiện dưới bất kỳ hình thức vật chất nào
+ Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu: Một hoặc một nhóm chương trình được biểu hiện dưới dạng chuỗi lệnh viết theo ngôn ngữ lập trình nhất định để chỉ dẫn cho máy tính thực hiện những công việc nhất định hoặc đạt được kết quả cụ thể Hình thức: văn bản, đĩa mềm, đĩa CD-ROM;
Sưu tập dữ liệu là tập hợp có tính sáng tạo thể hiện ở sự tuyển chọn, sắp xếp các dữ liệu dưới dạng điện tử hoặc dạng khác
Bên cạnh quy định về đối tượng bảo hộ, pháp luật còn quy định về đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả nhằm tạo điều kiện dễ dàng
Trang 23hơn cho công chúng trong việc tiếp cận các đối tượng này cũng như đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân trong việc tiếp cận thông tin, tri thức liên quan đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế và an ninh, quốc phòng của quốc gia
Điều 15 Luật SHTT và hướng dẫn tại Điều 21 Nghị định
100/2006/NĐ-CP có quy định các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả:
- Thứ nhất là tin tức thời sự thuần túy đưa tin là các thông tin báo chí ngắn hàng ngày, chỉ mang tính chất đưa tin không có tính sáng tạo Ví dụ: Từ đầu năm đến ngày 13/09/2017, cả nước ghi nhận 124.986 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 29 trường hợp tử vong, trong đó, số trường hợp nhập viện là hơn 105.300 trường hợp
- Thứ hai là văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó Theo đó, Nghị định 100/2006/NĐ-CP có hướng dẫn cụ thể: văn bản hành chính quy định tại khoản 2 Điều 15 của Luật Sở hữu trí tuệ bao gồm văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn
vị vũ trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của pháp luật
- Thứ ba là quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu
b) Phân loại tác phẩm
• Dựa theo lĩnh vực sáng tạo
- Tác phẩm văn học: Là kết quả của lao động sáng tạo trong lĩnh vực văn học được thể hiện dưới hình thức hay phương thức bất kì với thể loại nhất định như bài thơ, tập truyện ngắn, tiểu thuyết
- Tác phẩm nghệ thuật: Là kết quả của hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật được thể hiện thông qua vật thể dưới hình thức nhất định: tác phẩm điêu khắc, tác phẩm hội họa, tác phẩm âm nhạc…
Trang 24- Tác phẩm khoa học: là kết quả của hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, chính trị… bao gồm các bài viết, công trình nghiên cứu
• Dựa vào nguồn gốc hình thành tác phẩm:
- Tác phẩm gốc (Nguyên sinh): Là tác phẩm do tác giả sáng tạo ra lần đầu tiên với nội dung và hình thức thể hiện không trùng lặp với tác phẩm khác Trong Luật Sở hữu trí tuệ hiện nay chưa có khái niệm về tác phẩm gốc,
mà chỉ có khái niệm về tác phẩm phái sinh Về thuật ngữ “gốc”chúng ta có
thể hiểu theo 3 nghĩa:
(i) Tính nguyên gốc của tác phẩm, tức là tác phẩm phải được tạo ra lần đầu tiên;
(ii) Bản gốc của tác phẩm theo nghĩa hữu hình là “là bản được tồn tại dưới
dạng vật chất mà trên đó việc sáng tạo tác phẩm được định hình lần đầu tiên”1;
(iii) Bản gốc của tác phẩm theo nghĩa vô hình Theo định nghĩa về
“original” - “gốc” của từ điển Oxford thì có thể hiểu “original works” là
những tác phẩm mà có tính mới tạo nên sự khác biệt so với những cái đã từng tồn tại trước đó, do tác giả sáng tạo ra chứ không phải là sự sao chép (copy) từ người khác2 Bản gốc của tác phẩm theo nghĩa vô hình dùng để phân biệt với các bản sao của tác phẩm Theo nghĩa vô hình này thì bản gốc có thể tồn tại ở nhiều bản3 Theo cách hiểu này, “tác phẩm gốc” là một tác phẩm được sử dụng để sáng tạo ra “tác phẩm phái sinh” (derivative work) Từ một tác phẩm
gốc có thể sáng tạo ra một/nhiều tác phẩm phái sinh với các dạng khác nhau
Hiểu một cách chung nhất, tác phẩm gốc là tác phẩm được tạo ra lần đầu tiên với nội dung và hình thức thể hiện không trùng lặp với tác phẩm
1 Khoản 3 Điều 4 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
2 Theo từ điển Oxford thì “Original” có nghĩa là:
1 new and interesting in a way that is different from anything that has existed before
2 painted, written, etc by the artist rather than copied
3 Xin tham khảo thêm: TS Trần Văn Hải, CN Hoàng Lan Phương, CN Hoàng Thị Hải Yến: “Khai thác tài liệu gốc trong việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ”
