1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại

79 260 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu đề tài Trong đề tài này, tác giả phân tích một cách có hệ thống các biện pháp bảo vệ quyền nhân của cá nhân và chỉ đi sâu nghiên cứu những quyền nhân thân của cá nhân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực./

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Việt Dũng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân 6

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân 6

1.1.2 Đặc điểm của quyền nhân thân 10

1.1.2.1 Đặc điểm thứ nhất, Quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản 10

1.1.2.2 Đặc điểm thứ hai, quyền nhân thân luôn gắn liền với chủ thể quyền, không th ể chuyển giao cho người khác 10

1.1.3 Ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân 11

1.2 Bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại 12

1.2.1 Về hoạt động kinh doanh thương mại 12

1.2.2 Khái niệm bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại 14

1.2.3 Vai trò của bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại 16

1.2.4 Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân 17

1.2.4.1 Bi ện pháp tự bảo vệ 18

1.2.4.2 Các bi ện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự Việt Nam hi ện hành 19

1.24.3 Bi ện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của một số ngành lu ật khác 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 34 VỀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CHỦ THỂ TRONG 34

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI 34

2.1 Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại 34

2.1.1 Thực trạng bảo vệ quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong kinh doanh thương mại 34

Trang 5

2.1.2 Thực trạng bảo vệ quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của

cá nhân trong kinh doanh thương mại 39

2.1.3 Thực trạng bảo vệ quyền được bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân trong kinh doanh thương mại 46

2.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể trong kinh doanh thương mại 54

2.2.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong kinh doanh thương mại 54

2.2.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại 57

2.2.2.1 H ướng dẫn cụ thể các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân được quy định ở Điều 25 BLDS 58

2.2.2.2 Pháp lu ật cần có hướng dẫn cụ thể về những dạng hành vi xâm phạm quy ền của cá nhân đối với hình ảnh, quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và quy ền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín để làm căn cứ giải quy ết vụ án 59

2.2.2.3 Quy định thời hạn phải xin phép sử dụng hình ảnh của cá nhân; thu th ập, công bố thông tin, tư liệu của cá nhân trong trường hợp người đó đã ch ết 59

2.2.2.4 Ban hành v ăn bản hướng dẫn cụ thể hơn về mức bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm ph ạm quyền nhân thân nói chung, xâm phạm các quyền nhân thân trong kinh doanh th ương mại nói riêng 61

2.2.2.5 M ở rộng hành vi được coi là xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân trong môi tr ường kinh doanh thương mại và theo hướng mở 65

2.2.2.6 H ướng dẫn cụ thể trong vấn đề giới hạn quyền riêng tư của cá nhân ng ười lao động khi tham gia vào quá trình làm việc tại đơn vị sử dụng lao động 66

2.2.2.7 Có c ơ chế đặc thù trong việc quản lý môi trường mạng 67

2.2.2.8 M ột số giải pháp khác 67

KẾT LUẬN 69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự BLHS: Bộ luật hình sự

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyền nhân thân của cá nhân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng được pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ, trong đó có Việt Nam Gần mười năm BLDS 2005 được đưa vào thực tiễn áp dụng với những sửa đổi, bổ sung trên cơ sở kế thừa và phát triển để hoàn thiện, nay là BLDS 2015 thì quyền nhân thân của cá nhân được Nhà nước ta bảo vệ ngày càng

mở rộng, cùng với đó là những công cụ pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân khi có hành vi xâm phạm Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội thì có thể thấy những quy định của pháp luật hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn Những năm gần đây, sự phát triển của truyền thông hiện đại, đặc biệt là mạng xã hội, phương thức thương mại điện tử đã trở thành phương tiện không thể thiếu trong

những giao dịch thương mại hiện hành

So với các quốc gia trong khu vực Châu Á, thì Việt Nam là quốc gia có tốc

độ người dùng Internet tăng nhanh nhất trong giai đoạn 2000-2010 Bên cạnh những lợi ích thì có thể nói chưa bao giờ tình trạng xâm phạm quyền nhân thân diễn ra nhiều, dễ dàng và nhanh trong môi trường mạng xã hội như thương mại điện tử như hiện nay với những công cụ trợ giúp là thiết bị quay phim, chụp ảnh được thiết kế ngày càng nhỏ gọn để ngụy trang, cất giấu tiện lợi cũng như có khả năng ghi hình từ

xa, ghi hình trong bóng tối… Từ những chuyện tưởng chừng như rất bình thường như: đăng một bức ảnh, gửi cho nhau xem một video, đăng một bức ảnh riêng tư của người khác lên trang cá nhân của mình nhưng đôi khi đã vượt qua ranh giới

mà nhiều người cho là “chuyện đùa” của những người thân quen, và nó đang nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý cần lưu ý Với sự trợ giúp của Internet, quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm không chỉ giới hạn ở Việt Nam mà còn trên phạm vi nhiều nước và bất cứ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của mạng xã hội, đặc biệt là những người của công chúng Một sự vô tình đôi khi đem lại hậu quả khôn lường, trở thành một hành vi xâm phạm đến quyền đối với hình ảnh của cá nhân, quyền về đời sống riêng tư, xâm phạm đến quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm, uy tín Bên cạnh đó, có những cá nhân lợi dụng hoạt động kinh doanh thương mại cố ý xâm phạm tới quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật bảo vệ Tình trạng tiết lộ

Trang 8

thông tin của người khác, rao bán trong môi trường mạng khi không được người đó đồng ý; đăng những hình ảnh, video mang tính chất đồi trụy của bạn do những mâu thuẫn, hiềm khích, thậm chí là trục lợi; đăng ảnh của người khác mà không xin phép người đó1… xảy ra một cách phổ biến là những vấn đề nhức nhối trong dư luận, gây bức xúc, tạo dư luận không tốt liên quan đến việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong kinh doanh thương mại Hơn bao giờ hết, việc truy tìm “thủ phạm” trong những trường hợp này là hết sức khó khăn do pháp luật chưa có cơ chế đặc thù trong việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong môi trường thương mại điện tử nói riêng cũng như môi trường kinh doanh thương mại nói chung

Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu, tìm hiểu, xác định, phân tích làm rõ

cơ sở lý luận về các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân và thực trạng bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại ở Việt Nam một cách có hệ thống là điều hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung và quyền nhân thân trong kinh doanh

thương mại nói riêng, học viên đã chọn đề tài: “Bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể

trong ho ạt động kinh doanh thương mại” cho Luận văn Thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong các công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam từ trước đến nay, quyền nhân thân đã được đề cập tới khá nhiều nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và làm rõ thực trạng bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại trong xu thế hội nhập của Việt Nam hiện nay dưới cấp độ Luận văn thạc sĩ Với những công trình đã được công bố liên quan đến quyền nhân thân thì mỗi công trình lại khai thác vấn đề này ở từng góc độ và khía cạnh nhất định Chẳng hạn như: Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân

Tối cao với đề tài: “Vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân

khẳng định được vai trò của Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ quyền nhân thân nói chung mà chưa đưa ra được phương hướng giải quyết tranh chấp, bảo vệ quyền

ăn trộm được một nam thanh niên chụp hình và đăng lên trang Facebook cá nhân

Trang 9

nhân thân của cá nhân trong từng trường hợp cụ thể Sau này, khi BLDS 2005 ra đời, có một số công trình mà có thể kể đến như đề tài nghiên cứu khoa học cấp

trường do TS Lê Đình Nghị làm chủ nhiệm đề tài: “Quyền nhân thân của cá nhân

năm 2008; Luận văn của TS Lê Đình Nghị: “Quyền bí mật đời tư theo quy định

c ủa pháp luật dân sự Việt Nam”; Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Thị Hoa với đề tài: “Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá nhân theo quy định của

BLDS n ăm 2005”; khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thị Dạ Lan với đề tài

“Quy ền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự

quy ền nhân thân của cá nhân trong môi trường mạng xã hội- Một số vấn đề lý luận

và th ực tiễn” Ngoài ra, còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học pháp lý như “Quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh trong pháp luật một số nước

ph ương Tây - đối chiếu với pháp luật Việt Nam” của tác giả Chu Đức Tuấn đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 04/2008; “Khái niệm và phân loại quyền

nhân thân” - tác giả PGS TS Bùi Đăng Hiếu đăng trên tạp chí Luật học số 07/2009;

“Bàn lu ận về quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân theo quy định của

BLDS 2005”- tác giả Phùng Bích Ngọc đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số

22(230)T1/2012;“Bàn thêm về các quyền nhân thân của cá nhân trong BLDS

2005” của tác giả Phùng Trung Tập đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17(249)/T9/2013…

Nhận thức được vấn đề, đề tài: “Bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể trong

ho ạt động kinh doanh thương mại” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ Luận văn

Thạc sĩ một cách chuyên sâu với những kiến thức hiểu biết của cá nhân, không có

sự trùng lặp, đồng thời kế thừa, học hỏi những kết quả mà các công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết đã đạt được

