Trong điều kiện đó, tác giả chọn đề tài “Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình với mong muốn được làm rõ hơn quy định của pháp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN ĐẠI
Trang 2VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGUYỄN VĂN ĐẠI
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN MINH NGỌC
HÀ NỘI – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
Trang 3từ Giáo viên hướng dẫn là Tiến sĩ Trần Minh Ngọc Các nội dung nghiên cứu
và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Các kết quả nghiên cứu chưa được ai công
bố trong các công trình khoa học
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2017
Tác giả
LỜI CẢM ƠN
Trang 4Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ
lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn
của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng
như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Trần Minh Ngọc đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực
hiện nghiên cứu Luận văn của mình Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng
Đào tạo, Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
văn thạc sĩ
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2017
Tác giả
MỤC LỤC
Trang
Trang 5MỞ ĐẦU……… ….… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài……… … 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài………2
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài………4
4 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài……….… 4
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài……….…….5
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn ……… 5
1 Kết cấu của luận văn ……… ………6
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 7
1.1 Khái quát về trọng tài thương mại quốc tế 7
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế 8
1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại quốc tế 15
1.1.3 Các loại trọng tài thương mại quốc tế 16
1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 19
1.2.1 Khái niệm thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 19
1.2.2 Đặc điểm của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 23
1.2.3 Ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 25
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 29
2.1 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 29
2.1.1 Đối tượng của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 29
2.1.2 Hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 33
2.1.3 Nội dungcủa thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 37
2.1.4 Năng lực chủ thể của các bên ký kết thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 46
2.1.5 Ý chí của các bên khi ký kết thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 50
2.1.6 Phân định thẩm quyền giữa Trọng tài và Tòa án ……… …51
2.2 Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được 53
Trang 62.3 Luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 59 2.4 Thỏa thuận trọng tài vô hiệu 64 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỎA THUẬN
3.1 Tình hình hoạt động trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam…… …68
3.1.1 Thực trạng hoạt động trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam… ….68
3.1.2 Nguyên nhân của thực trạng hoạt động trọng tài ở Việt Nam hiện nay.74
3.2 Thực tiễn hoạt động xây dựng thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế của các Doanh nghiệp ở Việt Nam……… 77 3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế tại Việt Nam………… ……… 79
3.3.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả thi hành các quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế………….……… ….79 3.3.2 Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế 80
3.3.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế……… …82 3.3.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế……… ……….… 82 3.3.3.2 Một số giải pháp khác nhắm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định
của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế…… ….…84
KẾT LUẬN……… ……… ………86 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …… ….88
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7ADR : Phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn
TTTT 2010 : Trọng tài Thương mại
PLTTTM 2003 : Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
UNCITRAL : Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế
VIAC : Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Nghị quyết số 01/2014 : Nghị quyết số 01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010
MỞ ĐẦU
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế trong bối cảnh giao thương quốc tế hiện nay ngày càng phức tạp và có xu hướng tăng nhanh, đòi hỏi phải được giải quyết bằng những phương thức có hiệu quả cao cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tranh chấp Trong các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ADR) như trung gian, hòa giải và trọng tài thì trọng tài thương mại với những ưu thế nổi bật của mình là một sự lựa chọn ưa thích đối với các bên tham gia tranh chấp Tác động quốc tế đã có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động trọng tài tại Việt Nam, những điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hiện đang giữ một vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển hoạt động trọng tài tại Việt Nam Việt Nam là thành viên của Công ước New York 1958 từ năm
1995 và hiện đang là thành viên của 50 Hiệp định đầu tư song phương và 11 Hiệp định thương mại tự do đa phần trong đó đều có điều khoản giải quyết tranh chấp đầu tư bằng trọng tài Bên cạnh những đóng góp trong sự tăng trưởng nền kinh tế, những công ước, hiệp định này đảm bảo rằng các doanh nghiệp trong
nước sẽ phải làm quen với “văn hóa” sử dụng trọng tài như là phương thức giải
quyết tranh chấp tối ưu của đối tác, nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với rất nhiều các quốc gia xây dựng luật trọng tài của mình dựa trên Luật Mẫu UNCITRAL, đồng thời cũng là khu vực có nhu cầu sử dụng dịch vụ trọng tài ngày càng tăng như là một hệ quả của việc tăng cường đầu tư và các hoạt động thương mại quốc tế
Tuy vậy, thời gian vừa qua, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn dè dặt khi chọn trọng tài thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực thương mại quốc tế, một mặt do hiểu biết còn hạn chế, mặt khác do hệ thống pháp luật về trọng tài thương mại Việt Nam còn một số bất cập làm giảm tính hấp dẫn của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc
tế Những doanh nghiệp lựa chọn trọng tài thì chưa đánh giá đúng vai trò của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế nên trong quá trình soạn thảo, ký kết
Trang 9thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế còn nhiều thiếu sót dẫn đến những tranh chấp không đáng có sau này Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là yếu tố
cơ bản cần thiết, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ hoạt động trọng tài thương mại quốc tế kể từ lúc khởi đầu trọng tài cho đến khi công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài thương mại quốc tế Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài phụ thuộc một phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài Sự cần thiết hoàn thiện các chế định pháp lý về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế theo đó cũng là một yếu tố tất yếu và là hạt nhân quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý
về trọng tài thương mại quốc tế
Nhận thức được tầm quan trọng của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc
tế, tác giả thấy cần phải có một công trình nghiên cứu về lĩnh vực trọng tài thương mại quốc tế trong đó tập chung chủ yếu vào chuyên đề thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay Trong điều kiện đó, tác giả chọn đề tài “Thỏa thuận trọng tài thương
mại quốc tế theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu của mình với
mong muốn được làm rõ hơn quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, đồng thời so sánh với pháp luật một số quốc gia về cùng vấn đề để thấy được những tiến bộ, hạn chế của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, từ đó có sự điều chỉnh, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các quy định pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế và hướng hoàn thiện
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là vấn đề pháp lý đã được nghiên cứu trong thời gian trước đây và được đề cập trong một số công trình nghiên cứu khoa học cũng như bài đăng trên tạp chí Từ khi Pháp lệnh TTTM 2003 có hiệu lực đến Luật TTTM 2010, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế được công bố Tiêu biểu như:
Nguyễn Thị Thúy Hằng (2004), Luận văn thạc sỹ “Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế”;
Trang 10Bài viết của tác giả Nguyễn Đình Thơ (2006) “Một số vấn đề về thỏa thuận trọng tài” tạp chí Tòa án nhân dân số 20/2006, tr 15-20;
Nguyễn Đình Thơ (2007) Luận án tiến sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật
về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”;
Bài viết của GS-TSKH Đào Trí Úc viết về “Những vấn đề cơ bản của Luật Trọng tài” đăng trong tài liệu hội thảo “Góp ý dự thảo Luật trọng tài” do
Hội Luật gia Việt Nam phối hợp với Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam tổ chức tháng 11/2008 tại Hà Nội;
Vũ Quỳnh Anh (2008), Khóa luận tốt nghiệp “ Những vấn đề pháp lý cơ bản về thỏa thuận trọng tài ở Việt Nam”;
Trần Minh Ngọc (2009), Luận án tiến sỹ luật học “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”;
Hoàng Linh (2009), Khóa luận tốt nghiệp “Tìm hiểu một số vấn đề pháp lý
về thỏa thuận trọng tài”;
Trần Thị Ngọc Anh (2011), Khóa luận tốt nghiệp “Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế và quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
ở Việt Nam”
Các công trình trên đây dù nghiên cứu ở các mức độ khác nhau về thỏa thuận trọng tài thương mại nhưng đã góp phần tạo dựng nên hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu sau này Tuy nhiên, thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là thỏa thuận trọng tài thương mại mang yếu tố quốc tế, vượt qua biên giới quốc gia, thuộc phạm vi điều chỉnh của tư pháp quốc tế, không phải là thỏa thuận trọng tài trong phạm vi thuần túy quốc gia Do đó, trong số các công trình nghiên cứu khoa học đã được liệt kê ở trên thì chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu thật sự đầy đủ, toàn diện về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế the pháp luật Việt Nam hiện hành Trong bối cảnh Pháp luật về trọng tài thương mại quốc
tế đã có sự thay đổi, Luật TTTM 2010 đã có hiệu lực được hơn 6 năm và đã bộc
lộ một số hạn chế qua thực tiễn thi hành, Luận văn này, tác giả nghiên cứu, đánh
Trang 11giá chi tiết về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế trên cơ sở tìm hiểu, so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới nhằm thấy được những điểm tích cực cũng như hạn chế các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao việc thực thi pháp luật trọng tài thương mại nói chung, pháp luật về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế nói riêng
3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, bao gồm: hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, luật áp dụng đối với thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, phân định thẩm quyền giữa trọng tài và Tòa án, thỏa thuận trọng tài vô hiệu v.v từ đó tìm ra những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế Luận văn cũng
sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật Việt Nam
về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
4 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế đã giới hạn trong phần phạm vi nghiên cứu để từ đó nêu ra những thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành, hoàn thiện những quy định này trong thời gian tới Để đạt được mục đích này cần hoàn thành những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, nghiên cứu tổng quát những vấn đề lý luận chung về trọng tài
thương mại quốc tế và thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Thứ hai, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật trọng tài thương
mại Việt Nam về vấn đề thỏa thuận trong tài thương mại quốc tế bao gồm hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, thỏa thuận trong tài không thực hiện được, phân định thẩm quyền giữa tòa án và trọng tài, luật áp dụng trong
Trang 12thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, thỏa thuận trọng tài vô hiệu…so sánh với pháp luật trọng tài thương mại của một số quốc gia trên thế giới qua đó thấy được những ưu điểm, tồn tại, bất cập của pháp luật liên quan đến vấn đề này
Thứ ba, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trọng tài
Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của nghiên cứu Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quán triệt đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế Các phương pháp cụ thể bao gồm: phương pháp thu thập, phân tích, liệt kê, tổng hợp các tài liệu, phương pháp diễn giải, quy nạp và phương pháp so sánh
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Thứ nhất, làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Thứ hai, phân tích đánh giá những quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, so sánh với các Điều ước quốc
tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này Từ đó rút ra những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về vấn đề này
Thứ ba, nêu nguyên nhân, yêu cầu, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật
và thực thi có hiệu quả các quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế theo pháp luật trọng tài Việt Nam hiện hành
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài
thương mại quốc tế
Trang 13Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành các quy định
của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Trang 141.1 Khái quát về trọng tài thương mại quốc tế
Trên thế giới cũng như Việt Nam tồn tại bốn phương thức cơ bản giải quyết tranh chấp thương mại, bao gồm: thương lượng, trung gian hòa giải, trọng tài và tòa án Trọng tài là một trong những phương thức cổ xưa nhất để giải quyết bất hòa giữa người với người, giữa quốc gia với quốc gia Giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài ngày càng trở nên phổ biến ở các nước, nhất là trong các tranh chấp thương mại quốc tế Thực tiễn giải quyết tranh chấp trên thế giới
cho thấy trọng tài ngày càng “đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên”
Quy định sơ khai về trọng tài ở Hy Lạp trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhà nước Về sau Luật La Mã cho phép mở rộng phạm vi tranh chấp, không chỉ trong biên giới lãnh thổ, mà còn ở những nước La Mã có trao đổi hàng hóa,
có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu
Trong hệ thống luật của Anh, văn bản pháp luật đầu tiên về trọng tài phải
kể đến Luật Trọng tài 1697, nhưng vào thời điểm luật được thông qua, đây đã là một phương thức rất phổ biến (phán quyết đầu tiên của trọng tài ở Anh được đưa
ra vào năm 1610) Tuy nhiên các quy định sơ khai về trọng tài trong hệ thống luật Common law thể hiện một hạn chế cơ bản là bất cứ bên tham gia tranh chấp nào cũng có thể khước từ việc thực hiện phán quyết của trọng tài nếu thấy phán quyết đó bất lợi cho mình Hạn chế này đã được khắc phục trong Luật năm 1697 Trong Hiệp ước Jay năm 1794, Anh và Mỹ đã thống nhất đưa các vấn đề còn đang tranh chấp liên quan đến các khoản nợ và biên giới ra giải quyết ở trọng tài Việc giải quyết tranh chấp này kéo dài 7 năm, và được coi là kết thúc thành công Từ đầu thế kỷ XX, các nước (trong đó có Pháp và Mỹ) bắt đầu thông qua các đạo luật quy định và khuyến khích việc phân xử ở cấp trọng tài thay cho kiện tụng ở tòa án vốn được cho là kém hiệu quả hơn
Trước sự phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng phát triển, dẫn tới việc hình thành những
Trang 15tổ chức trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hợp đồng thương mại quốc tế Tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng được thừa nhận rộng rãi, đặc biệt là trong các thập kỷ gần đây Các quốc gia sửa đổi luật pháp về trọng tài cho phù hợp với tình hình thực tế; các điều ước quốc tế về trọng tài đang có thêm những thành viên mới; trọng tài trở thành một môn học trong chương trình đào tạo ngành luật; các doanh nghiệp ngày càng tin tưởng vào một phương thức giải quyết tranh chấp linh hoạt, công bằng, với phán quyết được công nhận rộng rãi trên phạm vi thế giới
Ngày nay, ở tất cả các nước trên thế giới, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn xét
xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế
Trọng tài thương mại quốc tế là một trong những hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến hiện nay trên thế giới Trọng tài thương mại quốc tế trước hết nó mang những đặc điểm chung của một trọng tài Để tìm hiểu trọng tài thương mại quốc tế là gì, trước hết cần nắm được khái niệm về trọng tài?
Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm “Trọng tài”
được đề cập nhiều trong luật quốc tế, được nghiên cứu trên rất nhiều bình diện khác nhau cũng như nhiều cách tiếp cận trong khoa học pháp lý
Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong Công ước La-Hay năm
1899, theo đó: “Trọng tài là nhằm để giải quyết những bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp” Công ước La-Hay 1907 quy định: “Trọng tài quốc tế có đối tượng giải quyết
là những tranh chấp giữa các quốc gia qua sự can thiệp của những trọng tài viên
do các quốc gia tranh chấp tự chọn và đặt trên cơ sở của sự tôn trọng luật pháp”
Trong tác phẩm kinh điển của một số học giả nổi tiếng, theo Okezie
Chukwumerije: “Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên với nhau, được thực hiện thông qua một cá nhân do các bên lựa chọn hoặc bởi việc
Trang 16dựa trên những thủ tục hay những tổ chức nhất định được lựa chọn bởi chính các bên”. [1] Tương tự như vậy, James and Nicholas cho rằng: “Trọng tài được coi như
là một tiến trình tư được mở ra theo sự thỏa thuận của các bên nhằm giải quyết một tranh chấp đang tồn tại hoặc có thể sẽ phát sinh bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc nhiều trọng tài viên”. [2]
Luật mẫu của UNCITRAL – Một văn bản được nhiều nước tiếp nhận khi
xây dựng luật trọng tài, Điểm a, khoản 2, Luật Mẫu định nghĩa : “Trọng tài nghĩa
là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực”. [3]
Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ lại cho rằng: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một hoặc một số người xem xét, giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp thi hành”
Điều 3, Luật trọng tài Hàn Quốc cho rằng “Trọng tài” có nghĩa là một thủ tục để giải quyết bất kỳ tranh chấp luật riêng, không phải bởi việc xét xử của tòa
án, nhưng bằng việc trao các trọng tài viên hoặc các trọng tài theo thỏa thuận của các bên [4]
Mặc dù có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm trọng tài theo các học giả cũng như của một vài quốc gia trên thế giới, tuy nhiên có thể hiểu
rằng: Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của một bên thứ ba trung lập do các bên thỏa thuận chọn để giải quyết tranh chấp giữa họ và quyết định của bên thứ ba này có giá trị bắt buộc thi hành. [5]
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy được một vài đặc điểm cơ bản của trọng tài như sau:
1
Okezie Chukwumerije (1994), Choice of law in international commercial arbitration, Quorum Books
westport, conecticut law Trang 2
2 Markhuleatt – James and Nicolas gouldv (1996), International commercial arbitration: A hand book, LLP
London – New York – Hong Kong.,trang.3
3 Liên Hợp quốc (1985), Đạo luật mẫu về thương mại quốc tế về Luật thương mại quốc tế
4 Arbitration act of korea
5 Luận văn thạc sỹ luật học Trần Phương Chi, Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế theo PL VN hiện hành,2014, trang 5
Trang 17Thứ nhất: Quá trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài diễn ra trên cơ
sở thỏa thuận trọng tài được thiết lập bởi các bên tranh chấp
Thứ hai: Thủ tục trọng tài được xác định bởi các bên và thường là một thủ
tục xét xử kín được điều khiển bởi Hội đồng trọng tài ba người hoặc một người
Thứ ba: Quyết định của trọng tài về vụ tranh chấp có giá trị bắt buộc các bên
phải thực hiện [6]
Vậy “Trọng tài thương mại quốc tế” được hiểu như thế nào? Trọng tài
thương mại quốc tế mang những đặc điểm chung của một trọng tài Nhưng một trọng tài chỉ được coi là trọng tài thương mại quốc tế nếu nó chứa đững cả hai
yếu tố “thương mại” và yếu tố “quốc tế”
Ở Việt Nam, hiện chưa có văn bản nào quy định rõ ràng thế nào là trọng tài thương mại quốc tế Từ định nghĩa của Luật Thương mại 2005 về trọng tài thương mại có thể hiểu: Trọng tài thương mại quốc tế phải chứa đựng cả hai yếu
tố “thương mại” và yếu tố “quốc tế”
a) Về tính “thương mại”
Yếu tố “thương mại” là yếu tố quan trọng khi tìm hiểu về khái niệm trọng
tài thương mại quốc tế bởi trọng tài thương mại quốc tế chỉ giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Thực tế hiện nay, trên bình diện
quốc tế chưa có một định nghĩa thống nhất về “thương mại” Thuật ngữ này trở
thành một từ loại trong ngôn ngữ học, nó được dùng để phân biệt các vụ trọng tài quốc tế liên quan đến tranh chấp kinh doanh hoặc thương mại với các vụ trọng tài quốc tế giữa các quốc gia về các vấn đề tranh chấp biên giới và các vấn đề chính trị khác…, nó cũng dùng để phân biệt các vụ trọng tài quốc tế liên quan đến tranh chấp kinh doanh hoặc thương mại với các vụ trọng tài liên quan đến
http://www.arbiter.wipo.int/arbitration/expedited-rule/compared.html 2004-07-13]
Trang 18các vấn đề như sự chiếm hữu tài sản, lao động và vấn đề tài sản trong quan hệ hôn nhân và gia đình. [7]
Mặc dù Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài đã nỗ lực ghi nhận một sự giải thích về thuật ngữ
“thương mại” nhưng lại dành cho các nước thành viên quyền bảo lưu đối với
khái niệm này
Luật Mẫu của UNCITRAL không nêu định nghĩa chính thức về khái niệm
“thương mại” mà chỉ giải thích thuật ngữ thương mại tại phần chú thích Điều I với phạm vi “các vấn đề phát sinh từ tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại dù là có hợp đồng hay không” Những quan hệ mang tính chất thương mại
bao gồm các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lý thương mại, thuê mua xây dựng công trình; tư vấn kỹ thuật; li xăng; đầu tư; tài chính ngân hàng; bảo hiểm; hợp đồng thăm dò, khai thác; liên doanh và các hình thức hợp tác kinh doanh; vận tải hành khách, hàng hóa bằng đường hàng không, đường sắt, đường bộ hoặc đường biển
Bên cạnh đó, các quốc gia cũng có những định nghĩa khác nhau về “thương mại” Bộ luật thương mại Cộng hòa Pháp hiện hành không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về “thương mại” nhưng tại Điều L110-1 đã liệt kê khá nhiều hành vi
thương mại được thể hiện bởi các thương nhân, bao gồm: mua bán hàng hóa để bán lại, mua bán bất động sản để bán lại, mọi hoạt động trung gian về mua, thuê hoặc bán công trình xây dựng, cho thuê tài sản….Bộ luật thương mại số 48 của Nhật Bản năm 1899 quy định thuật ngữ thương mại được đùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, ủy thác, bảo hiểm, ngân hàng… [8]
Trang 19Hiện nay, ngày càng có nhiều quốc gia mở rộng phạm vi giải quyết của trọng tài không chỉ đối với các tranh chấp thương mại mà còn đối với các quan hệ có tính chất dân sự Một số quốc gia như Anh, Mỹ, Nhật, Thụy Điển, Trung Quốc ….khi ban hành đạo luật trọng tài mới đã mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo đó trọng tài không chỉ giải quyết các tranh chấp thương mại truyền thống mà còn có thể giải quyết các tranh chấp về lao động và dân sự khác trừ các tranh chấp bắt nguồn từ những quan hệ liên quan đến lợi ích công và trật tự công [9]
Ở Việt Nam, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 giải thích hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Khoản 1 Điều 3)
b) Về tính “quốc tế”
Thuật ngữ “quốc tế” được sử dụng để phân biệt sự khác nhau giữa các vụ
trọng tài thuần túy quốc gia hoặc trong nước với các vụ trọng tài, ở một phương diện nào đó, vượt qua biên giới quốc gia và được gọi là quốc tế hoặc theo thuật
ngữ được dùng bởi thẩm phán Jessup, “vượt qua phạm vi quốc gia”. [10] Yếu tố quốc tế của trọng tài được xác định phụ thuộc vào bản chất của tranh chấp và đặc điểm chủ thể tham gia tranh chấp [ 11]
- Về căn cứ dựa vào bản chất của tranh chấp:
Theo giáo trình Tư pháp quốc tế - Trường Đại học Luật Hà Nội, xuất bản
năm 2006 thì “Trọng tài quốc tế là một phương pháp giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài, mà trong đó các bên tranh chấp thỏa thuận, lập ra hoặc chỉ định một bên thứ ba và giao cho bên thứ ba đó quyền được phán xét tranh chấp của họ, phán xét này buộc các bên phải thực hiện”