Trang 25khác4 Tác phẩm gốc phải do tác giả sáng tạo lần đầu tiên một cách độc lập, không dựa trên những tác phẩm đã có của người khác
- Tác phẩm phái sinh: là tác phẩm được dựa trên một hoặc nhiều tác phẩm gốc đã có, thay đổi hình thức diễn đạt, loại hình biểu diễn hoặc ngôn ngữ trình bày nội dung tác phẩm để tạo ra một tác phẩm mới:
+ Tác phẩm dịch: là tác phẩm chuyển tải trung thực nội dung của một tác phẩm từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác Ví dụ tác phẩm “Cuốn theo chiều gió” của tác giả Dương Tưởng dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt tác phẩm “Gone with the wind” của Margaret Mitchell
+ Tác phẩm phóng tác: Là tác phẩm phỏng theo một tác phẩm đã có nhưng có sự sáng tạo về nội dung, tư tưởng… làm cho nó mang sắc thái hoàn toàn mới Ví dụ như tác phẩm Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du là tác phẩm phóng tác từ tác phẩm Kim Vân Kiều của Thanh Tâm
+ Tác phẩm cải biên: Là tác phẩm có sự thay đổi về hình thức diễn đạt so với tác phẩm gốc Ví dụ: Nhạc sĩ Đỗ Nhuận cải biên làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh thành tác phẩm trồng cây lại nhớ đến Người
+ Tác phẩm chuyển thể: Là tác phẩm được sáng tạo trên nội dung tác phẩm gốc nhưng có sự thay đổi về loại hình nghệ thuật Ví dụ bộ phim
“Cánh đồng hoang” của đạo diễn Hồng Sến là tác phẩm chuyển thể từ Cánh đồng hoang của Nguyễn Quang Sáng Bộ phim “Tướng về hưu” của đạo diễn Khắc Lợi là tác phẩm chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
+ Tác phẩm biên soạn: là tác phẩm được tạo ra trên cơ sở thu thập, chọn lọc nhiều tài liệu sau đó được biên tập, viết lại theo một tiêu chí nhất định + Tác phẩm chú giải: là tác phẩm giải thích, làm rõ nghĩa một số nội dung trong tác phẩm khác
4 Th.s Nguyễn Như Quỳnh, Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam , NXB Giáo dục 2009, tr 35
Trang 26+ Tác phẩm tuyển chọn: là tác phẩm chọn lọc một số tác phẩm trong nhiều tác phẩm cùng loại theo một số tiêu chí nhất định Ví dụ: Tuyển chọn
“Truyện ngắn Nam Cao”; “50 truyện ngắn xuất sắc dành cho thiếu nhi”
* Chủ thể quyền tác giả
Chủ thể quyền tác giả là cá nhân, tổ chức có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, có các quyền nhất định đối với một tác phẩm, bao gồm tác giả của tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả Xác định chính xác tư cách chủ thể của quyền tác giả giúp xác định chính xác quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định hoặc/và do các bên trong hợp đồng chuyển giao quyền tác giả xác định chủ sở hữu quyền tác giả Do đó đảm bảo được quyền, lợi ích của những chủ
thể này
a) Tác giả
- Khái niệm:Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học5 Chỉ những cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động sáng tạo để tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học mới được công nhận là tác giả của tác phẩm đó Những người làm công việc hỗ trợ, góp ý kiến, hoặc cung cấp tư liệu, thông tin cho người khác sáng tạo ra
tác phẩm không được công nhận là tác giả
Theo nguyên tắc chung, phạm vi tác giả được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam được xác định theo ba tiêu chí:
(i) Tiêu chí quốc tịch: Cá nhân Việt Nam sáng tạo ra tác phẩm ở Việt Nam hay ở nước ngoài đều được bảo hộ quyền tác giả;
(ii) Tiêu chí nơi thực hiện hành vi: Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam được bảo hộ quyền tác giả;
5 Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP
Trang 27(iii) Tiêu chí Điều ước quốc tế: Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên
- Phân loại tác giả
+ Dựa vào số lượng người sáng tạo ra tác phẩm, có thể phân loại tác giả thành tác giả đơn nhất và đồng tác giả Điều 8 Nghị định 100/2006/NĐ-CP chỉ đưa ra khái niệm tác giả, theo đó có 2 loại: (i) tác giả sáng tạo ra toàn bộ tác phẩm, hay có thể gọi là tác giả đơn nhất Người này sẽ được hưởng quyền tác giả đối với toàn bộ tác phẩm họ sáng tạo ra (ii) tác giả sáng tạo ra một phần tác phẩm, có nghĩa là tác phẩm do nhiều người sáng tạo ra Trường hợp này trong Luật Sở hữu trí tuệ gọi là “Đồng tác giả”
