1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo pháp luật phá sản việt nam

116 289 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thủ tục phục hồi đã được Luật phá sản năm 2014 quy định theo hướng độc lập trong thủ tục phá sản với nhiều quy định mới là tiền đề thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp đang trong tình trạn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

CỦA DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN THEO

PHÁP LUẬT PHÁ SẢN VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN HỘI

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 60.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS: VŨ THỊ HỒNG VÂN

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tìm hiểu, phân tích một cách trung thực phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khác Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Đào tạo Sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Văn Hội

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo, gia đình và người thân

Trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong nhà trường và Khoa Đào tạo Sau đại học thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài luận văn này

Đặc biệt xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất đến Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Thị Hồng Vân là người trực tiếp nhiệt tình hưỡng dẫn, đóng góp những ý kiến và thông tin vô cùng quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể bạn bè và người thân đã giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tác giả thực hiện Luận văn

Nguyễn Văn Hội

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

LPS Luật phá sản

HNCN Hội nghị chủ nợ

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN 8

1.1 Khái niệm thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 8

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 8

1.1.2 Khái niệm thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 12

1.2 Vai trò của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 16

1.3 Pháp luật một số nước về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 22

1.3.1 Về hình thức pháp lý điều chỉnh thủ tục phục hồi 22

1.3.2 Về nội dung thủ tục phục hồi 22

Chương 2: 34THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 34

2.1.1 Giai đoạn mở thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 35

2.1.2 Giai đoạn giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 44

2.1.3 Giai đoạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 57

Trang 6

2.1.4 Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 65 2.2 Thực tiễn áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trong thời gian qua 69 2.2.1 Những kết quả đạt được 69 2.2.2 Nhận xét, đánh giá về thực trạng thi hành pháp Luật phá sản và thực hiện thủ tục phục hồi ở Việt Nam 71 2.2.3 Khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện quy định về thủ tục phục hồi doanh nghiệp và nguyên nhân 73 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN 88 3.1 Một số định hướng hoàn thiện khung pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 88 3.2 Những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả thực thi quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 89 3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp Luật phá sản doanh nghiệp 89 3.2.2 Giải pháp tổ chức và bảo đảm thực hiện quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh 101 KẾT LUẬN 106DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam, hiện tượng phá sản của các doanh nghiệp đang diễn ra rất phổ biến Đây là xu thế tất yếu của quá trình cạnh tranh, quá trình đào thải và sự chọn lọc tự nhiên: các chủ thể kinh doanh làm

ăn thua lỗ, kém hiệu quả tất yếu phải chấm dứt sự tồn tại hoạt động kinh doanh của mình thông qua việc bị tuyên bố phá sản Phá sản góp phần làm cân bằng thị trường, cơ cấu lại nền kinh tế, làm cho nền kinh tế thị trường trở nên đúng với bản chất của nó hơn Ở Việt Nam, phá sản cũng được coi là một hiện tượng tất yếu của nền kinh tế thị trường, nhất là trong giai đoạn nước ta đang hội nhập kinh tế thế giới sâu, rộng thì hiện tượng này lại rất cần có sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật rõ ràng, phù hợp và hoàn chỉnh Bên cạnh đó, trong kinh doanh, không thể nào tránh khỏi việc có doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả và bị đào thải khỏi thương trường thông qua sự kiện phá sản, điều đó kéo theo nhiều hậu quả gây ảnh hưởng đến cả nền kinh tế - xã hội, sự ảnh hưởng này được thể hiện ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực Luật phá sản ngày càng đóng vai trò quan trọng để cơ cấu lại nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp hoạt động yếu kém rút khỏi thương trường một cách có trật

tự và để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động, của các chủ nợ khác Mặt khác Luật phá sản còn giúp các doanh nghiệp có cơ hội phục hồi hoạt động kinh doanh của mình, quay lại kinh doanh bình thường, không phải tuyên bố phá sản

Phục hồi hoạt động kinh doanh là một nội dung quan trọng trong thủ tục phá sản Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh có thể đem lại cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản những điều kiện và cơ hội để tái tạo tổ chức lại hoạt động, giúp doanh nghiệp vượt ra khỏi nguy cơ bị phá sản Trong điều kiện ngày nay, pháp Luật phá sản các nước trên thế giới luôn đề cao và quan tâm thích đáng đến thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một bộ phận quan trọng trong trình tự, thủ tục phá sản doanh nghiệp được quy định ở Luật phá sản của hầu hết của quốc gia

Trang 8

Thủ tục này nhằm tạo ra những điều kiện, cơ hội để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có thể vượt qua được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, tránh bị tuyên bố phá sản Bên cạnh đó, nếu việc phục hồi thành công còn có thể bảo vệ quyền, lợi ích cho chủ nợ và những người liên quan; bảo đảm công ăn việc làm cho người lao động; duy trì ổn định, trật tự xã hội từ đó làm lành mạnh hóa môi trường kinh doanh Không nằm ngoài xu hướng chung ấy, pháp Luật phá sản Việt Nam cũng có những quy định đối với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Trước những yêu cầu mới của nền kinh tế thị trường, việc hoàn thiện pháp luật về phá sản nói chung và thủ tục phục hồi doanh nghiệp nói riêng là rất cần thiết Ngày 15/06/2014 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật phá sản mới thay thế Luật phá sản doanh nghiệp 2004 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 Thủ tục phục hồi đã được Luật phá sản năm 2014 quy định theo hướng độc lập trong thủ tục phá sản với nhiều quy định mới là tiền đề thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp đang trong tình trạng sản xuất kinh doanh khó khăn, thua lỗ có cơ hội để rút khỏi thị trường một cách “trật tự”, đồng thời thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh các phương án khác để thanh toán nợ đến hạn trước khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản, với quy định này quyền của chủ nợ sẽ được bảo đảm tối ta Luật phá sản năm 2014 bổ sung quy định về phương thức thương lượng trước khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp trong trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là chủ nợ Về HNCN cũng có nhiều điểm mới, theo cho các nhà đầu tư Về định nghĩa tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đã được quy định

rõ ràng và cụ thể hơn Theo đó, “doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh

nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Thời hạn phải thanh toán là 03 tháng giúp các doanh nghiệp chưa có khả năng thanh toán có thể tìm quy định của Luật phá sản năm

2014, điều kiện hợp lệ của HNCN chỉ căn cứ trên số nợ Theo đó, số chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ(HNCN) không phải là điều kiện để coi HNCN hợp lệ Luật phá

Trang 9

sản năm 2014 còn bổ sung thêm biện pháp giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ trong phương

án phục hồi hoạt động kinh doanh tạo giải pháp và cơ hội nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp hiện đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán

Thực tế cho thấy hiện nay trong đời sống và hoạt động kinh doanh có rất nhiều các doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, nhưng không chủ động tiếp cận với thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh để đưa ra phương án phục hồi dẫn đến doanh nghiệp phá sản Phải chăng giữa thực tế của hoạt động kinh doanh và các quy định của pháp luật vẫn còn một khoảng cách lớn Vì vậy, việc nghiên cứu những quy định về thủ tục phục hồi trong Luật phá sản năm 2014 là điều rất quan trọng và cần thiết, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm thực thi

có hiệu quả Luật phá sản năm 2014 để áp dụng phổ biến hơn vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay

Với mong muốn đó, tôi đã lựa chọn đề tài: Thủ tục phục hồi hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo pháp Luật phá sản Việt

Nam làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Phục hồi hoạt động kinh doanh là thủ tục cơ bản trong việc giải quyết doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Pháp luật về phá sán của bất cứ quốc gia nào trên thế giới dù là theo hướng bảo vệ quyển lợi của chủ nợ hay bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp mắc nợ đều có những quy định cần thiết điều chỉnh thủ tục này

Cũng giống như các quốc gia khác, Luật phá sản của Việt Nam khi được ban hành cũng có nhiều quy định điều chỉnh thủ tục này (Luật phá sản năm 2004, Chương VI, mục I - Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, quy định từ Điều 68 đến Điều 77 Luật phá sản năm 2014, Chương VII - Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; quy định từ Điều 87 đến Điều 96)

Đến thời điểm hiện nay, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Có thể kế đến công trình: Báo cáo phúc trình đê tài