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong đề tài này, tác giả phân tích một cách có hệ thống các biện pháp bảo vệ quyền nhân của cá nhân và chỉ đi sâu nghiên cứu những quyền nhân thân của cá nhân điển hình bị xâm phạm trong kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay mà không đi sâu tìm hiểu cụ thể các quyền nhân thân của cá nhân được quy định trong BLDS hiện hành Luận văn tiếp cận nội hàm kinh doanh thương mại bên cạnh quan

Trang 10

điểm truyền thống còn vận dụng và hiểu kinh doanh thương mại bao gồm hình thức thương mại điện tử phổ biến trong xã hội hiện đại ngày nay

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài tìm hiểu quy định của pháp luật dân sự hiện hành về bảo vệ quyền nhân thân cũng như pháp luật của một số ngành luật khác; môi trường mạng xã hội và mối liên quan giữa quyền nhân thân và kinh doanh thương mại; thực trạng bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại

ở Việt Nam hiện nay cũng như những kiến nghị trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và giải quyết tranh chấp liên quan đến bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay

Với mục đích như trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những khía cạnh sau:

- Phân tích khái niệm, đặc điểm quyền nhân thân và ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân;

- Xác định cách hiểu về kinh doanh thương mại trên nhiều phương diện, trong đó bao gồm cả thương mại điện tử;

- Xem xét việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân theo quy định của BLDS

- đặt trong sự phân tích mối tương quan với một số ngành luật khác như hình sự, hành chính

Tìm hiểu thực tiễn của việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay, những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và

đề ra phương hướng hoàn thiện…Luận văn cũng đề cập đến những vấn đề mới mang tính thời sự có ý nghĩa trong thời kì hội nhập hiện tại

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài “Bảo vệ quyền nhân

thân c ủa chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại” được nghiên cứu trên cơ

sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin Ngoài ra, tác giả còn sử dụng và kết hợp một cách hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, diễn giải, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống… để chứng minh cho những luận điểm được đưa ra trong luận văn

6 Kết cấu luận văn

Trang 11

Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể

trong ho ạt động kinh doanh thương mại” được kết cấu bởi hai chương, ngoài phần

Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo:

của chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại

Ch ương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền

nhân thân của chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN NHÂN THÂN VÀ BẢO VỆ QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CHỦ THỂ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

THƯƠNG MẠI

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân

1.1.1 Khái niệm quyền nhân thân

Cùng với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt của xã hội, vấn đề con người ngày càng được coi trọng và đảm bảo về cả yếu tố vật chất và tinh thần Trong đó, phải kể đến giá trị về nhân thân của con người - giá trị cốt lõi của mỗi cá nhân con người – đã và đang được xã hội quan tâm, được pháp luật công nhận và bảo hộ với

tư cách là một “Quyền” đó là quyền nhân thân

“Quyền” hiểu dưới góc độ pháp lý là khả năng được phép xử sự mà pháp luật công nhận cho chủ thể thực hiện và bảo vệ lợi ích của mình Có nhiều cách để phân loại quyền dựa trên những cơ sở khác nhau, có thể phân loại quyền theo các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… Quyền nhân thân được ghi nhận là một trong những quyền dân sự của cá nhân và được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật dân sự

Về khái niệm quyền nhân thân, hiện nay vẫn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về quyền nhân thân mà chưa có một định nghĩa thống nhất Qua việc tìm hiểu

và phân tích các quan điểm khác nhau định nghĩa về quyền nhân thân, luận văn có những đánh giá và đưa ra quan điểm cá nhân

Lần đầu tiên thuật ngữ quyền nhân thân được nhắc đến với tư cách là một thuật ngữ pháp lý là trong quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 (BLDS 1995) Theo đó, Quyền nhân thân được quy định trong BLDS 1995 là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Đây là một trong những điểm mới tiêu biểu của BLDS 1995

và đánh dấu bước tiến lớn của pháp luật dân sự cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam thời bấy giờ Quy định về quyền nhân thân trong BLDS là sự thể chế hóa những quy định của Hiến pháp về quyền dân sự của công dân, cụ thể là quy định các quyền nhân thân của cá nhân Việc ghi nhận quyền nhân thân với tư cách là một

Trang 13

quyền dân sự như bao quyền về tài sản khác trong Bộ luật Dân sự 1995 đã đặt nền móng cho sự phát triển của định nghĩa quyền nhân thân nói riêng và các quyền nhân thân nói chung

Theo công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tòa án nhân dân Tối cao

về đề tài: “Vai trò của TAND trong việc bảo vệ quyền nhân thân được đề cập trong việc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” (Số đăng ký:

96 – 98 – 063/ĐT) thì định nghĩa quyền nhân thân được xem xét dưới hai giác độ: Dưới giác độ chủ thể, quyền nhân thân về dân sự được hiểu là quyền con người về dân sự gắn liền với mỗi cá nhân được thụ hưởng với tư cách là thành viên của cộng đồng kể từ thời điểm người đó được sinh ra và bằng các quyền đó, mỗi cá nhân được khẳng định địa vị pháp lý của mình trong giao lưu dân sự, do đó mỗi cá nhân đều có quyền nhân thân riêng và quyền này không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Dưới giác độ khách thể, quyền nhân thân về dân sự của cá nhân được hiểu là chế định pháp luật bao gồm các quy định của pháp luật về các quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân để đảm bảo địa vị pháp

lý cho mọi cá nhân, là cơ sở pháp lý để cá nhân được thực hiện các quyền con người

về dân sự trong sự bảo hộ của nhà nước và pháp luật Theo cách hiểu này, quyền nhân thân là quyền con người được toàn quyền hưởng trong lĩnh vực dân sự từ khi người đó sinh ra và có toàn quyền tự định đoạt, để phân biệt các cá nhân với nhau;

là quyền được nhà nước và pháp luật bảo vệ Quan điểm này nhìn nhận quyền nhân thân trên hai yếu tố cơ bản là chủ thể quyền và khách thể của quyền nhân thân để đưa ra khái niệm Tuy nhiên, sự tách bạch hai yếu tố này của quyền nhân thân sẽ làm cho định nghĩa quyền nhân thân không có được tính khái quát và tính nhận diện cao.Hay theo cuốn “Từ điển giải thích thuật ngữ luật học” của trường Đại học Luật

Hà Nội thì: “Giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo

vệ Chỉ trong những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định…” [ 14 , tr.105] Với cách định nghĩa quyền nhân thân của Từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì chỉ có những giá trị nhân thân nào được ghi nhận bằng pháp luật mới là quyền nhân thân, không được ghi nhận thì sẽ không được gọi là quyền nhân thân Quan điểm này đã

bó hẹp quyền nhân thân của cá nhân, con người

Trang 14

Khác với hai quan điểm nêu trên, Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005)tại Điều

24 và Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi 2015 (Điều 30) đều quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Định nghĩa quyền nhân thân theo BLDS 2005 và Dự thảo Bộ luật Dân sự là sự kế thừa tinh thần của BLDS 1995, nhìn nhận quyền nhân thân trên hai điểm là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thực sự thuyết phục các nhà nghiên cứu luật học, tiêu biểu là những bất cập trong quy định của Điều 24 BLDS 2005 đã được TS Bùi Đăng Hiếu – Trường Đại học Luật Hà Nội thể hiện trong bài viết “Khái niệm và phân loại quyền nhân thân” đăng trên Tạp chí Luật học số7/2009: Thứ nhất, khái niệm quyền nhân thân tại Điều 24 BLDS 2005 dựa vào hai đặc điểm: gắn liền với cá nhân, không chuyển dịch là chưa thấu đáo, bởi lẽ có một số quyền dân sự thỏa mãn cả hai đặc điểm nêu trên nhưng lại không phải là quyền nhân thân Minh chứng cụ thể cho lập luận của mình, tác giả bài viết đề cập đến Điều 50 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2000 về nghĩa vụ cấp dưỡng: “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác”, theo đó quyền được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được gắn liền với những cá nhân nhất định như: giữa cha

mẹ và con, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu, giữa vợ và chồng và không thể chuyển giao, thỏa mãn hai điều kiện của một quyền nhân thân Tuy nhiên, theo tác giả, quyền dân sự về cấp dưỡng là một loại quyền tài sản chứ không phải là quyền nhân thân Thứ hai, tác giả bài viết tiếp tục chỉ ra điểm bất cập của Điều 24 BLDS 2005 với quy định cho rằng quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân Trong khi các quy định pháp luật dân sự lại chỉ ra rằng pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ pháp luật dân sự cũng có các quyền nhân thân như tại Điều 604 và Điều 611 BLDS 2005 ghi nhận “danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác” Hay tại Điều 1 Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/04/2004, cũng như Điều 1 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà

án nhân dân tối cao đều nhắc đến thiệt hại do tổn thất tinh thần của pháp nhân và tổ chức như: danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín

Trang 15

nhiệm, lòng tin … vì bị hiểu nhầm và bồi thường những thiệt hại về tinh thần đó Với những dẫn chứng, lập luận thuyết phục, tác giả đã chỉ ra rằngcác quy định của pháp luật dân sự đều hướng tới sự thừa nhận các quyền nhân thân đối với pháp nhân

và các chủ thể khác Mặc dù quyền nhân thân là một loại quyền con người nhưng quyền nhân thân không chỉ gắn với con người với tư cách cá nhân trong quan hệ pháp luật dân sự, mà còn được pháp luật công nhận gắn với các chủ thể khác trong pháp luật dân sự Từ những phân tích đó, TS Bùi Đăng Hiếu cũng đã đưa ra quan điểm cá nhân khi định nghĩa về quyền nhân thân: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn với đời sống tinh thần của mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” [32, tr.80]

Bàn về khái niệm quyền nhân thân, TS Lê Đình Nghị đã có đóng góp quan điểm cá nhân khi xây dựng khái niệm quyền nhân thân trên hai phương diện khách quan và chủ quan trong Luận án Tiến sỹ Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam (năm 2008) Cụ thể, nghĩa khách quan: “quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật

do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình”; theo nghĩa chủ quan thì: “quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”

Có thể thấy rằng tác giả đưa ra khái niệm quyền nhân thân với cách tiếp cận đa chiều, có tính khái quát cao và tương đối đồng tình với quan điểm của nhà làm luật khi xây dựng khái niệm quyền nhân thân

Qua việc tìm hiểu những quan điểm khác nhau về khái niệm quyền nhân thân,

có thể thấy rằng các khái niệm đều tập trung làm rõ bản chất cốt lõi của quyền nhân thân trên các yếu tố chủ thể, khách thể và nội dung quyền Tuy nhiên mỗi quan điểm lại có sự khác biệt trong cách xác định chủ thể quyền nhân thân cá nhân hay là

cá nhân và pháp nhân như quan điểm của ; việc xác định khách thể là các giá trị nhân thân ở phạm vi rộng hẹp khác nhau cũng đã hình thành các quan điểm khác nhau, chưa kể tới nội dung quyền nhân thân được khái quát trong khái niệm cũng có nhiều ý kiến trái chiều Trên cơ sở tiếp thu và đánh giá các quan điểm khác nhau định nghĩa về quyền nhân thân, luận văn nhận thấy cần xây dựng một khái niệm

Trang 16

quyền nhân thân chứa đựng đầy đủ các yếu tố về chủ thể, khách thể và nội dung quyền nhân thân và thể hiện được dấu hiệu phân biệt quyền nhân thân với các quyền khác Có thể đưa ra khái niệm quyền nhân thân như sau:

Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với đời sống tinh thần của chủ thể do nhà nước quy định cho mỗi chủ thể, không định giá được bằng tiền

và không thể chuyển giao quyền này cho chủ thể khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

1.1.2 Đặc điểm của quyền nhân thân

Quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt nên cũng có những đặc điểm riêng, phân biệt với các quyền dân sự khác Việc nghiên cứu đặc điểm quyền nhân thân trong khoa học pháp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực hiện và

áp dụng pháp luật có hiệu quả Quyền nhân thân có những đặc điểm sau:

1.1.2.1 Đặc điểm thứ nhất, quyền nhân thân mang tính chất phi tài sản

Quyền nhân thân có khách thể là những giá trị tinh thần với bản chất là các giá trị phi tài sản Do vậy, quyền nhân thân không bao giờ là tài sản và không bao giờ trị giá được thành tiền, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà thôi Tính phi tài sản của quyền nhân thân được thể hiện trên hai khía cạnh đó

là không thể là đối tượng để trao đổi, mua bán, tặng cho, và không có yếu tố tiền bạc Đây là đặc điểm khác biệt giữa quyền nhân thân với quyền tài sản Vì cùng là quyền dân sự nhưng quyền tài sản luôn mang tính chất tài sản nên luôn xác định được bằng một giá trị vật chất nhất định – dựa trên nguyên tắc đền bù ngang giá

1.1.2.2 Đặc điểm thứ hai, quyền nhân thân luôn gắn liền với chủ thể quyền,

không th ể chuyển giao cho người khác

Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, tổ chức mà không thể chuyển dịch cho chủ thể khác Các quyền dân sự nói chung, quyền nhân thân nói riêng do Nhà nước quy định cho các chủ thể dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Do vậy về mặt nguyên tắc thì chủ thể quyền không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ thể khác, nói cách khác là quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao dịch dân sự Ví dụ người này không thể đổi tên cho người khác và ngược lại hoặc một người không thể ủy quyền cho người khác thực hiện quyền tự do kết hôn của mình Điều này có nghĩa rằng bản thân chủ thể hưởng quyền nhân thân chứ họ không thể ủy quyền cho ai khác và

Trang 17

thông thường cũng không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này trừ những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định (Theo quy định của pháp luật, việc xác định lại dân tộc của người chưa thành niên có thể do cha mẹ đẻ của người này thực hiện trong trường hợp pháp luật quy định tại Điều 28 BLDS 2005) Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, theo quy định của pháp luật thì quyền nhân thân

có thể chuyển giao cho chủ thể khác ví dụ như quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho người thừa kế của tác giả - chủ thể khác Mạc dù vậy nhưng những yếu tố luôn gắn liền với chủ thể như quyền đứng tên tác giả hay quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm thì vẫn không thể thay đổi hay chuyển giao được

1.1.3 Ý nghĩa pháp lý của quyền nhân thân

Thứ nhất, việc ghi nhận quyền nhân thân trong BLDS thể hiện sự tôn vinh và bảo vệ các giá trị tinh thần của con người của Nhà nước, đặc biệt khi đất nước đang

trong quá trình hội nhập quốc tế

Con người là mục tiêu của mọi cuộc cách mạng, việc pháp luật nước ta ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân của con người trong văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp đồng thời được cụ thể hóa ở BLDS đã thể hiện quyền nhân thân có ý nghĩa quan trọng Ghi nhận quyền nhân thân là một trong những yếu tố đánh giá sự tiến bộ của Nhà nước, nó đánh dấu sự phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật ở mức độ cao dưới góc độ khoa học pháp lý Trong bối cảnh quốc

tế hiện nay, khi mà Nhà nước ta đang trong quá trình hội nhập thì việc ghi nhận và bảo vệ các quyền nhân thân đã khẳng định bản chất của Nhà nước ta- Nhà nước của dân, do dân và vì dân Nó sẽ là công cụ hữu hiệu để chống lại các quan điểm phản động của các thế lực thù địch khi chúng có manh mún xuyên tạc các quy định liên quan đến quyền con người nói chung và quyền nhân thân nói riêng của Nhà nước ta Thông qua quy định các quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật đã cho thấy được

sự tiến bộ của một đất nước, nền tự do dân chủ của một quốc gia cũng như sự tôn trọng của con người trong xã hội được pháp luật thừa nhận Ở Việt Nam, cùng với

sự phát triển của đất nước, luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, do đó các quyền nhân thân ngày càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn và những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả

Trang 18

Thứ hai, các quy định về quyền nhân thân của cá nhân trong hệ thống pháp luật tạo cơ sở để cá nhân thực hiện các quyền của mình

Hệ thống pháp luật cùng với cơ quan thực thi có đầy đủ và đảm bảo thì sẽ là

cơ sở vững chắc cho cá nhân thực hiện các quyền của mình Với khẳng định quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể khác trừ trường hợp pháp luật có quy định… có ý nghĩa không chỉ trong lĩnh vực dân sự mà còn có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực khác như chính trị, văn hóa,

xã hội… Pháp luật nước ta đã thực hiện việc bảo đảm quyền dân sự cho chính cá nhân có quyền chứ không phải bảo đảm cho chủ thể khác

Thứ ba, các quy định về quyền nhân thân trong hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cũng như các chủ thể khác khi các quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm

Trong một xã hội lý tưởng, mọi quyền dân sự trong đó có quyền nhân thân của chủ thể sẽ được mọi người tôn trọng, không bị xâm phạm Tuy nhiên, trên thực

tế của đời sống xã hội, do nhận thức của mỗi người không giống nhau, nên việc quyền nhân thân của chủ thể khác bị xâm phạm là điều không tránh khỏi Việc xâm phạm các quyền này của chủ thể không những gây cản trở cho việc thực hiện các quyền dân sự của cá nhân, của chủ thể khác mà còn ảnh hưởng tới trật tự pháp lý của xã hội Bên cạnh việc ghi nhận các quyền nhân thân của cá nhân, của chủ thể thì pháp luật nước ta cũng đề ra những biện pháp nhằm bảo vệ những quyền này khi bị xâm phạm Nó là công cụ hữu hiệu để Tòa án và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân khi các quyền nhân thân bị xâm phạm Chính vì thế, việc ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm trật tự xã pháp lý của xã hội

1.2 Bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại

1.2.1 Về hoạt động kinh doanh thương mại

Hoạt động kinh doanh thương mại được hiểu là: Hoạt động trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hoá vật chất trong nền kinh tế tạo ra tiền đề và cơ hội cho sự hình

thành và phát triển của một lĩnh vực kinh doanh Tiếp cận dưới góc độ kinh tế học,