Trong Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 100/2006/NĐ-CP còn xuất hiện thuật ngữ “tập thể tác giả” để chỉ những người cùng tạo ra một tác phẩm điện ảnh, sân khấu Đây là loại tác phẩm đặc biệt vì nó là kết quả sáng tạo của nhiều người nhưng phần sáng tạo của mỗi người là độc lập, có thể tách rời và thuộc các loại hình khác nhau; các tác giả có thể không cần phải có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí khi tạo ra tác phẩm nhưng sản phẩm sáng tạo của nhiều người kết hợp thành một tác phẩm Ví dụ đối với tác phẩm điện ảnh có kết quả sáng tạo của rất nhiều người: nhạc sĩ sáng tác ca khúc được sử dụng trong bộ phim; nhà văn viết tiểu thuyết được sử dụng làm cốt truyện, nhà biên kịch viết kịch bản điện ảnh, đạo diễn là tác giả của phần diễn xuất, họa sĩ thiết
kế mỹ thuật cho phim
+ Dựa vào mối quan hệ giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, có thể phân loại tác giả thành:
* Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả: Là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm bằng thời gian, nguồn tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của chính mình Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có đầy đủ cả quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm
Trang 28* Tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả: Là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng Trong trường hợp này thì tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả chỉ được hưởng các quyền nhân thân đối với tác phẩm, trừ quyền công bố và cho phép người khác công bố tác phẩm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác
b) Chủ sở hữu quyền tác giả
Theo Điều 36 Luật Sở hữu trí tuệ, chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức,
cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc quyền tác giả Chủ sở hữu quyền tác giả có thể đồng thời là tác giả hoặc không đồng thời là tác giả
- Chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả
Chủ sở hữu quyền tác giả là đồng thời là tác giả khi họ sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật để tạo ra tác phẩm6 Trong trường hợp này, họ vừa là chủ thể sáng tạo vừa là nhà đầu tư tài chính để tạo ra tác phẩm Tác giả đồng thời là chủ sở hữu quyền tác giả có toàn bộ các quyền nhân thân
và quyền tài sản theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ
Trong trường hợp tác phẩm do các đồng tác giả cùng sáng tạo ra thì đó
là đồng tác giả và đồng thời là đồng chủ sở hữu đối với tác phẩm Đối với trường hợp này họ là các chủ sở hữu hợp nhất và có chung các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm
- Chủ sở hữu quyền tác giả không đồng thời là tác giả có thể là một trong những tổ chức, cá nhân sau:
+ Tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả: Trường hợp này, giữa tác giả và tổ chức đó phải có một mối quan hệ lao động thông qua hợp đồng lao động hoặc tồn tại mối quan hệ hành chính-lao động (tác giả phải là thành viên của tổ chức đó) và việc sáng tạo ra tác phẩm là một nhiệm vụ
6 Điều 37 Luật Sở hữu trí tuệ
Trang 29mà người sử dụng lao động giao cho tác giả và tác giả được trả lương Tác giả được tổ chức quản lý cung cấp nguồn tài chính, cơ sở vật chất-kỹ thuật, thời gian để thực hiện hoạt động sáng tạo tác phẩm Tuy nhiên, nếu người lao động trong thời gian rảnh rỗi tự tạo ra tác phẩm không phải do được giao nhiệm vụ thì họ vẫn là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đó
+ Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả: Khác với trường hợp trên, trường hợp này giữa tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả không có mối quan hệ lao động; tác giả sáng tạo ra tác phẩm trên cơ sở hợp đồng thuê sáng tạo tác phẩm được giao kết giữa tác giả và bên thuê sáng tạo Đối với bên thuê sáng tạo, tác giả sáng tạo ra tác phẩm là những người làm nghề tự do, họ tìm kiếm thu nhập, thù lao và các lợi ích vật chất khác bằng sức lao động, sáng tạo của họ Do đó, theo hợp đồng thuê sáng tạo, tác giả sẽ tạo ra tác phẩm theo yêu cầu của chủ thể phía bên kia và được nhận một khoản tiền thù lao theo mức các bên thỏa thuận