Trang 10

''Đánh giá thực trạng, thực hiện nghiên cứu, phân tích để khuyến nghị hoàn thiện pháp Luật phá sản doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan” của Câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp do TS Dương Đăng Huệ làm chủ nhiệm đề tài, Dương Đăng Huệ - Pháp Luật phá sản của Việt Nam 2004; hoặc các bài viết như: Một số vấn đề lý luận về phá sản - thực tiễn và phương hướng hoàn thiện của ông Phạm Xuân Thọ, Chánh toà kinh tế TAND thành phồ Hồ Chí Minh; Một số vấn đề

lý luận về phá sản của TS.Trần Kim Hào, Ths Nguyễn Kim Anh ở Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW; Phương hướng và nội dung cơ bản của dự án Luật phá sản của tác giả Ngô Cường, Phó Viện trưởng Viện khoa học xét xử - Toà án nhân dân tối cao; Thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong thời gian qua, những khó khăn, vướng mắc và một số kiến nghị, đề xuất của TS Nguyễn Văn Dũng, Toà án nhân dân tối cao; khái niệm phá sản, thủ tục phá sản và những liên hệ đến Luật phá sản năm 2014 của TS Dương Kim Thế Nguyên – Khoa luật, Đại học Kinh tế TP.HCM

Tuy nhiên, các công trình và bài viết này chỉ đề cập đến những nội dung cơ bản của thủ tục phá sản nói chung mà chưa nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và hệ thống về các khía cạnh pháp lý của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán với tư cách là một thủ tục độc lập cũng như đánh giá toàn diện thực trạng của các quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thủ tục phục hồi

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận văn là nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh để trên cư sở đó đưa ra một số giải pháp góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Trang 11

Với mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh như: đối tượng áp dụng thủ tục phục hồi hoạt dộng kinh doanh; bản chất pháp lý của thủ tục phục hồi; mục đích của việc quy định thủ tục phục hồi; những nội dung quan trọng của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh với tư cách là một chế định trong Luật phá sản năm 2014

Nghiên cứu và đánh giá một cách toàn diện thực trạng các quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua đó nêu lên những tồn tại, hạn chế, bất cập của pháp Luật phá sản về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh hiện hành

Đề ra các định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Phục hồi hoạt động kinh doanh là một nội dung quan trọng trong pháp luật

về phá sản Dưới góc độ pháp lý, việc phục hồi hoạt động kinh doanh có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể là những biện pháp nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh, có thể là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Việc phục hồi có thể được diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, ngoài Tòa án hoặc trong

Tòa án

Do tính phức tạp của vấn đề nên với khuôn khổ của luận văn thạc sỹ cao học luật, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các nội dung liên quan đến trình tự, thủ tục trong Toà án áp dụng cho việc phục hồi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được quy định theo Luật phá sản năm 2014, Ngoài ra, luận văn cũng không đề cập đến riêng từng loại doanh nghiệp hoạt động đặc thù như Tổ chức tín dụng, Tổ chức tài chính khác, Luận văn chỉ khảo sát và đánh giá thực trạng của quá trình giải quyết phá sản ở Việt Nam từ khi Luật phá sản năm 2014 có hiệu lực cho đến hết tháng 6 năm 2017

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 12

Luận văn được thực hiện trên cơ sở bám sát những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước Những chủ trương đó được thể hiện tập trung, nhất quán trong các văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc và các hội nghị của Ban chấp hành Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khoá XI, khóa XII

Luận văn vận dụng phương pháp luận, các quy luật và phạm trù của triết học Mác - Lênin trong quá trình nghiên cứu, mà hạt nhân là phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể mà đề tài đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: thống kê, phân tích, so sánh kinh nghiệm, đối chiếu, tổng hợp, khảo sát thực tiễn được vận dụng kết hợp để giải quyết những vấn đề mà đề tài tiếp cận

Ngoài ra, để hoàn thành luận văn, tác giả còn sử dụng phương pháp trao đổi nhằm tham khảo ý kiến của cán bộ có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, giảng dạy ở cơ sở đào tạo về chuyên ngành liên quan tới Luật phá sản để luận văn có tính lý luận và thực tiễn

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Về mặt khoa học và thực tiễn, luận văn có những đóng góp:

Thứ nhất, luận văn nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống về cả lý luận cũng như thực tiễn về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là một thủ tục độc lập

và quan trọng trong thủ tục phá sản

Thứ hai, luận văn đã phân tích, đánh giá toàn bộ thực trạng quy định và áp dụng pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Trang 13

Thứ ba, quá trình nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng, luận văn đã có những đề xuất định hướng và giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong công tác xây dựng, nghiên cứu và áp dụng pháp luật nhất là trong bối cảnh chúng ta đang tiến hành áp dụng Luật phá sản năm 2014

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề chung về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Chương 2 Thực trạng quy định của pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và thực tiễn áp dụng

Chương 3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Trang 14

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN

1.1 Khái niệm thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

1.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Về nguồn gốc, thuật ngữ phá sản được diễn đạt bằng từ “bankruptcy” hoặc

“banqueroute” mà nhiều người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ “Banca Rotta” trong tiếng La Mã cổ, trong đó banca có nghĩa là chiếc ghế dài, còn rotta có nghĩa là

bị gãy Banca rotta có nghĩa là “băng ghế bị gãy” Cũng có ý kiến cho rằng, từ phá

sản bắt nguồn từ chữ ruin trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự “khánh tận”

Ở Việt Nam, Từ điển tiếng Việt định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ”

là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ Như vậy, trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản là để chỉ cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản mà vẫn không

đủ trả nợ”

Từ điển Luật học định nghĩa: phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân,

pháp nhân) mất khả năng thanh toán nợ đến hạn [33] Theo quan điểm này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có thể xảy ra đối với các chủ thể

bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Nói cách khác, “phá sản” được hiểu tương đương với “mất khả năng thanh toán”

Trang 15

Trong Bộ luật Thương mại năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa có hai khái niệm được sử dụng là khánh tận và phá sản Theo Điều 864 của Bộ luật này

“Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị toà tuyên án khánh tận” Điều 1008 Bộ luật Thương mại năm 1972 quy định “những thương gia ở trong tình trạng khánh tận hay thanh toán tư pháp sẽ bị truy tố về tội phá sản đơn thường hay phá sản gian trá tùy theo các trường hợp được dự liệu tại các điều kế tiếp” Như vậy “khánh tận là tình trạng một thương gia đã ngưng trả nợ” hay nói cách khác, khái niệm “khánh tận” trong Bộ luật Thương mại năm 1972 được hiểu tương đương như khái niệm “mất khả năng thanh toán” Trong khi đó, khái niệm “phá sản” được dùng “cho những trường hợp thương gia phạm vào những hình tội được luật dự liệu trong sự diễn tiến thủ tục khánh tận” và từ này (phá sản) là để chỉ cho một loại tội phạm

Trong tiếng Anh, khái niệm phá sản và mất khả năng thanh toán được diễn đạt dưới những thuật ngữ bankruptcy, insolvency Hai thuật ngữ này có khi được sử dụng như là những từ đồng nghĩa Tuy vậy, có tác giả cho rằng, insolvency là khái niệm liên quan đến tình trạng tài chính, trong khi đó bankruptcy lại là khái niệm thuần tuý pháp lý

Cụ thể, từ insolvency (được dịch sát nghĩa tương đương trong tiếng Việt

là mất khả năng thanh toán) là để chỉ một tình trạng tài chính của doanh nghiệp

Tình trạng này có thể xác định theo phương thức dựa trên cân đối tài sản – nợ cho thấy tài sản còn lại không đủ để thanh toán nợ (được gọi là “balance-sheet” insolvency) hoặc dựa vào việc doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ đã đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu (được gọi là “cash-flow” insolvency) Khi một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán (insolvency) thì nó có thể được thực hiện các thủ tục phục hồi (reorganazation) hoặc bị thanh lý (liquidation, winding-up)

Từ bankruptcy thì được hiểu như là thủ tục pháp lý để giải quyết tình trạng mất khả

năng thanh toán

Trang 16

Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ bankruptcy được sử dụng cho cả thủ tục phá sản áp dụng cho cá nhân hoặc doanh nghiệp Tuy vậy, trong pháp luật của Anh, bankruptcy

là để chỉ cho thủ tục phá sản cá nhân còn đối với phá sản các công ty thì thuật ngữ được sử dụng là insolvency

Như vậy, từ các phân tích trên đây có thể thấy về mặt pháp lý, khái niệm

“phá sản” có thể được hiểu theo hai khía cạnh sau đây:

Một là, phá sản là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan nhà nước (thông thường là Tòa án) ra quyết định tuyên bố phá

sản Hậu quả của quyết định này là sự chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp

Hai là, phá sản là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để

giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức đó Thủ tục pháp lý này

được quy định bởi Luật phá sản và pháp luật có liên quan, được tiến hành từ khi có dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán (insolvency) và quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán được thực hiện có thể đưa đến những hệ quả khác nhau là phục hồi tổ chức kinh doanh (reorganization) hoặc thanh lý tài sản và chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh doanh (liquidation hoặc winding-up)

Trong pháp luật Việt Nam, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 và Luật phá sản năm 2004 đều không đưa ra định nghĩa về phá sản mà sử dụng khái niệm “tình trạng phá sản” Khái niệm này nhằm xác định khả năng phục hồi của doanh nghiệp chứ không chỉ có các quy định về tuyên bố phá sản và thanh lý doanh nghiệp Do vậy, khái niệm tình trạng phá sản chưa phản ánh đầy đủ nội hàm như được quy định trong các luật này

Khác với các văn bản Luật phá sản trước đây, Luật phá sản năm 2014 đã đưa

ra một định nghĩa pháp lý về phá sản, theo đó, “phá sản là tình trạng của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản” (Điều 3) Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới góc độ là một quyết định của Tòa án chứ không phải là quá trình ban hành ra quyết định đó (thủ tục phá sản)

Trang 17

Theo đó, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là căn cứ để Tòa án ra quyết định

mở thủ tục phá sản Quyết định này của Tòa án gây hậu quả xấu về nhiều mặt cho nhiều đối tượng, nhất là cho con nợ, ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của nhà kinh doanh trên thương trường, đồng thời hạn chế quyền quản lý tài sản và quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ Chính vì vậy, xác định tình trạng

“mất khả năng thanh toán” có ý nghĩa rất quan trọng, bởi nếu nhà lập pháp đưa căn

cứ xác định không hợp lý sẽ gây hại không những cho từng thương nhân cụ thể, cho các chủ nợ mà còn cho cả nền kinh tế nói chung

Về cơ bản, cả trong học thuật lẫn trong pháp luật nhiều nước đều xác định tình trạng mất khả năng thanh toán là tình trạng con nợ không trả được các khoản

nợ Tuy nhiên, thế nào là “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ” là nội dung không chỉ gây tranh luận trong giới học thuật mà còn được ghi nhận có ít nhiều sự khác biệt trong pháp luật ở các nước khác nhau Thậm chí, trong cùng một nước, nội dung này ở mỗi thời kỳ khác nhau cũng có cách hiểu khác nhau Việc xác định tình trạng “mất khả năng thanh toán” đã được pháp luật quy định khá khác biệt nhau trong các văn bản pháp luật về phá sản Ở những giai đoạn khác nhau, pháp luật Việt Nam có khi chỉ sử dụng một tiêu chí để xác định tình trạng phá sản hoặc

có khi lại phối hợp nhiều tiêu chí

Đối với quan điểm chỉ sử dụng một tiêu chí (dòng tiền) để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán, Điều 3 Luật phá sản năm 2004 xác định “Doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”

Việc sử dụng phối hợp nhiều tiêu chí để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán thể hiện trong Luật phá sản năm 2014 Theo quy định của Luật này,

“Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ

thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” Tuy nhiên, việc định lượng ở đây chỉ dừng lại thời gian trễ hạn thanh toán mà không

Trang 18

quan tâm đến giá trị của các khoản nợ Điều này cho thấy Luật phá sản năm 2014 của Việt Nam đã quan tâm đến bản chất của tình trạng mất khả năng thanh toán

Từ những phân tích trên có thể định nghĩa “doanh nghiệp mất khả năng

thanh toán là việc doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong một thời hạn nhất định, kể từ ngày đến hạn thanh toán” Về bản chất, khi con nợ ngừng trả nợ thì coi như là đã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lý để làm đơn yêu cầu Tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc phá sản Tuy nhiên, tùy quan điểm của mỗi quốc gia và ở mỗi thời kỳ khác nhau, đặc biệt là tùy thuộc vào mục tiêu của Luật phá sản là bảo vệ chủ nợ hay con nợ, có đặt mục tiêu phục hồi doanh nghiệp hay không mà luật pháp các nước, trong những giai đoạn khác nhau có thể đưa ra tiêu chí cụ thể để xác định tình trạng phá sản là khác nhau

1.1.2 Khái niệm thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Nhà nước khuyến khích thành lập các loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế và tạo điều kiện hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không thể tránh khỏi hiện tượng bên cạnh những doanh nghiệp được thành lập và kinh doanh có hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm và công ăn việc làm cho người lao động, góp phần cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, còn có một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân khác nhau làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả, không thể thanh toán được các nghĩa vụ tài chính của mình khi đến hạn Điều này không chỉ làm ảnh hưởng tới chính bản thân doanh nghiệp mà nó còn có thể gây thiệt hại tới nhiều chủ thể khác, đó là quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm, lợi ích của người lao động bị xâm phạm và đặc biệt sự đổ vỡ của các doanh nghiệp lớn hoặc những doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực “nhạy cảm” như tài chính, tín dụng, bảo hiểm… thì còn có thể kéo theo những hệ quả rất xấu cho nền kinh tế Trước thực trạng đó, để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, hạn chế các thiệt hại cho người lao động và để duy trì sự ổn định của nền kinh tế, hầu hết

Trang 19

các nước trên thế giới đều có các quy định pháp lý về thủ tục phá sản, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Cũng cần phải nói thêm rằng, khi một thương nhân vỡ nợ, các chủ nợ và người lao động hoàn toàn có thể lấy nợ bằng cách khởi kiện đòi nợ theo thủ tục dân

sự Tuy nhiên, khi phải giải quyết mối quan hệ nợ nần giữa một con nợ với nhiều chủ nợ ở trạng thái mà sản nghiệp còn lại của con nợ không còn đủ để thực hiện đầy

đủ nghĩa vụ với tất cả các chủ nợ thì thủ tục dân sự đã thể hiện một số những khiếm khuyết như:

Thứ nhất, nếu sử dụng thủ tục lấy nợ dân sự trong trường hợp một con nợ

có nhiều chủ nợ thì sẽ có sự xuất hiện đồng thời của nhiều vụ kiện dân sự trên thực

tế và điều này dẫn đến hệ quả là sự quá tải của hệ thống Tòa án cũng như chi phí đòi nợ lớn cũng sẽ làm tiêu hao sản nghiệp vốn đã hạn hẹp của con nợ và trực tiếp ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ nợ

Thứ hai, thủ tục dân sự chỉ cho phép chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình khi khoản nợ đã đáo hạn Vì vậy khi các khoản nợ không đáo hạn cùng một lúc sẽ dẫn đến tình trạng “lo âu” của các chủ nợ có các khoản nợ đáo hạn sau khi

mà họ nhìn thấy sản nghiệp của con nợ đã không còn hoặc còn rất ít và chắc chắn sẽ không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với mình Ngay cả khi các khoản nợ đáo hạn cùng một lúc thì theo thủ tục dân sự, cơ quan tài phán cũng chỉ có thể ra phán quyết buộc con nợ có nghĩa vụ phải thanh toán chứ không thể giải quyết thỏa đáng vấn đề con nợ không còn khả năng thực hiện đồng thời tất cả các nghĩa vụ tài sản của mình

Tất cả những khiếm khuyết kể trên của thủ tục dân sự chỉ có thể được khắc phục bằng cơ chế lấy nợ tập thể của thủ tục phá sản Để đảm bảo sự công bằng của các chủ nợ có vị thế giống nhau khi tiếp cận tài sản của con nợ, thay vì việc để cho các chủ nợ có thể kiện đòi nợ một cách riêng rẽ, thủ tục phá sản tạo ra một cơ chế lấy nợ tập thể giữa một bên là toàn bộ các chủ nợ (nhiều hơn một chủ nợ) đối với một con nợ duy nhất Trong điều kiện sản nghiệp của con nợ không còn đủ để đồng

