1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác xã năm 2012 từ thực tiễn thực hiện tại huyện thường tín, thành phố hà nội

90 192 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hợp tác xã được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và có đăng ký kinh doanh; hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do ít nhất 07 thành viên thành lập, hợp tác tương trợ lẫn n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ “Tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 từ thực tiễn thực hiện tại huyện Thường Tín, thành

phố Hà Nội”là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Những số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực được chỉ rõ nguồn trích dẫn Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay

Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2018

Học viên thực hiện

Lê Ngọc Lâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo, cơ quan, đơn vị, gia đình và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, giảng viên khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Luật Hà Nội, Ủy ban nhân dân và các phòng chuyên môn của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi khai thác và tiếp cận nguồn tư liệu để nghiên cứu luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Vân Anh – Phó Trưởng khoa Sau đại học, Đại học Luật

Hà Nội đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp cận thực tế, xử lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn đề… Nhờ đó, tôi có thể hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp

đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2018

Học viên thực hiện

Lê Ngọc Lâm

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức quản lý hợp tác xã 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp tác xã 7

1.1.2 Vai trò của kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường 14

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm tổ chức quản lý hợp tác xã 16

1.2 Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 18

1.2.1 Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã………

1.2.2 Một số chế định cơ bản về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã 2012………

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃTHEO LUẬT HỢP TÁC XÃ 2012TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33

2.1 Khái quát về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 33

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36

2.1.3 Đánh giá về các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tác động đến với hoạt động của Hợp tác xã và tổ chức quản lý Hợp tác xã ở huyện Thường Tín 38

2.2 Thực trạng tổ chức quản lý của các Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 42

2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện Luật hợp tác xã 2012 ở huyện Thường Tín 42

2.2.2 Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 vềĐại hội thành viên 45

2.2.3 Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 về Hội đồng quản trị 51

Trang 6

2.2.4 Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 về Giám đốc

(Tổng Giám đốc) 56

2.2.5 Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 về Ban Kiểm soát hoặc kiểm soát viên 60

2.3 Đánh giá những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân trong việc thựcthi quy định của Luật hợp tác xã về tổ chức quản lý hợp tác xã tại huyện Thường Tín - Thành phố Hà Nội 62

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI LUẬT HỢP TÁC XÃ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 67

3.1 Phương hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật vềtổ chức quản lý hợp tác xã 67

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và quản lý hợp tác xã 69

3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về Đại hội thành viên 69

3.2.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về Hội đồng quản trị 71

3.2.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật về Giám đốc (Tổng giám đốc) 72

3.2.4 Hoàn thiện các quy định pháp luật về Ban Kiểm soát (Kiểm soát viên) 73

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội 73

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu 2.1 Bản đồ hành chính huyện Thường Tín 34 Bảng 2.2 Phân loại đất theo mục đích sử dụng năm 2016 35 Bảng 2.3 Số lượng và các loại hình hợp tác xã trong các năm 2014 – 2016 44 Bảng 2.4 Thống kê việc thực thi Luật hợp tác xã năm 2012 đến tháng 12/2016 45 Bảng 2.5 Tổng hợp về Hợp tác xã huyện Thường Tín năm 2016 46 Bảng 2.6 Thống kê số lượng và trình độ giám đốc hợp tác xã huyện Thường Tín năm 2016 57

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những thành tựu to lớn của hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta Hơn một thập kỷ trở lại đây, trong khi, “kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là nền tảng của nền kinh tế quốc dân” đang bộc lộ sự bất cập và kém hiệu quả thì thành phần kinh tế tư nhân đang vươn lên mạnh mẽ, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó, “vai trò chủ đạo” của thành phần kinh tế nhà nước, nhất là sự hiệu quả và đóng góp vào nền kinh

tế quốc dân của thành phần kinh tế tập thể cần được xem xét, đánh giá một cách khách quan, khoa học

Kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho xã viên và người lao động Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp của kinh tế tập thể vào GDP giảm sút liên tục Theo báo cáo Tổng kết thi hành Luật Hợp tác xã

2003 của Chính phủ, năm 2010, trong khi, kinh tế tư nhân đóng góp 11,54%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: 18,72%; kinh tế cá thể: 30,78%; kinh tế nhà nước: 33,74% thì kinh tế tập thể chỉ đạt 5,22% Tính đến hết năm 2011, cả nước có khoảng 19.500 hợp tác xã (bao gồm cả hợp tác xã không hoạt động) Số lượng việc làm do khu vực kinh tế tập thể tạo ra giảm sút đáng kể: từ hơn 1,4 triệu việc làm thường xuyên năm 2006 xuống còn hơn 1 triệu việc làm năm 2010 Thu nhập bình quân một lao động làm việc thường xuyên của hợp tác xã rất thấp, năm 2011 đạt khoảng 15,99 triệu đồng (1,333 triệu đồng/tháng) [6, tr.2-3] Có thể nói, đây là một sự suy giảm đáng báo động của thành phần kinh tế tập thể, hoạt động của các hợp tác xã đang bị thách thức to lớn trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế nước ta

Trước yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nhất là

cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Luật Hợp tác xã

2012 đã được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 Đây là cơ

sở pháp lý quan trọng, tạo môi trường thuận lợi cho việc tổ chức và hoạt động

Trang 10

của các hợp tác xã kiểu mới Tuy nhiên qua 03 năm thi hành, do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan việc áp dụng và thực hiện Luật Hợp tác xã 2012 còn nhiều bất cập Do đó, ngay cả khi Luật Hợp tác xã 2012 đã được ban hành, vấn

đề đổi mới tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật vẫn là vấn đề cấp bách và thiết thực, bởi vì sự thi hành pháp luật còn quan trọng hơn là sự tạo ra nó

Thường Tín là một huyện ngoại thành phía nam của Thủ đô Hà Nội, đang

ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa, cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi mạnh

mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, mà ở đó nổi bật là vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp Do đó, việc tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã

2012 ở Thường Tín không chỉ là câu chuyện về thực thi pháp luật mà còn là vấn

đề then chốt, quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong

những năm tiếp theo Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức quản lý Hợp tác xã theo

Luật hợp tác xã năm 2012 ở một địa phương cụ thể; đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp tác xã tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hợp tác xã đã xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ, thực tế cho thấy, hợp tác xã hàm chứa và phản ánh các vấn đề về lịch sử - chính trị - kinh tế Do

đó, đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, với cách tiếp cận khác nhau Việc nghiên cứu hợp tác xã dưới góc độ pháp lý đặt ra nhiều vấn đề bức xúc

và cấp thiết nhằm giải quyết cả về lý luận và thực tiễn với tổ chức hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong lĩnh vực chuyên ngành, trước đây đã có một số đề tài nghiên cứu ở cấp độ khác nhau về Luật hợp tác xã năm 1996, Luật hợp tác xã năm 2003 Tuy nhiên, về Luật hợp tác xã 2012 thì các đề tài nghiên cứu còn chưa nhiều, kể cả dưới góc độ các chuyên đề khoa học hay các bài nghiên cứu trên báo, tạp chí Có thể kể đến một số luận văn sau:

Trang 11

- Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối hợp tác xã ở Việt Nam hiện

Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức và quản lý hợp tác xã, Luận án

tiến sĩ của Trần Thị Thơ (2001), chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội

- Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý trong hợp tác xã ở Việt Nam –

chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội

- Những điểm mới của Luật hợp tác xã 2012, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn

Thị Hải Yến (2014), chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội

- Bình luận những điểm mới của Luật hợp tác xã năm 2012, Khóa luận tốt

nghiệp của Nông Thị Hoàng Yến (2015), ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội Bên cạnh những luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp đại học là những bài nghiên cứu nổi bật đăng trên các tạp chí chuyên ngành, có thể điểm một số nghiên cứu sau:

- Hoàn thiện các quy định Luật hợp tác xã năm 2012 – Trần Ngọc Dũng, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật, số 01/2016, trang 42 – 50

- Bản chất và thuộc tính của hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 –

Nguyễn Viết Tý, Tạp chí Luật học, số 06/2016, trang 67 – 73

Tình hình nghiên cứu nêu trên cho thấy:

- Do Luật hợp tác xã 2012 được ban hành và thực thi chưa lâu nên các công trình nghiên cứu, bài nghiên cứu chuyên sâu về Luật hợp tác xã 2012 còn rất ít

- Các công trình nghiên cứu về Luật hợp tác 2012 chỉ mới đề cập đến một số khía cạnh mang tính lý luận chung, chưa có các công trình nghiên cứu đi sâu về các chế định cụ thể như tổ chức quản lý hợp tác xã và việc triển khai thực hiện luật trong thực tiễn tại một địa phương, đơn vị cụ thể

Do đó, việc nghiên cứu triển khai thực hiện Luật hợp tác xã 2012 về chế định

tổ chức quản lý trong thực tiễn cần phải được tiếp cận và nghiên cứu sâu sắc hơn

Trang 12

3 Mục đích và nhiệm vụ của Đề tài

* Mục đích

Làm sáng rõ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện những quy định pháp lý về tổ chức quản lý hợp tác xã và thực tiễn thực thi chế định này, để

từ đó góp phần giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc thực hiện chế định

tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hợp tác xã ở Việt Nam,

chỉ ra những đặc điểm nổi bật của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường Nghiên cứu có hệ thống về chế định tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác

xã năm 2012

- Nghiên cứu, đánh giá việc thực thi pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác

xã trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; trên cơ sở những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong việc thực thi, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện chế định về tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác

xã 2012 nói riêng và pháp luật về hợp tác xã nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định về tổ chức quản lý hợp tác xã trong Luật hợp tác xã 2012 và các văn bản liên quan;đồng thời, nghiên cứu, làm rõ quá trình thực thi các quy định này trong thực tiễn

- Thông qua việc tìm hiểu quá trình thực thi pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã ở huyện Thường Tín, Hà Nội từ 01/7/2013 đến 01/7/2016, tác giả chỉ

ra những hạn chế, mâu thuẫn, bất cập giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng Qua đó, đưa ra phương hướng, giải pháp để hoàn thiện và thực thi pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã trong thời gian tới

Trang 13

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển thành phần kinh tế tập thể

-Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý nói riêng cụ thể sau đây:

- Phương pháp phân tích, diễn giải được sử dụng khi nghiên cứu những vấn

đề khái quát về hợp tác xã

- Phương pháp đánh giá, bình luận, so sánh, đối chiếu, khảo sát được sử dụng khi nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật tổ chức quản lý hợp tác xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

- Phương pháp tổng hợp, bình luận… được sử dụng khi đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác

xã và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp tác xã tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Đề tài

xã ở Việt Nam và nghiên cứu có hệ thống về chế định tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác xã năm 2012

* Về thực tiễn: Đề tài góp phần vào việc đánh giá, tổng kết tình hình thực

hiện LuậtHợp tác xã 2012 hơn 04 năm qua; nêu lên những tồn tại, vướng mắc về mặt tổ chức quản lý hợp tác xã; qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm

Trang 14

Chương 1: Những vấn đề pháp lý về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật

hợp tác xã 2012

Chương 2: Thực trạng tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã 2012

tại huyện Thường Tín – thành phố Hà Nội

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã và

nâng cao hiệu quả thực thi luật hợp tác xã tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012

1.1 Một số vấn đề lý luận về tổ chức quản lý hợp tác xã

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hợp tác xã

Hợp tác xã (tiếng Anh là Cooperative) là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc Hợp tác xã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1844 tại nước Anh, khi chủ nghĩa tư bản bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ, sự cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh đã diễn ra mạnh mẽ Khi ấy, 28 người thợ dệt ở thị trấn Rochdale đã góp tiền để lập nên một cửa hàng cung cấp bột mì, bơ đường và một số sản phẩm khác cho các thành viên với giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn các cửa hàng của tư nhân Đây

là mô hình hợp tác xã đầu tiên trên thế giới Cùng thời gian này, ở Đức, cũng đã xuất hiện các mô hình hợp tác xã được tổ chức theo các nguyên tắc như: tự do gia nhập, quản lý dân chủ, thực hiện “một người – một phiếu”, góp tỷ suất lợi nhuận và chia lợi tức tỷ lệ với hoạt động doanh số, đào tạo và giáo dục xã viên Đến tháng 8 năm 1895, Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) được thành lập tại London, Vương Quốc Anh

Hình thành cách đây gần hai thế kỷ ở châu Âu, đến nay, hợp tác xã đã phát triển hầu khắp ở các nước trên thế giới, có những đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra sự ổn định, công bằng xã hội Mặc dù, thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hợp tác xã luôn gắn liền với hệ thống pháp luật và các chủ thể kinh doanh, song hợp tác xã luôn có những đặc điểm khác biệt với các hình thức tổ chức kinh doanh thông thường Lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã cho thấy, theo quan điểm phổ biến trên thế giới, hợp tác xã được hiểu là một thiết chế kinh tế - xã hội, với những đặc điểm đặc thù, không hoàn toàn mang bản chất của doanh nghiệp kinh doanh thuần túy Tùy từng quan điểm, nhận thức và cách tiếp

Trang 16

cận khác nhau mà mỗi tổ chức quốc tế, các quốc gia đưa ra các khái niệm về hợp tác xã

Trong khuyến cáo của tổ chức lao động quốc tế (ILO) và định nghĩa về hợp tác xã được coi là có giá trị nhất trên thế giới của Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển hợp tác xã hơn gần 200 năm qua

thì “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của các cá nhân liên kết với nhau

luật hóa Tại điều 1, Luật Hợp tác xã của Cộng hòa Liên bang Đức năm 1989 định

nghĩa: “Hợp tác xã là các hiệp hội không hạn chế về số lượng thành viên, mục đích

tác xã của Thái Lan thì Hợp tác xã được định nghĩa: “Là một nhóm người cùng tiến

(điều 4) Theo đạo Luật này, có hai dạng hợp tác xã: hợp tác xã trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã trách nhiệm vô hạn (điều 7) [25, tr.6-7]

Ở Việt Nam, hợp tác xã ra đời muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới nhưng đã phát huy được vai trò là một tổ chức kinh tế quan trọng Trong cuốn

Đường Kách mệnh (năm 1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến hợp tác xã, Người giải thích: “Tục ngữ An Nam có những câu “Nhóm lại thành giàu, chia ra

quan điểm cụ thể về hợp tác xã: “Hợp tác xã là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi

Trang 17

nhi ều”[25, tr.4-5].Tháng 3/1948, tổ chức hợp tác xã đầu tiên ra đời ở Thái Nguyên,