Hoạt động kinh doanh thương mại có thể hiểu là sự đầu tư tiền của, công sức của

Trang 19

một cá nhân hay một tổ chức vào việc mua bán hàng hoá để bán lại hàng hoá đó nhằm tìm kiếm lợi nhuận Theo đó, kinh doanh thương mại trước hết đòi hỏi phải có vốn kinh doanh Vốn kinh doanh là các khoản vốn bằng tiền và các tài sản khác Kinh doanh thương mại đòi hỏi phải thực hiện hành vi mua để bán Xét trên toàn bộ

và cả quá trình thì hoạt động kinh doanh thương mại phải thực hiện hành vi mua hàng, nhưng mua hàng không phải để mình dùng mà mua hàng để bán cho người khác, đó là hoạt động buôn bán Kinh doanh thương mại dùng vốn vào hoạt động kinh doanh cũng đòi hỏi sau mỗi chu kỳ kinh doanh phải bảo toàn được vốn và có lãi Có như vậy mới mở rộng và phát triển kinh doanh Ngược lại thua lỗ dẫn tới doanh nghiệp bị phá sản hoặc giải thể

Kinh doanh thương mại xuất hiện là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội, sự mở rộng trao đổi và lưu thông hàng hoá Phân công lao động xã hội phát triển dẫn tới sự chuyên môn hoá trong khâu trao đổi, lưu thông hàng hoá, kết quả là hàng hoá được đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng, tiến độ giao hàng, điều kiện thanh toán

là quá trình các chủ thể thực hiện hoạt động giao kết, thực hiện các hoạt động thương mại nói chung cũng như hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại… nói riêng Hoạt động kinh doanh thương mại tiếp cận dưới góc độ luật học là hoạt động kinh doanh thương mại hợp pháp

Trong một phạm trù nhất định, hoạt động kinh doanh thương mại không chỉ nên hiểu là hoạt động kinh doanh thương mại thuần tuý trong thị trường truyền thống, ở đó có sự tương tác vật lý giữa người mua và người bán mà hoạt động kinh doanh thương mại này còn được xác định cả trong thương mại điện tử, tức là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua mạng máy tính toàn cầu Thương mại điện tử theo nghĩa rộng được định nghĩa trong Luật mẫu về Thương mại điện tử của

Ủy ban Liên Hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế “Thuật ngữ Thương mại cần

được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ

mang tính ch ất thương mại dù có hay không có hợp đồng Các quan hệ mang tính

th ương mại bao gồm các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về thương mại

nào v ề cun g cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại

Trang 20

di ện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các

công trình; t ư vấn; kỹ thuật công trình; đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa

thu ận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh các hình thức khác về hợp tác công

nghi ệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ.” (UNCITRAL)

Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ

là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử Theo nghĩa hẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trên mạng máy tính mở như Internet

Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thông qua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ Thương mại điện tử Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung

kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện

tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng

Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục) và các hoạt động mới (ví dụ như siêu thị ảo) Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đổi cách thức mua sắm, giao dịch tương tác của con người với nhau trong hoạt động kinh doanh thương mại

1.2.2 Khái niệm bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại

Quyền nhân thân được pháp luật quy định trong BLDS 2005, đồng thời pháp luật đề ra các cơ chế pháp lý cho các quyền này được bảo đảm trên thực tế Tuy nhiên, môi trường kinh doanh thương mại là môi trường đặc biệt với tốc độ phát triển nhanh chóng cả về thời gian và không gian nên để bảo đảm một cách có hiệu quả nhất việc thực thi các quyền này trên thực tế thì cần phải có những cơ chế đặc thù

Dưới góc độ ngôn ngữ học, “bảo” nghĩa là giữ, “vệ” nghĩa là che chở; “bảo vệ” nghĩa là giữ gìn, chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên

Trang 21

vẹn, khỏi bị hư hỏng, mất mát [35, tr 111] Theo cách hiểu này, thì việc bảo vệ quyền nhân thân có thể được thực hiện trước khi có hành vi xâm phạm và được thực hiện bởi chủ thể mang quyền cũng như cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chống lại mọi sự xâm phạm quyền nhân thân

Dưới góc độ luật thực định, Điều 11 BLDS 2015 không đưa ra định nghĩa về bảo vệ quyền nhân thân mà chỉ dự liệu các các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ thực hiện khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân xảy ra với mục đích: (i) ngăn chặn hành vi vi phạm quyền nhân thân; (ii) khôi phục tình trạng ban đầu của người bị vi phạm; (iii) buộc người xâm phạm phải bồi thường thiệt hại đã xảy ra cho người bị thiệt hại Các biện pháp này được thực hiện bởi chính chủ thể hưởng quyền hoặc bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ với đề tài: “Vai trò của Tòa

án trong vi ệc bảo vệ quyền nhân thân của công dân theo quy định của BLDS” đưa

ra khái niệm bảo vệ quyền nhân thân như sau: “Bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của BLDS là biện pháp cần thiết được pháp luật quy định, mà cá nhân người

b ị vi phạm tự áp dụng hay yêu cầu Tòa án ra quyết định áp dụng để buộc người có

hành vi vi ph ạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, phải cải chính hoặc xin lỗi công

khai, ph ải bồi thường thiệt hại (nếu có thiệt hại thực tế xảy ra) cho người có quyền

nhân thân b ị xâm phạm [30, tr 34] Cũng giống với tinh thần của Điều 25 BLDS

2005, khái niệm bảo vệ quyền nhân thân được đưa ra trên tinh thần liệt kê các biện pháp bảo vệ sau khi có hành vi xâm phạm những quyền này trên thực tế Pháp luật Việt Nam cũng như trong công trình nghiên cứu trên đây hoàn toàn không đề cập đến việc tự bảo vệ quyền nhân thân nói chung, bảo vệ quyền nhân thân trong môi trường kinh doanh thương mại nói riêng Chúng tôi cho rằng, với những quy định như trên sẽ chưa đủ sức để ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền nhân thân Bởi, nếu Nhà nước trao quyền cho các chủ thể “sở hữu” quyền nhân thân cũng như các chủ thể khác trong phạm vi nhất định tự bảo vệ quyền nhân thân nói chung, các quyền nhân thân dễ bị xâm phạm trong môi trường kinh doanh thương mại nói riêng sẽ tạo

ra một “bức tường lửa” để ngăn chặn các hành vi xâm phạm Khi đó, các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo sự tác động của pháp luật sẽ không còn phát huy tác dụng trên thực tế Từ đó, quyền nhân thân của cá nhân sẽ được bảo vệ một cách tối

ưu nhất

Trang 22

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi cho rằng việc bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại cần phải xác định một cách rõ ràng theo hai hướng đồng thời sau: (i) Tự bảo vệ vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại; (ii) Bảo vệ bằng các biện pháp do pháp luật quy định bởi những chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Theo đó, nội hàm của khái niệm bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại sẽ phải bao gồm những nội dung:

- Chủ thể được tiến hành thực hiện việc bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại;

- Thời điểm của việc bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại: trước, trong và sau khi có hành vi xâm phạm;

- Các biện pháp bảo vệ cụ thể

Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm bảo vệ quyền nhân thân

trong kinh doanh thương mại như sau: “Bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong

kinh doanh th ương mại là tổng thể các biện pháp do pháp luật quy định, theo đó, cá

nhân có quy ền tự bảo vệ quyền nhân thân, quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có

th ẩm quyền khác bảo vệ quyền nhân thân của mình khi bị xâm phạm trong hoạt động kinh doanh thương mại nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm, lan truyền,

ti ết lộ bí mật của chủ thể khác…để bảo đảm cho các quyền nhân thân được Nhà

n ước ghi nhận cho cá nhân trở thành hiện thực”

1.2.3 Vai trò của bảo vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại

Trong xã hội hiện nay, cùng với sự bùng nổ mạnh mẽ của hoạt động kinh doanh thương mại và với tính chất đặc thù của hoạt động kinh doanh thương mại, việc xâm phạm quyền nhân thân có thể phức tạp và có chiều hướng gây ảnh hưởng

và hậu quả lớn đến các chủ thể Các cá nhân có thể dễ dàng công khai, phát tán hình ảnh, những thông tin bí mật của người khác gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh

dự, nhân phẩm, uy tín của những cá nhân đó khi thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại Khi đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế thì nhu cầu bảo

vệ quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại là vấn đề bức thiết cần được đặt ra

và có vai trò vô cùng quan trọng

Th ứ nhất, tăng cường sự tôn trọng các quyền con người được pháp luật thừa

kinh doanh th ương mại, tạo môi trường kinh doanh thương mại lành mạnh, ổn định

Trang 23

Môi trường kinh doanh thương mại là nơi quyền nhân thân dễ dàng bị xâm phạm và có sức ảnh hưởng lớn, nhanh và trong phạm vi rộng nếu nó được thực hiện trong những điều kiện phù hợp (ví dụ trong môi trường thương mại điện tử) Việc ghi nhận quyền nhân thân của cá nhân cùng các biện pháp bảo vệ quyền này sẽ góp phần tăng cường sự tôn trọng quyền của con người Các cá nhân sẽ có ý thức hơn đối với những quyền được Nhà nước bảo vệ Mặt khác, việc đề ra các biện pháp bảo

vệ quyền nhân thân không những để bảo đảm nó được thực thi trên thực tế mà còn giúp các cá nhân có thể bảo vệ, giữ gìn những giá trị tinh thần của mình, hạn chế hành vi xâm phạm quyền nhân thân Từ đó, tạo môi trường kinh doanh thương mại lành mạnh, ổn định, lấy được lòng tin, sự ủng hộ của các cá nhân khi tham gia quá trình kinh doanh

Thông qua những biện pháp bảo vệ sẽ là những chế tài góp phần khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền nhân thân nói chung, quyền nhân thân bị xâm phạm trong kinh doanh thương mại nói riêng Bên cạnh bảo vệ thì việc

đề ra những biện pháp này cũng là bài học răn đe, giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi người tôn trọng quyền nhân thân của cá nhân để hạn chế tới mức thấp nhấp sự can thiệp của chủ thể khác đối với quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại

Th ứ hai, các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân đa dạng tạo điều kiện cho

các cá nhân có th ể lựa chọn cho mình biện pháp phù hợp nhất; giúp cơ quan Nhà

n ước có thẩm quyền trong phạm vi, chức năng của mình lựa chọn cơ sở pháp lý phù

h ợp để giải quyết các tranh chấp liên quan Bởi với mỗi hình thái của việc xâm

phạm quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại, pháp luật quy định cho các chủ thể những biện pháp bảo vệ khác nhau tùy thuộc vào thời điểm và mức độ của hành vi xâm phạm như biện pháp tự bảo vệ, biện pháp pháp lý khác do pháp luật quy định Với nội dung này chúng tôi sẽ tập trung phân tích sâu hơn ở phần sau của bài viết

Ngoài ra, bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong kinh doanh thương mại chính là sự bảo đảm cho các quyền nhân thân của cá nhân được Nhà nước ghi nhận trở thành hiện thực

1.2.4 Các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân

Quyền nhân thân theo pháp luật nước ta ghi nhận rất đa dạng nên những hành vi xâm phạm quyền nhân thân cũng được thể hiện với nhiều hình thức và mức

Trang 24

độ khác nhau Cùng với đó là nhiều biện pháp bảo vệ quyền nhân thân với những tính chất và cơ chế đặc thù riêng để bảo đảm cho quyền nhân thân bởi những sự xâm phạm, đó có thể là biện pháp tự bảo vệ, biện pháp xử lý hành chính, biện pháp

xử ý hình sự, biện pháp dân sự… Với mỗi ngành luật khác nhau sẽ có vai trò khác nhau dựa trên đặc điểm, tính chất của từng ngành luật Sự đa dạng của biện pháp sẽ bảo vệ quyền nhân thân nói chung, các quyền nhân thân bị xâm phạm trong kinh doanh thương mại nói riêng một cách tốt nhất

1.2.4.1 Bi ện pháp tự bảo vệ

Theo Điều 25 BLDS 2015 quy định về quyền nhân thân, tuy nhiên biện pháp

tự bảo vệ chưa được pháp luật nước ta ghi nhận Pháp luật dân sự nước ta mới đề cập đến các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khi có hành vi xâm phạm Tuy nhiên, thực tế chúng ta thấy rằng ngoài những biện pháp được thực hiện khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân thì chính những chủ thể có quyền phải tự bảo vệ mình trước khi có hành vi xâm phạm để hạn chế tới mức thấp nhất sự xâm phạm các quyền của họ Đây là biện pháp được thực hiện bởi chính chủ thể hưởng quyền Tùy thuộc vào quan điểm, cách nhìn nhận của mỗi chủ thể mà mỗi cá nhân sẽ có những cách thực hiện bảo vệ quyền nhân thân là khác nhau

So với những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khác của cá nhân thì biện pháp tự bảo vệ có những điểm khác biệt về chủ thể cũng như về thời gian thực hiện biện pháp bảo vệ Nếu như các biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khác được tiến hành bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như Tòa án, các tổ chức được Nhà nước trao quyền thì biện pháp tự bảo vệ được thực hiện bởi bản thân chủ thể hưởng quyền Mặt khác, về thời gian thực hiện thì biện pháp tự bảo vệ quyền nhân thân được xảy ra trước, trong và sau khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân Mặc dù, Điều 25 BLDS 2005 đã đề cập đến một biện pháp tự bảo vệ quyền nhân thân nhưng đây là biện pháp được thực hiện sau khi có hành vi xâm phạm tới những quyền này

Theo đó, khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền: “Tự

mình c ải chính ” (Khoản 3 Điều 11 BLDS 2015) Ngoài ra, tùy thuộc vào tính chất

của hành vi xâm phạm thì chủ thể có hành vi có thể bị xử lý bằng biện pháp hành chính, biện pháp hình sự hoặc các biện pháp khác… Như vậy, khác với những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân khác thì biện pháp tự bảo vệ mang tính chất “ngăn chặn” các hành vi xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể

Trang 25

Trong kinh doanh thương mại, các biện pháp tự bảo vệ thường được cá nhân

sử dụng để bảo vệ quyền nhân thân của mình có thể như thực hiện các biện pháp bảo mật thông tin (cài đặt chương trình bảo vệ thông tin, đặt mật khẩu cấp quyền truy cập thông tin, tư liệu của cá nhân…); tự bảo quản cũng như có cách quản lý những tài liệu thuộc về cá nhân, hình ảnh mang tính chất nhạy cảm, riêng tư của bản thân mà không muốn tiết lộ ra ngoài: khóa, cho vào két sắt có mã số… hoặc nếu thông qua các giao dịch thông thường thì biện pháp tự bảo vệ có thể hiểu thông qua nhiều phương thức khác như giới hạn cung cấp thông tin cho các đối tác trong kinh doanh thương mại, hoặc thoả thuận các điều khoản về bảo mật thông tin trong quá trình giao dịch…

Với việc tự thực hiện biện pháp này thì chủ thể hưởng quyền sẽ chủ động có cách thức ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền nhân thân cũng như lựa chọn cách thức bảo vệ phù hợp cho mình trên nguyên tắc “hưởng quyền dân sự nhưng không được làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác” [23, tr

lu ật ”. Bên cạnh những ưu điểm mà biện pháp tự bảo vệ quyền nhân thân mang lại thì biện pháp này cũng có một số hạn chế mà có thể kể đến như: (i) hiệu quả không cao do không được bảo đảm bằng tính cưỡng chế nhà nước; (ii) việc thực hiện yêu cầu của cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm phụ thuộc vào người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền này có nhận thức được trách nhiệm của họ hay không

1.2.4.2 Các bi ện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật dân sự Việt

Trang 26

bảo vệ; (ii) Buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại Cụ thể, Điều 11 BLDS 2015 được quy định như sau:

3 Bu ộc xin lỗi, cải chính công khai;

4 Bu ộc thực hiện nghĩa vụ;

5 Bu ộc bồi thường thiệt hại;

6 H ủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có

th ẩm quyền;

7 Yêu c ầu khác theo quy định của luật ”

Như vậy, khác với biện pháp “tự mình bảo vệ” thì những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân được quy định trong Điều 11 BLDS 2015 có thể được tiến hành bởi những chủ thể hưởng quyền nhưng cũng có thể được tiến hành bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo yêu cầu của chủ thể hưởng quyền và chỉ thực hiện khi đã

Theo đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên năm 1999 thì “Cải

chính” được hiểu là: “Chữa cho đúng sự thật và tuyên bố trước đông người” [35, tr

240] Theo đó, nếu một người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân thì bản thân người bị xâm phạm có quyền tự mình cải chính bằng cách trực tiếp như trình bày trước đông người hoặc thông qua hình thức gián tiếp như cải chính thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí (đăng bài cải chính trên đài truyền hình, đài phát thanh, trên các trang báo mạng, diễn đàn…) Hiệu quả thực hiện của biện pháp cải chính là tương đối cao vì khi bản thân chủ thể trực tiếp đính chính lại những thông tin, hình ảnh liên quan đến bản thân mình đã giải tỏa được sự hoài nghi của dự luận và công chúng Ngược lại, nếu việc cải chính thông tin một cách không trung thực thì bản thân những người có quyền nhân thân bị xâm phạm sẽ phải chịu “sức ép” của dư luận, những chê trách từ phía dư luận và công chúng

Trang 27

Trong kinh doanh thương mại, tự mình cải chính là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân bị xâm được áp dụng trong trường hợp người có hành vi trái pháp luật như đăng tải, truyền bá những hình ảnh không đúng, hình ảnh “nhạy cảm” thuộc về riêng tư của cá nhân; tiết lộ những thông tin về bí mật đời tư của cá nhân

mà không được sự xin phép của chủ sở hữu thông tin lên các trang báo mạng, các trang mạng xã hội (Facebook, Zalo, Yahoo! 360), những diễn đàn mạng… gây ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân Đây là biện pháp cho phép người có quyền nhân thân bị xâm phạm kịp thời bảo vệ những quyền nhân thân của mình, hạn chế được hậu quả thiệt hại về vật chất và tinh thần do những hành vi trái pháp luật trên gây ra Bằng chính những phát ngôn của cá nhân bị xâm phạm quyền nhân thân được đăng tải trên các trang báo mạng hoặc các phương thức truyền thông tin tương tự sẽ bác bỏ được những thông tin sai lệch, khẳng định sự thật liên quan đến chủ thể trong kinh doanh thương mại

* Yêu c ầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc

ng ười vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai

Yêu cầu người có vi phạm chấm dứt hành vi xâm phạm là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân được áp dụng trong trường hợp khi quyền nhân thân

đó bị xâm phạm Theo biện pháp này, thì người có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể trực tiếp yêu cầu người có hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm thực hiện một trong các hành vi:

- Chấm dứt hành vi xâm phạm: Đây là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của

cá nhân có phạm vi tương đối rộng bởi nó có thể áp dụng trong mọi trường hợp quyền nhân thân bị xâm phạm Tùy thuộc vào biểu hiện của hành vi xâm phạm quyền nhân thân mà người xâm phạm phải chấm dứt hành vi theo nhiều cách khác

nhau Ví dụ, đối với hành vi xâm phạm “Quyền bí mật đời tư” của cá nhân thì

người có hành vi xâm phạm có hành vi thu thập công bố thông tin thì người thu thập, công bố thông tin phải dừng việc thu thập, công bố Người có hành vi xâm

phạm “Quyền bất khả xâm phạm” về chỗ ở thì hành vi chấm dứt đó có thể là không

được tiếp tục xâm phạm bất hợp pháp chỗ ở của người khác Trong trường hợp

người có hành vi sử dụng, phát tán xâm phạm về “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh” thì phải chấm dứt hành vi này khi đã gây ra thiệt hại cho cá nhân có quyền

Trang 28

nhân thân với hình ảnh hoặc chưa gây ra thiệt hại vì sử dụng hình ảnh mà không có

sự đồng ý của họ

Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm là biện pháp quan trọng vì nó đã kịp thời ngăn chặn hành vi xâm phạm như hành vi lan truyền thông tin, hình ảnh trong xã hội nói chung và trong kinh doanh thương mại nói riêng Đồng thời, đây là biện pháp hữu hiệu trong việc lấy lại danh dự cho người có quyền nhân thân bị xâm phạm, đặc biệt đối với các quyền nhân thân với hình ảnh, bí mật đời tư

- Xin lỗi, cải chính công khai: Xin lỗi, cải chính công khai là biện pháp mang lại giá trị tinh thần, là biện pháp phi vật chất Đặc biệt, khi quyền nhân thân của cá nhân đối với hình ảnh, quyền bí mật đời tư của cá nhân bị xâm phạm thì đây là biện pháp rất quan trọng để bảo vệ Biện pháp này không mang lại cho chủ thể lợi ích vật chất nhưng nó lại có ý nghĩa rất lớn trong việc bù đắp những thiệt hại về tinh thần do hành vi xâm phạm trái pháp luật của chủ thể khác gây ra Người xâm phạm

có thể gặp trực tiếp người bị xâm phạm quyền nhân thân để xin lỗi hoặc xin lỗi bằng những hình thức khác theo yêu cầu của người bị xâm phạm như gửi thư, đăng báo… Khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của người khác thì bản thân người này phải tự cải chính lại các thông tin trước đây mà mình đã đưa ra bằng các biện pháp qua phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài phát thanh, truyền hình…) hoặc có thể trực tiếp cải chính

* Yêu c ầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

bu ộc người vi phạm bồi thường thiệt hại

Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại là biện pháp được áp dụng tương đối phổ biến trong quan hệ dân sự và là biện pháp tương đối quan trọng Đây được coi là một chế tài dân sự được áp dụng đối với người có hành vi xâm phạm tới quyền nhân thân của chủ thể được pháp luật bảo vệ hay nói một cách khác nó là một chế tài pháp lý, buộc chủ thể có hành vi xâm phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi từ hành vi xâm phạm của mình gây ra Khi hành vi này gây thiệt hại, người bị xâm phạm có quyền yêu cầu chính chủ thể đã xâm phạm tới quyền nhân thân của mình hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước- cơ quan được Nhà nước trao quyền lực buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại

Trang 29

Căn cứ vào các quy định của pháp luật dân sự hiện hành, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền nhân thân được phân ra làm hai loại trách nhiệm Đó là, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

có ý nghĩa lớn trong việc xác định hành vi xâm phạm, mức bồi thường… Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng Đặc điểm của loại trách nhiệm này là giữa hai bên (bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại) có quan hệ hợp đồng và thiệt hại phải do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng gây ra Các bên có thể thỏa thuận trước trong hợp đồng về các biện pháp cưỡng chế, mức bồi thường, mức phạt hoặc các biện pháp bảo đảm thực hiện việc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng gây ra Đối với trường hợp xâm phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng liên quan tới quyền nhân thân đối với hình ảnh của cá nhân chỉ phát sinh khi tổ chức hoặc cá nhân có hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng khi giữa người có quyền nhân thân với hình ảnh và tổ chức hoặc cá nhân bất kì có giao với nhau hợp đồng về việc sử dụng hình ảnh của người đó với mục đích thương mại Ví dụ, hợp đồng dân sự được giao kết giữa công

ty nhiếp ảnh A với cô người mẫu P.T, theo đó, công ty nhiếp ảnh A chụp ảnh cô P.T

để đăng lên tạp chí Tạp chí giai nhân, tuy nhiên sau khi chụp hình cô người mẫu này xong, công ty A lại đăng những hình ảnh đó của cô lên một số website có nội dung đồi trụy Hành vi này của công ty A đã xâm phạm tới danh dự cũng như danh tiếng của cô P.T Theo đó, công ty nhiếp ảnh A đã vi phạm hợp đồng và phải bồi thường cho cô Q theo đúng như các điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng Hoặc sẽ là trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng do xâm phạm quyền bí mật đời tư nếu hành vi xâm phạm là hành vi vi phạm hợp đồng giữa một bên trong quan hệ hợp đồng với người bị xâm phạm bí mật đời tư là một bên hợp đồng

Ngược lại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm pháp lý phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy không liên quan đến việc thực

Trang 30

hiện nghĩa vụ theo hợp đồng khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Nó là trách nhiệm pháp lý bắt buộc phải thực hiện, phát sinh dưới tác động trực tiếp của các quy phạm pháp luật, không có sự thỏa thuận trước của các chủ thể Các bên chỉ có thể thỏa thuận sau khi đã phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như: thỏa thuận

về mức bồi thường, hình thức bồi thường… Xét quyền nhân thân đối với bí mật đời

tư, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư là giữa bên xâm phạm quyền bí mật đời tư với người bị xâm phạm không tồn tại quan hệ hợp đồng Ví dụ, khi mua sắm tại trung tâm mua sắm NK, nhân viên của trung tâm thường xin lại địa chỉ, thông tin của khách hàng đã mua sản phẩm tại đây Khi được hỏi thông tin các khách hàng đều cho và hai bên không có sự giao kết bất kỳ một hợp đồng nào Sau đó, tất cả những thông tin của 50.000 khách hàng đã mua sắm tại Trung tâm mua sắm NK đã bị giao bán trên một trang web Hành vi đưa những thông tin cá nhân của khách hàng lên trang mạng xã hội công khai đã làm ảnh hưởng tới cá nhân các khách hàng, điều này đã xâm phạm tới quyền bí mật đời tư của họ

Những điều kiện cần phải thỏa mãn đề buộc một chủ thể bồi thường thiệt hại khi có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của họ gây ra: (i) Phải có thiệt hại xảy ra; (ii) Có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân với thiệt hại xảy ra; (iv)

Có lỗi của người gây thiệt hại

- Th ứ nhất, Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại là những hậu quả bất lợi thực tế xảy ra mà bản thân chủ thể bị xâm phạm quyền nhân thân phải gánh chịu Thiệt hại xảy ra bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó, thiệt hại về vật chất là những khoản chi phí hợp lý nhằm khắc phục, hạn chế thiệt hại xảy ra Tuy nhiên, để có cơ sở yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền nhân thân bồi thường thiệt hại do hành vi của họ gây ra thì người bị xâm phạm phải đưa ra những chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ Về nguyên tắc, việc xác định thiệt hại do quyền nhân thân bị xâm phạm là tương đối khó, vì quyền nhân thân gắn với giá trị tinh thần của con người, nó mang tính chất phi tài sản, nhất là trong các trường hợp xác định thiệt hại

do hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư, quyền nhân thân đối với hình ảnh Hậu quả của những hành vi xâm phạm này là những thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy

Trang 31

tín của người bị xâm phạm Khoản 3 Điều 361 BLDS 2015 quy định: “ Thi ệt hại về

tinh th ần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,

điểm b tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần I Nghị quyết số 03/2006/NQ- HĐTP quy định: “b)

Thi ệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự,

nhân ph ẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm

phi ền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị

hi ểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ

ph ải chịu

Thi ệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không

ph ải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm

ph ạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin vì bị hiểu nhầm và

c ần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu”

Không giống như việc xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, việc xác định tài sản trong trường hợp danh dự, nhân phẩm và uy tín của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm không đơn giản Bởi vì không thể “lượng hóa” được thiệt hại trong trường hợp này Thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất, không có công thức chung duy nhất để quy đổi thành tiền áp dụng do mọi trường hợp Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần do hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong kinh doanh thương mại, đặc biệt khi hành vi xâm phạm quyền nhân thân này được thực hiện thông qua mạng xã hội hoặc phương thức thương mại điện tử phải căn cứ vào hình thức xâm phạm (đăng trên báo, website, nhóm mạng…), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thông tin xúc phạm Do vậy, việc xác định một khoản tiền tổn thất về tinh thần cho người có quyền nhân thân bị xâm phạm thực chất cũng với mục đích xoa dịu những tổn thương về mặt tinh thần cho họ Khoản tiền bồi thường này do bên có hành vi xâm phạm và bên có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể tự thỏa thuận với nhau; trong trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ

quyết định, nhưng “mức tối đa không quá m ười lần mức lương cơ sở do Nhà

n ước quy định ” (Khoản 2 Điều 592 BLDS 2015)

- Th ứ hai, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Trang 32

Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật là hành vi gây ra thiệt hại cho các quan hệ

xã hội được pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật đó có thể do pháp luật cấm thực hiện hoặc yêu cầu thực hiện nhưng chủ thể đã không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, thực hiện không đầy đủ nên đã gây thiệt hại Nó

là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động Hành vi xâm phạm quyền nhân thân rất đa dạng

Mặc dù BLDS năm 2015 quy định các quyền nhân thân liên quan đến việc xác định tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia các quan hệ dân sự và những quyền nhân thân gắn liền với lợi ích tinh thần của cá nhân, nhưng chưa được quy định cụ thể trong Hiến pháp Những quyền đó gồm: quyền có họ, tên (Điều 26); quyền thay đổi họ (Điều 27); quyền thay đổi tên (Điều 28); quyền xác định, xác định lại dân tộc (Điều 29); quyền được khai sinh, khai tử (Điều 30), quyền đối với quốc tịch (Điều 31); quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 32); quyền sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 33); quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 34); quyền hiến nhận mô, bộ phận

cơ thể người và hiến, lấy xác (Điều 35); quyền xác định lại giới tính (Điều 36); quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 38); quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình (Điều 39) Nhưng trong kinh doanh thương mại hiện nay, được hiểu bao gồm cả thương mại điện tử thì quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín và quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là những quyền nhân thân dễ bị xâm phạm nhất trong môi trường này Bên cạnh những lợi ích của việc sử dụng thư điện tử, truy cập internet

để thực hiện các giao dịch thương mại là những mặt trái của nó về xã hội do những người có hành vi trái pháp luật đã lợi dụng “không gian” này để làm phương tiện truyền bá những thông tin thất thiệt, đăng tải những hình ảnh, video bí mật thuộc về đời tư của cá nhân để vu khống, bôi nhọ danh dự một cách cố ý hoặc với nhiều mục đích khác… Với sự trợ giúp của Internet, hình ảnh, bí mật đời tư, bí mật cá nhân được phát tán rộng với tốc độ “chóng mặt”, không chỉ giới hạn trong phạm vi trong nước mà còn trên phạm vi nhiều quốc gia Việc ngăn chặn và truy tìm những thủ phạm đối với loại tội phạm này là tương đối khó khăn Các hành vi xâm phạm quyền nhân thân trong môi trường kinh doanh thương mại được thể hiện dưới nhiều hành động khác nhau Đó có thể là hành vi sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không

Trang 33

được sự đồng ý của họ; đăng tải hình ảnh, video đời tư trên các trang báo mạng, diễn đàn, trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Youtube… gây thiệt hại về danh

dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân đó hay đăng tải hình ảnh của cá nhân không đúng sự thật, bịa đặt như sử dụng kỹ thuật photoshop để chỉnh sửa hình ảnh hoặc cắt ghép ảnh…; hành vi thu thập, công bố các thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân nhưng không được sự đồng ý của cá nhân hoặc nhân thân cá nhân đó trong trường hợp cá nhân đã chết, mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, sau đó phát tán lên môi trường mạng xã hội hoặc sử dụng vì mục đích trục lợi hoặc mục đích khác với bên thứ ba…

Bên cạnh những hành vi sử dụng hình ảnh không xin phép chủ thể có quyền

và sử dụng bí mật riêng tư của cá nhân thì có những hành vi sử dụng hình ảnh, công khai bí mật riêng tư của cá nhân nhưng không được coi là hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân nếu hành vi đó được thực hiện theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo những trình tự, thủ tục nhất định Đây cũng chính là giới hạn của nội dung quyền nhân thân đối với hình ảnh, quyền

về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình

* Có l ỗi của người gây thiệt hại

Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.” Lỗi là một yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và được hiểu là “thái độ tâm lý của một người đối với hành vi và hậu quả do hành vi đó mang lại” [23, tr 123] Nghị quyết

số 03/2006/NQ- HĐTP cũng nhấn mạnh yếu tố lỗi: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại” Như vậy, người có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình khi hành vi đó được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý Trong đó, lỗi cố ý gây thiệt hại là:

“Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.” (Điều 364 BLDS 2015); lỗi vô ý gây thiệt hại là

“Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng

Trang 34

gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.”

Như vậy, về nguyên tắc khi một người có lỗi xâm phạm quyền nhân thân của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại và được thể hiện dưới hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các quyền nhân thân bị xâm phạm trong kinh doanh thương mại thường là do lỗi cố ý Bởi, với những hành vi như đăng tải hình ảnh, video đời tư trên các trang báo mạng, diễn đàn, trang mạng xã hội như Facebook, Zalo, Youtube… gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân đó hay đăng tải hình ảnh của cá nhân không đúng sự thật, bịa đặt như sử dụng kỹ thuật photoshop để chỉnh sửa hình ảnh hoặc cắt ghép ảnh…hoặc chia sẻ thông tin đối tác trong quá trình giao dịch thương mại khi chưa được sự đồng ý từ phía đối tác thì người thực hiện hành vi vi phạm đó thường có chủ đích từ trước

* Có m ối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật xâm

Khi đề cập đến mối quan hệ nhân quả là nói đến sự liên hệ mật thiết giữa hai hiện tượng trong thế giới khách quan có sự tác động, chuyển hóa lẫn nhau, trong đó hiện tượng thứ nhất đóng vai trò là nguyên nhân, hiện tượng thứ hai đóng vai trò là kết quả Nguyên nhân là cái có trước, kết quả là cái có sau, nguyên nhân là yếu tố quyết định đến kết quả Khoa học luật dân sự không có lý luận riêng về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả trong pháp luật dân sự được xây dựng trên cơ sở cặp phạm trù nhân quả của Chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác- Lênin Theo đó, mối quan hệ nhân quả ở đây được hiểu là mối quan hệ giữa hành vi khách quan (hành vi trái pháp luật) với hậu quả (thiệt hại thực tế xảy ra) Về nguyên tắc, hành vi trái pháp luật phải xảy

ra trước thiệt hại trong một không gian và thời gian xác định Như vậy, trong mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi xâm phạm quyền nhân thân thì việc có hành vi xâm phạm tới các quyền nhân thân của chủ thể phải đưa lại một thiệt hại cho chủ thể hưởng quyền bị xâm phạm Hành vi xâm phạm quyền nhân thân là nguyên nhân và thiệt hại xảy ra được xác định là hậu quả Xét trong mối quan hệ nhân quả này thì hành vi xâm phạm quyền nhân thân phải có trước và thiệt hại có sau

Trang 35

Trong quan hệ pháp luật này, việc làm rõ mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Làm rõ mối quan hệ giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả thiệt hại xảy ra sẽ trả lời được hai câu hỏi khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do các quyền nhân thân của chủ thể bị xâm phạm:

- Có hay không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng?