Trang 20

thời thanh toán hết tổng số nợ, dù con nợ có trao toàn bộ sản nghiệp của mình cho các chủ nợ thì rủi ro vẫn là quá lớn đối với các chủ nợ Nếu có thể, bằng một giải pháp nào đó và với sự trợ giúp của các chủ nợ, mà con nợ còn có thể tiếp tục tồn tại thì cơ hội để thu hồi đủ số nợ cho các chủ nợ lại trở lên khả quan hơn Chính vì vậy,

so với thủ tục đòi nợ dân sự, thủ tục phá sản không đơn thuần chỉ là một công cụ lấy

nợ “tập thể” mà còn hướng vào mục tiêu tái cấu trúc lại con nợ nhằm hài hòa một cách tốt nhất những mâu thuẫn lợi ích giữa chủ nợ, con nợ, người lao động và nền kinh tế

Ở thời điểm hiện tại, bất kì một đạo Luật phá sản được coi là hiện đại trên thế giới đều coi trọng việc cứu vãn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ Toà án chỉ tuyên bố phá sản con nợ trong những trường hợp bất đắc dĩ, khi các biện pháp khôi phục hoạt động kinh doanh và khả năng thanh toán của con nợ không thành công Việc phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ có ý nghĩa không chỉ đối với bản thân con nợ mà còn có ý nghĩa lớn đối với các chủ nợ, người lao động, các đối tác, đặc biệt là đối với sự vững mạnh của nền kinh tế đất nước

Việc phục hồi tạo cơ hội cho doanh nghiệp mắc nợ vượt qua tình trạng mất khả năng thanh toán, khôi phục lại hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường, hạn chế đến mức thấp nhất việc giải thể doanh nghiệp khi còn có hy vọng phục hồi nó Việc phục hồi hoạt động kinh doanh làm tăng thêm sự tin tưởng của người lao động đối với doanh nghiệp Trong hoàn cảnh nào đi nữa và với bất kỳ lý do gì, nếu doanh nghiệp mắc nợ phục hồi được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, thu được lợi nhuận, lấy lại được uy tín trên thương trường thì nó không chỉ giải quyết được các khoản nợ lương đối với người lao động mà còn tạo sự gắn bó hơn nữa giữa người lao động đối với doanh nghiệp Quá trình phân công lao động ngày càng theo chiều rộng và chiều sâu ở mỗi thị trường quốc gia và thị trường toàn cầu đã làm tính phụ thuộc giữa các doanh nghiệp ngày càng lớn Sự xuất hiện các công ty đa quốc gia cùng với quá trình toàn cầu hoá đã từng bước xoá nhoà đường biên giới về thị trường giữa các quốc gia trên thế giới và vì vậy làm cho tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn bao giờ hết Trong bối

Trang 21

cảnh như vậy, phá sản không còn là công việc riêng của doanh nghiệp bị phá sản

Sự cho phép “rút lui một cách đột ngột” của doanh nghiệp ra khỏi thị trường bằng

cơ chế phá sản không phải bất cứ trường hợp nào cũng là giải pháp được nhà nước lựa chọn sau khi đã cân nhắc đầy đủ và thận trọng các hệ quả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội Nói cách khác, sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại đã khiến chúng ta nhìn nhận phá sản là một hiện tượng xã hội tiêu cực Do vậy, việc cứu vớt các doanh nghiệp ra khỏi tình trạng khó khăn là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa rất lớn đối với nền kinh tế

Hiện nay, trong khoa học pháp lý cũng như hệ thống văn bản về pháp Luật phá sản ở Việt Nam chưa thống nhất được khái niệm về “thủ tục phục hồi” cũng như khái niệm “thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” Điều này gây khá nhiều khó khăn cho những nghiên cứu có tính chất chuyên sâu về thủ tục phục hồi cũng như quá trình nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục phục hồi trong thủ tục phá sản

“Phục hồi” theo từ điển Tiếng Việt được hiểu là việc khôi phục lại cái đã mất đi [34,tr.765] Cũng theo từ điển này, “khôi phục” được hiểu là làm lại cho có lại được hay trở lại được như trước [34,tr.490] Tuy nhiên, theo những phân tích ở trên, chúng ta có thể hiểu rằng, “phục hồi doanh nghiệp mắc nợ” là việc khôi phục lại, làm sống lại khả năng sản xuất kinh doanh, lấy lại tình trạng tài chính đã mất và dựng lại uy tín, ảnh hưởng của một thương nhân trên thương trường

Có khái niệm khác cho rằng “phục hồi là đem lại cho con nợ đang trong tình trạng khó khăn những điều kiện và cơ hội tiếp tục kinh doanh chứ không phải

là thanh toán con nợ đó[4,tr.3]

Tuy nhiên, để làm rõ khái niệm thủ tục phục hồi con nợ trong thủ tục phá sản, nhất thiết chúng ta phải phân biệt với sự tự phục hồi của con nợ Khi một con

nợ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính, bản thân con nợ đó có thể áp dụng tất

cả các biện pháp có thể nhằm tự “cứu mình”, thậm chí có thể thỏa thuận riêng rẽ với từng chủ nợ để tìm cơ hội cứu vãn tình trạng mất khả năng thanh toán

Trang 22

Nhưng khi thủ tục phá sản đã mở ra đối với con nợ thì việc phục hồi con nợ phải tuân theo một trình tự tố tụng hết sức chặt chẽ Thủ tục này được áp dụng bởi Tòa án sau khi có sự chấp thuận của các chủ nợ và được giám sát chặt chẽ bởi chính Tòa án và các chủ nợ

Xét về bản chất pháp lí, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh có thể được hiểu là quá trình xác lập và thực hiện một “khế ước” giữa con nợ và tập thể các chủ

nợ bao gồm cả đại diện của người lao động làm công cho con nợ đó với sự phê chuẩn của Tòa án nhằm xây dựng một kế hoạch phục hồi hoạt động lại doanh nghiệp mắc nợ và lập một kế hoạch trả nợ phù hợp Trong một số trường hợp, kế hoạch tái cơ cấu có thể dẫn đến việc thay thế bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp mắc nợ Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh cho phép doanh nghiệp mắc

nợ tiếp tục hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có cơ hội thoát khỏi khó khăn về tài chính và do đó tránh được bị tuyên bố phá sản Phục hồi hoạt động kinh doanh là nội dung thể hiện quan điểm tiến bộ, tính nhân đạo của pháp Luật phá sản hiện đại đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Việc áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản những cơ hội và điều kiện để tổ chức lại hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán

Việc phân tích các dấu hiệu nêu trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh như sau:

Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh là thủ tục do Toà án có thẩm quyền quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản, theo đó, một con nợ không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn được hưởng một thời hạn nhất định để thi hành phương án phục hồi do HNCN thông qua dưới sự giám sát của Toà án và đại diện của chủ nợ nhằm tạo điều kiện cho con nợ được tiếp tục

hoạt động kinh doanh đồng thời chi trả các khoản nợ đã tới hạn của mình

1.2 Vai trò của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Trang 23

Nhiều quan điểm cho rằng phá sản và Luật phá sản không có vai trò tích cực mà chỉ có những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế Trước hết, có thể nói phá sản luôn có tác động đến đời sống kinh tế xã hội Những tác động tiêu cực nhất thời mà hậu quả của hiện tượng phá sản gây ra là: Phá sản doanh nghiệp có thể gây

ra sự rối loạn nền kinh tế trong một thời gian bởi sự ảnh hưởng dây chuyền từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác có liên quan, và do đó có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế Về mặt xã hội thì phá sản doanh nghiệp tất yếu dẫn tới hiện tượng thất nghiệp và kéo theo đó là các vấn đề xã hội khác như đói nghèo, tội phạm, tệ nạn xã hội Nhưng vấn đề gì cũng có tác động hai mặt của nó Phá sản cũng vậy, bên cạnh tác động tiêu cực thì nó cũng có những mặt tích cực Phá sản là một quá trình chọn lọc những mô hình kinh doanh hợp lý và đào thải những mô hình kinh doanh yếu kém Bên cạnh đó, phá sản còn buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực vươn lên không ngừng dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ của cả nền kinh tế Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi phải luôn đổi mới quy trình công nghệ, tìm kiếm cách thức tổ chức quản lý và phân công lao động hợp lý, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động để chiếm lĩnh thị trường Một quy luật chung là ở đâu có cạnh tranh và sự cạnh tranh gay gắt

thì ở đó phá sản sẽ ngày càng phổ biến và nghiêm trọng hơn

Ngày nay, quan điểm về việc kinh doanh và nhà kinh doanh đã khác nhiều Người ta cho rằng kinh doanh là việc khó khăn, đầy tính rủi ro nên khi nhà kinh doanh gặp rủi ro thì mọi người và Nhà nước phải đối xử nhân đạo với họ Thông qua Luật phá sản, Nhà nước đã thể hiện tính nhân đạo đó ở chỗ: buộc các bên liên quan tìm mọi cách để cứu giúp doanh nghiệp và chỉ tuyên bố phá sản đối với nó khi mọi sự cố gắng nhằm giúp doanh nghiệp phục hồi đã bị thất bại mà thôi Ngoài ra, đối với chủ nợ, trong trường hợp con nợ gặp khó khăn, sự lựa chọn tốt nhất là để con nợ tiếp tục tồn tại và hoạt động Bởi lẽ, nếu doanh nghiệp được cứu vãn, hoạt động kinh doanh trở lại bình thường trong tương lai doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận và khả năng trả nợ là rất cao Điều này sẽ tốt hơn là thấy doanh nghiệp

Trang 24

gặp khó khăn bị đưa doanh nghiệp ra chia năm xẻ bảy, bán tài sản để thanh toán các khoản nợ Đối với con nợ, việc doanh nghiệp bị phá sản có thể dẫn tới nhiều người mất việc làm, mất nguồn thu nhập, doanh nghiệp mất đi công cụ sản xuất, kiến thức

về khoa học, công nghệ hoặc kinh nghiệm quý giá và gây ra những hậu quả khác cho xã hội Vì vậy, thủ tục phục hồi là một trong những giải pháp mà chủ nợ cũng như con nợ luôn mong muốn áp dụng bởi nó có những vai trò quan trọng sau:

- Đưa doanh nghiệp thoát khỏi khó khăn về tài chính, hoạt động kinh doanh trở lại bình thường

Ngày nay, xu hướng của pháp luật về phá sản của các nước thường ưu tiên giải pháp cứu vãn doanh nghiệp hơn là tiến hành ngay thủ tục thanh lý khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Thủ tục phục hồi doanh nghiệp đã tạo những điều kiện, cơ hội để doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính, khôi phục khả năng thanh toán nợ Điều đó được thể hiện ở những điểm sau:

Doanh nghiệp được quyền được tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Luật phá sản đã quy định những biện pháp bảo toàn tài sản cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản khi doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản Tài sản của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong quá trình duy trì hoạt động kinh doanh cũng như việc thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh Mặt khác, trong quá trình thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp có thể khối lượng tài sản đó không những tăng thêm về số lượng mà còn tăng lên về giá trị, đó chính

là cơ sở để đưa doanh nghiệp trở lại hoạt động bình thường, hoàn trả các khoản nợ

Trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi, theo đề nghị của HNCN, Thẩm phán ra quyết định cử người quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Những người đảm nhiệm vị trí này thường am hiểu về thị trường, có khả năng kinh doanh, trình độ quản lý Hơn nữa, còn có sự tham gia của chủ nợ trong quá trình xây dựng, thông qua, thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp Vì vậy doanh nghiệp có thể tranh thủ được những kinh nghiệm

Trang 25

trong công tác quản lý, điều hành và phương thức kinh doanh để có thể cứu vãn doanh nghiệp, đạt được những mục đích của thủ tục phục hồi và thông qua đó bảo

vệ được quyền, lợi ích của mình

- Bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho các chủ nợ và những người có liên quan

Thủ tục phá sản là thủ tục đòi nợ đặc biệt mang tính tập thể, các chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và khi có Quyết định của Toà án thì doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản phải bán toàn bộ tài sản hiện có để thanh toán cho chủ nợ Chính vì vậy mà hạn chế được tình trạng chây ỳ, dây dưa trong việc thanh toán công nợ, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà kinh doanh Việc ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ đã làm cho thủ tục phá sản trở thành một công cụ pháp lý có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà kinh doanh

Pháp luật các nước phương Tây dùng Luật phá sản để tạo cơ hội cho chủ nợ can thiệp và điều hành, tái cơ cấu doanh nghiệp mắc nợ Pháp Luật phá sản của Việt Nam đã rất coi trọng việc bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ, thể hiện qua các quy định pháp luật như quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền có đại diện trong thiết chế quản lý tài sản và thanh toán tài sản của con nợ, quyền đề xuất phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyền tiếp tục tiến hành mọi hoạt động kinh doanh sau khi Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản dưới sự giám sát kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý thanh lý tài sản, hay con nợ

bị cấm, bị hạn chế một số hoạt động luật định Những quy định này cũng là để đảm bảo tài sản phá sản của doanh nghiệp con nợ, từ đó đảm bảo tài sản thanh toán nợ cho các chủ nợ

Đặc biệt, những quy định về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ Bởi lẽ, khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản đối tượng phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất về tài sản là chủ nợ Trừ những chủ nợ có bảo đảm, quyền lợi của các chủ nợ còn lại không được bảo đảm vì lúc đó tài sản nợ lớn hơn

Trang 26

rất nhiều so với tài sản có của doanh nghiệp Điều này có thể dẫn đến hậu quả tạo ra

cơ chế phá sản lây lan Để bảo vệ tối đa quyền lợi cho các chủ nợ và những người

có liên quan, phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chính là giải pháp

mà họ luôn mong muốn Vì khi doanh nghiệp thoát khỏi khó khăn hiện tại tiếp tục hoạt động kinh doanh thì khả năng trả nợ cho các chủ nợ là rất lớn Do đó, trong quá trình xây dựng, thông qua và giám sát phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chủ nợ luôn luôn có vai trò quyết định

- Góp phần bảo đảm, duy trì trật tự và ổn định xã hội

Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có quan hệ với đối tác, bạn hàng là điều tất yếu Điều đó không những thể hiện khả năng tài chính, năng lực mà hơn thế đó chính là uy tín của doanh nghiệp Vì vậy, nếu doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản sẽ kéo theo những doanh nghiệp là bạn hàng, đối tác chịu sự tác động nhất định về tài chính Đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng Đối với những doanh nghiệp này việc phá sản của một doanh nghiệp có thể kéo theo sự phản ứng mang tính dây chuyền của doanh nghiệp khác, lúc đó hậu quả các doanh nghiệp này gây ra cho nền kinh tế - xã hội là rất lớn

Mặt khác, nếu doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vấn đề đi liền với nó là việc làm và tiền lương của người lao động nên pháp Luật phá sản quy đinh trước hết phải tìm cách giúp doanh nghiệp khôi phục hoạt động kinh doanh Nếu doanh nghiệp thực hiện thành công các biện pháp phục hồi thì sẽ không phải ngừng hoạt động vì vậy mà người lao động cũng thoát khỏi tình trạng thất nghiệp Ở phương diện này, tiền lương được coi là động lực thúc đẩy của việc phục hồi doanh nghiệp cũng như sự thành công của phương án phục hồi

Ngoài ra, phục hồi thành công doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản sẽ góp phần hạn chế những tác động tiêu cực nếu doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản Doanh nghiệp phục hồi thành công vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh và tạo ra của

Trang 27

cải vật chất, tinh thần cho xã hội; đảm bảo nguồn thu nhập và việc làm cho người lao động; đặc biệt nếu quá trình thực hiện phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thành công, sẽ giải quyết thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, đồng thời sẽ góp phần hạn chế những mâu thuẫn, căng thẳng có thể có giữa những chủ thể này với nhau Từ đó, nó sẽ góp phần duy trì trật tự, ổn định xã hội và lành mạnh hóa môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

Trang 28

1.3 Pháp luật một số nước về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Có thể kể đến xu hướng này có các nước như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Hungari, Rumanie, Séc, Trung Quốc Ở Mỹ tại chương 11 của Bộ luật Liên bang tạo thành

từ luật về phá sản ngày 06/11/1978 (Bankrupty Act) điều chỉnh thủ tục phục hồi và chương VII về thủ tục thanh lý doanh nghiệp Ở Đức, đó là bộ luật về giái quyết vỡ

nợ (Insolvenzordnung) ngày 05/10/1995 có hiệu lực từ ngày 01/11/1999 điều chỉnh

cả hai thủ tục phục hồi và thanh lý doanh nghiệp, ở Rumani, đó là luật số 64 ngày 22/06/1995 liên quan đến thủ tục phục hồi và thanh lý doanh nghiệp, được sửa đổi

bổ sung bằng pháp lệnh số 38 ngày 30/01/2002 Ở Cộng hoà Séc có luật số 328 ngày 11/07/1991 liên quan đến phá sán và giải quyết tư pháp đối với các doanh nghiệp mắc nợ