đó là Hợp tác xã thủy tinh Dân Chủ

Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ thành công, miền Bắc được giải phóng, Đảng và Nhà nước đã coi trọng xây dựng và phát triển hợp tác xã trong các ngành kinh tế, xác định kinh tế hợp tác cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn cả nước kháng chiến chống Mỹ cứu nước, kinh tế hợp tác xã đã phát huy vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra “sức người, sức của” chi viện cho miền Nam, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Hòa bình lập lại, cả nước thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, các hợp tác xã tiếp tục phát triển và có nhiều thay đổi, nhất là khi Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Khái niệm hợp tác xã được luật hóa

để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế

Tại điều 1, Luật Hợp tác xã 2003 quy định: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế

điểm này về hợp tác xã ở Việt Nam cũng tương đối thống nhất, phù hợp với quan điểm của các nước trên thế giới

Theo Luật Hợp tác xã 2012, khái niệm hợp tác xã đã được thay đổi như

sau:"Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít

động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành

Trang 18

viên, trên c ơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý

Như vậy, xét cho cùng hạt nhân của bản chất hợp tác xã được thể hiện thông qua 03 đặc điểm: Tính tự nguyện, thành lập trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng chung

và tính chất đối nhân sâu sắc

(1) Thành viên thành lập và tham gia hợp tác xã trên tinh thần tự nguyện:

Xuất phát từ định nghĩa mang tính phổ biến trên thế giới và đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) và Liên minh hợp tác xã quốc tế khuyến cáo chính thức thì nguyên tắc đầu tiên để lập ra hợp tác xã là “tham gia tự nguyện” Có nghĩa là việc gia nhập hay rút khỏi hợp tác xã phải xuất phát từ nguyện vọng của cá nhân thành viên; người tham gia hợp tác xã không bị bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào ép buộc tham gia hoặc bị buộc phải ra khỏi hợp tác xã Điều này lý giải cho việc khi các thành viên đã tham gia hợp tác xã là sẵn sàng, tự nguyện chấp nhận các nghĩa vụ, trách nhiệm bản thân đồng thời họ cũng không có sự phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo; bên cạnh đó, nếu xét thấy hợp tác xã không mang lại lợi ích cho mình cũng có quyền ra khỏi hợp tác xã theo quy định Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế khách quan: nếu bị bắt buộc phải làm việc trong các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, các thành viên sẽ không có hứng thú, không “chung lưng đấu cật”, không đồng lòng vì hoạt động của hợp tác xã, thái độ làm việc không tích cực, làm chống đối và do vậy hậu quả tất yếu sẽ xảy ra là hoạt động của hợp tác xã bị đình trệ, yếu kém, nghèo nàn, thậm chí là bị giải thể

(2) Hợp tác xã thành lập trên cơ sở nhu cầu và nguyện vọng chung: Thông

qua hợp tác xã, thành viên được đáp ứng nhu cầu với chi phí rẻ, chất lượng tốt và đảm bảo tin cậy; phương án sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã là phương án tổ chức hoạt động đã được bàn bạc dân chủ và đưa vào điều lệ; hợp tác xã đăng ký kinh doanh những ngành nghề tạo ra sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu chung của thành viên chứ không phải ngành nghề đáp ứng vì nhu cầu thị trường

Mặc dù hợp tác xã được thành lập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của các thành viên, nhằm phục vụ chính những người đã sáng lập nên

Trang 19

nó nhưng điều đó không có nghĩa rằng hợp tác xã là tổ chức từ thiện, lại càng không phải là tổ chức xã hội Nếu như tổ chức từ thiện đáp ứng nhu cầu chung của thành viên dưới hình thức trợ cấp; nếu như tổ chức xã hội được thành lập ra nhằm bảo vệ quyền lợi chung của thành viên, mang tính chất hội, hiệp hội; thì hợp tác xã lại là tổ chức kinh tế đặc biệt thúc đẩy hợp tác nhằm đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu trong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của thành viên Nét đặc trưng này cũng đã được khắc họa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã “Hợp tác xã khác với hội

Theo Người, thì trước hết, hợp tác xã được lập ra vì lợi ích chung, vì nguyện vọng chung, hoạt động cũng dựa trên nguyên tắc đó; đồng thời, các xã viên giúp đỡ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất nhưng giúp đỡ ở đây không có nghĩa là “bố thí”,

là cho không mà phải có sự lao động, ai cũng được giúp như nhau, công bằng Nếu hợp tác xã rời rạc, thiếu sự hợp tác, thiếu sự liên kết, hoạt động không đúng với mục tiêu đích thực thì vấn đề tiêu vong là tất yếu Vì vậy, chúng chỉ thực

sự là hợp tác xã đúng nghĩa khi có sự liên kết với nhau trên cơ sở đáp ứng lợi ích chung của các thành viên hợp tác xã Nói tóm lại, nhu cầu và nguyện vọng chung chính là yếu tố hàng đầu, gắn kết giữa các cá nhân, tổ chức lại với nhau thành hợp tác xã, quyết định sự ra đời và tồn vong của tổ chức này

thành hai loại, đó là tổ chức mang tính đối nhân và tổ chức mang tính đối vốn Tổ chức kinh tế đối vốn là các tổ chức thành lập dựa trên cơ sở liên kết về vốn, không quan tâm đến yếu tố nhân thân của người góp vốn Còn đối với tổ chức kinh tế đối nhân là những tổ chức được thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về nhân thân của các thành viên tham gia, sự góp vốn là yếu tố thứ yếu

Trang 20

Doanh nghiệp giống như hợp tác xã, về bản chất cũng là một phương thức liên minh của những cá nhân nhằm mục đích thực hiện những mục tiêu kinh doanh

cụ thể Tuy nhiên, những loại hình doanh nghiệp điển hình được tổ chức và hoạt động trên nguyên tắc đối vốn (trừ công ty hợp danh); trong khi đó, nguyên tắc hoạt động cơ bản của hợp tác xã lại là đối nhân, quyền lực và lợi ích của các thành viên không phụ thuộc vào mức độ góp vốn mà phụ thuộc vào mức độ tham gia sử dụng dịch vụ của hợp tác xã Tính đối nhân của hợp tác xã được thể hiện ở chỗ: thành viên vừa là chủ sở hữu, là người quản lý hợp tác xã; đồng thời cũng là người hưởng lợi (là khách hàng của hợp tác xã)

Như vậy, so với Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật hợp tác xã năm 2012 đã làm rõ được bản chất của hợp tác xã là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế tập thể, thành lập trên tinh thần tự nguyện, nhằm lợi ích chung của các thành viên Luật hợp tác xã năm 2012 đã bỏ quy định “Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp”

Từ định nghĩa về hợp tác xã tại điều 3, Luật hợp tác xã 2012, có thể đưa ra một số đặc điểm của hợp tác xã như sau:

thành phần kinh tế tập thể Đặc trưng của hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể về

tư liệu sản xuất và dựa trên sở hữu của các thành viên hợp tác xã, từ đó mà phát sinh các quan hệ sản xuất và quan hệ phân phối tương ứng

hiện trong toàn bộ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình Trong một thị trường

có tính cạnh tranh và đẩy mạnh sự phát triển, hợp tác xã chính là tổ chức tạo điều kiện tốt nhất cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ và vừa tham gia lao động sản xuất, xóa bớt gánh nặng về thất nghiệp Tham gia hợp tác xã, người lao động còn được nâng cao tinh thần một cách đáng kể bởi tính tương trợ và giúp

đỡ lẫn nhau trong tổ chức này

Bộ luật dân sự 2015 quy định, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ

Trang 21

các điều kiện sau đây: Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập Đối chiếu với quy định tại Luật hợp tác xã 2012 thì hợp tác xã có đầy đủ điều kiện để trở thành một pháp nhân Hợp tác xã được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và

có đăng ký kinh doanh; hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do ít nhất 07 thành viên thành lập, hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh; có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, có tài sản, tự chịu trách nhiệm với tài sản của mình; trong các quan hệ pháp luật, hợp tác xã nhân danh chính mình và độc lập tham gia các quan hệ đó

tự chịu trách nhiệm Nguyên tắc này được quy định tại khoản 4, điều 7 Luật Hợp tác

xã 2012 Hợp tác xã lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm lợi ích của các thành viên

và lợi ích của tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên hợp tác

xã Mối quan hệ giữa các thành viên hợp tác xã với hợp tác xã dựa trên vị trí tương đối độc lập nhưng gắn bó sâu sắc Hợp tác xã luôn tôn trọng quyền độc lập, tự chủ kinh tế của thành viên Sự hình thành và phát triển của hợp tác xã không phá vỡ tính độc lập, tự chủ về kinh tế của mỗi thành viên Khi thành viên là một hộ gia đình hay thậm chí là một tổ chức, pháp nhân để trở thành thành viên hợp tác xã sẽ thực hiện những quy định trong điều lệ hợp tác xã và hợp tác xã không có bất cứ sự can thiệp nào ngoài những quy định trong điều lệ của mình

phẩm dịch vụ của thành viên hoặc theo công sức đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã

Hiện nay, theo quy định của Luật Hợp tác xã 2012, hợp tác xã có nhiều đặc điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh nghiệp Sự khác biệt đó không chỉ nói lên bản chất của hợp tác xã mà còn khẳng định vị trí, ưu thế, vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế nói chung Đó là một

Trang 22

hình thức tổ chức kinh tế thu hút đông đảo người lao động, phát huy sức mạnh tương trợ nhau, rất cần thiết trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

1.1.2 Vai trò của kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường

Trong thời kỳ bao cấp, kinh tế tập thể cùng với kinh tế quốc doanh (sau gọi

là kinh tế nhà nước) là 2 thành phần cơ bản trong nền kinh tế quốc dân Từ Đại hội

VI đến nay, Đảng quyết định chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thừa nhận nền kinh tế gồm nhiều thành phần kinh tế Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, chúng ta từng bước thừa nhận kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài…Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh

tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” [18]

Hiện nay, kinh tế tập thể không phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế, nhưng là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động, tạo sự ổn định về chính trị, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Mô hình tổ chức quản lý hoạt động của hợp tác xã đã đem lại hiệu quả thiết thực hơn cho thành viên nhất là những người lao động yếu thế như thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh…Lợi ích mà hợp tác xã mang lại không chỉ có mặt kinh tế mà còn có mặt chính trị, xã hội

- Thứ nhất, vai trò của kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường: Đối

với nền kinh tế, thành viên hợp tác xã đóng vai trò kép vừa là chủ sở hữu vừa là người sử dụng dịch vụ, tạo ra hai kênh tăng trưởng, một mặt góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của các thành viên trong hoạt động sản xuất kinh doanh riêng của mình, nhờ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả

Trang 23

hoạt động kinh tế của mỗi thành viên; mặt khác, từ hoạt động của mình, hợp tác xã tạo ra sự tăng trưởng cho riêng mình

Theo tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, toàn quốc có 19.216 hợp tác xã, thu hút trên 6 triệu thành viên tham gia Từ sau khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực tới giữa năm 2016 thì cả nước tăng thêm 165 hợp tác xã (0,9%) nhưng số thành viên giảm hơn 286.000 và số lao động giảm hơn 200.000 người Doanh thu bình quân của một hợp tác xã đạt hơn 3,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm 2013, trong đó doanh thu bình quân của hợp tác xã với thành viên cũng tăng từ 1,7 tỷ đồng lên 2,1 tỷ đồng Lãi bình quân của một hợp tác xã tăng từ 194,5 triệu đồng lên 225,6 triệu đồng Thu nhập bình quân của lao động tăng tới 35%, hiện ở mức 35,2 triệu đồng [10]

- Thứ hai, đối với nền chính trị, hợp tác xã về bản chất là một tổ chức kinh tế

nhưng lại mang ý nghĩa chính trị nhất định, bởi lẽ hợp tác xã đã góp phần làm lan tỏa tinh thần “dân chủ” trong xã hội Góp phần nâng cao vị thế xã hội của người lao động trong các hợp tác xã với tư cách không chỉ là người lao động làm thuê mà còn

là người làm chủ cơ sở, từ đó góp phần làm hài hòa mối quan hệ giữa giới chủ và người lao động, giữa tư bản và lao động, làm giảm bớt sự cạnh tranh thị trường khắc nghiệt, không cần thiết giữa các thành viên hợp tác xã

- Thứ ba, đối với văn hóa – xã hội, với tính chất là tổ chức kinh tế - xã hội,

hợp tác xã đã tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như: Góp phần giúp nhiều hộ thoát nghèo, ổn định đời sống, giảm bớt cách biệt xã hội, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho những vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu

số

Việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã còn góp phần phát huy, lan tỏa các giá trị tốt đẹp ra toàn xã hội như: Đề cao sự trung thực, cởi mở, nâng cao trách nhiệm xã hội của từng thành viên hợp tác xã cũng như cộng đồng, hướng con người đến các giá trị cao đẹp như sự đoàn kết, tương thân tương ái, dân chủ… Đây chính

là những giá trị văn hóa mà hợp tác xã đem lại và cũng là điểm nổi bật để phân biệt

Trang 24

hợp tác xã với các tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.3 Khái niệm và đặc điểm tổ chức quản lý hợp tác xã

Hợp tác xã đã ra đời ở Việt Nam gần 70 năm, các công trình nghiên cứu về hợp tác xã khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, việc nghiên cứu để đưa ra các khái niệm, phạm trù về hợp tác xã nói chung và tổ chức quản lý hợp tác xã nói riêng còn chưa đầy đủ và thống nhất Do đó, trong khuôn khổ luận văn này, căn cứ quy định về tổ chức quản lý trong Luật hợp tác 2012, sẽ tiếp cận vấn đề tổ chức quản lý

hợp tác xã theo hướng phân tích từng khái niệm về “tổ chức”,“quản lý” để đi đến

nhận thức chung về vấn đề tổ chức quản lý hợp tác xã

nhằm duy trì hoạt động của các hệ thống, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng có sẵn, các cơ hội để đưa hệ thống đi đến mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của thị

trường “Tổ chức” là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động

trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa trên cơ sở các

nguyên tắc và nguyên tắc của quản trị quy định Như vậy, “tổ chức quản lý” là sự

thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành, dựa trên cơ sở các nguyên tắc quản trị, nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống [26]

Đối với hợp tác xã, việc tổ chức quản lý cũng có nhiều điểm khác biệt so với các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhưng suy đến cùng là sự thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành của hợp tác xã, dựa trên các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã đã được luật hóa, nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu sản xuất kinh doanh và mang đến lợi ích cho các thành viên

Từ nhận thức chung trên, có thể nêu ra một số đặc điểm của tổ chức quản lý hợp tác xã như sau:

pháp luật nào cũng được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định Trong hệ thống pháp luật, những tư tưởng chỉ đạo đó xuyên suốt quá trình lập pháp