+ Tổ chức, cá nhân là người thừa kế quyền tác giả: Tổ chức, cá nhân được thừa kế quyền tác giả theo di chúc hoặc hoặc theo pháp luật trở thành chủ sở hữu quyền tác giả trong thời hạn bào hộ quyền tác giả Ví dụ đạo diễn Nguyễn Quang Dũng là con trai được hưởng thừa kế theo di chúc quyền tác giả đối với tác phẩm “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng khi nhà văn qua đời trở thành chủ sở hữu tác phẩm
+ Tổ chức, cá nhân là người được chuyển giao quyền: Các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm thuộc quyền tác giả là đối tượng của hợp đồng chuyển giao quyền tác giả Thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền tác giả, bên được chuyển nhượng một hoặc một số quyền thuộc quyền tác giả sẽ trở thành chủ sở hữu của các quyền đó Ví dụ nhà xuất bản nhận chuyển nhượng quyền làm bản sao và phân phối bản sao tác phẩm đến công chúng trở thành chủ sở hữu quyền sao chép và phân phối bản sao Tổ chức, cá nhân
Trang 30đang quản lý tác phẩm khuyết danh được hưởng quyền của chủ sở hữu cho đến khi danh tính của tác giả được xác định
+ Nhà nước: Nhà nước là chủ sở hữu quyền tác giả đối với: tác phẩm khuyết danh; tác phẩm còn trong thời hạn bảo hộ mà chủ sở hữu quyền tác giả chết không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản; tác phẩm được chủ sở hữu quyền tác giả chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm thuộc sở hữu Nhà nước phải thực hiện các nghĩa vụ: xin phép sử dụng; thanh toán tiền nhuận bút, thù lao, các quyền lợi vật chất khác tại cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền là Cục Bản quyền tác giả
* Nội dung quyền tác giả
Nhằm bù đắp những nỗ lực sáng tạo của tác giả và khuyến khích mọi
cá nhân sáng tạo các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, chủ thể sáng tạo được trao những độc quyền nhất định Theo Công ước Bern 1886, quyền tác giả bao gồm “moral right” - quyền tinh thần và “economic right” - quyền kinh tế Trong pháp luật Việt Nam, Điều 18 Luật SHTT quy định “Quyền tác giả đối với tác phẩm bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản” Hai quyền này cùng tồn tại song song nhưng độc lập với nhau, tác giả chuyển giao quyền tài sản nhưng tác giả vẫn còn quyền nhân thân đối với tác phẩm
a) Quyền nhân thân thuộc quyền tác giả
Theo Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ, các quyền nhân thân thuộc quyền tác giả bao gồm:
- Quyền đặt tên cho tác phẩm
Việc đặt tên tác phẩm trước hết có ý nghĩa trong việc cá biệt hóa tác phẩm Bên cạnh đó, tên tác phẩm thường phản ánh nội dung, ý tưởng của tác giả trong tác phẩm, giúp cho công chúng có thể tiếp cận dễ dàng hơn với ý đồ của tác giả Tuy nhiên, việc đặt tên cho tác phẩm không có ý
Trang 31nghĩa pháp lý đối với việc bảo hộ quyền tác giả vì tác phẩm có thể được bảo hộ thậm chí khi nó là tác phẩm vô đề Quyền đặt tên cho tác phẩm là quyền nhân thân chỉ thuộc về tác giả của tác phẩm, kể cả khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm theo nhiệm vụ được giao hay theo hợp đồng thì quyền đặt tên vẫn thuộc về tác giả
- Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng
Tác phẩm ra đời là sự kết tinh những tinh hoa sáng tạo của tác giả, nó được coi như đứa con tinh thần của tác giả Vì vậy, tác giả có quyền đứng tên trên tác phẩm để khẳng định đó là tác phẩm do tác giả sáng tạo ra Ví dụ: chúng ta biết đến tác phẩm “Đất nước” của tác giả Nguyễn Đình Thi và của tác giả Nguyễn Khoa Điềm Tác giả có thể đề tên thật hoặc bút danh lên tác phẩm do mình sáng tạo ra Ví dụ như Tản Đà là bút danh của Nhà thơ Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Ái Quốc là bút danh của tác giả Nguyễn Sinh Cung Việc ghi tên trên tác phẩm được công bố có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định chủ thể được hưởng các quyền nhân thân và tài sản đối với tác phẩm Kể cả trong trường hợp tác giả không đề tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm đã được công bố (tác phẩm khuyết danh) thì quyền này vẫn thuộc về tác giả và tác giả có thể chứng minh tư cách chủ thể của mình bất cứ thời điểm nào Tác giả cũng có quyền yêu cầu được nêu tên hoặc bút danh khi tác phẩm được sử dụng dưới các hình thức khác nhau như: biểu diễn, ghi âm ghi hình, phát thanh, truyền hình, xuất bản, trích dẫn tác phẩm Cho nên, bất kỳ khi nào tác phẩm được công bố, sử dụng, tổ chức, cá nhân