- Mức bồi thường thiệt hại được xác định như thế nào nếu nhiều người gây thiệt hại cho một người hoặc cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi? Việc xác định đúng quan hệ nhân quả là rất khó khăn, phức tạp và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi có hành vi trái pháp luật xâm phạm quyền nhân thân của chủ thể ở mức độ nào Do vậy, để đánh giá đúng nguyên nhân của mối quan hệ nhân quả trên phải đảm bảo các yếu tố sau:

- Quan hệ nhân quả là sự tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, phải đảm bảo tính khách quan, phải đặt trong mối liên hệ tất nhiên, nội tại của các hiện tượng chứ không được xác định quan hệ nhân quả theo lối nhận xét chủ quan

- Cần phân biệt nguyên nhân với điều kiện Việc xác định hành vi vi phạm nào là nguyên nhân và hiện tượng nào là điều kiện trong thực tiễn là hết sức phức tạp, khó khăn nhưng rất cần thiết Làm rõ được sự khác nhau trên chúng ta sẽ xác định được đúng chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Nguyên nhân là cái trực tiếp gây ra ra thiệt hại, nếu không có nó thì không bao giờ xảy ra thiệt hại Điều kiện không phải là cái trực tiếp gây ra thiệt hại nhưng nó có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình thiệt hại xảy ra Trong mối quan hệ nhân quả, nguyên nhân là yếu tố quyết định, còn điều kiện là yếu tố quan trọng dẫn đến kết quả Ở đây, một nguyên nhân có thể đưa ra nhiều kết quả khác nhau phụ thuộc vào điều kiện cụ thể Nó có thể là những kết quả gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của cá nhân nhưng nó cũng có thể là những hậu quả tốt đối với họ

Tóm lại, theo quy định tại Điều 11 BLDS 2015 thì cá nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm có thể bảo vệ quyền nhân thân của mình theo nhiều phương thức khác nhau như: tự mình bảo vệ, yêu cầu có quan tổ chức có thẩm quyền bảo vệ hoặc

Trang 36

buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại Việc áp dụng một hay nhiều biện pháp bảo vệ quyền nhân thân hoặc áp dụng biện pháp bảo vệ quyền nhân thân nào là tùy vào từng trường hợp cụ thể quyền nhân thân bị xâm phạm và do ý thức chủ quan của người có quyền nhân thân bị xâm phạm mà tự lựa chọn biện pháp bảo vệ phù hợp để mang lại hiệu quả Với những quy định trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành đã mang lại ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ quyền nhân thân của các chủ thể khi bị xâm phạm Đây là việc làm cần thiết Hơn nữa, các quyền nhân thân của

cá nhân bao gồm nhiều quyền khác nhau và các hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân cũng rất đa dạng nên việc pháp luật quy định đa dạng hóa các phương thức bảo

vệ quyền nhân thân của cá nhân là hoàn toàn phù hợp, tạo điều kiện cho việc bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả hơn nữa

1.24.3 Bi ện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của một số ngành

lu ật khác

Cá nhân có quyền được bảo vệ quyền nhân thân của mình Bên cạnh những biện pháp bảo vệ quyền nhân thân theo quy định của pháp luật dân sự thì pháp luật những ngành luật khác của nước ta còn có những biện pháp khác trong việc bảo vệ quyền nhân thân Đó là các biện pháp xử lý kỷ luật người vi phạm, biện pháp hành chính và biện pháp hình sự

* Bi ện pháp xử lý kỷ luật

Biện pháp xử lý kỷ luật là biện pháp được áp dụng đối với những đối tượng

là cán bộ, công chức; người lao động có hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân và thuộc các trường hợp phải xử lý kỷ luật

- Thứ nhất, đối với cán bộ, công chức:

Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và thuộc một trong các đối tượng được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 của Luật này Theo quy định tại Điều 78 và 79 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 thì trong quá trình thực thi nhiệm vụ được cơ quan giao nếu cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân nói riêng nếu chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà sẽ phải chịu một trong các hình thức kỷ luật như sau:

- Khiển trách;

Trang 37

- Cảnh cáo;

- Hạ bậc lương (Đối với công chức);

- Giáng chức (Đối với công chức);

- Cách chức;

- Bãi nhiệm (Đối với cán bộ);

- Buộc thôi việc (Đối với công chức)

Trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao, nếu cán bộ, công chức xâm phạm quyền nhân thân gây thiệt hại cho chủ thể khác thì cơ quan quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại

- Th ứ hai, đối với người lao động:

Người lao động ở đây được xác định là người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động thuộc phạm vi điều chỉnh của BLLĐ Theo những quy định của pháp luật lao động thì trong quá trình lao động, người lao động phải tuyệt đối tuân thủ nội quy lao động Tùy thuộc vào mức độ vi phạm mà người lao động sẽ bị xử lý kỷ luật theo các hình thức như:

* Bi ện pháp hành chính

Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định “Xử phạt vi phạm

hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là

cá nhân, t ổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về

qu ản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bi

thân của chủ thể khác chưa đến mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự thì người có hành vi vi phạm này có thể bị xử lý vi phạm hành chính

Hành vi xâm phạm quyền nhân thân có thể phải chịu áp dụng các biện pháp hành chính sau:

Trang 38

- Cảnh cáo;

- Phạt tiền;

- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính

Nếu như trong môi trường kinh doanh thương mại truyền thống, quyền nhân thân của các chủ thể có thể bị xâm phạm thông qua việc các chủ thể sử dụng, tiết lộ hoặc có hành vi khác xâm phạm đến quyền và lợi ích của chủ thể có quyền nhân thân thì trong môi trường thương mại điện tử, các quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm một cách dễ dàng hơn bao giờ hết Biện pháp hành chính cũng là một trong những biện pháp có ý nghĩa lớn trong việc răn đe những đối tượng có hành vi lợi dụng sự lan truyền nhanh của Internet, cũng như môi trường thương mại điện tử

mà xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân làm ảnh tới danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ với nhiều động cơ khác nhau Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết sang ngày 17/7/2013, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đã đưa ra Quyết định xử lý vi

phạm hành chính 15.000.000 (Mười lăm triệu đồng) đối với đối tượng có hành vi

đưa tin sai sự thật lên trang mạng Internet [41] Đó là hành vi của 03 đối tượng có biệt danh “casperkkid” trên diễn đàn mạng xã hội Tathy.com (sinh năm 1980) đang làm việc tại Ngân hàng BIDV, chi nhánh Hà Nội, giữ chức vụ Trưởng phòng;

“hungpvn” trên diễn đàn mạng f319.com (sinh năm 1976), làm việc tại Công ty Kỹ thuật và Sản xuất tại thành phố Hồ Chí Minh và “danghoidoi” trên diễn đàn Vietstock.com (sinh năm 1985), đang làm việc về lĩnh vực môi trường xâm phạm quyền nhân thân của ông Trần Bắc Hà- Chủ tịch Ngân hàng BIDV bị bắt ngày 21/02/2013 trên các trang diễn đàn mà họ tham gia nhằm mục đích hạ uy tín, danh

dự của ông Hà, làm sụt giảm thị trường, tài chính tiền tệ và chứng khoán của Việt Nam để vụ lợi về kinh tế bởi họ là những nhà đầu tư nhỏ lẻ, tham gia đầu tư chứng khoán Vì hành vi của những người này chưa đến mức độ bị truy cứu trách nhiệm hình sự do vậy Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đã đề nghị xử lý theo pháp luật hành chính những hành vi trên đã vi phạm các quy định của Nghị định 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực CNTT

Theo đó, xử phạt người có nickname “casperkid” 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng

về các hành vi: “Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số

Trang 39

nh ằm xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín

ng ười khác” [42]

* Bi ện pháp hình sự

Người có hành vi xâm phạm các quyền nhân thân của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ mà có dấu hiệu tội phạu thì sẽ bị xử lý bằng pháp luật hình sự Đây được coi là sự trừng phạt của Nhà nước đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật bởi hành vi của họ được coi là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ cho con người Liên quan đến hành vi xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân, đặc biệt trong môi trường thương mại điện tử, BLHS

1999 của nước ta quy định một số loại tội phạm cụ thể như sau:

- Hành vi của cá nhân lợi dụng các quyền tự do dân chủ của mình (quyền tự

do ngôn luận, tự do báo chí) để xâm phạm quyền nhân thân của người khác có thể

bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 258 BLHS 1999 về tội: “Lợi dụng các

t ổ chức, công dân”;

- Hành vi mua bán, trao đổi thông tin cá nhân trái phép qua mạng Internet có thể vi phạm Điều 226 BLHS 1999 về tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet;

- Hành vi xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác nếu thỏa mãn đầy đủ yếu tố cấu thành tội phạm được mô tả theo Điều

125 BLHS 1999 về tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, tù có thời hạn, cấm đảm nhiệm chức

vụ nhất định trong một thời hạn Các hành vi được mô tả cụ thể như chiếm đoạt tư, điện báo, fax… được truyền bằng phương tiện máy tính hoặc có hành vi trái pháp luật xâm phạm bí mật hoặc an toàn điện thoại, điện tín, thư tín của người khác

- Hành vi đăng tải, truyền bá những hình ảnh, video của cá nhân khác mang tính nhạy cảm, pháp luật không cho phép truyền bá thì có thể bị xử lý vì tội truyền

bá văn hóa phẩm đồi trụy quy định tại Điều 253 BLHS 1999

Ngày đăng: 02/09/2018, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w