Thứ hai, các quốc gia có hệ thống văn bản riêng điều chỉnh thủ tục phục hồi

và thanh lý tư pháp

Có thể kể ra trong xu hướng này các nước như Ba Lan với Sắc lệnh ngày 24/10/1984 có hiệu lực kể từ năm 1990 Bỉ với luật ngày 17/07/1997 liên quan đến thỏa hiệp tư pháp Hà Lan với luật ngày 16/05/1925 về thỏa hiệp tư pháp với Nhật Bản ngày 25/04/1922 về thỏa hiệp tư pháp và Luật ngày 07/06/1952 về phục hồi công ty

1.3.2 Về nội dung thủ tục phục hồi

Sự ưu tiên cứu vãn doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của pháp luật về phá sản đã làm cho thủ tục phục hồi có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết

Trang 29

yêu cầu tuyên bố phá sản Nếu như về hình thức pháp lý điều chỉnh thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của các quốc gia có sự khác nhau, nhưng về nội dung, thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của các quốc gia trên thế giới nhìn chung có sự thống nhất với nhau Mặc dù, còn có những quy định khác nhau trong nội dung của trình tự thủ tục, song thủ tục phục hồi lâm vào tình trạng phá sản của các nước trên thế giới có thể chia làm ba giai đoạn sau: giai đoạn

mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, giai đoạn giải quyết yêu cầu mở thủ tục doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và giai đoạn thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

1.3.2.1 Giai đoạn mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

a) Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ được mở khi

có đơn yêu cầu của các chủ thể có quyền và nghĩa vụ Quyết định mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp là cơ sở pháp lý cho quá trình áp dụng thủ tục phục hồi Pháp luật

về phá sản của các quốc gia trên thế giới đều quy định cho hai chủ thể cơ bản có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp là chủ nợ và doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Đối với các chủ nợ, việc nộp đơn chính là quyền mà pháp luật dành cho họ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp cần thiết Song, đối với bản thân doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi vừa là quyền vừa là nghĩa vụ

Vấn đề đặt ra là bên cạnh các chủ thể đó, chủ thể nào có thể nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi nếu biết doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản? Pháp luật về phá sản của các quốc gia trên thế giới có các quan điểm khác nhau về vấn đề này Theo quy định của LPS Pháp cho phép các chủ thể như Thẩm phán, Viện công

tố cũng được quyền yêu cầu mở thủ tục phục hồi Sự can thiệp mạnh mẽ của các cơ quan nhà nước Pháp trong lĩnh vực pháp luật về phá sản doanh nghiệp chính là đặc điểm nổi bật so với pháp luật các nước khác trên thế giới Sự can thiệp đó được giải

Trang 30

thích là để tạo ra sự bình đẳng cũng như bảo đảm sự công bằng về quyền lợi giữa các nhóm chủ nợ trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Như vậy, việc quy định chủ thể khác có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi ngoài hai chủ thể chính là chủ nợ và con nợ phụ thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội, quan niệm về vai trò của chủ thể đối với quá trình giải quyết mối quan hệ về tài sản giữa chủ nợ - con nợ và giữa các chủ nợ với nhau Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng phá sản nếu có đơn yêu cầu mở thủ tục phục hồi đều có thể được áp dụng thủ tục phục hồi Theo quy định của pháp luật

về phá sản, những doanh nghiệp này muốn được áp dụng thủ tục phục hồi còn phải thỏa mãn những điều kiện nhất định

b) Điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

- Doanh nghiệp phải nằm trong tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

Mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là dấu hiệu xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và là căn cứ để mở thủ tục phục hồi phá sản nói chung và thủ tục phục hồi doanh nghiệp nói riêng Song, trên thực tế mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là một tiêu chuẩn chung và trừu tượng Vì vậy, để thủ tục phục hồi được mở ở thời điểm phát huy tốt nhất hiệu quả của nó, pháp luật về phá sản của các quốc gia đều đưa

ra tiêu chí cụ thể, dễ nhận biết để các chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu

mở thủ tục phục hồi Thủ tục phục hồi được mở ở thời điểm nào trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản có ý nghĩa rất quan trọng Nếu thủ tục phục hồi được

mở quá muộn, lúc đó doanh nghiệp từ tình trạng "mất khả năng thanh toán nợ đến hạn"

sẽ chuyển sang tình trạng "vỡ nợ" Vì vậy, lúc đó khả năng cứu vãn doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là rất khó thực hiện, không những mục đích của thủ tục phục hồi không đạt được mà quyền lợi của các chủ nợ không được bảo đảm Ngược lại, nếu thủ tục phục hồi được mở quá sớm sẽ tạo ra những xáo trộn không cần thiết cho doanh nghiệp, ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thương trường Bên cạnh đó, quá trình phục hồi doanh nghiệp được diễn ra trong một thời gian nhất định, đòi hỏi một lượng chi phí tương đối lớn cho nên gánh nặng tài chính lại càng tăng thêm cho doanh nghiệp

Trang 31

Tóm lại, việc xác định thời điểm để mở thủ tục phục hồi không phải là điều

dễ xác định trên thực tế Vì vậy, nó đòi hỏi sự quy định cụ thể của pháp luật cũng như sự áp dụng chính xác, khoa học của những người có thẩm quyền Để hạn chế những bất cập có thể xảy ra trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi, pháp luật về phá sản của các quốc gia đều đưa ra tiêu chí để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn

- Thuộc phạm vi áp dụng của thủ tục phục hồi

Pháp luật về phá sản của các nước có những quy định khác nhau về phạm vi

áp dụng của thủ tục phục hồi Có quốc gia pháp luật theo xu hướng mở rộng phạm vi nhưng cũng có quốc gia theo xu hướng thu hẹp phạm vi áp dụng thủ tục phục hồi Sự khác nhau đó được lý giải bởi điều kiện kinh tế-xã hội, trình độ của các chủ thể có tính chất công quyền tham gia vào quá trình mở thủ tục phá sản cũng như sự phát triển đồng

bộ của hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia

Một là, pháp LPS của những quốc gia mở rộng phạm vi áp dụng của thủ tục phục hồi đối với mọi chủ thể không giới hạn là pháp nhân hay thể nhân là thương gia hoặc không là thương gia Những chủ thể này nếu lâm vào tình trạng phá sản thì pháp luật đều dành cho họ cơ hội để phục hồi hoạt động kinh doanh cũng như khả năng thanh toán nợ Đó là các quốc gia theo hệ thống pháp luật ănglo-saxong như Anh - Mỹ

Hai là, thủ tục phục hồi chỉ được áp dụng cho các đối tượng là thương gia

Ví dụ: LPS Nhật bản quy định thủ tục phục hồi được áp dụng đối với các cá nhân,

tổ chức song lại có quy định những biện pháp, trình tự thủ tục phục hồi khác nhau được ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác nhau đối với từng chủ thể nhất định

Thủ tục phục hồi dân sự được áp dụng cho các tổ chức, cá nhân và được điều chỉnh bởi Bộ luật về phục hồi dân sự (1999-2000) còn thủ tục sắp xếp lại công

ty hay tổ chức lại công ty chỉ được áp dụng đối với Công ty cổ phần và được điều chỉnh bởi Bộ luật Thương mại (1938) và Luật về tổ chức lại công ty (1952)

Trang 32

- Về khả năng phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Đánh giá khả năng phục hồi của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đến việc áp dụng hoặc không áp dụng thủ tục phục hồi, trên thực tế đó là công việc hết sức khó khăn của Thẩm phán Để đánh giá chính xác thực trạng tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi sự hiểu biết, nhạy cảm cũng như sự công tâm của các Thẩm phán đồng thời đòi hỏi sự trung thực của các doanh nghiệp khi cung cấp những tài liệu kế toán như báo cáo tài chính, bản cân đối tài sản bởi điều đó quyết định đến sự “sống còn” của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, nếu thỏa mãn những điều kiện trên có thể được mở thủ tục phục hồi Song pháp luật về phá sản của một số quốc gia còn quy định kết hợp một số điều kiện khác liên quan đến vị trí, vai trò của doanh nghiệp đối với nền kinh tế - xã hội khi áp dụng thủ tục này

Ví dụ: Theo LPS của Tây Ban Nha một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn chỉ được áp dụng những quy định về phục hồi nếu tổng toàn bộ tài sản có của doanh nghiệp mắc nợ lớn hơn tổng tài sản mà doanh nghiệp mắc nợ không

kể doanh nghiệp mắc nợ là loại hình doanh nghiệp nào, có vị trí, vai trò như thế nào trong nền kinh tế

Ngược lại, pháp luật về phá sản của Pháp, Nhật Bản lại quy định thủ tục phục hồi chỉ được áp dụng cho những doanh nghiệp mắc nợ còn khả năng phục hồi

và cần thiết phải phục hồi vì tầm quan trọng của doanh nghiệp, do nguồn nhân lực lao động và doanh nghiệp đang sử dụng Đó là những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiền tệ hoặc việc thanh lý doanh nghiệp dẫn đến nhiều người lao động bị thất nghiệp sẽ được áp dụng thủ tục phục hồi

Như vậy, không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng phá sản cũng được áp dụng thủ tục phục hồi mà phải đáp ứng được những điều kiện nhất định Những điều kiện này làm cho việc áp dụng thủ tục phục hồi đạt được hiệu quả cao trong thực tế, tránh trường hợp áp dụng thủ tục phục hồi tràn lan, không đạt được hiệu quả mà còn làm cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản kiệt quệ hơn

Trang 33

c) Thẩm quyền ra quyết định mở thủ tục phục hồi

Pháp luật về phá sản của tất cả các quốc gia đều quy định thẩm quyền ra quyết định mở thủ tục phục hồi thuộc về Tòa án Song do quan điểm của các nước khác nhau về việc phục hồi mà tên Tòa án có thẩm quyền ra quyết định và tiến hành

áp dụng thủ tục phục hồi khác nhau

Ví dụ: Theo LPS Pháp, Đức, Nhật Bản việc phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được áp dụng cho cả doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp dân sự Vì thế, khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn việc phục hồi các doanh nghiệp thương mại sẽ do Tòa thương mại tiến hành, đối với doanh nghiệp dân sự sẽ do Tòa dân sự (ở Pháp là Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng) tiến hành Trong khi đó, theo LPS của Mỹ, việc phục hồi doanh nghiệp được tiến hành bởi Tòa thương mại

1.3.2.2 Giai đoạn giải quyết yêu cầu mở thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Sau khi có quyết định mở thủ tục phục hồi, Tòa án giao cho chủ thể có thẩm quyền xác định danh sách chủ nợ của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Theo pháp luật về phá sản của các nước, việc xác định danh sách chủ nợ do các chủ thể tiến hành với tên gọi, thành phần hoặc vị trí khác nhau

Ví dụ: Theo LPS của Pháp người có thẩm quyền đó là quản trị viên tư pháp, LPS của Anh và Mỹ thì chủ thể đó có tên gọi là người đại diện của nhà nước Theo LPS Việt Nam tổ quản lý, thanh lý tài sản có thẩm quyền thực hiện công việc này

Mục đích của việc lập danh sách chủ nợ là xác định được cụ thể có bao nhiêu chủ nợ, bản chất, trị giá của từng khoản nợ, trên cơ sở đó để phân hóa các nhóm chủ nợ có lợi ích tương đồng nhau Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo vệ lợi ích của các chủ nợ cũng như việc thông qua phương án phục hồi doanh nghiệp tại HNCN

Trang 34

a) Xây dựng phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Chủ thể xây dựng phương án phục hồi

Có thể nói, phương án phục hồi doanh nghiệp quyết định đến sự thành công hay thất bại của thủ tục phục hồi Vì vậy, trong quá trình xây dựng phương án phục hồi đòi hỏi các chủ thể tham gia phải đưa ra được những phương án kinh doanh hiệu quả, giải pháp kinh tế-tài chính phù hợp để đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn về tài chính Tuy nhiên, việc quy định chủ thể nào có quyền tham gia xây dựng phương án phục hồi trong LPS của các nước là khác nhau

Đối với các nước theo thủ tục phục hồi truyền thống: phương án phục hồi sẽ

do chính doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản xây dựng và đưa ra vào thời điểm

đệ trình bản kiểm kê tài sản Đó là quy định của pháp luật về phá sản của Pháp trước 1985, của Đức trước 1999 và hiện nay là Nhật Bản việc chọn lựa chủ thể nào có thẩm quyền tham gia xây dựng phương án phục hồi phụ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi quốc gia được dựa trên những cơ sở nhất định Tuy nhiên, cơ may để phục hồi doanh nghiệp thành công trong trường hợp này là rất ít Bởi vì, chính những người điều hành, quản lý đã đẩy doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì bây giờ họ lại là chủ thể duy nhất xây dựng phương án để cứu vãn doanh nghiệp Vì vậy, sẽ không tránh khỏi sai lầm chủ quan, với phương án phục hồi như vậy để đạt được thỏa thuận với các chủ nợ là điều rất khó

Đối với các nước theo thủ tục phục hồi hiện đại: phương án phục hồi có thể

do nhiều chủ thể với tư khác nhau tham gia xây dựng như đại diện chủ nợ, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, người quản lý tư pháp hoặc chủ nợ

Theo quy định tại Điều 270, Điều 284 Bộ luật vỡ nợ của Đức, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và người quản lý tư pháp có quyền đề xuất kế hoạch phục hồi tại thời điểm đệ đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản Các chủ nợ cũng có thể

có trách nhiệm xây dựng kế hoạch phục hồi trong trường hợp Ban lãnh đạo của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không được thay đổi trong suốt quá trình

áp dụng thủ tục phục hồi

Trang 35

Theo LPS của Mỹ, trong thời hạn 120 ngày kể từ ngày mở thủ tục, chỉ có doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mới có quyền đề nghị kế hoạch phục hồi Trong thời hạn này, nếu người đại diện quản lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được bổ nhiệm cũng có quyền đề xuất kế hoạch phục hồi Ngoài thời hạn này, các chủ nợ cũng có quyền đề xuất kế hoạch phục hồi nhưng phải đảm bảo rằng có

ít nhất ba chủ nợ cùng xây dựng kế hoạch đệ trình

Như vậy, so với thủ tục phục hồi truyền thống thì thủ tục phục hồi hiện đại

có ưu thế nhất định Sự tham gia của nhiều chủ thể trong quá trình xây dựng phương án phục hồi sẽ làm tăng khả năng cứu vãn doanh nghiệp Hơn nữa, việc thông qua nó tại HNCN sẽ có nhiều cơ hội đi đến sự thống nhất hơn

Nội dung của phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Nội dung của phương án phục hồi có tác động rất lớn đến việc quyết định thông qua hay không thông qua phương án phục hồi phục hồi doanh nghiệp tại HNCN Bởi lẽ, điều đó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các chủ nợ Hiện nay, tồn tại hai khuynh hướng khác nhau trong việc quy định nội dung của phương

án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Một là, theo thủ tục phục hồi truyền thống

Phương án phục hồi doanh nghiệp chỉ có những điều khoản điều chỉnh thể thức giải quyết nợ của doanh nghiệp đó là thời hạn trả nợ và thời hạn các chủ nợ nhận các khoản nợ mà không có cơ chế cho việc đảm bảo thực hiện điều đó trên thực tế Việc quy định này đã làm cho độ tin cậy của phương án phục hồi với các chủ nợ là rất ít Các chủ nợ rất khó chấp nhận một phương án phục hồi mà không biết tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai như thế nào, giải pháp để doanh nghiệp thoát khỏi những khó khăn hiện tại và cơ sở nào bảo đảm để doanh nghiệp thực hiện những cam kết đó Vì vậy, việc thông qua phương án phục hồi để cứu vãn doanh nghiệp là điều rất khó được tiến hành LPS của Pháp trước 1985, Đức trước năm

1999 và hiện nay là Séc, Ba Lan quy định nội dung của phương án phục hồi doanh nghiệp theo xu hướng này

Trang 36

Hai là, theo thủ tục phục hồi hiện đại

Có thể nói, nội dung phương án phục hồi theo thủ tục phục hồi hiện đại phong phú hơn, đa dạng hơn so với thủ tục truyền thống Ngoài các quy định về thể thức, thời hạn thanh toán các khoản nợ cho chủ nợ còn đưa ra các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp, quản lý nhân sự và phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, thông qua những nội dung của phương án phục hồi các chủ nợ

có thể đánh giá cũng như dự đoán được khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh, khôi phục khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp Từ đó, để quyết định có chấp nhận phương án phục hồi doanh nghiệp hay không Đây là xu hướng mà hiện nay đa

số các quốc gia chọn lựa trong việc quy định về nội dung của phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

b) Thông qua phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Tùy thuộc vào quan niệm của từng quốc gia trong việc đề cao vai trò của Tòa án hoặc chủ nợ mà việc thông qua phương án phục hồi được trao cho chủ thể nào Hiện nay, pháp luật về phá sản của hầu hết các quốc gia đều trao quyền đó cho HNCN HNCN là thiết chế để các bên có liên quan thống nhất các nội dung của phương án phục hồi doanh nghiệp đồng thời giám sát việc thực hiện các nội dung

đó trên thực tế

Tuy nhiên, cũng có trường hợp khá đặc thù đó là LPS Trung Quốc Việc thông qua phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản không thuộc chức năng của HNCN và cũng không thuộc thẩm quyền Tóa án mà thuộc thẩm quyền

và được thực hiện ngay trong phạm vi nội bộ của doanh nghiệp đó là Đại hội công nhân viên doanh nghiệp

Đối với các nước dành quyền thông qua phương án phục hồi cho chủ nợ, tồn tại hai thể thức đó là theo phương thức truyền thống và theo phương thức hiện đại

Một là, theo phương thức truyền thống

Theo phương thức này, toàn bộ các chủ nợ tập trung, thảo luận và thông qua phương án phục hồi, không phân biệt chủ nợ thuộc nhóm nợ nào và giá trị là

Trang 37

bao nhiêu Phương án phục hồi sẽ được thông qua nếu được đa số các chủ nợ nắm giữ đa số trong tổng số toàn bộ các khoản nợ của doanh nghiệp thông qua Theo phương thức này, việc thông qua phương án phục hồi được thể hiện dưới hai hình thức là bỏ phiếu tại HNCN hoặc bỏ phiếu bằng hình thức đăng ký Thể thức thông qua phương án phục hồi này được quy định trong pháp luật về phá sản của các nước như Ba Lan, Séc, Pháp trước năm 1985 và Đức trước năm 1999

Như vậy, xu hướng hiện nay các quốc gia đều ít lựa chọn thông qua phương

án phục hồi theo phương thức này Điều này được lý giải bởi sự hạn chế của phương thức đó trong việc bảo đảm sự công bằng giữa các chủ nợ vào sự kém hiệu quả trong quá trình thông qua phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Việc thông qua theo nguyên tắc đa số các chủ nợ nắm giữ đa số các khoản nợ sẽ đặt

ra khó khăn cho các chủ nợ nói chung và doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản nói riêng Bởi điều đó phụ thuộc rất nhiều vào ý chí của các chủ nợ sở hữu những khoản

nợ có giá trị lớn, hoặc nhóm chủ nợ có quyền lợi tương tự nhau và chiếm số lượng lớn Hơn nữa, việc đặt các chủ nợ có những khoản nợ có tính chất khác nhau, lợi ích kinh tế khác nhau trong một chỉnh thể là HNCN để cùng nhau bàn bạc và đi đến thống nhất ý chí để thông qua phương án phục hồi là điều không dễ dàng thực hiện trên thực tế Vì thế, việc thông qua phương án phục hồi để cứu vãn doanh nghiệp có thể là thất bại

Hai là, theo phương thức hiện đại

Các chủ nợ sẽ được phân chia thành từng nhóm chủ nợ khác nhau để thông qua phương án phục hồi Trên cơ sở đó, Tòa án có thẩm quyền sẽ ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận phương án phục hồi Việc phân loại từng nhóm chủ nợ được xác định tùy theo tính chất của các khoản nợ cũng như tính tương đồng

về lợi ích kinh tế ví như nhóm chủ nợ có bảo đảm, nhóm chủ nợ không có bảo đảm hay nhóm chủ nợ là người lao động Sự phân loại đó sẽ tạo điều kiện đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi của các thành viên trong mỗi nhóm chủ nợ và giữa các nhóm nợ với nhau đồng thời phản ánh trung thực ý chí của chủ nợ trong quá trình

Trang 38

thông qua phương án phục hồi Thể thức thông qua phương án phục hồi ở từng nhóm chủ nợ được quy định trong LPS của một số quốc gia như sau:

Theo quy định tại Điều 1126, đặc biệt là các khoản c0, d0, f0 và g0 LPS

Mỹ, phương án phục hồi được xem là thông qua trong từng nhóm nếu có trên 50%

số chủ nợ của nhóm đó tham gia bỏ phiếu và được số chủ nợ nắm giữ trên hai phần

ba tổng giá trị các khoản nợ tán thành Theo Bộ luật vỡ nợ của Đức phương án phục hồi sẽ được thông qua trong từng nhóm và chỉ được thông qua nếu có đa số các chủ

nợ của nhóm tham gia bỏ phiếu và được các chủ nợ nắm giữ trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trong nhóm thông qua

Tuy nhiên, đó là điều kiện để thông qua phương án phục hồi ở từng nhóm chủ

nợ Vấn đề đặt ra là dựa trên cơ sở nào để Tòa án có thẩm quyền chấp nhận phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Nếu tất cả các nhóm chủ nợ đều tán thành thông qua phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa

án có quyền suy luận phương án phục hồi đã được toàn bộ các chủ nợ thông qua Trong trường hợp tỷ lệ thông qua phương án phục hồi từng nhóm chủ nợ không đạt được yêu cầu, pháp luật của các nước này chấp nhận ở mức độ có trên hai phần ba các nhóm chủ nợ biểu quyết tán thành phương án phục hồi thì phương án phục hồi đó cũng được Tòa án chấp nhận

1.3.2.3 Giai đoạn thực hiện phương án phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

Việc thực hiện phương án phục hồi luôn do doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thực hiện Tuy nhiên, nếu để cho doanh nghiệp tự mình thực hiện trong nhiều trường hợp, vì những lý do khác nhau việc thực hiện phương án phục hồi sẽ không thành công, ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ nợ, người lao động Vì vậy, pháp luật của các quốc gia đều có những quy định về kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện phương án phục hồi Việc kiểm tra, giám sát sẽ do quản trị viên tư pháp theo LPS của Pháp, người đại diện Nhà nước theo LPS Mỹ tiến hành Bên cạnh đó LPS của một số quốc gia lại quy định việc kiểm tra, giám sát đó thuộc thẩm quyền của đại

Trang 39

diện chủ nợ trong đó có Việt Nam hoặc có quốc gia kết hợp hai loại chủ thể này Cho

dù chủ thể được quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện phương án phục hồi thì doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và các chủ thể đều có nghĩa vụ báo cáo cho Tòa án về tình hình thực hiện phương án phục hồi ở doanh nghiệp

Trên đây là một số quy định chung nhất về trình tự thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo pháp luật của một số nước trên thế giới, trên

cơ sở đó, luận văn có cái nhìn tổng thể về thủ tục phá sản để phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục phục hồi nói riêng, đồng thời nói rõ vị trí của thủ tục phục hồi trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản ở Việt Nam

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH

TOÁN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Thực trạng quy định của pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

Pháp Luật phá sản tạo điều kiện cho doanh nghiệp mất khả năng thanh toán

có thể phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc rút khỏi thương trường Mặc dù kinh doanh thua lỗ, không thanh toán được nợ là điều nằm ngoài mong muốn của các nhà kinh doanh, song điều đó lại hoàn toàn có thể xảy ra bởi sự rủi ro chứa đựng ngay trong công việc kinh doanh của họ Một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, bị phá sản sẽ gây ra rất nhiều hậu quả đối với xã hội, trước hết là đối với chủ nợ, người lao động và đối với nguồn thu ngân sách Vì thế, vấn đề ưu tiên đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là phải làm sao để có thể được phục hồi hoạt động kinh doanh, thoát khỏi tình trạng phá sản Ở mỗi quốc gia với các điều kiện và thực trạng phát triển kinh tế khác nhau thì việc quy định về cách thức phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng khác nhau Nhưng dù với cách thức nào đi nữa, thì việc phục hồi hoạt động kinh doanh cũng đều nhằm mục đích cứu vớt doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán Toà án không thanh lý tài sản của con nợ và tuyên bố phá sản ngay khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ khắc phục các khó khăn về tài chính bằng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh Việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán được tiến hành với những nội dung và theo một trình tự nhất định nhằm đảm bảo hiệu quả của việc áp dụng thủ tục này Những nội dung của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo LPS phải kể tới là:

Ngày đăng: 02/09/2018, 22:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w