Trang 25

cũng như quá trình thi hành và bảo vệ pháp luật Để có sự thống nhất trong quá trình này, cần có những nguyên lý chỉ đạo chung mang tính bắt buộc, những nguyên

lý chỉ đạo này được coi là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Hệ thống pháp luật về hợp tác xã cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản nhất định Những nguyên tắc này gọi là các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã và là cơ

sở cho việc tổ chức quản lý hợp tác xã

Điều 7 Luật Hợp tác xã 2012 quy định cụ thể 7 nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hợp tác xã, bao gồm:

+ Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã

+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã thành viên

+ Thành viêncó quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã; được cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ

+ Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật

+ Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ

sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viênhoặc theo công sức lao động đóng góp của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm

+ Hợp tác xãquan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, cán bộ quản lý, người lao động trong hợp tác xãvà thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác

+ Hợp tác xãchăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên và hợp tác với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế

Trang 26

Th ứ hai, mặc dù tên gọi của các cơ quan tổ chức quản lý trong hợp tác xã

chế tổ chức và hoạt động của hợp tác xã, theo đó tập thể thành viên có vai trò quyết định tất cả các vấn đề quan trọng liên quan tới hoạt động và phát triển của hợp tác xã; các cơ quan quản lý và kiểm soát của hợp tác xã do Đại hội thành viên trực tiếp bầu ra; các thành viên có quyền ngang nhau trong việc bầu ra bộ máy quản lý hợp tác xã

không có sự phân biệt tùy theo trường hợp giữa quản trị và điều hành như trong Luật hợp tác xã 2003 (được phép lựa chọn 1 trong 2 mô hình tổ chức, gồm: Một bộ máy vừa quản lý vừa điều hành hoặc thành lập riêng bộ máy quản lý (điều 27) và bộ máy điều hành (điều 28))

1.2 Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 1.2.1 Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã

Mặc dù thực tiễn điều chỉnh pháp luật về Hợp tác xã luôn gắn liền với hệ thống pháp luật về chủ thể kinh doanh, song hợp tác xã luôn có những đặc điểm khác biệt với các hình thức tổ chức kinh doanh thông thường Lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã cho thấy Hợp tác xã theo quan điểm phổ biến trên thế giới được hiểu là một thiết chế kinh tế - xã hội, với những đặc điểm đặc thù không hoàn toàn mang bản chất của doanh nghiệp kinh doanh thuần túy Tuy rằng trong thực tiễn, không thể phủ nhận

sự tồn tại của những hợp tác xã có các dấu hiệu pháp lý thỏa mãn các điều kiện của một doanh nghiệp (đặc biệt là các hợp tác xã thương mại, dịch vụ), song nhìn chung hợp tác

xã luôn có tính chất đặc thù thể hiện ở nguyên tắc hoạt động và tổ chức quản lý của nó

Do đó, pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã là một bộ phận của hệ thống pháp luật quốc gia được các cơ quan quản lý và hợp tác xã thực thi trong quá trình

tổ chức và hoạt động của hợp tác xã Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã theo

Trang 27

Luật Hợp tác xã 2012 bao gồm các chế định về Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) và Ban Kiểm soát hoặc Kiểm soát viên

Cũng như các hệ thống pháp luật khác, quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã ở Việt Nam cũng gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, Nhà nước điều hành nền kinh tế quốc dân chủ yếu bằng kế hoạch, kế hoạch hóa cao độ, chi tiết Pháp luật về tổ chức quản

lý hợp tác xã không nằm ngoài thực trạng này Trong quá trình tiến hành hợp tác hóa, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ ngành quản lý đã ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn quy định về tổ chức và hoạt động đối với các hợp tác xã trong từng lĩnh vực: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp… Trong đó có các văn bản quan trọng như: Điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp năm 1959 (ban hành kèm theo Thông tư số 449/TTg, ngày 17/12/1959); Điều lệ hợp tác xã thủ công nghiệp Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định số 15/CP, ngày 06/6/1961); Điều lệ mẫu hợp tác xã sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải (gọi tắt là hợp tác xã công nghiệp – ban hành kèm theo Quyết định số 49 – HĐBT, ngày 22/5/198); các Điều lệ về hợp tác

xã thủy sản (ban hành kèm theo Nghị định số 51/HĐBT, ngày 17/3/1982 và Nghị định số 181/HĐBT, ngày 8/11/1989) [16, tr.66]

Năm 1969, Điều lệ tóm tắt hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được thông qua Chương 3 và chương 4 bản Điều lệ đã trình bày những nét sơ lược về các cơ quan gồm Đại hội xã viên (Đại hội đại biểu xã viên), Ban Quản trị và Ban Kiểm soát

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, việc đổi mới tổ chức quản lý hợp tác

xã đã được thực hiện từng bước Nhằm tạo dần quyền tự chủ, giảm bớt mức độ quản lý tập trung của Nhà nước đối với tất cả các thành phần kinh tế, trong đó có hợp tác xã, Nhà nước đã ban hành các văn bản như: Chỉ thị số 67/HĐBT, ngày 20/4/1988 về việc triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới quản

lý kinh tế nông nghiệp; Nghị định số 17/HĐBT, ngày 14/11/1988 ban hành bản quy định về chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông

Trang 28

nghiệp; Chỉ thị số 234/CT, ngày 18/8/1988 về việc triển khai thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với cơ sở sản xuất thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh [16, tr.69]… Nhìn chung các văn bản pháp luật này bước đầu tạo nên những chuyển biến quan trọng đối với việc tổ chức quản lý hợp tác xã nhưng việc chậm trễ ban hành một đạo Luật về hợp tác xã đã làm cho các hợp tác xã không có cơ sở pháp lý để hoạt động, tổ chức lại trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế thị trường

Ngày 20/3/1996, Luật Hợp tác xã đầu tiên được thông qua Kể từ đó, việc tổ chức quản lý hợp tác xã được điều chỉnh bằng văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh, chặt chẽ và có giá trị pháp lý cao Cơ quan quản lý trong hợp tác xã được quy định trong mục tổ chức quản lý trong hợp tác xã, từ Điều 26 đến Điều 35 Luật Hợp tác xã 1996 So với những văn bản pháp lý trước đó, Luật hợp tác xã 1996 có sự đổi mới, quy định chi tiết hơn về tổ chức quản lý trong hợp tác xã

Luật hợp tác xã 2003 trên cơ sở kế thừa những quy định trong Luật hợp tác

xã 1996 về tổ chức quản lý hợp tác xã, các quy định về Đại hội xã viên, Ban Quản trị, Ban Kiểm soát nhìn chung vẫn được quy định tương tự như Luật Hợp tác xã

1996 nhưng có bổ sung hoàn thiện hơn Có thể nêu một số điểm cụ thể như sau: Như vậy, nhìn lại quá trình phát triển pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác

xã, từ Điều lệ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp (1959), bản Điều lệ tóm tắt của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (1969), Luật hợp tác xã 1996, Luật hợp tác xã

2003 thì các cơ quan quản lý của hợp tác xã đều được đề cập đến, bao gồm: Đại hội

xã viên, Ban Quản trị, Ban Kiểm soát, Chủ nhiệm…Những quy định pháp luật về các cơ quan quản lý này được hình thành theo hướng từ thấp đến cao, từ sơ lược đến chi tiết cụ thể, từ chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn Đây chính là

cơ sở để pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã tiếp tục thay đổi phù hợp hơn, hoàn thiện hơn, tạo ra hành lang pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động hiệu quả trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 29

Qua thực tiễn gần 10 năm áp dụng, Luật hợp tác xã 2003 đã dần bộc lộ những hạn chế, bất cập Trước thực tế đó, ngày 20/11/2012, Quốc hội đã thông qua Luật hợp tác xã Luật hợp tác xã 2012 đã thể hiện được bước tiến quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác xã, đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế hợp tác nói chung và hợp tác xã nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật

có liên quan, Luật hợp tác xã 2012 đã góp phần tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động của hợp tác xã nói chung và công tác tổ chức quản lý hợp tác xã nói riêng

Luật Hợp tác xã năm 2012 gồm 9 chương, 64 điều, giảm 01 chương so với Luật Hợp tác xã năm 2003 (bỏ chương về khen thưởng và xử lý vi phạm); tăng thêm 13 điều so với Luật Hợp tác xã2003 Chế định về tổ chức quản lý hợp tác xã được thiết kế tại chương IV, gồm 13 điều Một điểm mới quan trọng trong Luật hợp tác xã 2012 là các chủ thể tham gia hợp tác xã gọi là thành viên thay cho thuật ngữ

xã viên

Ngoài việc thực thi theo các quy định tại chương IV, Luật hợp tác xã 2012, việc tổ chức quản lý Luật hợp tác xã 2012 nói riêng và tổ chức, hoạt động của hợp tác xã nói chung còn được thực hiện theo các quy định của Luật, Nghị định, Thông

tư, Quyết định do Chính phủ và các Bộ, ngành ban hành, cụ thể:

- Về Luật, việc tổ chức quản lý hợp tác xã chịu điều chỉnh bởi một số luật sau: Luật việc làm 2013; Luật Thi đua khen thưởng sửa đổi 2013; Luật sở hữu trí tuệ 2005; Luật kế toán 2003; Luật thi hành án dân sự sửa đổi 2014; Bộ luật lao động; Bộ luật dân sự 2015; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012

Trang 30

Nghị định số 94/2005/NĐ-CP về giải quyết quyền lợi của người lao động ở doanh nghiệp và hợp tác xã bị phá sản

Thông tư số 24/2010/TT-BTC hướng dẫn kế toán áp dụng cho hợp tác xã nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và nghề muối do Bộ tài chính ban hành

- Về Quyết định của cấp trung ương đang có giá trị hiện nay:

Quyết định số 2261/QĐ-TTg năm 2014 phê duyệt chương trình hỗ trợ phát triển hợp tác xã giai đoạn 2015-2020 do Thủ tướng Chính phủ ban hành

Quyết định số 384/QĐ-TTg năm 2011 bổ sung kinh phí thành lập mới, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ hợp tác xã, tổ hợp tác do Thủ tướng chính phủ ban hành

1.2.2 Một số chế định cơ bản về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác

xã 2012

Theo các quy định tại Điều 29, Luật hợp tác xã 2012, bộ máy tổ chức quản lý hợp tác xã gồm các cơ quan: Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên

1.3.1 Đại hội thành viên

Đại hội thành viên là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của hợp tác xã Luật hợp tác xã 2012 quy định về Đại hội thành viên với nhiệm vụ, quyền hạn, cách thức tổ chức làm cho cơ cấu quản lý của hợp tác xã có nét tương đồng với các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật của doanh nghiệp Việt Nam hiện hành

Mỗi thành viên hợp tác xã đều có quyền được tham dự, bàn bạc và biểu quyết trong Đại hội thành viên Đối với các hợp tác xã có quy mô lớn, số lượng thành viên

Trang 31

đông, không thể triệu tập được toàn thể các thành viên đến dự Đại hội thành viên thì có thể tổ chức Đại hội đại biểu thành viên Đại hội đại biểu thành viên có vị trí, vai trò và đầy đủ thẩm quyền như đại hội toàn thể thành viên

Đại hội thành viên gồm đại hội thành viên thường niên và đại hội thành viên bất thường Luật hợp tác xã quy định cụ thể về Đại hội thành viên như sau:

Hợp tác xã có 100 thành viên trở lên có thể tổ chức Đại hội đại biểu thành viên Tiêu chuẩn và trình tự, thủ tục bầu đại biểu tham dự Đại hội đại biểu thành viên do điều

lệ quy định Số lượng đại biểu tham dự Đại hội đại biểu thành viên do Điều lệ quy định nhưng phải bảo đảm:

- Không được ít hơn 30% tổng số thành viên đối với hợp tác xã có từ 100 đến

Về quy trình triệu tập Đại hội thành viên, Luật hợp tác xã 2012 quy định như sau: Đại hội thành viên thường niên phải được họp trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày kết thúc năm tài chính do Hội đồng quản trị triệu tập Đại hội thành viên bất thường do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên hoặc thành viên đại diện của ít nhất một phần ba tổng số thành viên triệu tập theo quy định

Hội đồng quản trị của hợp tác xã triệu tập Đại hội thành viên bất thường trong những trường hợp như: Giải quyết những vấn đề vượt quá thẩm quyền của Hội đồng quản trị; Hội đồng quản trị không tổ chức được cuộc họp định kỳ sau hai lần triệu tập; theo đề nghị của Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên; theo đề nghị của ít nhất một phần

ba tổng số thành viên hợp tác xã

Đại hội thành viên có quyền và nhiệm vụ như sau:

Trang 32

- Thông qua báo cáo kết quả hoạt động trong năm; báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;

- Phê duyệt báo cáo tài chính, kết quả kiểm toán nội bộ;

- Phương án phân phối thu nhập và xử lý khoản lỗ, khoản nợ; lập tỷ lệ trích quỹ; phương án tiền lương và các khoản thu nhập cho người lao động đối với hợp tác xã tạo việc làm;

- Phương án sản xuất, kinh doanh;

- Đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất;

- Góp vốn, mua cổ phần, thành lập doanh nghiệp, liên doanh, liên kết; thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện; tham gia liên hiệp hợp tác xã, tổ chức đại diện của hợp tác xã;

- Tăng, giảm vốn điều lệ, vốn góp tối thiểu; thẩm quyền quyết định và phương thức huy động vốn;

- Xác định giá trị tài sản và tài sản không chia;

- Cơ cấu tổ chức của hợp tác xã;

- Việc thành viên Hội đồng quản trị đồng thời là Giám đốc (Tổng giám đốc) hoặc thuê Giám đốc (Tổng giám đốc);

- Bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị; thành viên Hội đồng quản trị; Trưởng ban kiểm soát, thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên; tăng, giảm số lượng thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;

- Chuyển nhượng, thanh lý, xử lý tài sản cố định;

- Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hợp tác xã;

- Sửa đổi, bổ sung điều lệ;

- Mức thù lao, tiền thưởng của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên; tiền công, tiền lương và tiền thưởng của Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó giám đốc (Phó Tổng giám đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định của điều lệ;

- Chấm dứt tư cách thành viên theo quy định của luật hợp tác xã;

Trang 33

- Những nội dung khác do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên hoặc ít nhất một phần ba tổng số thành viên đề nghị

Các nội dung trong Đại hội thành viên được thông qua khi đạt một tỷ lệ thành viên biểu quyết nhất định Theo quy định tại Điều 34, Luật Hợp tác xã 2012, các nội dung như: Sửa đổi, bổ sung Điều lệ; chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản hợp tác xã, đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của hợp tác xã được thông qua khi có ít nhất 75% tổng số đại biểu có mặt biểu quyết tán thành Các nội dung không thuộc quy định như các trường hợp trên được thông qua khi có trên 50% tổng số đại biểu biểu quyết tán thành; những nội dung khác do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên hoặc ít nhất một phần ba tổng số thành viên hợp tác xã đề nghị Như vậy, căn cứ vào tỷ

lệ phiếu biểu quyết hoặc đề nghị của thành viên thông qua tại Đại hội thành viên, nội dung các vấn đề được biểu quyết tại Đại hội thành viên được chia theo hai loại cụ thể, theo đó, những vấn đề quan trọng bậc nhất sẽ được Đại hội thành viên thông qua khi có

ít nhất 75% tổng số đại biểu có mặt biểu quyết tán thành, những nội dung còn lại được thông qua khi có trên 50% tổng số đại biểu biểu quyết tán thành

Luật hợp tác xã của một số nước khác cũng có sự tương đồng với Luật hợp tác

xã 2012 của Việt Nam Tại Điều 18, Luật Hợp tác xã của Philippin quy định về sửa đổi Điều lệ và Nội quy của hợp tác xã quy định, mọi điều khoản và vấn đề nêu ra trong Điều lệ có thể được sửa đổi nếu được 2/3 xã viên có quyền bầu cử bỏ phiếu tán thành

và không hề gây tổn hại tới quyền của các xã viên bất đồng ý kiến thực hiện quyền được rút khỏi hợp tác xã Điều 12, Luật Hợp tác xã của Ấn Độ quy định hợp tác xã có thể sửa đổi bất kỳ điểm nào của Điều lệ bằng nghị quyết thông qua Đại hội xã viên bởi

đa số của tổng số xã viên hợp tác xã có quyền bầu cử hoặc 1/3 xã viên có mặt hoặc bỏ phiếu Luật về hợp tác xã hành nghề và hợp tác xã làm kinh tế của Cộng hòa Liên bang Đức (1989) còn quy định rõ những nội dung thay đổi trong điều lệ yêu cầu có sự đồng

ý của đa số, tối thiểu ¾ số phiếu biểu quyết, như: Thay đổi đối tượng kinh doanh, tăng

Trang 34

mức vốn góp, đưa hoặc mở rộng nghĩa vụ tham gia với nhiều dự phần… Nhìn chung, pháp luật của các nước đều coi trọng Điều lệ hợp tác xã trong việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã Việc sửa đổi Nội quy, Điều lệ hợp tác xã cần phải được thông qua tại Đại hội thành viên với tỷ lệ nhất định Từng quốc gia có sự quy định về tỷ lệ thành viên hợp tác xã biểu quyết thông qua nghị quyết khác nhau [23,tr.36-37]

1.3.2 Hội đồng quản trị hợp tác xã

Hội đồng quản trị hợp tác xã là cơ quan quản lý hợp tác xã Thành phần Hội đồng quản trị gồm chủ tịch và các thành viên khác Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị do Điều lệ hợp tác xã quy định nhưng tối thiểu là 02 năm và tối đa là 05 năm Chức danh đứng đầu Hội đồng quản trị trong hợp tác xã là Chủ tịch Hội đồng quản trị Khoản 1, điều 37, Luật hợp tác xã 2012 quy định: Chủ tịch Hội đồng quản trị là người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã

Thành viên của Hội đồng quản trị hợp tác xã phải có các tiêu chuẩn sau:

- Là thành viên hợp tác xã;

- Không đồng thời là thành viên Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên, kế toán trưởng, thủ quỹ của cùng hợp tác xã và không phải là cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi; vợ, chồng; con, con nuôi; anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên;

- Điều kiện khác do Điều lệ hợp tác xã quy định

Hội đồng quản trị hợp tác xã họp định kỳ theo quy định của Điều lệ nhưng ít nhất 03 tháng một lần Hội đồng quản trị họp bất thường khi có yêu cầu của ít nhất một phần ba tổng số thành viên Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Hội đồng quản trị, Trưởng Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên, Giám đốc (hoặc Tổng giám đốc) hợp tác xã Cuộc họp của Hội đồng quản trị được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Hội đồng quản trị tham dự Hội đồng quản trị hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số Trong trường hợp biểu quyết mà số phiếu tán thành và không tán thành ngang nhau thì số phiếu biểu quyết của bên có người chủ trì cuộc họp

là quyết định

Trang 35

Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị được quy định tại Điều 36, Luật hợp tác xã 2012 như sau:

- Quyết định tổ chức các bộ phận giúp việc, đơn vị trực thuộc của hợp tác xã, theo quy định của điều lệ

- Tổ chức thực hiện nghị quyết của đại hội thành viên và đánh giá kết quả hoạt động của hợp tác xã

- Chuẩn bị và trình đại hội thành viên sửa đổi, bổ sung điều lệ, báo cáo kết quả hoạt động, phương án sản xuất, kinh doanh và phương án phân phối thu nhập của hợp tác xã; báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị

- Trình Đại hội thành viên xem xét, thông qua báo cáo tài chính; việc quản

lý, sử dụng các quỹ của hợp tác xã

- Trình Đại hội thành viên phương án về mức thù lao, tiền thưởng của thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên; mức tiền công, tiền lương và tiền thưởng của giám đốc (tổng giám đốc), phó giám đốc (phó tổng giám đốc)

- Chuyển nhượng, thanh lý, xử lý tài sản lưu động của hợp tác xãtheo thẩm quyền do đại hội thành viên giao

- Kết nạp thành viên mới, giải quyết việc chấm dứt tư cách thành viên được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 16 của Luật này và báo cáo đại hội thành viên

- Đánh giá hiệu quả hoạt động của giám đốc (tổng giám đốc), phó giám đốc (phó tổng giám đốc)

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê giám đốc (tổng giám đốc) theo nghị quyết của đại hội thành viên

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê phó giám đốc (phó tổng giám đốc) và các chức danh khác theo đề nghị của giám đốc (tổng giám đốc) nếu điều lệ không quy định khác

- Khen thưởng, kỷ luật thành viên, hợp tác xã thành viên; khen thưởng các cá nhân, tổ chức không phải là thành viên nhưng có công xây dựng, phát triển hợp tác xã

Trang 36

- Thông báo tới các thành viênnghị quyết, quyết định của đại hội thành viên, hội đồng quản trị

- Ban hành quy chế hoạt động của hội đồng quản trị để thực hiện quyền và nhiệm vụ được giao

- Thực hiện quyền, nhiệm vụ khác theo quy định của điều lệ, nghị quyết của đại hội thành viên và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước đại hội thành viên và trước pháp luật

Như vậy, Luật hợp tác xã 2012 đã thay đổi tên gọi “Ban quản trị” (Luật Hợp tác

xã 2003) thành “Hội đồng quản trị” và quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị, chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị nhằm tách bạch chức năng quản lý và chức năng điều hành, tránh chồng chéo và nguy cơ lạm quyền trong quản lý, điều hành hợp tác xã

Hầu hết pháp luật về hợp tác xã của các nước đều coi Ban Quản trị là cơ quan quản lý đóng vai trò quan trọng trong hợp tác xã Các quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan này được quy định khá chi tiết Luật hợp tác xã của Philippin tại Điều

39 quy định về thẩm quyền của Ban Quản trị khá ngắn gọn: Ban Quản trị hướng dẫn và giải quyết kinh doanh, quản lý tài sản của hợp tác xã và có thể theo nghị quyết, thực hiện các quyền hạn của hợp tác xã không dành cho Đại hội xã viên theo luật này và theo Điều lệ hợp tác xã; ngoài ra, luật này còn có một số quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, nghĩa vụ của thành viên Ban Quản trị, tuy nhiên, những quy định này rất chung chung, chủ yếu để cho Điều lệ hợp tác xã quy định Luật hợp tác xã của Inđônêxia cũng đề cập đến Ban Quản trị tại phần 8 của Luật này (điều 23) và tại điều

24 của Luật này quy định: Ban Quản trị được giao trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của mình vì lợi ích của hợp tác xã và trên cơ sở các nghị quyết của Đại hội xã viên Đồng thời, Luật có quy định về trách nhiệm của thành viên Ban Quản trị trong phạm vi hoạt động của cơ quan này không để ảnh hưởng đến hoạt động của hợp tác xã Như vậy, Luật hợp tác xã 2012 của Việt Nam quy định về quyền hạn, nghĩa vụ của Hội đồng quản trị cũng tương tự như các nước Philippin và Inđônêxia [23, tr.47]

1.3.3 Giám đốc (Tổng giám đốc) hợp tác xã

Trang 37

Trong các văn bản pháp luật về hợp tác xã trước đây, chỉ có chủ nhiệm hợp tác

xã Luật hợp tác xã 2012, với sự đổi mới trong cơ cấu tổ chức làm cho hợp tác xã quy

mô, hiện đại hơn, đã bỏ quy định về Chủ nhiệm hợp tác xã, người điều hành công việc hàng ngày của hợp tác xã được gọi là Giám đốc (Tổng giám đốc)

Điều kiện trở thành và chấm dứt tư cách Giám đốc (Tổng giám đốc): Khoản 1, điều 38, Luật Hợp tác xã 2012 quy định: Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động của hợp tác xã Về điều kiện trở thành Giám đốc (Tổng giám đốc), khoản 5, điều 40 chỉ quy định một cách khái quát: Giám đốc (Tổng giám đốc) phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và Điều lệ Ngoài ra, các điều kiện về những đối tượng không được là Giám đốc (Tổng giám đốc) và những trường hợp bị miễn nhiễm, bãi nhiễm, cách chức, chấm dứt hợp đồng với chức danh này tương tự như những quy định đối với thành viên Hội đồng quản trị

Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc (Tổng giám đốc) trong hợp tác xã: Trên cơ

sở những quy định của các văn bản pháp luật về hợp tác xã trước đây về Chủ nhiệm hợp tác xã, Luật hợp tác xã 2012 có sự kế thừa và sửa đổi bổ sung, quy định những nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc (Tổng giám đốc) ngày càng đầy đủ hơn Với chức năng điều hành công việc hàng ngày của hợp tác xã, tổ chức thực hiện và quản lý các công việc của hợp tác xã, Giám đốc (Tổng giám đốc) có các quyền hạn sau:

- Tổ chức thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã;

- Thực hiện nghị quyết của Đại hội thành viên, quyết định của Hội đồng quản trị;

- Trình Hội đồng quản trị báo cáo tài chính hàng năm;

- Xây dựng phương án tổ chức bộ phận giúp việc, đơn vị trực thuộc của hợp tác

xã trình Hội đồng quản trị quyết định;

- Tuyển dụng lao động theo quyết định của Hội đồng quản trị;

- Nhận ủy quyền của Chủ tịch Hội đồng quản trị ký kết các hợp đồng nhân danh hợp tác xã;

- Thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ khác theo quy định của Điều lệ hợp tác xã;

Trang 38

Trường hợp Giám đốc (Tổng giám đốc) do hợp tác xã thuê thì ngoài việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ như quy định trên đây còn phải thực hiện quyền hạn, nhiệm

vụ theo hợp đồng lao động

1.3.4 Ban kiểm soát, Kiểm soát viên

Để thực hiện được việc kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật và các quy định của điều lệ, nội quy của hợp tác xã, Ban kiểm soát, Kiểm soát viên đã được thành lập và hoạt động với những quy chế đặc biệt trong các hợp tác xã Ban kiểm soát, kiểm soát viên hoạt động độc lập, kiểm tra và giám sát hoạt động của các hợp tác xã theo quy định của pháp luật và điều lệ của hợp tác xã

Theo Luật hợp tác xã 2012, Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên do Đại hội thành viên bầu trực tiếp trong số thành viên, đại diện hợp tác xã thành viên theo thể thức bỏ phiếu kín Số lượng thành viên Ban kiểm soát do đại hội thành viên quyết định nhưng không quá 07 người Hợp tác xã có từ 30 thành viên trở lên phải bầu Ban kiểm soát Đối với hợp tác xã có dưới 30 thành viên, việc thành lập Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên do Điều lệ quy định

Tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát: Là thành viên Hợp tác xã; không đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), kế toán trưởng, thủ quỹ của cùng hợp tác xã và không phải là cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi; vợ, chồng; con, con nuôi; anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên khác của Ban kiểm soát Điều kiện khác do Điều lệ Hợp tác xã quy định

Ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên chịu trách nhiệm trước đại hội thành viên

và có quyền hạn, nhiệm vụ được quy định tại khoản 4, Điều 39, Luật hợp tác xã

Trang 39

- Kiểm tra hoạt động tài chính, việc chấp hành chế độ kế toán, phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ, sử dụng các quỹ, tài sản, vốn vay của hợp tác xã và các khoản

- Yêu cầu cung cấp tài liệu, sổ sách, chứng từ và những thông tin cần thiết để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát nhưng không được sử dụng các tài liệu, thông tin

mô hình hợp tác xã phát triển một cách tương xứng với vị trí, vai trò mà Đảng, Nhà nước kỳ vọng, nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành, trong đó, phải kể đến Luật Hợp tác xã 1996, Luật Hợp tác xã 2003 Tuy nhiên, vì đó là những cơ sở pháp lý đầu tiên nên không thể tránh khỏi những bất cập, vướng mắc Mặc dù Luật Hợp tác xã

2003 đã khắc phục được khá tốt những hạn chế của Luật Hợp tác xã 1996 nhưng trong

Trang 40

quá trình thi hành trên thực tiễn vẫn còn những bất cập, điển hình là nhận thức về bản chất và mô hình pháp lý hợp tác xã chưa thống nhất, có nhiều cách hiểu khác nhau, dễ gây nhầm lẫn, thậm chí còn lệch lạc

Với mục đích tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của hợp tác xã một cách bền vững trong bối cảnh kinh tế đang hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, Luật hợp tác xã

2012 đã được ban hành, thể chế hóa đầy đủ quan điểm của Đảng về hợp tác xã, góp phần làm rõ và thống nhất nhận thức về bản chất của tổ chức hợp tác xã, phù hợp với kinh nghiệm quốc tế phổ biến và xu hướng mới phát triển hợp tác xã ở nước ta

Luật hợp tác xã 2012 đã tạo ra khung pháp lý hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn cho tổ chức quản lý hợp tác xã trong giai đoạn hiện nay; được đánh giá là luật với những quy định tiến bộ, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta Tuy nhiên việc triển khai tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã 2012 trên thực tế như thế nào, sao cho có hiệu quả, lại là một thách thức lớn với các cơ quan có thẩm quyền

Ngày đăng: 02/09/2018, 23:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w