sử dụng phải nêu tên thật hoặc bút danh của tác giả Ví dụ như khi biểu diễn tác phẩm trên sân khấu, người dẫn chương trình phải giới thiệu tác phẩm của tác giả nào hoặc khi xuất bản một cuốn sách, nhà xuất bản phải đề tên tác giả lên cuốn sách đó
Trang 32- Quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm
Đây là quyền năng rất quan trọng bởi hai lý do: (i) Công bố tác phẩm làm thay đổi chế độ pháp lý đối với tác phẩm vì chế độ pháp lý đối với tác phẩm chưa công bố và tác phẩm đã công bố là khác nhau; (ii) Quyền công bố tác phẩm là tiền đề quan trọng để chủ sở hữu thực hiện được các quyền tài sản đối với tác phẩm Quyền công bố tác phẩm có thể thuộc về tác giả đồng thời
là chủ sở hữu quyền tác giả hoặc thuộc về chủ sở hữu quyền tác giả trong trường hợp họ không đồng thời là tác giả
Công bố tác phẩm là việc phát hành tác phẩm đến công chúng với số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu thưởng thức tác phẩm của công chúng Việc công bố tác phẩm có thể do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện hoặc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cho phép tổ chức, cá nhân thực hiện quyền công bố tác phẩm Như vậy, có thể thấy, công bố tác phẩm phải thỏa mãn các yếu tố:
+ Phải được sự đồng ý của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;
+ Phải có bản sao tác phẩm được phát hành đến công chúng, không phân biệt cách thức tạo ra các bản sao;
+ Số lượng bản sao đủ để đáp ứng nhu cầu thưởng thức tác phẩm của công chúng, tùy thuộc đặc trưng của từng loại hình tác phẩm
Chính vì gắn liền với việc phát hành bản sao nên quyền công bố tác phẩm mới là quyền có thể do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả tự thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện khi tác giả không có đủ điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật để tạo bản sao
Công bố tác phẩm không bao gồm việc trình diễn một tác phẩm sân khấu, điện ảnh, âm nhạc; đọc trước công chúng một tác phẩm văn học; phát sóng tác phẩm văn học, nghệ thuật; trưng bày tác phẩm tạo hình; xây dựng công trình từ tác phẩm kiến trúc (Khoản 2 Điều 22 Nghị định 100/2006/NĐ-CP)
Trang 33Tuy nhiên, quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là quyền luôn gắn liền với các quyền tài sản, là tiền đề để thực hiện các quyền tài sản, vì vậy, nó mang tính chất của quyền tài sản, đó là: có thể chuyển giao được cho người khác, được bảo hộ có thời hạn
- Quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén tác phẩm hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả
Tác phẩm là một thể thống nhất thể hiện nội dung, tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của tác giả Vì vậy, việc sửa chữa, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào có thể làm ảnh hưởng đến giá trị nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm, làm sai lệch, thậm chí bóp méo tư tưởng, chủ đề mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của họ
Vì vậy, không có chủ thể nào khác ngoài tác giả có quyền thay đổi nội dung của tác phẩm kể cả trong trường hợp việc thay đổi nhằm làm tăng giá trị nghệ thuật, giá trị thực tiễn của tác phẩm, trừ trường hợp được tác giả cho phép Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số ngoại lệ của quyền này: (i) trường hợp trích dẫn hợp lý tác phẩm vì mục đích giảng dạy, nghiên cứu không bị coi
là xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm; (ii) trường hợp sau khi tác phẩm được công bố, những người khác làm tác phẩm phái sinh, có những thay đổi, sáng tạo mới về nội dung, hình thức thể hiện hay truyền đạt so với tác phẩm ban đầu cũng không bị coi làm xâm phạm quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
b) Các quyền tài sản thuộc quyền tác giả
Quyền tài sản có một số đặc điểm sau: quyền tài sản thuộc quyền tác giả là những quyền của chủ sở hữu quyền tác giả (chủ sở hữu quyền tác giả đồng thời là tác giả hoặc chủ sở hữu không đồng thời là tác giả); quyền tài sản mang lại giá trị vật chất cho chủ sở hữu quyền tác giả; là đối tượng của hợp
Trang 34đồng chuyển nhượng quyền tác giả hoặc hợp đồng sử dụng quyền tác giả; có thời hạn bảo hộ nhất định Bao gồm một số quyền sau:
- Quyền làm tác phẩm phái sinh: Với tư cách là người sáng tạo ra tác phẩm, tác giả có quyền tạo ra tác phẩm phái sinh trên cơ sở tác phẩm gốc nhưng với hình thức, cách thức trình bày mới so với tác phẩm gốc Cụ thể, tác giả có quyền cho phép dịch tác phẩm của mình sang ngôn ngữ khác, cho phép làm tác phẩm cải biên, phóng tác, chuyển thể, biên soạn, tuyển chọn… Người không phải là chủ sở hữu quyền tác giả khi làm tác phẩm phái sinh phải xin phép (nếu tác phẩm chưa được công bố), trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu tác phẩm gốc
- Quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng: Quyền này do chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễn tác phẩm một cách trực tiếp tại nơi công cộng hoặc thông qua các chương trình ghi âm, ghi hình hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được Biểu diễn tác phẩm trước công chúng bao gồm việc biểu diễn tác phẩm tại bất cứ nơi nào ngoại trừ tại gia đình Việc công diễn ở đây được hiểu là việc biểu diễn cho công chúng, một tập hợp người không thuộc phạm vi gia đình, người thân cận trực tiếp để họ có thể tiếp cận, thưởng thức tác phẩm Việc công diễn ở đây bao gồm cả việc biểu diễn trực tiếp và gián tiếp tác phẩm
- Quyền sao chép tác phẩm:
Đây là quyền năng quan trọng nhất của quyền tác giả bởi bản chất của quyền sao chép là việc tạo ra bản sao, trong khi đó, bản sao có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc ghi nhận cũng như thực hiện các quyền năng khác của quyền tác giả Cụ thể, tác phẩm được coi là công bố khi có số lượng bản sao hợp lý đưa đến công chúng Hơn nữa, bản sao tác phẩm cũng chính là sản phẩm để tác giả đưa tác phẩm đến công chúng, qua đó, tác giả thu được tiền
Trang 35thù lao để bù đắp chi phí cho việc sáng tạo Như vậy, nếu không có quyền cho phép sao chép tác phẩm, tác giả sẽ không thu được lợi ích vật chất từ việc sáng tạo cũng như không thực hiện được nhiều quyền khác hoặc thực hiện quyền không hiệu quả Ví dụ nếu không có bản sao thì không dịch tác phẩm được, không có bản sao thì không thực hiện được quyền cho thuê, cho mượn bản sao tác phẩm, hoặc nếu không có bản sao thì người biểu diễn đàn không thể luyện tập tốt cho việc biểu diễn tác phẩm đến công chúng
Trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quyền sao chép tác phẩm lần đầu tiên được chính thức ghi nhận Khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ giải thích về
hành vi sao chép “là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc
bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử” Quyền sao chép thuộc quyền tác giả một lẫn nữa được hướng dẫn tại khoản 2 Điều 23 Nghị định 85/2011/NĐ-
CP, theo đó, “sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản độc quyền
thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử” Nếu như trước đây, sao chép tác phẩm thường được hiểu là việc làm các bản sao dưới các hình thức vật chất hữu hình như văn bản, băng, đĩa thì quy định này đã mở rộng phạm vi quyền sao chép đến cả các hình thức điện tử Quy định này hoàn toàn
phù hợp với khái niệm sao chép trong Điều 9 Công ước Berne “tác giả được
hưởng độc quyền cho phép sao chép tác phẩm dưới bất kỳ phương tiện hay hình thức nào” cũng như hai Hiệp ước internet của WIPO
Pháp luật Sở hữu trí tuệ chỉ đặt ra một số ngoại lệ đối với quyền sao chép (Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ) như tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu, giảng dạy của cá nhân hay sao chép một bản để lưu trữ trong thư viện (việc sao chép này cũng không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tạo
Trang 36hình, chương trình máy tính) Như vậy, hành vi sao chép ngoài những trường hợp nêu trên dù thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào (có thể là bản in, sao chép lên băng đĩa, thông qua các phương tiện kỹ thuật số, ghi chép vào dữ liệu máy tính ), thực hiện ở đâu, các bản sao có được phát hành đến công chúng hay không đều có thể bị xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả Các quyền tài sản liên quan đến biểu diễn, truyền đạt tác phẩm không có liên quan đến việc sao chép lại vật chất cụ thể thể hiện tác phẩm, do vậy những hành vi này được xem xét như là những quyền năng độc lập khác của chủ sở hữu quyền tác giả, chúng không thuộc phạm vi quyền sao chép được đề cập ở đây
