1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thanh tra pháp luật về lao động tại khu công nghiệp đồng văn, huyện duy tiên, tỉnh hà nam

80 131 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thanh tra lao động là một chức năng không thể thiếu của quản lý nhà nước về lao động, thực hiện chức năng thanh tra chính sách lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động, với mục đíc

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Minh Sơn Các luận điểm, dẫn chứng, số liệu nêu trong luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực

Tác giả luận văn

Tống Văn Tam

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Khoa đào tạo Sau đại học – Viện Đại học mở Hà Nội và các thầy cô giáo đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS Phạm Minh Sơn đã chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện việc nghiên cứu và hoàn thiện luân văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh,

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Liên đoàn Lao động tỉnh; Ban quản lý KCN tỉnh; các bộ phận nghiệp vụ liên quan của các cơ quan tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện cung cấp, chia sẻ cho tôi nhiều nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho quá trình nghiên cứu cũng như quá trình thực hiện, hoàn thiện luân văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn

Xin trân tr ọng cảm ơn./

Tác giả luận văn

Tống Văn Tam

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

6 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ THANH TRA LAO ĐỘNG 5

1.1 Những vấn đề chung về thanh tra 5

1.1.1 Khái ni ệm thanh tra 5

1.1.2 Đặc điểm của thanh tra 5

1.1.3 Phân lo ại thanh tra 5

1.1.4 V ị trí, chức năng, vai trò của thanh tra 6

1.1.5 Nhi ệm vụ, quyền hạn của thanh tra 7

1.1.6 T ổ chức và hoạt động của thanh tra 9

1.2 Một số vấn đề lý luận về thanh tra lao động 10

1.2.1 Khái ni ệm thanh tra lao động 10

1.2.2 Đặc điểm của thanh tra lao động 10

Trang 4

1.2.3 Nhi ệm vụ, quyền hạn của thanh tra lao động 11

1.2.4 T ổ chức và hoạt động của thanh tra lao động 12

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 15

2.1 Thực trạng pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam 15

2.1.1 Quy định về cơ quan, tổ chức, đối tượng, nguyên tắc và hoạt động của các cơ quan th ực hiện chức năng thanh tra lao động 15

2.1.2 Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Bộ, Thanh tra S ở, Chánh Thanh tra Sở, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội 18

2.1.3 Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra ngành Lao động-Thương binh và Xã hội 20

2.1.4 Quy định về nội dung thanh tra chuyên ngành lao động 21

2.1.5 Quy định về trình tự, thủ tục hoạt động thanh tra lao động 24

2.1.6 Quy định về xử phạt vi phạm lao động 26

2.1.7 Quy định về giải quyết tranh chấp lao động 27

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam 27

2.2.1 Khái quát chung v ề khu công nghiệp Đồng Văn 27

2.2.2 Th ực hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn 28

2.2.3 Nh ận xét, đánh giá thực trạng pháp luật về thanh tra lao động, thực tiễn thực hi ện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn 43

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG QUA

Trang 5

THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI KHU CÔNG NGHIỆP ĐÔNG VĂN, DUY TIÊN,

HÀ NAM……… 54

3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động 54

3.1.1 Pháp lu ật về thanh tra lao động đáp ứng tính thống nhất, đồng bộ của hệ

th ống pháp luật 54

3.1.2 Pháp lu ật về thanh tra lao động đáp ứng tính minh bạch và hiệu quả trong hệ

th ống pháp luật, phù hợp với những cam kết của các quốc gia thành viên, của các

t ổ chức quốc tế 55

3.1.3 Pháp lu ật về thanh tra lao động phải rõ ràng, thông suốt và đúng đắn 56

3.1.4 Pháp lu ật về thanh tra lao động phải xác định và tìm hiểu những thách thức

mà h ệ thống thanh tra lao động đang gặp phải và tìm cách giải quyết những vấn đề

đang nổi lên 56

3.1.5 Pháp lu ật về thanh tra lao động phải cần sử dụng Quy tắc hợp nhất toàn cầu

c ủa IALI về Thanh tra Lao động như là công cụ hướng dẫn nhằm tăng cường quy

t ắc ứng xử của thanh tra lao động 57

3.1.6 V ăn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động thanh tra lao động cần

được bổ sung những quy định về nội dung 57 3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động 58

3.2.1 Nhóm gi ải pháp hoàn thiện các quy định về thanh tra lao động 58

3.2.2 Nhóm gi ải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra lao động Error!

Bookmark not defined.

3.2.2.1 Nâng cao nh ận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc thực

hi ện Bộ luật Lao động năm 2012……… 64

3.2.2.2 Nâng cao hi ệu lực, hiệu quả hoạt động của Thanh tra lao động sở

LĐ-TB&XH t ỉnh………66

3.2.2.3 Đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, phục vụ công

Trang 6

tác qu ản lý và hoạt động của thanh tra lao động………67

3.2.2.4 T ăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác……68

3.2.2.5 Ho ạt động thanh tra v được tiến hành theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ

t ục pháp luật quy định………69

3.2.2.6 T ăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra……….69

3.2.2.7 Nâng cao ch ất lượng, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức

thanh tra……… 70

KẾT LUẬN 71 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ATVSLĐ : An toàn vệ sinh lao động BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế:

KCN : Khu công nghiệp LĐ-TB&XH : Lao động - Thương binh và Xã hội

NSDLĐ :Người sử dụng lao động

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, giúp tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Trong quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, thế yếu thuộc về người lao động Người sử dụng lao động, vì lợi ích kinh tế nên có xu hướng vi phạm pháp luật lao động, xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người lao động được pháp luật bảo vệ Một thực tế đáng lo ngại là tình hình vi phạm pháp luật lao động ngày càng phức tạp và gia tăng

Thanh tra lao động là một chức năng không thể thiếu của quản lý nhà nước về lao động, thực hiện chức năng thanh tra chính sách lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động, với mục đích cuối cùng là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, đảm bảo quyền lao động của người lao động, đảm bảo việc làm nhân văn Tuy nhiên, kết quả hoạt động thực tiễn cho thấy hoạt động của thanh tra lao động chưa phát huy hết hiệu lực và hiệu quả, mục đích đạt được còn rất hạn chế

Trước đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu quản lý nhà nước và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trước đòi hỏi của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, thanh tra lao động nói riêng và thanh tra nói chung cần được nghiên cứu và hoàn thiện, trong đó, hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động là

vấn đề đặt ra cấp thiết Trước thực trạng và các yêu cầu nêu trên, đề tài "Thanh tra

pháp lu ật về lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện duy Tiên, tỉnh Hà

Nam" đã được triển khai nghiên cứu, với mong muốn nghiên cứu thành công đề tài

sẽ có đóng góp không chỉ về khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong

Trang 8

hoạt động thanh tra lao động ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Trong những năm qua, đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, công trình nghiên cứu, đề tài khoa học và bài viết liên quan đến đề tài luận văn đang nghiên cứu, trong đó đáng lưu ý là một số công trình sau: Luận án tiến sĩ luật học của Phạm

Thị Anh Đào, “Tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng ở Việt Nam hiện nay", (2017); Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Thương Huyền, "Hoàn thiện pháp

lu ật thanh tra trong giai đoạn hiện nay", (2009); Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Hồng Diệp (2009), "Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động -

Th ương binh và Xã hội, thực trạng và giải pháp", (2009); Luận văn thạc sĩ Luật học