Theo Từ điển Luật học, nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 định nghĩa:
“Trọng tài quốc tế là cơ quan hoặc phương thức giải quyết tranh chấp phát
Trang 20sinh từ các quan hệ pháp luật thuộc lĩnh vực điều chỉnh của tư pháp quốc tế mà pháp luật cho phép giải quyết bằng trọng tài”
Một sự giải thích cho thuật ngữ “trọng tài quốc tế” cũng được tìm thấy
tại Điều 1492 của Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp (có hiệu lực từ ngày 14/5/1981), theo đó, trọng tài quốc tế được hiểu đơn giản là trọng tài giải quyết tranh chấp quyền lợi trong thương mại quốc tế
Những định nghĩa trên đều đề cập đến bản chất quốc tế của tranh chấp, tuy nhiên nó mang nghĩa khá rộng, nhưng có thể hiểu những tranh chấp sẽ mang bản chất quốc tế nếu liên quan tới bất kì yếu tố nước ngoài nào như: nơi giao kết hợp đồng ở nước ngoài, nơi thực hiện hợp đồng ở nước ngoài, đối tượng hợp đồng nằm ở nước ngoài…
- Về căn cứ vào đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp:
Yếu tố này thường được xác định dựa vào hai dấu hiệu chính, đó là quốc tịch của chủ thể hoặc trụ sở thương mại của các chủ thể hay nơi cư trú thường xuyên của họ Cách tiếp cận này đã được ghi nhận trong Điều I.1(a) Công ước Châu Âu 1961 về Trọng tài thương mại quốc tế:
“Công ước này sẽ được áp dụng với:
(a) Thỏa thuận trọng tài được kí kết với mục đích giải quyết tranh chấp phát sinh từ thương mại quốc tế giữa các cá nhân hoặc pháp nhân có nơi cư trú thường xuyên hoặc trụ sở ở các nước ký kết khác nhau…”
Pháp luật Thụy Sĩ cũng có quy định về việc xác định quốc tịch của các
bên chủ thể tham gia tranh chấp có phải là “quốc tế ” hay không được quy định
tại Điều 176(1) Đạo luật Tư pháp quốc tế của Liên bang Thụy Sĩ Theo đó thì
trọng tài là “quốc tế” khi vào thời điểm thỏa thuận trọng tài được xác lập, ít nhất
có một bên trong thỏa thuận không thường trú hoặc sinh sống thường xuyên ở Thụy Sĩ
Với vai trò là văn bản được xây dựng chuyên áp dụng đối với trọng tài
thương mại quốc tế, định nghĩa về thuật ngữ “quốc tế” có ý nghĩa quan trọng
trong Luật mẫu của UNCITRAL Ngoài việc sử dụng riêng lẻ từng yếu tố hoặc
Trang 21là bản chất của tranh chấp, hoặc là đặc điểm của chủ thể tranh chấp thì Luật Mẫu
đã sử dụng cả hai yếu tố trên để định nghĩa trọng tài là “quốc tế” khi nào? Cụ
thể: Điều 1.3 Luật Mẫu định nghĩa trọng tài là “quốc tế” nếu:
- Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc
- Một trong những địa điểm mà các bên có trụ sở kinh doanh được đặt ở ngoài quốc gia gồm: Nơi xét xử trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;
- Các bên đã thoả thuận rõ ràng rằng đối tượng của thoả thuận trọng tài liên quan đến hơn một quốc gia
Quy định trên của Luật mẫu còn cho thấy ngoài hai yếu tố về bản chất tranh chấp và đặc điểm của chủ thể tham gia tranh chấp thì còn một yếu tố được
sử dụng trong định nghĩa đó là về địa điểm mà đối tượng của tranh chấp có mối quan hệ gần gũi nhất có thể là nước ngoài đối với các bên Đây là một sự giải thích khá rộng về tính “quốc tế” của trọng tài thương mại quốc tế
Tuy nhiên, trên đây chỉ là sự tìm hiểu những góc độ tiếp cận khác nhau của thuật ngữ “quốc tế” Còn để xác định một vụ trọng tài cụ thể nào đó có phải
là “quốc tế” hay không lại phụ thuộc vào pháp luật của quốc gia liên quan
Từ những phân tích ở trên, có thể kết luận rằng: Trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thương mại có yếu tố yếu tố quốc tế giữa các bên chủ thể (chủ yếu là giữa các thương nhân) với nhau bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc số lẻ trọng tài viên, theo một quy trình tố tụng mà các bên lựa chọn và nó kết thúc với một phán quyết có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với các bên
1.1.2 Đặc điểm của trọng tài thương mại quốc tế
Trang 22So với các phương thức giải quyết tranh chấp khác như thương lượng, trung gian hòa giải, tòa án thì trọng tài thương mại quốc tế có những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, trọng tài thương mại quốc tế là một cơ quan tài phán tư: Mặc
dù Tòa án và trọng tài có điểm giống là cùng mang tính chất tài phán tuy nhiên điểm khác biệt cơ bản là trọng tài mang tính chất “quyền lực tư” Trọng tài chỉ
có thẩm quyền xem xét, giải quyết khi có sự thỏa thuận của các bên tranh chấp còn xét xử của Tòa án là đại diện cho quyền lực công Tòa án có thẩm quyền giải quyết đương nhiên theo luật định đối với các vụ tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực nếu các bên không có thỏa thuận khác [12]
Thứ hai, hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại quốc tế
mang tính chất tài phán, có nghĩa là trọng tài được quyền đưa ra phán xét cuối cùng để giải quyết tranh chấp và phán quyết này có giá trị bắt buộc đối với các bên; trường hợp các bên không tự nguyện thì hành phán quyết trọng tài thì sẽ bị cưỡng chế thi hành Điều này làm cho trọng tài hoàn toàn khác với phương thức thương lượng hay trung gian hòa giải Trong phương thức thương lượng hay trung gian hòa giải, các bên tranh chấp phải tự bàn bạc, thỏa thuận để thống nhất phương án giải quyết tranh chấp bất đồng giữa họ và tự nguyện thực hiện phương án đó
Thứ ba, lựa chọn trọng tài thương mại quốc tế để giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế nhằm đảm bảo bí mật cho các nhà kinh doanh tham gia vào tranh chấp Các nhà kinh doanh luôn mong muốn rằng tranh chấp liên quan đến
bí mật thương mại cũng như công việc kinh doanh của họ được giữ bí mật bởi nếu những yếu tố đó của họ nếu bị xét xử dưới sự theo dõi của công luận sẽ ảnh hưởng tới công việc kinh doanh tương lai của họ Nếu như với Tòa án chỉ dựa vào trình tự tố tụng đã được quy định trong pháp luật quốc gia, xét xử và đưa phán quyết về vụ việc một cách công khai thì với phương thức giải quyết tranh
12
Luận văn thạc sĩ luật học – Phạm Chí Dũng, khoa Luật đại học quốc gia HN, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp luật một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam, trang 22
Trang 23chấp thương mại quốc tế bằng phương thức trọng tài thì tại phiên tòa xét xử chỉ tiến hành với sự có mặt của các bên, thực hiện theo phương thức xét xử kín, tách rời khỏi sự chú ý của công luận Do đó, khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các vụ tranh chấp liên quan đến bí mật kinh doanh, khiếm khuyết của hàng hóa, sự kém chất lượng của sản phẩm sẽ được bảo đảm giữ bí mật
Thứ tư, các phán quyết trọng tài thương mại quốc tế có giá trị chung thẩm Về
nguyên tắc, phán quyết trọng tài là chung thẩm, nó buộc các bên phải thi hành Đa số các phán quyết trọng tài đều được thi hành với sự trợ giúp của nhà nước trừ những trường hợp phán quyết bị hủy bởi Tòa án do chủ yếu vi phạm các thủ tục tố tụng trọng tài Tòa án không thể xét xử lại vụ tranh chấp nếu đã có phán quyết của trọng tài
mà chỉ có thể hủy phán quyết trọng tài trên cơ sở xem xét các thủ tục tố tụng trọng tài
có được chấp hành đầy đủ hay không? Trong khi đó, các quyết định của Tòa án thường bị kháng cáo lên nhiều cấp xét xử và hậu quả có thể phán quyết mới của Tòa
án cấp cao hơn có nội dung khác với phán quyết ban đầu đã được đưa ra
1.1.3 Các loại trọng tài thương mại quốc tế
Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam hiện nay đều công nhận trọng tài thương mại quốc tế có hai loại chủ yếu: Trọng tài
vụ việc (Ad-hoc) và Trọng tài thường trực (hay trọng tài quy chế) [13] Mỗi loại trọng tài đều có ưu, nhược điểm riêng vốn bắt nguồn từ chính bản chất của nó Tùy từng vụ việc, hoàn cảnh cụ thể mà các bên tham gia tranh chấp sẽ quyết định hình thức trọng tài nào là phù hợp hơn với tranh chấp thực tế đang tồn tại giữa họ
Cụ thể:
* Trọng tài vụ việc (ad hoc arbitration)
Trọng tài vụ việc là loại hình trọng tài do các bên tranh chấp tự thành lập