- Quyền phân phối bản gốc hoặc bản sao tác phẩm: Quyền phân phối tác phẩm được coi là một trong những phương thức sử dụng tác phẩm một cách độc lập Phân phối tác phẩm là việc đưa những vật thể thể hiện hoặc sao chép tác phẩm vào giao lưu dân sự thông qua các hợp đồng như mua bán, trao đổi, tặng cho Đối tượng phân phối có thể là bản gốc hoặc bản sao của tác
phẩm Theo khoản 3 Điều 23 NĐ100/2006/NĐ-CP, “quyền phân phối bản
gốc hoặc bản sao tác phẩm là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện bằng bất kỳ hình thức, phương tiện kỹ thuật nào mà công chúng có thể tiếp cận được để bán, cho thuê hoặc các hình thức chuyển nhượng khác bản gốc hoặc bản sao tác phẩm”
Tương tự như quyền sao chép, khái niệm quyền phân phối cũng được
mở rộng để phù hợp với sự phát triển của môi trường kỹ thuật số Phân phối tác phẩm có thể thực hiện bằng bất kỳ hình thức hay phương tiện kỹ thuật nào, ví dụ việc bán bản sao tác phẩm có thể được thực hiện trên internet Đối với tác phẩm tạo hình, tác phẩm nhiếp ảnh thì quyền phân phối còn bao gồm
cả việc trưng bày, triển lãm trước công chúng
Quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm cho phép chủ sở hữu quyền tác giả có thể kiểm soát được việc nhập khẩu những bản gốc hoặc bản
Trang 37sao tác phẩm vào vùng lãnh thổ mà quyền tác giả đang có hiệu lực Đây được coi là một phương tiện hữu hiệu để ngăn chặn việc nguyên tắc bảo hộ quyền tác giả theo lãnh thổ đang dần bị suy giảm Quyền nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm có liên quan mật thiết đến quyền phân phối tác phẩm và có thể được xem là một trường hợp cụ thể hóa của quyền phân phối tác phẩm Quyền kiểm soát việc nhập khẩu tác phẩm tạo cho tác giả khả năng thực hiện một cách hiệu quả hơn quyền phân phối tác phẩm của mình Với độc quyền nhập khẩu tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả có thể ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền phân phối tác phẩm ngay từ giai đọan chuẩn bị Cũng cần lưu ý
là nếu việc nhập khẩu tác phẩm không có mục đích tiếp theo là phân phối tác phẩm tới những người khác thì chủ sở hữu quyền tác giả không có quyền ngăn chặn việc nhập khẩu này (ví dụ: nhập khẩu vì mục đích sử dụng riêng)
- Quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến, vô tuyến, mạng thông tin điện tử hoặc bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào khác Với sự thay đổi nhanh chóng trong cách thức thể hiện tác phẩm, trong thời đại hiện nay, các phương tiện truyền tải tác phẩm cũng ngày càng phong phú, đa dạng hơn, cho phép việc chuyển tải tác phẩm đến công chúng với phạm vi không bị hạn chế trong thời gian nhanh chất, chất lượng tốt nhất Chủ sở hữu quyền tác giả có độc quyền truyền đạt tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện nào mà công chúng có thể tiếp cận được tại địa điểm và thời gian do chính họ lựa chọn Đây cũng là quy định thể hiện sự tiếp cận mới của pháp luật Việt Nam đối với việc bảo hộ quyền tác giả trong
kỷ nguyên kỹ thuật số, khi mà internet trở thành một phương tiện truyển tải tác phẩm phổ biến với những đặc thù: truyền đạt tác phẩm không bị hạn chế
về phạm vi lãnh thổ; công chúng có thể tiếp cận tại bất kỳ đâu, bất kỳ thời điểm nào do họ lựa chọn
- Quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính Đây là quyền năng do chủ sở hữu quyền tác giả độc quyền
Trang 38thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc cho thuê để sử dụng có thời hạn Quyền cho thuê không áp dụng đối với chương trình máy tính, khi bản thân chương trình đó không phải là đối tượng chủ yếu để cho thuê như chương trình máy tính gắn với việc vận hành bình thường các loại phương tiện giao thông cũng như các máy móc, thiết bị kỹ thuật khác
* Giới hạn bảo hộ quyền tác giả
Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ thì tác giả, chủ sở hữu quyền