“Thanh tra lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” của Đỗ Thị Thu Hiền, (2011); Luận văn thạc sĩ Luật học “Thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động từ

th ực tiễn áp dụng tại tỉnh sơn La” của nguyễn Xuân Vinh, (2016); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội "Các điều kiện và

gi ải pháp để chuyển phương thức thanh tra theo đoàn sang Thanh tra viên phụ

trách vùng ", do TS Bùi Sỹ Lợi làm chủ nhiệm (2003); Đề án "Nâng cao năng lực

h ệ thống thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội" của Thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (2005); “Đề án nâng cao năng lực thanh tra

ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2020” của Thanh tra Bộ Lao

động - Thương binh và Xã hội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2155/QĐ-TTg ngày 11/11/2013; Sách tham khảo "Tổ chức và hoạt động

thanh tra, ki ểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới" (2001), Nguyễn Văn Kim chủ biên; Sách "Quy trình và phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra

chính sách lao động", do Nguyễn Xuân Bân chủ biên (2000), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội; Bài viết "Vai trò của thanh tra lao động trong việc thúc đẩy trách

nhi ệm xã hội của doanh nghiệp", TS Bùi Sỹ Lợi đăng trên Tạp chí Lao động và

Xã hội (2006); Bài viết nghiên cứu "Coping With Changes on all Fronts:

Reaffirming the Ombudsman’s Powers and Adapting its Actions" (2003) ("Đối

phó v ới những thay đổi trên mọi phương diện: Khẳng định lại thẩm quyền của cơ

Trang 9

quan thanh tra và thích ứng về hành động"), của Clare Lewis, cơ quan thanh tra

của Bang Ontario, Canada

Tuy không phải là vấn đề nghiên cứu mới nhưng nghiên cứu về thanh tra theo pháp luật về lao động, lấy thực tiễn một địa bàn là KCN để phân tích là một cách tiếp cận mới mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được của các công trình trước đó, luận văn đưa ra những lý luận cơ bản về thanh tra, thanh tra theo pháp luật về lao động và thực trạng thực hiện thanh tra theo pháp luật về lao động tại KCN Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động; hiệu lực, hiệu quả về thanh tra, thanh tra theo pháp luật về lao động hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, thực tiễn về pháp luật và thực hiện pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam dưới góc độ pháp lý

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các qui định của pháp luật về thanh tra, thanh tra theo pháp luật về lao động ở Việt Nam (với mốc là Luật Thanh tra 2010 ban hành); việc thực hiện pháp luật về lao động từ thực tiễn địa bàn KCN Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

4 Mục đính và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích của đề tài là từ thực trạng pháp luật về thanh tra lao động, từ thực tiễn thực hiện thanh tra theo pháp luật về lao động tại KCN Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam để đánh giá, góp phần hoàn thiện, bổ sung những vấn đề lý luận

về thanh tra pháp luật về lao động, đưa ra những đề xuất, giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với thanh tra theo pháp luật về lao động trong các KCN

- Đề tài có nhiệm vụ tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam về thanh tra theo pháp luật về lao động, áp dụng vào thực tiễn hoạt động của thanh tra lao

Trang 10

động tại một địa bàn tại tỉnh Hà Nam; đánh giá, phân tích những khó khăn, vướng mắc; đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý

nhà nước trong lĩnh vực thanh tra theo pháp luật về lao động hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mácxít; quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh đối chiếu và khảo sát

thực tiễn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thanh tra và thanh tra lao động

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra việc thực hiện pháp luật về lao động

Trang 11

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA

VÀ THANH TRA LAO ĐỘNG 1.1 Những vấn đề chung về thanh tra

1.1.1 Khái niệm thanh tra

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là các phương thức đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước, trong đó thanh tra là một khâu không thể thiếu trong công tác quản lý nhà nước

Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của tổ chức,

cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và

lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu và tổ chức, cá nhân khác

1.1.2 Đặc điểm của thanh tra

Phân tích những đặc trưng của thanh tra để phân biệt với hoạt động kiểm tra, giám sát, đó là:

- Thanh tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước

- Thanh tra luôn mang tính quyền lực nhà nước

- Thanh tra là một hoạt động được thực hiện bởi chủ thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Thanh tra có đối tượng thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước

- Thanh tra có tính độc lập tương đối

1.1.3 Phân loại thanh tra

Căn cứ vào chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra, căn cứ vào nội dung, tính chất của hoạt động thanh tra mà thanh tra được phân thành hai loại: Thanh tra nhà

Trang 12

nước và thanh tra nhân dân, với mục đích xác định rõ đối tượng thanh tra, phạm vi thanh tra, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể hoạt động thanh tra

1.1.3.1 Thanh tra nhà n ước

Thanh tra nhà nước là "việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức,

cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật này và các quy định khác của pháp luật Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành"

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan,

tổ chức, cá nhân thuộc quyên quản lý trực tiếp

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý

1.1.3.2 Thanh tra nhân dân

Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban Thanh tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước

1.1.4 Vị trí, chức năng, vai trò của thanh tra

Công tác thanh tra có một vị trí, vai trò rất quan trọng Nó là chức năng thiết yếu của quản lý, là công cụ phục vụ sự quản lý của nhà nước Thanh tra luôn luôn gắn liền với quản lý, là một nội dung của quản lý Thanh tra còn là một phương thức phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý

Trang 13

Nói tới vai trò của thanh tra là nói tới những tác động, ảnh hưởng của thanh tra đối với quản lý nhà nước, đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động của mình; đối với xã hội thông qua việc thực hiện chức năng thanh tra Vai trò của thanh tra thể hiện như hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật; phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân

Qua phân tích thấy rằng, thanh tra có vị trí quan trọng trong quản lý nhà nước, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền

1.1.5 Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra

Với tầm quan trọng và địa vị pháp lý của thanh tra, pháp luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra để các cơ quan được trao nhiệm vụ, quyền hạn nhất định khi thực hiện chức năng này Những nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra được quy định như sau:

- Thanh tra hoàn thi ện cơ chế, chính sách về kiểm soát quyền lực trong lĩnh vực

hành pháp:

Xuất phát từ chức năng của các cơ quan thanh tra nhà nước có chức năng quản

lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng Bản thân hoạt động thanh tra, kiểm tra chính là hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước Từ chức năng vốn có của mình, các cơ quan thanh tra nhà nước tham mưu cho cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc xây dựng chính sách, pháp luật, ban hành các quy định theo thẩm quyền; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về tổ chức và hoạt động có liên quan đến hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước

- Thanh tra đảm bảo việc thực thi chính sách một cách thống nhất, nhất quán

trong h ệ thống hành pháp:

Trang 14

Sau quy trình ban hành chính sách pháp luật là việc tổ chức thực hiện chính sách pháp luật Thông qua công tác thanh tra các cơ quan thanh tra giúp các chủ thể

có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách pháp luật nhận thức đúng chủ trương, chính sách; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức chưa đúng hoặc làm chưa đúng thì sửa chữa, khắc phục để từ đó đảm bảo việc thực thi chính sách được thông suốt, đồng bộ, thống nhất từ trên xuống, đảm bảo quyền, lợi ích của công dân từ đó đảm bảo nguyên tắc chế độ xã hội chủ nghĩa

- Thanh tra đảm bảo sự tuân thủ chỉ đạo điều hành của cơ quan cấp trên với

c ơ quan cấp dưới trong việc tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý hành chính

nhà n ước:

Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước gồm nhiều cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức theo thứ bậc nhất định từ Chính phủ, các bộ, ngành và các cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã Với bộ máy các cơ quan nhà nước được tổ chức ở các cấp hành chính một trong những yêu cầu đảm bảo nền hành chính mạnh đó là bộ máy hành chính phải thông suốt, việc chỉ đạo, điều hành được thực hiện nhanh chóng, hệ thống hành chính có kỷ luật, cấp dưới tuân thủ cấp trên, mệnh lệnh hành chính được ban hành cần phải được tổ chức đồng bộ; cán bộ làm hết chức trách, nhiệm vụ được giao, tận tụy với công việc

- Thanh tra h ạn chế lạm dụng quyền lực, phòng ngừa vi phạm pháp luật của

các c ơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước:

Để kiểm soát tính hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước, từng cơ quan hành chính nhà nước phải thường xuyên kiểm soát các cơ quan thuộc quyền quản lý của mình, cán bộ, công chức do mình quản lý Bên cạnh đó còn phải có cơ quan chuyên trách thường xuyên thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ công vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của mình, kịp thời phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, chấn chỉnh, khắc phục các vi phạm

và việc lạm dụng quyền lực của nhà nước

Thanh tra đảm bảo cung cấp thông tin phản hồi liên quan đến việc thực hiện

Trang 15

chính sách pháp lu ật và kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp

lu ật phù hợp với thực tiễn nhằm sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực, hiệu quả:

Đây là một vai trò quan trọng của cơ quan thanh tra, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền lực nhà nước được sử dụng một cách đúng mục đích,

có hiệu lực, hiệu quả Cơ quan thanh tra không chỉ giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức đúng pháp luật, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công cụ mà cũng thông qua công tác thanh tra để có biện pháp tháo gỡ khó khăn, đề xuất sửa đổi, cơ chế chính sách góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

1.1.6 Tổ chức và hoạt động của thanh tra

Ở mỗi quốc gia, quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra là không giống nhau Xét về góc độ chung nhất, tổ chức của thanh tra được phân theo cấp độ hành chính, bao gồm:

- Thanh tra Nhà nước hay Thanh tra Chính phủ; Thanh tra Bộ, Cơ quan ngang

Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thanh tra Sở, Ngành; Thanh tra huyện, quận, thị xã; Thanh tra xã, phường, thị trấn; Thanh tra nội bộ trong các cơ quan

- Thanh tra chuyên ngành: Các tổ chức thanh tra chuyên ngành được thành lập

Trang 16

cơ quan thanh tra nhà nước là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm

vụ kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý của cơ quan đó; xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo; chỉ đạo về tổ chức và hoạt động đối với cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi chức năng của mình; tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản lý nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các quy định phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước

1.2 Một số vấn đề lý luận về thanh tra lao động

1.2.1 Khái niệm thanh tra lao động

Thanh tra lao động là thanh tra chuyên ngành, được giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động; điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động; tham gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lao động theo quy định của pháp luật

Thanh tra lao động đóng vai trò thiết yếu trong quản lý nhà nước về lao động Với mục đích của thanh tra lao động là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi

vi phạm pháp luật lao động; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị nhà nước biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp

phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lao động 1.2.2 Đặc điểm của thanh tra lao động

Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động Quan hệ pháp luật lao động là các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng sức lao động của người lao động ở các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, các hợp tác xã, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các gia đình hay cá nhân có thuê mướn lao động, được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh

Trang 17

Trên cơ sở nhận diện được quan hệ lao động, quan hệ pháp luật lao động để tìm

ra những đặc điểm của thanh tra lao động Những đặc điểm cơ bản của thanh tra lao động như sau:

Th ứ nhất, pháp luật lao động là pháp luật chuyên ngành, do đó các quy định về

thanh tra lao động vừa đảm bảo tính chuyên môn vừa phải phù hợp với các quy định của pháp luật về thanh tra Thanh tra lao động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp Đối tượng thanh tra lao động cũng là đối tượng quản lý, nội dung thanh tra phụ thuộc vào nội dung quản lý của cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước Tổ chức

và hoạt động của thanh tra lao động vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật thanh tra, vừa đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành

Th ứ hai, nội dung thanh tra lao động chính là các nội dung được quy định trong

Bộ luật, Luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành (như các quy định về tuyển dụng, đào tạo, hợp đồng lao động, tiền công, tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động…);

Th ứ ba, pháp luật về thanh tra lao động mang tính thủ tục chặt chẽ về thanh tra

nói chung và thanh tra lao động nói riêng Hoạt động được thực hiện theo một trình

tự, thủ tục rất chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả của hoạt động một cách chính xác, khách quan Để tiến hành một cuộc thanh tra lao động, pháp luật lao động quy định thủ tục hết sức chặt chẽ từ khâu ra quyết định thanh tra đến việc chỉ đạo, báo cáo ra kết luận và xử lý kết luận thanh tra

Th ứ tư, pháp luật về thanh tra lao động gắn liền với pháp luật khiếu nại, tố cáo

và pháp luật phòng chống tham nhũng Ngoài nhiệm vụ thanh tra, thanh tra lao động có nhiệm vụ rất quan trọng là giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động

1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra lao động

Có thể tóm tắt nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của thanh tra lao động như sau:

- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về lao động, người có

Trang 18

công và xã hội của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên phạm vi cả nước;

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật;

- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về lao động;

- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, người có công

- Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội

- Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.2.4 Tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động

Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế tổ chức năm 1947 đã thông qua Công ước 81 quy định về thanh tra lao động trong công nghiệp và thương mại quy định mỗi nước thành viên của tổ chức lao động quốc tế mà tại đó Công ước này có hiệu lực, phải duy trì một hệ thống thanh tra lao động trong các cơ

sở công nghiệp, cơ sở thương mại (Điều 1, Công ước 81)

Là thành viên của Công ước (được Việt Nam phê chuẩn năm l994), Việt Nam

đã nội luật hóa các quy định của Công ước 81 thể hiện trong hệ thống pháp luật lao động nói chung và pháp luật về thanh tra lao động nói riêng nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho người lao động

Trên thế giới, mỗi nước có cách tổ chức thanh tra chuyên ngành lao

Trang 19

động khác nhau Hệ thống thanh tra lao động được chia thành "Thanh tra chung" và

"Thanh tra chuyên ngành" Các nước Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và các nước nói tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha lựa chọn mô hình "Thanh tra chung" Theo mô hình thì phạm vi thanh tra rất rộng, bao gồm các nội dung như an toàn, vệ sinh lao động, điều kiện lao động, tiền lương, lao động bất hợp pháp, lao động di cư… Đối với các nước như Thụy Điển, Anh, Áo, các nước Bắc Âu, Niu di lân, Ai len thì lựa chọn theo mô hình "Thanh tra chuyên ngành" có phạm vi thanh tra chủ yếu tập trung vào việc tuân thủ các quy định về sức khỏe và an toàn lao động, phúc lợi và các điều kiện chung trong những quy định về lao động Ngoài ra có những nước chỉ tập trung vào lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, còn các vấn đề thực hiện chính sách lao động có cơ chế giải quyết khác như hòa giải, Trọng tài hay Tòa án

Ở Việt Nam, Thanh tra LĐ-TB&XH được tổ chức theo nguyên tắc "song trùng trực thuộc", tức là vừa phụ thuộc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp về lãnh đạo, chỉ đạo, vừa phụ thuộc cơ quan thanh tra cấp trên về tổ chức, nghiệp vụ, công tác Theo mô hình này, ở cấp Trung ương có Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH Ở cấp địa phương có Thanh tra Sở LĐ-TB&XH tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Thanh tra Bộ chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra của Thanh tra Chính phủ, theo quy định của pháp luật

Thanh tra thuộc Sở LĐ-TB&XH các tỉnh, thành phố chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra hành chính của thanh tra cấp tỉnh và hướng dẫn về công tác, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ

Pháp luật Việt Nam quy định, Thanh tra LĐ-TB&XH thực hiện hoạt động thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành với hai hình thức thanh tra là thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất; phương thức thanh tra là thanh tra theo Đoàn hoặc thanh tra độc lập, ngoài ra còn có phương thức thanh tra viên phụ trách vùng

Trang 20

Hoạt động thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH Hoạt động thanh tra chuyên ngành thanh tra lao động đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân về việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước trong các lĩnh vực lao động như hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiền công và trả công lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động

Trang 21

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA

LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam

2.1.1 Quy định về cơ quan, tổ chức, đối tượng, nguyên tắc và hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra lao động

- Quy định về cơ quan thực hiện chức năng thanh tra:

Điều 4, Luật thanh tra năm 2010 quy định cơ quan thực hiện chức năng thanh tra là Cơ quan thanh tra nhà nước và Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành Cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ; Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh); Thanh tra sở; Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thanh tra huyện) Theo đó, bộ máy thanh tra được xác định là hệ thống các cơ quan thanh tra từ trung ương đến địa phương, có mối liên hệ với nhau trong công tác thanh tra, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp, đồng thời chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Tổng Thanh tra Chính phủ về tổ chức

và hoạt động thanh tra

Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục, cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên

Trang 22

ngành Hoạt động thanh tra chuyên ngành có những đặc điểm đó là do các cơ quan

có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiến hành (như Bộ, Sở, Thanh tra

bộ, Thanh tra sở), cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc sở) Đối tượng thanh tra chuyên ngành là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành; Nội dung của thanh tra chuyên ngành là xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắc quản lý của ngành

- Quy định về cơ quan thực hiện chức năng thanh tra lao động:

Hoạt động thanh tra chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì vậy pháp luật phải quy định cụ thể những cơ quan được thực hiện chức năng thanh tra lao động Bộ luật lao động năm 2012 quy định tại Khoản 1, Điều 237 là Bộ LĐ-TB&XH, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động Đồng thời quy định Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về lao động (Khoản 1, Điều 238, Bộ luật lao động) Việc thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự phối hợp của thanh tra chuyên ngành về lao động (Khoản 2, Điều 238, Bộ luật lao động)

Theo quy định tại Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra ngành LĐ-TB&XH, Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH là cơ quan thuộc Bộ LĐ-TB&XH, giúp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH quản

lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; thực hiện thanh tra hành chính, thanh chuyên ngành; giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham những thuộc lĩnh vực LĐ-TB&XH trong phạm vi cả nước Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng Bộ LĐ-

Trang 23

TB&XH và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ Thanh tra Sở LĐ-TB&XH là cơ quan thuộc Sở LĐ-TB&XH, giúp Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật Thanh tra Sở LĐ-TB&XH chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc Sở LĐ-TB&XH; chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra hành chính của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra LĐ-TB&XH Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các công chức khác

- Quy định về hoạt động thanh tra chuyên ngành lao động:

Hoạt động thanh tra chuyên ngành lao động được quy định là việc thực hiện các quy định pháp luật lao động về báo cáo định kỳ; tuyển dụng và đào tạo lao động; hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiền công và trả công lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động; việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật, lao động chưa thành niên; việc thực hiện các quy định đối với lao động là người nước ngoài; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; việc thực hiện các quy định khác của pháp luật lao động Các hoạt động trên được thực hiện dưới hình thức thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất (Quy định tại Điều 20- Nghị định 39/2013/NĐ- CP, ngày 24/4/2013 của Chính phủ)

- Quy định về đối tượng thanh tra lao động:

Đối tượng thanh tra ngành LĐ-TB&XH được quy định tại Điều 2, Nghị định 39/2013/NĐ-CP, ngày 24/4/2013 của Chính phủ bao gồm: (1) Cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ LĐ-TB&XH, Sở LĐ-TB&XH; (2) Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ LĐ-TB&XH, Sở LĐ-TB&XH

Trang 24

- Quy định về nguyên tắc hoạt động của thanh tra lao động:

Pháp luật hiện hành quy định nguyên tắc hoạt động của ngành thanh tra TB&XH như sau: (1) Hoạt động của thanh tra ngành LĐ-TB&XH phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời; (2) Hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành theo Đoàn thanh tra; hoạt động thanh tra chuyên ngành được tiến hành theo Đoàn thanh tra hoặc do Thanh tra

LĐ-viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập (Điều 4, Nghị định

39/2013/N Đ-CP, ngày 24/4/2013)

Với quy định như trên, trong quá trình tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật thanh tra, vừa đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành

2.1.2 Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra

Bộ, Thanh tra Sở, Chánh Thanh tra Sở, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội

Nghị định 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 là sự cụ thể hóa quy định của pháp

luật về thanh tra lao động, trong đó quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra lao động; nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra

Bộ (Điều 7), Chánh Thanh tra Bộ (Điều 8), Thanh tra Sở (Điều 10), Chánh Thanh tra Sở LĐ-TB&XH (Điều 11), thanh tra viên (Điều 17), cộng tác viên thanh tra lao động (Điều 19)

- Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Thanh tra vi ệc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của

c ơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ; thanh tra đối với

doanh nghi ệp nhà nước do Bộ trưởng quyết định thành lập;

b) Thanh tra vi ệc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn

– k ỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc

ph ạm vi quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách;

Trang 25

c) Thanh tra v ụ việc khác do Bộ trưởng giao;

d) Ki ểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử

lý sau thanh tra c ủa Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra

chuyên ngành thu ộc bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vụ việc thuộc

ngành, l ĩnh vực quản lý nhà nước của bộ khi cần thiết.” (Khoản 2, Điều 18, Luật

thanh tra)

Ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 18 Luật thanh tra, Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 7, Nghị định số 39/NĐ-CP Đối với Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH, ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 19 Luật thanh tra, Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 8, Nghị định số 39/NĐ-CP

- Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH có một trong những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

2 Thanh tra vi ệc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của

c ơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của sở

3 Thanh tra vi ệc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn

– k ỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc

ph ạm vi quản lý của sở” (Khoản 2, 3, Điều 24, Luật thanh tra)

Ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 24 Luật thanh tra, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 10, Nghị định số 39/NĐ-CP Đối với Chánh Thanh tra Sở LĐ-TB&XH, ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 25 Luật thanh tra, Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 11, Nghị định số 39/NĐ-CP

Thanh tra viên ngành LĐ-TB&XH là công chức của Thanh tra Bộ, Thanh tra

Sở được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo quy

Trang 26

định của pháp luật và các nhiệm vụ khác Thanh tra viên ngành LĐ-TB&XH thực

hi ện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật (Khoản 1, 3, Điều 17, Nghị

Ngoài việc tuân thủ quy định của Luật thanh tra, các quy định trong Nghị định

số 39/NĐ-CP về thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra LĐ-TB&XH cũng có những quy định mang tính chất đặc thù của ngành (từ Điều 17 đến Điều 19)

2.1.3 Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thanh tra ngành Lao động-Thương binh và Xã hội

Nghị định 39/2013 NĐ-CP quy định trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan Thanh tra LĐ-TB&XH và các cơ quan, tổ chức có liên quan: Thanh tra bộ phối hợp với các đơn vị trực thuộc Thanh tra Chính phủ; cơ quan chức năng, Thanh tra các bộ, ngành; Bảo hiểm Xã hội Việt Nam; Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; các tổ chức đại diện người sử dụng lao động, người lao động khác; Tổng cục, Cục, Vụ thuộc Bộ LĐ-TB&XH, Thanh tra tỉnh, Sở LĐ-TB&XH và các cơ quan có liên quan trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng Thanh tra sở phối hợp với Thanh tra bộ; Thanh tra tỉnh; cơ quan chuyên môn, Thanh tra các sở, ngành của tỉnh; Bảo hiểm xã hội tỉnh; Liên đoàn Lao động cấp tỉnh, các tổ ch ức đại diện người sử dụng lao động, người lao động khác; Thanh tra huyện, Phòng LĐ-TB&XH

và các cơ quan có liên quan trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân và phòng, chống tham nhũng

Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Các cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có trách nhiệm phối hợp với cơ

Trang 27

quan Thanh tra LĐ-TB&XH trong hoạt động thanh tra Thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đối tượng thanh tra theo quy định pháp luật

2.1.4 Quy định về nội dung thanh tra chuyên ngành lao động

Nội dung thanh tra chuyên ngành việc thực hiện các quy định pháp luật nói chung và lao động nói riêng được Nghị định 39/2013 NĐ-CP quy định cụ thể Theo

đó, việc thực hiện các quy định pháp luật lao động bao gồm các nội dung sau: Việc thực hiện các loại báo cáo định kỳ; tuyển dụng và đào tạo lao động; hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiền công

và trả công lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động; việc thực hiện các quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật, lao động chưa thành niên; việc thực hiện các quy định đối với lao động là người nước ngoài; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; việc thực hiện các quy định khác của pháp luật lao động (Điểm a, Khoản 2, Điều 20, Nghị định 39/2013 NĐ-CP)

- Đối với quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, theo quy định tại

Khoản 1, Điều 5 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn, vệ sinh lao động thì nghỉ trong giờ làm việc được áp dụng khi tổ chức làm việc trong ca liên tục (3 ca, mỗi ca 8 giờ; 4 ca, mỗi ca 6 giờ) Về thời gian bắt đầu và kết thúc của ca sáng, ca chiều: Pháp luật hiện hành chỉ quy định về giới hạn thời giờ làm việc, không quy định thời điểm bắt đầu ca làm việc Thời điểm bắt đầu ca làm việc do doanh nghiệp quy định trong nội quy lao động Pháp luật hiện hành không quy định tính thời gian nghỉ ăn trưa vào giờ làm việc, chỉ quy định trong ca làm việc liên tục phải có ít nhất 30 phút nghỉ giữa giờ đối với ca ngày và nghỉ giữa giờ 45 phút đối với ca đêm Thời gian nghỉ giữa giờ này được tính vào thời giờ làm việc

- Đối với quy định về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, kỷ luật lao động

theo Điều 118 của Bộ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động Trong quá

Trang 28

trình lao động, người lao động phải tuân thủ nội quy lao động của doanh nghiệp Khi vi phạm nội quy lao động, người lao động phải chịu một trong các hình thức kỷ luật theo Điều 125 BLLĐ Đối với lao động nữ, Khoản 4 Điều 123 quy định

“Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian

sau đây: d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới

12 tháng tu ổi.”

- Đối với quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động: An toàn lao động là

chỉ việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động Vệ sinh lao động là chỉ việc ngăn ngừa bệnh tật do những chất độc hại tiếp xúc trong quá trình lao động gây ra đối với nội tạng hoặc gây tử vong cho người lao động An toàn lao động và vệ sinh lao động là những chế định của luật lao động bao gồm những quy phạm pháp luật quy định việc đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động nhằm bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của người lao động An toàn lao động không tốt thì gây ra tai nạn lao động, vệ sinh lao động không tốt thì gây ra bệnh nghề nghiệp Được đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe trong quá trình lao động là quyền quan trọng nhất của người lao động Xuất phát từ nhận thức “con người là vốn quý”, pháp luật lao động quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc đảm bảo các điều kiện về an toàn lao động, vệ sinh lao động

- Đối với quy định về lao động nữ, lao động chưa thành niên

Do đặc điểm riêng về giới tính mà ngoài những quy định cho người lao động nói chung pháp luật còn quy định riêng cho lao động nữ Điều 155, BLLĐ quy định:

“Ng ười sử dụng lao động không được sử dụng lao động nữ làm việc ban đêm, làm

thêm gi ờ và đi công tác xa trong các trường hợp sau đây:

a) Mang thai t ừ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao,

vùng sâu, vùng xa, biên gi ới, hải đảo;

Trang 29

b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi

2 Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được

chuy ển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà

v ẫn hưởng đủ lương

3 Ng ười sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt

h ợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản,

nuôi con d ưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân

ch ết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết hoặc

ng ười sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động

4 Trong th ời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định

c ủa pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không

b ị xử lý kỷ luật lao động

5 Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút; trong

th ời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian

làm vi ệc Thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.”

Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động Khi sử dụng người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu (Điều 162, BLLĐ)

Bộ luật lao động và các văn bản quy định chi tiết tạo nên hệ thống pháp luật đầy đủ trong lĩnh vực lao động Căn cứ vào các quy định cụ thể để triển khai hoạt động thanh tra lao động đối với từng nội dung tương ứng được quy định trong pháp luật chuyên ngành về lao động

Trang 30

2.1.5 Quy định về trình tự, thủ tục hoạt động thanh tra lao động

Hoạt động thanh tra với tư cách là chức năng thiết yếu trong quản lý nhà nước,

là một khâu trong chu trình hoạt động quản lý nhà nước đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc và trình tự theo quy định của pháp luật Trên cơ sở của thông tư số 02/2010/TT-TTCP ngày 02/03/2010 của Thanh tra Chính phủ về quy định quy trình tiến hành một cuộc thanh tra và tài liệu Hướng dẫn quy trình thanh tra lao động do

Bộ LĐ-TB&XH và Dự án hỗ trợ thực hiện pháp luật lao động và thúc đẩy quan hệ lao động hài hòa ở Việt Nam (Chính phủ Mỹ) xuất bản 2012, thanh tra lao động tuân thủ đầy đủ các quy trình đã định:

B ước 1: Chuẩn bị và ban hành Quyết định thanh tra

Chuẩn bị thanh tra và quyết định thanh tra là xác định kế hoạch và những nội dung để tiến hành thanh tra, bao gồm các công việc sau: Khảo sát, thu thập thông tin Thông tin là cơ sở quan trọng để quyết định nội dung và kế hoạch thanh tra, do vậy khi thu thập thông tin cần nắm toàn diện các thông tin có liên quan đến mục đích, yêu cầu và đối tượng, sự việc cần thanh tra; thu thập các thông tin liên quan, như: số doanh nghiệp trên địa bàn, tên, địa chỉ doanh nghiệp, ngành nghề hoạt động,

số lao động trong doanh nghiệp, tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo trong thời gian hoạt động; nguồn thông tin: từ các ban ngành cung cấp, báo cáo, từ phản ánh của các cơ quan truyền thông, từ việc khảo sát trực tiếp, từ việc phát phiếu tự kiểm tra việc thực hiện pháp luật lao động…

Đánh giá nhận định: từ việc thu thập các nguồn thông tin tiến hành đánh giá và lập báo cáo khảo sát Lập kế hoạch thanh tra và đề cương thanh tra Ra quyết định, phê duyệt kế hoạch thanh tra Chuẩn bị triển khai thanh tra khi quyết định thanh tra được lưu hành; Trưởng Đoàn thanh tra có trách nhiệm: Thông báo kế hoạch và yêu cầu đối tượng thanh tra chuẩn bị những công việc liên quan tới buổi công bố quyết định thanh tra, họp Đoàn thanh tra, chuẩn bị các điều kiện cần thiết

B ước 2: Tiến hành thanh tra

Công bố quyết định thanh tra tại doanh nghiệp; thực hiện thanh tra tại doanh

Trang 31

nghiệp Thực hiện thanh tra là quá trình sử dụng các phương pháp thanh tra, phát hiện, làm rõ các vấn đề, sự việc để kết luận chính xác, trung thực, khách quan Đoàn thanh tra tiến hành theo các bước sau: Kiểm tra sổ sách, chứng từ và thực tế khu làm việc, nghiên cứu, phân tích, xem xét, xử lý thông tin và số liệu để phát hiện những vấn đề có mâu thuẫn; nhận định những việc làm đúng, những sai phạm, những sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách, chế độ; làm rõ bản chất, nguyên nhân

và trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với từng sai phạm, ký bản xác nhận hoặc biên bản làm việc về tình hình, số liệu theo từng nội dung, sự việc với đối tượng thanh tra, đối chiếu tình hình, số liệu đã ký xác nhận, đã thu thập được với điều kiện, tiêu chuẩn, chính sách, chế độ và diễn biến thực tế, đưa ra dự kiến kết luận về

sự việc được phát hiện, củng cố chứng cứ, cơ sở pháp lý để kết luận đúng, sai, nguyên nhân sai phạm và trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với từng sai phạm, yêu cầu giải trình, đối thoại, chất vấn, thẩm tra, xác minh, làm việc với cán bộ, quần chúng có liên quan, trưng cầu giám định (nếu có), hoàn thiện số liệu, chứng cứ

Xử phạt vi phạm hành chính (nếu có); thông qua biên bản làm việc Trưởng Đoàn thanh tra lập biên bản thanh tra với thủ trưởng cơ quan, tổ chức có tên trong quyết định thanh tra Biên bản thanh tra nêu rõ kết quả từng nội dung thanh tra; nguyên nhân, chứng cứ để kết luận

B ước 3: Kết thúc thanh tra; thực hiện thời hạn thanh tra

Trưởng Đoàn thanh tra tổ chức thanh tra đảm bảo kết thúc thanh tra tại đơn

vị theo đúng thời hạn quy định trong quyết định thanh tra và quyết định gia hạn (nếu có)

Báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra: Chậm nhất mười lăm (15) ngày kể từ ngày kết thúc thanh tra tại đơn vị, Trưởng Đoàn thanh tra phải có báo cáo kết quả thanh tra và dự thảo kết luận thanh tra gửi người ra quyết định thanh tra

Kết luận và lưu hành kết luận thanh tra: Chậm nhất mười lăm (15) ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả thanh tra, người ra quyết định thanh tra xem xét

Trang 32

nội dung báo cáo và ra kết luận thanh tra Việc gửi kết luận thanh tra thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Thanh tra và Điều 31 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ

Sau khi lưu hành kết luận thanh tra, trong thời hạn hai ngày làm việc, Trưởng Đoàn có trách nhiệm bàn giao hồ sơ cuộc thanh tra cho những bộ phận, người được giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật Việc bàn giao hồ sơ, tài liệu phải được lập thành biên bản, lưu cùng hồ sơ cuộc thanh tra Họp rút kinh nghiệm Đoàn thanh tra Cuộc họp rút kinh nghiệm được thực hiện ngay sau khi lưu hành kết luận thanh tra và lập thành biên bản lưu hồ sơ thanh tra

Quy định thủ tục thanh tra hết sức chặt chẽ từ khâu ra quyết định thanh tra đến các bước thực hiện và nhiệm vụ của từng giai đoạn; quy định quyền áp dụng các biện pháp thẩm định, trưng cầu giám định, phúc tra; quyền ra kết luận thanh tra nêu

rõ đúng, sai, có vi phạm hay không? Mức độ vi phạm và kiến nghị biện pháp xử lý

2.1.6 Quy định về xử phạt vi phạm lao động

Nghị định số 88/2015/NĐ-CP, quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Đối với lĩnh vực lao động, quy định mức phạt tiền thấp nhất là 500.000 đồng, mức phạt tiền cao nhất là 100.000.000 triệu đồng Một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực này có thể kể đến là trả lương không đúng hạn, trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện, trả lương cho người lao động thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định, thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn về vị trí việc làm, yêu cầu người lao động thử việc quá một lần; thử việc quá thời gian quy định…

Trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, mức phạt tiền thấp nhất là 5.000.000 đồng, mức phạt tiền cao nhất là 200.000.000 đồng Mức phạt tiền tối đa được áp dụng đối với doanh nghiệp có một

Trang 33

trong những hành vi sau: Cho tổ chức, cá nhân khác sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp mình để đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài; sử dụng Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài của doanh nghiệp khác để tổ chức đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài…

2.1.7 Quy định về giải quyết tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng, thỏa ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề Giải quyết tranh chấp lao động là việc các tổ chức, cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo luật định nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tập thể người lao động với sử dụng lao động về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong quan hệ lao động, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại; xóa bỏ tình trạng bất bình, mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, duy trì và củng cố quan hệ lao động, đảm bảo sự ổn định trong sản xuất

2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam

2.2.1 Khái quát chung về khu công nghiệp Đồng Văn

Khu công nghiệp Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam được thành lập theo quyết định số 335/2006/QĐ-UBND của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam ngày 22/3/2006 về việc thành lập và phê duyệt dự án giao Công ty cổ phần phát triển Hà Nam làm chủ đầu xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Đồng Văn đến nay có 3 khu (KCN Đồng Văn I, II, III) tại thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam KCN Đồng Văn là KCN đa ngành, ít gây ô nhiễm môi trường bao gồm các ngành nghề chính: Công nghiệp lắp ráp cơ khí điện tử; chế biến thực phẩm; công nghiệp nhẹ, hàng tiêu dùng; Chế biến đồ trang sức; Sản xuất linh kiện điện tử chính xác, xe máy, ôtô; đồ điện gia dụng; cơ khí Lực lượng lao động:

Số dân thị trấn Đồng Văn là: 852.695 người Tỉnh Hà Nam dân số khoảng 1,5 triệu người, trong đó 65% là người lao động dưới 35 tuổi Đây là nguồn lao động có thể

Trang 34

cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp trong KCN

Sau hơn 10 năm đi vào hoạt động, với chính sách thu hút đầu tư hiệu quả, môi trường đầu tư thông thoáng tại tỉnh Hà Nam, đến nay KCN Đồng Văn đã lấp đầy được khoảng 80% (tổng diện tích trên 511 ha) với rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước Các nhà đầu tư lớn của Nhật Bản như Tập đoàn Sumitomo, Tập đoàn Honda, Honda Lock, Showa Denko, Tachibana, của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: Cargill; Các nhà đầu tư trong nước như Hanosimex, Vinawind đều đã lựa chọn KCN Đồng Văn để thực hiện dự án đầu tư KCN Đồng Văn đi vào hoạt động đã góp phần tạo điều kiện cho hàng nghìn lao động ở địa phương có việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu cho ngân sách của tỉnh từ các dự án đầu tư trong KCN Do các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp có quy mô lớn và vừa (từ 100 đến 500 lao động), một số doanh nghiệp đầu tư lớn nên khả năng thu hút lao động cao Phần lớn lao động làm việc tại các doanh nghiệp là lao động thời

vụ nên thường xuyên có sự biến động theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Chất lượng nguồn lao động được cải thiện nhưng lao động chưa qua đào tạo vẫn ở mức cao do các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh chủ yếu hoạt động trong các ngành nghề như: chế biến nông, lâm sản, may mặc nên việc sử dụng nhiều lao động phổ thông, chưa qua đào tạo còn khá phổ biến Tỷ lệ lao động là người trình

độ văn hoá còn thấp, chưa được đào tạo nghề chuyên sâu, ý thức hiểu biết pháp luật chưa cao Việc chấp hành tuân thủ pháp luật lao động của người sử dụng lao động chưa nghiêm túc Người sử dụng lao động chưa thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách, quyền lợi cho người lao động do đó việc thực hiện pháp luật lao động trên địa bàn KCN Đồng Văn còn gặp không ít khó khăn

2.2.2 Thực hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn

Thanh tra Sở LĐ-TB&XH đã chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành, cơ quan có liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Kết quả tra, kiểm tra cho

Trang 35

từ 5-20 công nhân lao động Công tác đo kiểm, giám sát nghiêm túc theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt hoặc kế hoạch, cam kết bảo vệ môi trường, điển hình là công ty TNHH HTDD Sumi Việt Nam, Công ty TNHH Friesland Campina Hà Nam, Công ty TNNN Hashima Việt Nam, Công ty TNHH Elite Group, Công ty TNHH Ishigaki, Công ty TNHH Nishu Nam Hà… Các doanh nghiệp thuộc KCN đã chủ động tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ quốc gia

An toàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ

- Thực hiện pháp luật lao động về hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động có vị trí quan trọng trong việc thiết lập và vận hành quan hệ lao động, bảo đảm quyền lợi cho người lao động, giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và là công cụ pháp lý hữu hiệu để quản lý nhà nước Cùng với sự tăng trưởng kinh tế xã hội toàn tỉnh, các doanh nghiệp đã được đầu tư và phát triển nhanh chóng, góp phần tăng trưởng kinh tế xã hội trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung Sự phát triển nhanh của các doanh nghiệp tạo công ăn việc làm cho người lao động, từng bước cải thiện, nâng cao mức thu nhập và đời sống cho người lao động Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm, thực hiện đầy đủ chính sách quyền lợi của người lao động Việc thi hành pháp luật ở các cơ quan doanh nghiệp trong toàn tỉnh

đã được tổ chức triển khai tốt, người lao động được hưởng các quyền lợi và nắm bắt được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động Tổng số lao động thuộc đối tượng ký kết hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp thuộc KCN đã tăng lên đáng kể 100% số doanh nghiệp đã thực hiện ký kết hợp đồng lao động Hầu hết Hợp đồng lao động đã áp dụng ký kết theo đúng mẫu quy định của Thông

Trang 36

tư 21/TT-BLĐTBXH và sửa đổi bổ sung theo Điều 23 Bộ luật Lao động 2012; Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐ-TB&XH

Nội dung các bản hợp đồng và các thoả thuận nêu trong hợp đồng lao động về

cơ bản đã đảm bảo đầy đủ chi tiết, rõ ràng các chế độ, chính sách thỏa thuận giữa người sử dụng lao động với người lao động về tiền lương, BHXH, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, bảo hộ lao động… Kết quả thanh tra cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp và người lao động nhận thức được vai trò quan trọng của việc giao kết hợp đồng; số lao động giao kết hợp đồng lao động đạt khoảng 97,2%, trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt khoảng 96,4%; các doanh nghiệp khác đạt khoảng 96,7%

Về hình thức hợp đồng lao động: Hợp đồng không xác định thời hạn chiếm tỷ

lệ khoảng 30%; hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng chiếm khoảng 55%; số còn lại là hợp đồng lao động mùa vụ chiếm khoảng 15% trong tổng số lao động giao kết hợp đồng lao động Về cơ bản các doanh nghiệp đều thực hiện đúng cam kết ghi trong hợp đồng lao động và giải quyết các chế độ cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện người sử dụng lao động còn vi phạm một số hành vi liên quan đến công tác này như: Không giao bản hợp đồng lao động cho người lao động sau khi ký; giao kết sai loại hợp đồng lao động còn diễn ra nhiều Tỷ lệ lao động ký loại hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân có tỷ lệ thấp, chiếm khoảng 20%; tình trạng ký hợp đồng ngắn hạn

để làm những công việc có tính chất ổn định, thường xuyên, lâu dài vẫn còn diễn ra

ở một doanh nghiệp; nội dung hợp đồng lao động nhiều mục còn ghi chung chung

do đó không thể hiện rõ được quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động; áp dụng thời gian thử việc người lao động vượt quá thời gian quy định và hưởng tiền lương thấp hơn 85% mức tiền lương của người lao động làm việc chính thức; vi phạm các quy định về thanh toán khi chấm dứt hợp đồng như: không trả trợ cấp thôi việc, thanh toán tiền lương tương ứng với số ngày đã làm việc, thanh toán bằng tiền số ngày phép chưa nghỉ… Điển hình vi phạm trong công tác này thuộc về

Trang 37

nhóm may và làm giầy da…

- Thực hiện quy định về Công đoàn và thỏa ước lao động tập thể

Thực trạng việc thực hiện pháp luật lao động về Công đoàn và thỏa ước lao động tập thể Thỏa ước lao động tập thể Thỏa ước lao động tập thể là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động về các điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ lao động Đối với các doanh nghiệp đã

có tổ chức công đoàn, phần lớn đại diện người lao động đã cùng chính quyền thương lượng ký kết thỏa ước lao động tập thể, qua đó nhiều nội dung có lợi hơn cho người lao động theo quy định của pháp luật đã được đưa vào thỏa ước góp phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động như chế độ thi đua, khen thưởng, thăm hỏi hiếu hỷ ốm đau, thăm quan nghỉ mát, phúc lợi tập thể…Tuy nhiên qua thanh tra cũng cho thấy: Người sử dụng lao động thường

từ chối thương lượng khi đại diện người lao động đưa ra yêu cầu thương lượng Đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay người sử dụng lao động phải làm sao vừa tạo được lợi nhuận trong kinh doanh, sản xuất, vừa đảm bảo yêu cầu của pháp luật lao động Vì vậy việc đưa ra các thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động làm tăng chi phí là một vấn đề người sử dụng lao động không mong muốn; Nội dung thỏa ước lao động tập thể còn mang tính hình thức vẫn nặng về sao chép lại các quy định của pháp luật lao động Sau khi ký kết, thỏa ước lao động tập thể không được gửi hoặc gửi chậm hơn thời gian quy định (10 ngày) cho cơ quan quản

lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính Thực hiện Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc Trong 3 năm đi vào thực hiện, các quy định về thương lượng tập thể tại nơi làm việc đã xác định rõ hơn về mục đích, nguyên tắc, quyền yêu cầu thương lượng tập thể, đại diện thương lượng, nội dung, quy trình và trách nhiệm của các bên trong thương lượng tập thể Bộ luật Lao động đã quy định rõ về trách nhiệm của tổ chức công đoàn, tổ chức đại diện người sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động trong thương lượng tập thể theo nguyên tắc không trực tiếp can thiệp vào

Trang 38

quá trình thương lượng, thỏa thuận của người sử dụng lao động và người lao động nhưng phải hỗ trợ tích cực trong quá trình đàm phán, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể Trong quá trình hoạt động, nhiều doanh nghiệp đã chủ động mở các hội nghị thương lượng tập thể tại cơ sở, lấy ý kiến của người lao động về Nội quy lao động, thỏa thuận quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên, đảm bảo đúng quy trình thực hiện quy chế dân chủ nơi cơ sở Thông qua việc thương lượng tập thể, các doanh nghiệp đã tiến hành xây dựng và ký kết Thỏa ước lao động Một số bản Thỏa ước đã có những thỏa thuận có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp

luật lao động (Thỏa ước của Công ty TNHH hệ thống dây dẫn Sumi Việt Nam, Công

ty TNHH Eidai Vi ệt Nam, Công ty TNHH Hashima Việt Nam, Công ty TNHH Dệt Đài Nguyên, Công ty TNHH Anam Electronics Việt Nam Công ty TNHH Naria

Vina, Công ty CP nghiên c ứu và chế tạo công nghiệp, Công ty Cổ phần dinh dưỡng

H ồng Hà Công ty TNHH Hashima, công ty TNHH Anam Electronics, công ty

TNHH D ệt Đài Nguyên)

Sau thỏa ước các doanh nghiệp nâng mức ăn ca từ 20.000đ-25.000đ/bữa; hỗ trợ

ca đêm 50.000đ/tháng; xăng xe bình quân: 300.000đ/tháng; nhà trọ bình quân:

200.000đ/tháng; hỗ trợ nuôi con nhỏ: 150.000đ/tháng; giảm giờ làm việc trong tuần, tăng số ngày nghỉ hàng năm, linh động trong nghỉ việc riêng, thưởng từ lợi nhuận, năng suất; hỗ trợ tiền ăn giữa ca, tặng quà mừng ngày lễ Tết, ngày mùng 8/3; 20/10; tổ chức cho cán bộ công nhân viên đi thăm quan nghỉ mát, thăm hỏi ốm đau, ngày hiếu hỉ, thăm khám sức khỏe định kỳ cho người lao động… Bên cạnh những doanh nghiệp chủ động xây dựng Thỏa ước lao động tập thể, trên thực tế vẫn còn rất nhiều doanh nghiệp không thực hiện thương lượng và ký kết Thỏa ước Số doanh nghiệp đã xây dựng Thỏa ước lao động chỉ chiếm khoảng 65% trong tổng số các doanh nghiệp trên địa bàn Nguyên nhân do người sử dụng lao động chưa nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa của Thỏa ước lao động tập thể, nhiều doanh nghiệp chỉ ký kết mang tính hình thức Đa số các doanh nghiệp khi ký kết Thỏa ước lao động đều không có sự thương lượng thực sự giữa các bên, không có

sự tham vấn giữa tổ chức công đoàn đại diện cho người lao động theo quy định Nội

Trang 39

dung Thỏa ước thường do người sử dụng lao động sao chép lại Bộ luật Lao động nên những quy định có lợi hơn cho người lao động cũng thường bị hạn chế Do đó khi xảy ra tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động về chế độ, chính sách, quyền lợi… cơ quan quản lý nhà nước rất khó xác định được cơ sở để giải quyết, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động Một số doanh nghiệp mặc dù đã hoạt động ổn định từ nhiều năm nay, đã có tổ chức công đoàn cơ

sở nhưng chưa chấp hành việc xây dựng và đăng ký Thỏa ước lao động với Sở TB&XH, gây khó khăn trong việc quản lý doanh nghiệp của cơ quan nhà nước Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, không có công đoàn thì không thể có quan hệ lao động đầy đủ, tiến bộ nhưng thực tế hiện nay nhiều chủ sử dụng lao động không muốn có tổ chức công đoàn trong doanh nghiệp, điều đó thể hiện tỷ lệ doanh nghiệp có tổ chức công đoàn tại tỉnh còn đạt thấp Nhiều chủ sử dụng lao động không cộng tác chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi để công đoàn hoạt động như đảm bảo các điều kiện cần thiết: thời gian, hưởng lương trong thời gian hoạt động công đoàn, địa điểm sinh hoạt, cán bộ công đoàn chuyên trách không được hưởng các quyền lợi và phúc lợi tập thể như mọi người lao động trong doanh nghiệp Những chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người lao động chưa được người sử dụng lao động tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc Vai trò làm chủ của người lao động chưa được tôn trọng, nhiều thể chế bảo đảm quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua tổ chức công đoàn cơ sở như tổ chức hội nghị người lao động, ban thanh tra nhân dân, thoả ước lao động tập thể

LĐ-Nhiều chủ doanh nghiệp thực hiện một cách hình thức làm trở ngại cho việc thực hiện vai trò, chức năng của Công đoàn Theo quy định của Luật Công đoàn năm 2012, tổ chức công đoàn được thành lập đại diện cho người lao động tại doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Tuy nhiên, qua các cuộc thanh kiểm tra cho thấy: Hầu hết các doanh nghiệp chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ

sở Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc rất nhỏ, mô hình doanh nghiệp gia đình cũng khá phổ biến Với một doanh nghiệp mà số lao động làm việc chưa đến 10 lao động thì việc thành

Trang 40

lập tổ chức công đoàn cơ sở rất khó khăn Ngoài ra, chủ doanh nghiệp cũng chưa tạo điều kiện cho việc thành lập và hoạt động của tổ chức công đoàn, việc thành lập được tổ chức công đoàn chỉ mang tính đối phó, hình thức Nội dung hoạt động của nhiều tổ chức công đoàn cơ sở còn sơ sài, thiếu thực tế, chủ yếu là thăm hỏi động viên khi ốm đau, hiếu hỉ và một số hoạt động thể thao Do vậy, công đoàn cơ sở chưa làm tốt vai trò là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động

Cơ chế bảo vệ cho người làm công tác công đoàn trong doanh nghiệp chậm được

ban hành

Một số vướng mắc trong thực hiện pháp luật về công đoàn và thỏa ước lao động tập thể Quy định về người sử dụng lao động tại khoản 2 Điều 3 Bộ Luật Lao động 2012 còn chung chung Bởi chưa có hướng dẫn nào chỉ rõ ai là người đại diện cho doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã làm: “Người sử dụng lao động” để

ký kết hợp đồng lao động, đối thoại, thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể, xử lý kỷ luật, giải quyết tranh chấp trong lao động; Khoản 2 Điều 210 Bộ Luật Lao động 2012 quy định: “Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do

tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động”, tuy nhiên để thực hiện được điều này cần phải quy định 53 rõ hình thức, thời gian, nội dung, trình tự, thủ tục để người lao động đề nghị; thẩm quyền cụ thể của công đoàn cấp trên cơ sở trong tổ chức và lãnh đạo đình công Khoản 2 Điều 26 Luật Công đoàn quy định: “Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức doanh nghiệp, đóng bằng 2% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động” Tuy nhiên, việc quy định mức phí này áp dụng cho tất cả các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, không phân biệt đơn vị đó có tổ chức công đoàn cơ sở hay chưa dẫn đến chưa thuyết phục với người sử dụng lao động

- Thực hiện quy định về tiền lương

Thực trạng việc thực hiện pháp luật lao động về tiền lương: Vấn đề tiền lương, tiền thưởng là nội dung quan trọng trong thỏa thuận, thương lượng và ký kết hợp đồng giữa người lao động và người sử dụng lao động, tiền lương bao gồm mức

Ngày đăng: 02/09/2018, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w