để giải quyết vấn đề họ yêu cầu, sau khi giải quyết xong vụ tranh chấp thì hội đồng trọng tài tự giải tán (ad-hoc tiếng Latin có nghĩa là dùng cho việc này, cho thời gian này) Trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài vụ việc có thể
13 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình tư pháp quốc tế, Nxb Tư pháp
Trang 24được tiến hành theo quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài quy chế hoặc không theo quy tắc của tổ chức trọng tài nào mà thủ tục tố tụng do các bên tự quy ước với nhau Đặc điểm của hình thức trọng tài này là không có trụ sở cố định, không
lệ thuộc vào bất kì quy tắc nào
Về ưu điểm: ưu điểm của trọng tài Ad-hoc là thủ tục giải quyết rất gọn nhẹ và linh hoạt, thời gian xét xử ngắn, hai bên dễ dàng đi đến thỏa thuận chung,
ít chi phí Hơn nữa, quy trình giải quyết bí mật là điều được các thương nhân quan tâm
Về nhược điểm: nhược điểm của trọng tài Ad-hoc đó là nó phụ thuộc rất lớn vào sự hợp tác của các bên, vì không có quy tắc tố tụng riêng nên nó phụ thuộc vào hệ thống pháp luật nơi xét xử của trọng tài; Trong trọng tài vụ việc, không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành tố tụng trọng tài và giám sát các trọng tài viên, do đó, kết quả phần lớn phụ thuộc vào năng lực của các trọng tại viên mà hai bên đã thống nhất lựa chọn Vì không có biểu phí có định như trong Trọng tài thường trực, các bên phải thỏa thuận trực tiếp về vấn đề phí với Trọng tài viên, các bên có thể phải thỏa thuận trả thù lao theo giờ, hay theo ngày làm việc, việc đó dẫn tới có thể thù lao, chi phí cuối cùng sẽ còn cao hơn chi phí mà các bên phải trả nếu đưa tranh chấp tới một tổ chức trọng tài
Ở Việt Nam, trước đây chưa có quy định cụ thể về hình thức trọng tài đặc biệt này, tuy nhiên kể từ khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 (Điều 26) có hiệu lực cho đến luật Trọng tài thương mại 2010 hiện hành đã kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài 2003 cũng như xu hướng chung của pháp luật trọng tài đa số các quốc gia trên thế giới thì cũng đều đã thừa nhận sự tồn tại của loại trọng tài vụ việc này tại Điều 41
* Trọng tài quy chế (trọng tài thường trực)
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có tổ chức, được thành lập và
hoạt động thường xuyên theo một quy chế nhất định (Điều lệ, Quy tắc tố tụng của trung tâm trọng tài), có cơ quan thường trực và hoạt động theo quy tắc
Trang 25riêng Ngoài quy tắc riêng, mỗi tổ chức trọng tài còn có danh sách Trọng tài viên của riêng mình
Về ưu điểm: Trọng tài thường trực có rất nhiều ưu điểm, do có quy tắc tố tụng được quy định chặt chẽ, công khai nên quá trình giải quyết tại trung tâm trọng tài này được thực hiện theo các trình tự, thủ tục rất nghiêm túc Các tổ chức trọng tài thường xuyên sửa đổi quy chế để phù hợp với các thay đổi trong
hệ thống pháp luật của các nước và thực tiễn giao dịch thương mại quốc tế Hầu hết các tổ chức trọng tài đều có những chuyên gia hỗ trợ cho quá trình trọng tài, đội ngũ trọng tài viên có trình độ cao, am hiểu trong nhiều lĩnh vực khác nhau (thương mại, hàng hải, thanh toán quốc tế, luật quốc tế, xây dựng, ngân hàng….) khiến cho quá trình tố tụng được diễn ra một cách nhanh chóng và có hiệu quả cũng như có thể thiết lập một hội đồng trọng tài công bằng, khách quan, đảm bảo được quyền lợi chính đáng cho các bên
Cùng với rất nhiều ưu điểm về loại trọng tài này, do đó các tổ chức trọng tài phi chính phủ thường trực đã được thành lập ở rất nhiều nước trên thế giới Tại một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam….trọng tài thường trực được tổ chức dưới hình thức các trung tâm trọng tài bên cạnh Phòng thương mại
và công nghiệp, cũng có những nước trọng tài thường trực được tổ chức dưới dạng công ty hoặc hiệp hội trọng tài như ở Nhật, Mỹ (Hiệp hội trọng tài Mỹ AAA, Hiệp hội trọng tài Nhật Bản JCAA), Anh (Tòa án trọng tài quốc tế Luân Đôn LCIA). [14]
Ở Việt Nam, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) được thành lập theo quyết định
số 204/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993, trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài hàng Hải và Hội đồng trọng tài ngoại thương VIAC có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ quan hệ kinh tế quốc tế và từ ngày 15/4/1996, Trung tâm được phép mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh
14 Luân văn thạc sĩ luật học – Phạm Chí Dũng, khoa Luật đại học quốc gia HN, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp luật một số nước trong khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam, tr13
Trang 26từ những quan hệ kinh doanh trong nước VIAC hoạt động theo điều lệ riêng, giải quyết tranh chấp theo quy tắc tố tụng riêng và là tổ chức trọng tài thương mại có uy tín nhất Việt Nam hiện nay
Về nhược điểm: Ngoài những ưu điểm vượt trội so với hình thức trọng tài Ad-hoc, trọng tài quy chế có những nhược điểm như chi phí cho quá trình trọng tài này thường khá đắt, ngoài phí trả cho các Trọng tài viên, các bên còn phải thanh toán các khoản tiền liên quan tới dịch vụ hành chính Mỗi tổ chức trọng tài có mức phí riêng nhưng thường tương đương với mức phí do ICC thu
1.2 Khái quát về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Thỏa thuận trọng tài là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi các bên tồn tại một thỏa thuận trọng tài, hay nói cách khác, không có thỏa thuận trọng tài thì không có giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Sự thỏa thuận này xuất phát từ sự nhất trí giữa các bên dựa trên tinh thần tự nguyện, không ép buộc Do đó, việc xác định thế nào là thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Theo nghĩa thông thường nhất thì thỏa thuận trọng tài (arbitration agreement) là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết tranh chấp bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh
Khoản 1 Điều 7, Luật Mẫu của UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc
tế quy định: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên
về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức Điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng” [15]
Pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới cũng có những khái niệm cơ bản tương tự về thỏa thuận trọng tài, có thể kể đến như:
15 (Liên hợp quốc (1985), Đạo luật mẫu về thương mại quốc tế về Luật Thương mại quốc tế)
Trang 27Ở Nhật Bản: theo quy định tại Điều 2.1 Luật trọng tài năm 2003 của Nhật Bản thì thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận của các bên về việc đệ trình lên một hoặc các trọng tài viên để giải quyết các tranh chấp dân sự đã phát sinh liên quan đến quan
hệ pháp lý đã được xác định và các bên có trách nhiệm ràng buộc theo phán quyết của trọng tài [16]
Ở Hàn Quốc: Điều 2.3 Luật Trọng tài năm 1999 của Hàn Quốc quy định:
“Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc đệ trình lên trọng tài các tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên đối với các quan hệ pháp lý đã được xác định , dù theo hợp đồng hay không theo hợp đồng” [17]
Ở Singapore: Điều 4.1 Luật Trọng tài Singapore quy định: “Thỏa thuận trọng tài
là thỏa thuận giữa các bên về việc đệ trình lên trọng tài tất cả các tranh chấp đã phát sinh hoặc sẽ phát sinh giữa các bên dù theo hợp đồng hay không theo hợp đồng”. [18]
Đối với Việt Nam, theo Luật TTTM năm 2010 thì: “Thỏa thuận trọng tài
là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh” (khoản 2 Điều 3)
Từ những quy định trên, có thể thấy thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất
ý trí của các bên về việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng bằng phương thức trọng tài Thỏa thuận này có thể lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp và có thể dưới hình thức một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài riêng biệt
Trên thực tế, thường tồn tại những loại thỏa thuận trọng tài như sau:
khoản hợp đồng, tiếng anh được gọi là “arbitration clause” Dạng này được sử
dụng khi các bên đã dự liệu được khả năng xảy ra tranh chấp trước thời điểm
16
(Japanese Arbitration Law 2003)
17 (Arbitration Act of Korea)
18 International Arbitration Act of Singapore (Chapter 143A)
Trang 28giao kết hợp đồng Khi đó, các bên sẽ không chờ tới khi xảy ra tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà thay vào đó, đưa vào hợp đồng các quy định về cách thức
giải quyết các tranh chấp đó bằng một “điều khoản trọng tài”
Thứ hai, ít phổ biến hơn là thỏa thuận trọng tài tồn tại một cách riêng biệt
hay còn gọi là thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết (tiếng anh: thỏa
thuận trước khi xảy ra tranh chấp là “predispute agreement” và thỏa thuận sau khi xảy ra tranh chấp là “ submission agreement) Thường thì dạng này được lập
sau khi xảy ra tranh chấp như một sự bổ sung hoặc sửa đổi điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng Loại thỏa thuận trọng tài này còn được sử dụng với các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ ngoài hợp đồng như tranh chấp giữa các thành viên của công ty mà điều lệ công ty không có quy định về giải quyết loại tranh chấp này
Thứ ba, thỏa thuận trọng tài được thừa nhận bằng cách dẫn chiếu là
một loại thỏa thuận đặc trưng, không thuộc loại nào trong hai loại trên đó là dẫn chiếu theo hợp đồng hoặc dẫn chiếu theo quy định trong điều lệ của doanh nghiệp
+ Dẫn chiếu theo hợp đồng: Khi hợp đồng quy định áp dụng một điều kiện chung nhất định, trong khi điều kiện chung này dẫn chiếu tới việc giải quyết
tranh chấp bằng trọng tài Ví dụ như: Trong hợp đồng có quy định “…theo điều kiện chung của hiệp hội các nhà sản xuất cam Ma rốc”, trong khi Điều 15 của
điều kiện chung này dẫn tới giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài theo Quy tắc tố tụng của Phòng thương mại và công nghiệp Geneva (Thụy Sĩ)
+ Dẫn chiếu theo quy định trong điều lệ của Doanh nghiệp: Khi điều lệ của một doanh nghiệp có quy định giải quyết tranh chấp giữa các thành viên bằng con đường trọng tài thì các thành viên đó phải chấp nhận quy định này Quy định tại Điều lệ cũng có giá trị như là một thỏa thuận trọng tài giữa các bên tranh chấp
Ở Việt Nam, mặc dù chưa có văn bản pháp lý chính thức nào định nghĩa
cụ thể “Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là gì?” Tuy nhiên, căn cứ theo
Trang 29quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật TTTM năm 2010 thì có thể hiểu rằng thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là thỏa thuận trọng tài trong lĩnh vực thương
mại quốc tế bao gồm hai yếu tố “thương mại” và “quốc tế” Yếu tố thương mại
và yếu tố quốc tế của thỏa thuận trọng tài đã được phân tích ở phần 1.1.1
Qua đó có thể hiểu khái quát: “Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là một thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên ký kết nhất trí đưa tất cả hoặc một
số tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh từ giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài (yếu tố quốc tế) có khả năng được áp dụng ra giải quyết bằng con đường trọng tài”
a) Tính tự nguyện
Đây là đặc điểm đặc trưng của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế Thỏa thuận trọng tài là sự thể hiện ý chí của các bên có liên quan trong việc giải quyết tranh chấp Theo đó các bên cam kết, tự nguyện và đồng thuận với nhau về việc sử dụng phương thức trọng tài để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra, đồng thời thỏa thuận cụ thể về cách thức, trình tự giải quyết và các vấn đề khác có liên quan Bản chất của thỏa thuận là sự tự nguyện thống nhất ý chí của các bên về việc sử dụng phương thức trọng tài khi có tranh chấp xảy ra, nếu ý chí đó được thống nhất không dựa trên sự tự nguyện thì không thể coi đó là một thòa thuận được Khi các bên đã có thỏa thuận thống nhất một cách tự nguyện về lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì cũng đồng nghĩa với việc các bên phải tôn trọng, phải thực hiện theo đúng thỏa thuận đã xác lập và cần có trách nhiệm đối với sự lựa chọn của mình
Tính tự nguyện của các bên cũng ảnh hưởng đến thiện chí của các bên khi thi hành quyết định của trọng tài Một khi đã xác lập thỏa thuận trọng tài một cách tự nguyện sẽ góp phần mang lại hiệu quả cho quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài sẽ giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, thuận tiện cho các bên trong trường hợp tất cả các bên đều có thiện chí, trung thực và hợp tác
b) Tính độc lập
Trang 30“Tính độc lập” (autonomy) hay còn gọi là “tính tách biệt” (separability)
Tính chất này được coi như một nguyên tắc phổ biến của trọng tài quốc tế và được công nhận trong luật trọng tài của nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) cũng như trong quy tắc tố tụng của nhiều trung tâm trọng tài (như Tòa án Trọng tài quốc tế ICC) Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài ở đây được xét trong mối quan hệ với hợp đồng Theo đó, giái trị pháp lý của thỏa thuận trọng tài không phụ thuộc vào giá trị pháp lý của hợp đồng chứa đựng nó hoặc có liên quan đến
nó Nếu hội đồng trọng tài quyết định là hợp đồng trong đó có điều khoản trọng tài vô hiệu theo luật áp dụng, thì quyết định này không có nghĩa là điều khoản trọng tài trong hợp đồng cũng vô hiệu[19] và nếu một bên lập luận rằng hợp đồng không tồn tại hoặc không có giá trị pháp lý nhưng tồn tại thỏa thuận trọng tài có liên quan thì giá trị của thỏa thuận trọng tài này là độc lập với hợp đồng đó Quy định này giúp cho các tranh chấp vẫn được giải quyết bằng con đường trọng tài
kể cả khi hợp đồng bị chính hội đồng trọng tài tuyên là vô hiệu, ví dụ: do có nội dung vi phạm pháp luật Thỏa thuận trọng tài trong trường hợp đó sẽ được coi là tách riêng khỏi hợp đồng có nội dung vi phạm pháp luật đó Nói như vậy không
có nghĩa là thỏa thuận trọng tài không bao giờ bị vô hiệu Ví dụ luật pháp yêu cầu hợp đồng phải được cả hai bên ký kết, nhưng nếu hợp đồng chỉ được một bên ký, thì hợp đồng vô hiệu và bản thân thỏa thuận trọng tài trong đó cũng bị vô hiệu theo Nhưng trong trường hợp này, thỏa thuận trọng tài vô hiệu là vì, kể cả khi được tách riêng, thỏa thuận này vẫn vô hiệu, chứ việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu ở đây không phải là hậu quả của việc vô hiệu của hợp đồng chính
Tính riêng biệt của thỏa thuận trọng tài lần đầu tiên được ICC ghi nhận tại phiên bản Quy tắc tố tụng trọng tài của ICC năm 1955 và được kế thừa qua các phiên bản tiếp theo Khoản 4, Điều 6 Quy tắc Tố tụng trọng tài của ICC (1998) quy định:
19 Phòng thương mại và Công nghiệp Việt nam (2008), Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, Hà Nội (tr 129)
Trang 31“Trừ khi có thoả thuận khác, thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban Trọng tài sẽ không mất đi vì bất kỳ khiếu nại nào cho rằng hợp đồng bị vô hiệu và không có giá trị pháp lý hoặc cho rằng hợp đồng không tồn tại, với điều kiện là Uỷ ban Trọng tài xác nhận giá trị pháp lý của thoả thuận trọng tài Ủy ban Trọng tài sẽ tiếp tục có thẩm quyền giải quyết để xác định các quyền tương ứng của các bên và xét xử các khiếu kiện và biện hộ cho dù bản thân hợp đồng có thể không tồn tại hoặc vô hiệu”
Quy tắc trọng tài UNCITRAL (1976) cũng ghi nhận tính tách biệt của
thỏa thuận trọng tài tại khoản 2, Điều 21: “Ủy ban trọng tài sẽ có quyền quyết định về sự tồn tại hoặc giá trị pháp lý của hợp đồng mà trong đó điều khoản trọng tài hợp thành như là một phần của nó Vì mục đích của Ðiều 21 này, một điều khoản trọng tài sẽ được xem như là một thoả thuận độc lập với các điều khoản khác của hợp đồng Một quyết định bởi ủy ban trọng tài cho rằng hợp đồng là vô hiệu và không có giá trị sẽ không kéo theo làm mất hiệu lực pháp lý của điều khoản trọng tài”
Ở các nước Civil law, tính chất này được ghi nhận qua các luật điều chỉnh hoạt động trọng tài như Điều 1053 của Bộ luật dân sự Hà Lan (1986) quy định:
“Thỏa thuận trọng tài phải được xem xét và quyết định như một hợp đồng riêng biệt”, quy định tương tự như khoản 3 Điều 178 Luật tư pháp quốc tế Thụy Điển
(1987), khoản 1 và 2 Điều 1697 Bộ luật tư pháp Bỉ (1972), Điều 8 Luật trọng tài Brazil (1996)…Tính độc lập của thỏa thuận trọng tài cũng được ghi nhận qua các
án lệ của một số nước khác như Phán quyết vụ Prima Paintt Corp v Flood & Conklin Mfg Co (1967) tại Mỹ (17, tr 204 – Philippe Fouchard, Emmanuel Gaillard, Berthoil Goldman, John snvage (1999), Fouchard Gaillard Goldman International Arbitration The Hague, the Netherland) Phán quyết ngày 08/10/1998 của Tòa phúc thẩm Pháp trong vụ Sam v Perrin…
Pháp luật Việt Nam ghi nhận đặc điểm này của thỏa thuận trọng tài tại Điều 19 Luật trọng tài thương mại 2010
Trang 32Nhận thức đúng vai trò, ý nghĩa của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc
tế sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả, nhanh chóng Thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế có ý nghĩa:
Một là, thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế là cơ sở đầu tiên để xác
định thẩm quyền của trọng tài Sẽ không có việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nếu không có thỏa thuận trọng tài giữa các bên tranh chấp Khác với Tòa án có thẩm quyền đương nhiên giải quyết các vụ tranh chấp phát sinh, trọng tài chỉ có thẩm quyền nếu các bên có thỏa thuận Đây là nguyên tắc quan trọng của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp
Khoản 1 Điều 5 Luật TTTM 2010 cũng khẳng định: “Tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” Thỏa thuận trọng tài
chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có hiệu lực Nghĩa là thỏa thuận trọng tài đó phải thể hiện ý chí của các bên, đồng thời tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Khi thỏa thuận trọng tài đã vô hiệu
mà Hội đồng trọng tài vẫn giải quyết thì quyết định đó sẽ bị hủy bởi Tòa án (Điều 68 Luật TTTTM 2010)
Hai là, thỏa thuận trọng tài có tác dụng ràng buộc các bên, bởi nó được
xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của chính các bên Một khi đã xác lập thỏa thuận trọng tài thì không bên nào được thoái thác việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Qua đó cũng giúp các bên nâng cao ý thức trong việc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, là một biện pháp tích cực để phòng ngừa các tranh chấp
Ba là, Thỏa thuận trọng tài trao cho các trọng tài viên thẩm quyền giải
quyết tranh chấp có thể xảy ra giữa các bên, đồng thời thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế loại trừ thẩm quyền của Tòa án quốc gia vào giải quyết tranh chấp Một khi đã có thỏa thuận trọng tài, Tòa án của một quốc gia phải từ chối xét xử vụ tranh chấp với lý do không thuộc thẩm quyền của mình Điều này cũng có nghĩa là
Trang 33một bên đã ký thỏa thuận trọng tài thì không thể đưa vụ việc ra Tòa án quốc gia Đây cũng chính là nội dung đã được quy định tại Điều II Công ước New York
1958 về Công nhận và cho thi hành quyết định trọng tài nước ngoài
Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án quốc gia không bị loại trừ hoàn toàn, Tòa án quốc gia có thể được yêu cầu áp dụng một số biện pháp nhất định trước khi bắt đầu tố tụng trọng tài hoặc trong quá trình tiến hành tố tụng trọng tài (ví
dụ như biện pháp khẩn cấp, tạm thời) hoặc khi thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì Tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, nếu trọng tài đã giải quyết thì quyết định trọng tài đó sẽ bị tòa án hủy theo quy định của pháp luật Điều đó cho thấy rằng thỏa thuận trọng tài chỉ thật sự có ý nghĩa khi nó có hiệu lực
Bốn là, thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất, luôn được đặt lên
hàng đầu từ khi đưa tranh chấp thương mại ra trọng tài cho tới khi phán quyết cuối cùng được đưa ra Việc xác định thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào các giới hạn đặt ra trong thỏa thuận trọng tài Đặc biệt đối với những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thỏa thuận trọng tài còn cho phép lựa chọn nơi tiến hành tố tụng trọng tài, luật áp dụng và ngôn ngữ trọng tài trong điều kiện phù hợp nhất Thỏa thuận trọng tài với nội dung chính là quyền lựa chọn của các bên về các yếu tố của luật
tố tụng trọng tài sao cho phù hợp nhất với mình nên sẽ giúp hình thành những điều kiện tốt nhất để tiến hành trọng tài và thi hành quyết định trọng tài
Trang 34KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Qua việc tìm hiểu những vấn đề thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế,
ta thấy rằng, khác với phương thức gỉải quyết tranh chấp thương mại như trung gian, hòa giải, tòa án - giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài với những ưu điểm nhất định đang dần được coi là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại chiếm ưu thế được các bên chủ thể tham gia tranh chấp mà đa
số các doanh nghiệp các quốc gia trên thể giới lựa chọn Trong đó, thỏa thuận
Trang 35trọng tài được xem là yếu tố cơ bản, là điều kiện kiên quyết để áp dụng trọng tài
Sự tồn tại của thỏa thuận trọng tài có ý nghĩa vô cùng lớn đối với việc giải quyết tranh chấp giữa các bên sau này Khi các bên đã thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo điều khoản trong hợp đồng hay tách biệt thành điều khoản riêng một cách tự nguyện, thiện trí thì đồng nghĩa rằng các bên phải tôn trọng sự thỏa thuận đó, nó là sự ràng buộc giữa các bên và nhằm loại trừ thẩm quyền của Tòa án khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực Trong điều kiện hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, mở rộng giao lưu với nhiều quốc gia trên thế giới, sự giao thương, quá trình liên doanh, liên kết tự do hợp đồng giữa các doanh nghiệp do đó mà ngày càng tăng, việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được các doanh nghiệp sử dụng ngày càng phổ biến Chính vì Thỏa thuận trọng tài có vai trò then chốt như vậy nên việc nghiên cứu các quy định về thỏa thuận trọng tài trở nên quan trọng và cần thiết
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ THỎA THUẬN TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
Mỗi quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của yếu tố kinh tế, chính trị, phong tục tập quán cũng như trình độ lập pháp khác nhau mà hệ thống pháp luật của
Trang 36mỗi quốc gia đó đều mang những nét riêng biệt, ngay cả với những quy định về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế Pháp luật Việt Nam cũng có những quy định riêng, cơ bản tương thích với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế Cơ sở pháp lý chủ yếu cho hoạt động trọng tài thương mại quốc tế ở Việt Nam nói chung, quy định về thỏa thuận trọng tài nói riêng được đề cập cụ thể trong Luật Trọng tài thương mại 2010 được thay thế cho Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003; Nghị định số 63/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trọng tài thương mại; Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại, ngoài ra còn có các văn bản pháp luật khác liên quan…Tại chương
2, tác giả sẽ tập chung đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới để khẳng định những ưu điểm và rút ra những tồn tại, hạn chế trong quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi những quy định này tại Chương 3
2.1 Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Khác với Tòa án, trọng tài là một thiết chế tài phán tư, trọng tài không thể giải quyết tất cả các loại tranh chấp mà chỉ giải quyết những vụ tranh chấp pháp luật quy định Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết khi có thỏa thuận của các bên tranh chấp đó thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài mà pháp luật quy định Như vậy, thỏa thuận trọng tài của các bên sẽ không có ý nghĩa khi tranh chấp thỏa thuận đưa ra trọng tài giải quyết không thuộc thẩm quyền của trọng tài theo quy định của pháp luật Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài theo đó cũng sẽ phụ thuộc rất lớn vào đối tượng của thỏa thuận trọng tài
• Pháp luật thế giới
Trang 37Về cơ bản, pháp luật trọng tài các nước Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Ấn Độ đều quy định quan hệ thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài là khá rộng và tương đồng nhau Theo đó, trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại (quan hệ thương mại), hợp đồng, quan hệ dân sự…, đồng thời loại trừ các tranh chấp liên quan đến quan hệ nhân thân, hành chính, hình sự….không thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài
Ở Trung Quốc, theo Luật trọng tài Trung Quốc năm 1994 thì trọng tài thương mại Trung Quốc có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng và các tranh chấp khác liên quan đến quyền và lợi ích đối với tài sản giữa các công dân Trung Quốc, giữa các thể nhân và các tổ chức khác Điều
2: “Các tranh chấp liên quan đến hợp đồng và các tranh chấp khác về quyền và lợi ích liên quan đến tài sản giữa công dân, thể nhân và các tổ chức khác có thể được giải quyết bằng trọng tài” [20] Điều 3 Luật trọng tài 1994 của Trung Quốc cũng quy định rõ các tranh chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài
đó là các tranh chấp về hôn nhân gia đình, nuôi con nuôi, giám hộ, cấp dưỡng và thừa kế Ngoài ra, các tranh chấp về hành chính cũng không được giải quyết bằng trọng tài vì các tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính theo quy định của pháp luật Trung Quốc
Ở Singapore, theo quy định của pháp luật Singapore thì phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài rất rộng, bao gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, lao động, dân sự….Trọng tài Singapore chỉ không được giải quyết tranh chấp có liên quan đến vấn đề hình sự và luật Hôn nhân gia đình [21]
Theo đó, có thể thấy, pháp luật trọng tài Singapore cũng có những quy định khá tương đồng với pháp luật trọng tài Trung Quốc về phạm vi thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài (phạm vi rộng)
20
China Arbitration law 1994
21 Phạm Chí Dũng, “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài theo pháp luật của một số nước trong
khu vực Châu Á và kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Luận văn Ths luật học, 2012, tr 51
Trang 38• Pháp luật Việt Nam:
Ở Việt Nam, trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong các hoạt động thương mại quy định tại Điều 2 Luật TTTM 2010, bao gồm: tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài Nghị quyết số 01/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật TTTM 2010 cũng quy định cụ thể hơn về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài, Tòa án tại khoản 1 Điều 2:
“1 Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp quy định tại Điều 2 Luật trọng tài thương mại nếu các bên có thoả thuận trọng tài quy định tại Điều 5 và Điều 16 Luật trọng tài thương mại, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này…”
Theo đó, việc một tranh chấp có thuộc thẩm quyền của trọng tài thương mại hay không phụ thuộc vào hai yếu tố:
Thứ nhất, tranh chấp đó có phải là tranh chấp phát sinh từ các hoạt động
theo quy định của pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam hiện hành hay không?
Thứ hai, giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài, các bên
tranh chấp ở đây là các cá nhân và tổ chức kinh doanh Nếu thiếu một trong hai điều kiện trên, vụ việc sẽ không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại
* Nhận xét:
Như vậy, so với PLTTTM 2003 trước đây, Luật TTTM 2010 đã khắc phục được việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương mại, mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài với nhiều tranh chấp có liên quan đến quyền và lợi ích của các bên, các tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng trọng tài Với phạm vi thẩm quyền rộng hơn, trọng tài có
Trang 39thể tập trung giải quyết hầu hết các tranh chấp thương mại trên thực tế Trong Thương mại quốc tế, Việt Nam cũng đã tuyên bố bảo lưu với Công ước New York 1958, không cho phép thỏa thuận trọng tài đối với tất cả các vấn đề liên
quan đến trật tự công cộng Điều 5 Công ước New York: “………Việc công nhận và thi hành quyết định trọng tài còn có thể bị từ chối nếu như cơ quan có thẩm quyền của nước, nơi việc công nhận và thi hành đó được yêu cầu rằng: Đối tượng của vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật pháp của nước đó hoặc việc công nhận và thi hành quyết định sẽ trái với trật tự công cộng của nước đó”
Khoản 2 Điều 2 Luật TTTM 2010 quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại hoặc ít nhất một bên tranh chấp có hoạt động thương mại Mặc dù đã có định nghĩa về hoạt động thương mại tại Điều 3 Luật thương mại 2005 và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, tuy nhiên, trong nhiều trường hợp để phân định rõ tranh chấp thương mại và tranh chấp dân sự là điều không dễ dàng?
Khoản 2 Điều 2 Luật TTTM 2010 quy định trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại Quy định này cũng chưa rõ thế nào là một bên có hoạt động thương mại, chọn tiêu chí chủ thể hay hành vi thương mại để xác định? Do đó vấn đề này cần có sự giải thích hoặc hướng dẫn chính thức, cụ thể hơn
2.1.2 Hình thức của thỏa thuận trọng tài thương mại quốc tế
Hình thức của thỏa thuận trọng tài là một trong những yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu lực của thỏa thuận trọng tài Pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như điều ước quốc tế đều yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản bởi chỉ có thể xác lập bằng văn bản mới có thể tạo ra sự tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khi phát sinh tranh chấp [22]
22 Ngoại lệ có thể tìm thấy thiểu số ở các nước như Anh, Australia, Đan Mạch, Thụy Điển, Hồng Kông không yêu cầu thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản
Trang 40• Pháp luật thế giới:
Điều II.2 Công ước New York quy định: Thuật ngữ “thỏa thuận bằng văn
bản” bao gồm một điều khoản trọng tài trong một hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài mà các bên ký kết hoặc được ghi trong thư tín trao đổi” Điều 1.2a, Công ước Geneva 1961 cũng quy định: “ hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng tài ký bởi các bên qua trao đổi bằng thư điện tử, điện tín hoặc qua trao đổi bởi máy in làm sóng điện thoại (teleprinter) ”
Luật Mẫu có quy định bắt buộc thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản Thỏa thuận được coi là bằng văn bản nếu nó nằm trong một văn bản được các bên ký kết hoặc bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặc các hình thức trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phản đối Việc dẫn chiếu trong hợp đồng tới một văn bản ghi nhận điều khoản trọng tài lập nên Thỏa thuận trọng tài với điều kiện hợp đồng này phải là văn bản và sự dẫn chiếu đó là một
bộ phận hợp đồng này
Điều 7 Luật mẫu của UNCITRAL liệt kê các thỏa thuận trọng tài được coi
là lập bằng văn bản:
- Nằm trong một văn bản được các bên ký kết;
- Bằng sự trao đổi qua thư từ, telex, điện tín hoặc các hình thức trao đổi viễn thông khác mà ghi nhận thỏa thuận đó;
- Qua trao đổi về đơn kiện và bản biện hộ mà trong đó có thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận;
- Dẫn chiếu trong một hợp đồng bằng văn bản tới một văn bản khác ghi nhận điều khoản trọng tài
Một số quốc gia trên thế giới thì quy định cụ thể như:
Ở Nhật Bản: Điều 13.4 Luật Trọng tài Nhật Bản quy định thỏa thuận trọng tài phải được lập thành văn bản, bao gồm cả trường hợp thỏa thuận trọng tài được lập bằng các phương tiện điện tử Quy định này không được quy định trong Luật Mẫu của UNCITRAL nhưng nó đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của phương