sở hữu trí tuệ nói chung và tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nói riêng được trao cho những độc quyền nhất định mà việc thực hiện quyền này có thể bóp méo cạnh tranh, cản trở lưu thông hàng hóa, dịch vụ và hạn chế khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các sản phẩm sáng tạo Bởi vậy, một số quy định được ban hành và một số học thuyết được hình thành nhằm làm cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với duy trì cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo lưu thông thị trường; cân bằng giữa bảo vệ lợi ích của chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ với bảo vệ lợi ích của người sử dụng, của cộng đồng Những quy định và học thuyết này xác định giới hạn cho quyền sở hữu trí tuệ Đối với quyền tác giả, đó là quy định về sử dụng không phải xin phép, không phải trả nhuận bút thù lao trong những trường hợp nhất định Bên cạnh đó, một số nước còn sử dụng học thuyết sử dụng công bằng nhằm hạn chế tính độc quyền của tác giả Các công ước quốc tế như Công ước Berne (Điều 9(2)) và Hiệp định TRIPS (Điều 13)cũng quy định về giới hạn quyền tác giả Điều 10
và Đều 10 bis của Công ước Berne có quy định các trường hợp sử dụng tự do tác phẩm: trích dẫn để minh họa cho giảng dạy, in lại trên báo chí, phát lại trên đài truyền thanh hay phương tiện thông tin đại chúng những bài báo có tính chất thời sự về kinh tế, chính trị hay tôn giáo đã đăng tải trên các tập san hay các tác phẩm truyền thanh Tuy nhiên, trong những trường hợp này, người sử dụng phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và tên tác giả
Trang 39Luật sở hữu trí tuệ và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ nước ta cũng có quy định về giới hạn quyền tác giả tại Điều 25 quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao và Điều 26 quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao Việc quy định về giới hạn quyền tác giả trong những trường hợp này giúp cho công chúng có khả năng sử dụng, khai thác các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học vào mục đích phi thương mại (như nghiên cứu, giảng dạy…) Tuy vậy, khi tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm trong những trường hợp giới hạn quyền tác giả phải có nghĩa vụ không làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả, nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm Ngoài ra, bản sao tác phẩm trong những trường hợp này cũng bị giới hạn ở số lượng một bản
- Các trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả
nhuận bút, thù lao
+ Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân Tự sao chép một bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân không nhằm mục đích thương mại.Tuy nhiên, tự sao chép một bản của tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân vẫn phải xin
phép và phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
+ Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình Tuy nhiên, việc trích dẫn phải thỏa mãn các điều kiện sau: Trích dẫn chỉ nhằm mục đích giới thiệu, bình luận hoặc làm sáng tỏ vấn đề được đề cập trong tác phẩm của mình; số lượng và
Trang 40thực chất của phần sử dụng để trích dẫn từ tác phẩm không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được sử dụng để trích dẫn; phần được trích dẫn phù hợp với đặc điểm, tính chất của loại hình tác phẩm được sử dụng để trích dẫn
+ Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong
ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
+ Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai
ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
+ Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu, lưu ý là việc sao chép này không quá một bản Tuy nhiên, việc sao chép này không được áp dụng với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình và chương trình máy tính Ngoài ra, thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số
+ Biểu diễn tác phẩm sân khấu, loại hình biểu diễn nghệ thuật khác trong các buổi sinh hoạt văn hoá, tuyên truyền cổ động không thu tiền dưới bất kỳ hình thức nào;
+ Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
+ Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu hình ảnh của tác phẩm đó;
+ Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị; + Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng: chỉ áp dụng cho trường hợp nhập khẩu không quá một bản
Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm theo quy định trên không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm