Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ trẻ em trong các hộ gia đình mắc tai nạn thương tích khá cao, trung bình cho toàn huyện là 19.4%, trong số những xã này thì Hải Chánh ghi nhận có tỷ lệ
Trang 1
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
về phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em tại huyện Hải Lăng”
Trang 2Quảng Trị, 2013
Mục lục
LỜI CẢM ƠN 3
TÓM TẮT 15
GIỚI THIỆU VÀ THÔNG TIN CHUNG: 16
T HÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỊA BÀN ĐIỀU TRA 16
M ỤC TIÊU CỦA CUỘC ĐIỀU TRA 16
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA: 17
Đ ỊA BÀN ĐIỀU TRA 17
Đ ỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA 17
P HƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA 17
Đ IỂM MẠNH / HẠN CHẾ CỦA CUỘC ĐIỀU TRA 19
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN: 20
T HÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA 20
Thông tin về nhân khẩu học 20
Điều kiện kinh tế hộ gia đình 22
B ẢNG KIỂM NGÔI NHÀ AN TOÀN : 23
Tỷ lệ tai nạn thương tích tại đia bàn điều tra (theo hộ gia đình) 27
Các loại tai nạn chính và địa điểm xảy ra tai nạn thương tích (theo hộ gia đình) 27
Mức độ nghiêm trọng của các tai nạn thương tích 28
Chi phí điều tri các tai nạn thương tích 29
K IẾN THỨC PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH 30
Biết về tai nạn thương tích 30
Kiến thức về phòng chống các loại tai nạn thương tích 32
K IẾN THỨC VỀ SƠ CỨU BAN ĐẦU 37
K ÊNH TRUYỀN THÔNG CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TRẺ EM : 40
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 42
K ẾT LUẬN 42
K HUYẾN NGHỊ & Đ Ề XUẤT : 43
1 Nâng cao nhận thức và hiểu biết về tai nạn thương tích trẻ em cho người chăm sóc trẻ, giáo viên và trẻ em tại địa bàn Hải Lăng 43
2 Giảm thiểu các nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích trẻ em tại gia đình, nhà trường và cộng đồng: 45 4 Nâng cao sự tham gia của các ban ngành trong phòng chống tai nạn thương tích trẻ em 46
5 Vận động thay đổi chính sách 47
B Ộ CÂU HỎI ĐIỀU TRA 50
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đoàn đánh giá xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bà mẹ, người chăm sóc trẻ tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đã nhiệt tình hợp tác để đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng tai nạn thương tích đạt được kết quả tốt đẹp
Chúng tôi xin chân thành cám ơn các cán bộ y tế tuyến huyện, xã và thôn tại các xã trên địa bàn điều tra, mặc dù công việc rất bận rộn nhưng các anh chị đã rất nhiệt tình tham gia cũng như cung cấp thông tin và số liệu cần thiết cho đợt đánh giá
Cuộc đánh giá sẽ không đạt được kết quả như mong đợi nếu như không có sự hỗ trợ giúp đỡ của chính quyền đại phương các cấp tại các xã và Huyện Hải Lăng
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Sở Khoa Học Công Nghệ Tỉnh Quảng Trị đã hỗ trợ nguồn kinh phí, giám sát và góp ý cho đề tài ngay từ những ngày đầu mới thực hiện Xin cảm ơn Phòng Y Tế, Trung Tâm Y Tế Huyện Hải Lăng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đoàn đánh giá hoàn thành công việc thu thập số liệu thực địa
Chúng tôi xin cảm ơn các thành viên trong nhóm khảo sát và đặc biệt gửi lời cám ơn tới ông Hoàng Thế Kỷ, cán bộ Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phòng chống chấn thương (CCHIP) đã hỗ trợ về mặt kỹ thuật trong quá trình thiết kế nghiên cứu và xây dựng công cụ thu thập thông tin trong đợt đánh giá này
Trang 4THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Điều tra kiến thức, thái độ, hành vi của người chăm sóc trẻ về phòng
tránh tai nạn thương tích trẻ em tại huyện Hải Lăng”
Mã số:13/HĐ-NCKH ký ngày 13/5/2013
Thuộc chương trình: Đề tài độc lập cấp tỉnh
Chủ nhiệm đề tài: Lê Phước Nho
Đơn vị chủ trì đề tài: Phòng Y Tế Huyện Hải Lăng
Cơ quan quản lý: Sở Khoa Học và Công Nghệ Tỉnh Quảng Trị
Hơp đồng số: 13/HĐ-NCKH ký ngày 13/5/2013
Thời gian thực hiện: 12 tháng, từ tháng 4/2013 đến tháng 4/2014
Tổng kinh phí: 100 triệu đồng, trong đó ngân sách sự nghiệp khoa học cấp: 100 triệu
đồng
Nguồn khác: Không
PHẦN THỨ NHẤT
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
1 Phân công nhiệm vụ:
Hải Lăng
Lê Phước Nho
và giải pháp phòng ngừa Tai
Nạn Thương Tích
Phòng Y Tế Huyện Hải Lăng
Luy
cả công cụ thu thập số liệu và
Thương Binh & xã hội, Phòng
Giáo Dục, Bệnh viện Hải Lăng
Phòng Y Tế Huyện Hải Lăng
Tạ Đình Đức
7 Nhập liệu & phân tích số liệu;
nhập 686 bản thông tin từ khảo
sát và chạy số liệu để phân tích
và đánh giá
Hòa
Trang 58 Tổng hợp các số liệu định
lượng và định tính để viết báo
cáo (Bao gồm cả báo cáo chính
và báo cáo tóm tắt)
2 Tiến độ thực hiện các nhiệm vụ chính:
yếu cần được thực hiện; các
mốc đánh giá chủ yếu
Thời gian ( bắt đầu – kết thúc)
Kết quả chính
và chương trình can thiệp đã
thực hiện phòng ngừa TNTT
giai đoạn 2002 - 2010
các ý kiến đóng góp các điểm mạnh, điểm yếu của chương trình
gồm cả công cụ thu thập số
liệu và công cụ nhập liệu
và công cụ thu thấp số liệu
cấp liên quan đến đề tài
liệu và phân tích số liệu
cáo chính và báo cáo tóm tắt)
kết lần thứ 1
gia và xin ý kiến góp ý, bổ
sung cho đề tài
Trang 611 Hội thảo chia sẻ kết quả
nghiên cứu sơ bộ và góp ý của
Có bảng mô tả công việc
13 Quản lý chung (Thù lao trách
nhiệm cho thư ký, kế toán của
của người chăm sóc trẻ tại
Huyện Hải Lăng
TNTT tại huyện Hải Lăng
- Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc trẻ tại huyện Hải Lăng
- Đề xuất các biện pháp can thiệp tại cộng đồng
4 Tài chính:
- Tổng kinh phí đã nhận theo hợp đồng 100 triệu đồng
- Đã sử dụng đưa vào quyết toán: 100 triệu đồng
- Số kinh phí chưa sử dụng: 0 triệu đồng
- Tổng kinh phí thu hồi: 0 triệu đồng
- Tồng kinh phí phải nộp: triệu đồng
PHẦN II
BÁO CÁO KẾT QUẢ KHOA HỌC
A MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trên thế giới hiện đang tiếp cận nghiên cứu theo mô hình dịch tễ học nên đã mô tả được các vấn đề trong tai nạn thương tích liên quan đến vật chủ (con người), tác nhân (xe cộ hay sản phẩm) và môi trường (tự nhiên hay xã hội) nên các nghiên cứu được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều cách tiệp cận hiệu quả trong hạn
chế chấn thương (nguồn Peter và cs)
Tại việt Nam các nghiên cứu vẫn chủ yếu tập trung vào thực trạng tai nạn thương tích đang xảy ra tại các địa phương và các loại hình tai nạn thương gặp tại cộng đồng nên chỉ đưa ra được các khuyến cáo về cải thiện môi trường hay tăng cường thực thi các pháp luật về an toàn Trong khi chủ thể của vấn đề là người dân trong cộng đồng vẫn chưa được chú ý đến, chưa tìm ra được các đáp án nhằm thay đối kiến thức, thái độ,
Trang 7thực hành của chính vật chủ Nếu người dân trong cộng đồng được cung cấp kiến thức,
có thái độ tích cực trước các vấn đề không an toàn và thực hành hành vi an toàn thì việc phòng ngừa TNTT mới thật sự có hiệu quả Muốn có các can thiệp hiệu quả ngoài việc tìm hiểu về thực trạng, cải thiện môi trường thì chúng ta cũng cần phải hiểu rõ người dân trong cộng đồng đang biết gì về tai nạn thương tích? họ ứng phó như thế
nào? Và việc gì họ cần thực hiện để hạn chế tai nạn thương tích? (nguồn trích dẫn:Báo
cáo hoạt động phòng chống Tai Nạn Thương Tích trẻ em và xây dựng cộng đồng an toàn Việt Nam; Tiến sỹ: Trần Thị Ngọc Lan – Cục Y Tế dự phòng và môi trường – Bộ
Y Tế)
Chính vì thế chúng ta cần phải có những tìm hiểu cụ thể về thực trạng, kiến thức, thái độ, hành vi của người dân trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích từ đó đưa ra được các khuyến nghị can thiếp phù hợp
Tai nạn thương tích ( TNTT ) là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng và ngày càng gia tăng hiện nay, là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu… Ở Việt Nam, TNTT ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Theo báo cáo của Cục môi trường Bộ Y Tế: năm 2011 tại 55 tỉnh thành có gần 1.250.000 trường hợp mắc tai nạn thương tích, tăng trên 7,37% so với năm 2010 Trong đó, TNTT do tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ lớn nhất với 40,06%, tiếp theo là ngã, tai nạn lao động và bạo lực, đuối
nước…(nguồn trích dẫn: báo cáo của Cục môi trường Bộ Y Tế, năm 2011)
Độ tuổi mắc TNTT ở trẻ em ngày càng tăng, đang là một trong các mối nguy cơ hàng đầu gây tử vong và chấn thương ở trẻ em Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng Tai Nạn Thương Tích đang gây nên tình trạng tử vong thương tật vĩnh viễn hoặc phải nằm viện dài ngày ở trẻ em Nhưng chi phí cho y tế, hay chăm sóc cho những nạn nhân mang thương tật đang cản trở quá trình phát triển kinh
tế của các gia đình Bên cạnh đó trẻ em là lực lượng đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về tâm sinh lý và thể lực, là nguồn nhân lực cho đất nước trong tương lai Vì thế TNTT sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với gia đình và xã hội
(nguồn trích dẫn: KẾT QUẢ ĐIỀU TRA QUỐC GIA LIÊN TRƯỜNG VỀ TAI
http://203.162.20.210/homebyt/vn/portal/HomeArea.jsp?area=222)
Hải Lăng là một huyện nghèo, 96,4% diện tích đất bị ô nhiễm bom mìn, vật nỗ, có trục đường sắt và đường bộ cắt ngang địa bàn huyện, hệ thống sông ngòi dày đặc, các trục đường liên thôn, liên xã chưa được nâng cấp, người dân chủ yếu là làm nông chính vì thế nguy cơ gây tai nạn thương tích đang ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm đối với trẻ em huyện Hải Lăng Vì vậy việc nâng cao kiến thức, thái độ, hành vi của người chăm sóc trẻ về tai nạn thương tích là một việc làm thiết thực, cấp bách để hạn chế tỷ
lệ mắc/ tử vong của trẻ do tai nạn thương tích gây nên do sự bất cẩn của người chăm
sóc (nguồn trích dẫn:kết quả điều tra khảo sát tình hình ô nhiễm bom mìn, vật nổ tại
6 tỉnh miền Trung - www.congan.com.vn)
2 Mục tiêu:
Trang 8- Mô tả thực trạng mắc và tử vong về TNTT trẻ em và nguyên nhân của từng loại TNTT trẻ em, bao gồm tai nạn giao thông, đuối nước, bỏng, ngộ độc, ngã, điện giật, động vật cắn/húc tại huyện Hải Lăng
- Tìm hiểu kiến thức – thái độ - thực hành phòng chống tai nạn thương tích của người chăm sóc trẻ trong huyện Hải Lăng thuộc phạm vi của đề tài
3 Phạm vi nghiên cứu:
- Khảo sát/điều tra thực tế trong nước ( quy mô: Khảo sát trên 20 xã, thị trấn / địa
bàn: Huyện Hải Lăng )
4 Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ, người chăm sóc trẻ có con dưới 16 tuổi tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
5 Phương pháp thực hiện:
- Cuộc điều tra đã áp dụng phương pháp định lượng sử dụng bộ câu hỏi có sẵn để phỏng vấn bà mẹ, phiếu quan sát để có được các luận chứng khoa học góp phần:
- Mô tả thực trạng mắc và tử vong về TNTT trẻ em và nguyên nhân của từng loại TNTT trẻ em, bao gồm tai nạn giao thông, đuối nước, bỏng, ngộ độc, ngã, điện giật, động vật cắn/húc tại huyện Hải Lăng
- Tìm hiểu kiến thức – thái độ - thực hành phòng chống tai nạn thương tích của người chăm sóc trẻ trong huyện Hải Lăng thuộc phạm vi của đề tài
6 Nội dung thực hiện:
- Cuộc điều tra đã áp dụng phương pháp định lượng sử dụng bộ câu hỏi có sẳn để phỏng vấn người chăm sóc trẻ Bộ câu hỏi bao gồm 6 phần:
Thông tin chung của người trả lời phỏng vấn;
Quan sát hộ gia đình – Bảng kiểm ngôi nhà an toàn cho trẻ;
Các loại tai nạn thương tích đối với con của người phỏng vấn;
Kiến thức, thái độ về phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em;
Trang 9B CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG
Trang 10CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Ngoài nước:
- Năm 1923, Julian Harvey giới thiệu Es ba (giáo dục, kỹ thuật, và thực thi) để kiểm soát nguyên nhân gây ra tai nạn Tuy nhiên, trong một khuôn khổ dịch tễ học về những cách thức các phương pháp tiếp cận này không góp phần đáng kể trong
việc giảm chấn thương (nguồn trích dẫn: Lê Vũ Anh (2003), Điều tra liên trường
về chấn thương ở Việt Nam: kết quả sơ bộ, Trường đại học Y tế công cộng, Luận
văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y Hà Nội
cứu chấn thương Mô hình bao gồm các cấu phần: vật chủ, tác nhân gây chấn thương, véc tơ chuyền năng lượng và môi trường Mối tương tác giữa vật chủ, tác nhân và véc tơ với môi trường đã được xác định góp phần vào sự xuất hiện của sự
kiện chấn thương (nguồn trích dẫn: Dịch tễ học cơ bảnI.Beaglehole, Robert
II.Kjellström, Tord III.Tổ chức Y tế thế giới.)
và phương pháp tiếp cận dịch tễ học chấn thương hiện đại Trong nghiên cứu này các yếu tố nguyên nhân gây chấn thương được phân tích rõ hơn thông qua sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố qua một chuỗi thời gian gồm có giai đoạn trước khi sự kiện xảy ra, trong và sau khi sự kiện xảy ra được mô tả đối với vật chủ (con người), tác nhân (xe cộ hay sản phẩm) và môi trường (tự nhiên hay xã hội) trong
mô hình dịch tễ học (nguồn trích dẫn: Báo cáo Thế giới về phòng chống thương
tích ở trẻ em - Nhóm biên soạn: Margie Peden, Kayode Oyegbite, Joan Smith, Adnan A Hyder, Christine Branche, AKM Fazlur Rahman, Frederick Rivara and Kidist Bartolomeos – Tổ Chức Y Tế Thế Giới)
đầu điều tra thương tích, đặc biệt là trong gia đình và môi trường giải trí Mục đích của nghiên cứu là đưa ra các khuyến nghị nhằm xây dựng các đạo luật đảm bảo an toàn cho người dân Đến năm 1986, CDC tiếp tục nghiên cứu các phương pháp nhằm kiểm soát tai nạn thương tích góp phần cho ra đời Đạo luật phòng chống tai nạn thương tích năm 1986, sau đó, Đạo luật Kiểm soát Tổn thương
cũng được ra đời năm 1990 (nguồn trích dẫn: http://www.cdc.gov)
Trong nước:
Hiện nay nghiên cứu về Tai Nạn thương tích tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu đặc thù theo từng ngành, lĩnh vực riêng lẽ như an toàn giao thông, bạo lực gia đình Tuy nhiên chưa có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá kiến thức , thái độ , thực hành vì vậy chưa đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho hộ gia đình trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em tại hộ gia đình
Trang 11- Năm 2006 NGUYỄN THÖY QUỲNH, PHẠM VIỆT CƯỜNG ,Trường Đại học Y
tế công cộng đã thực hiện đề tài nghiên cứu về Thực trạng tai nạn thương tích (TNTT) ở học sinh tiểu học tại thành phố Đà Nẵng Thời gian nghiên cứu từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2006 Kết quả cho thấy tỷ suất TNTT học sinh tiểu học là 387/100
000 Sáu nguyên nhân gây TNTT không tử vong thường gặp đối với trẻ là ngã, chấn thương giao thông, bỏng, chấn thương do vật sắc nhọn, động vật tấn công và đuối nước; 3 nguyên nhân hàng đầu gây TNTT không tử vong là ngã, NTGT và bỏng Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do TNTT ở học sinh tiểu học là đuối nước và ngã Học sinh nông thôn có nguy cơ TNTT không tử vong cao gấp hơn 2 lần học sinh thành thị; TNTT ở nam cao gấp 2 lần so với nữ Ngã là nguyên nhân hàng đầu gây TNTT cho học sinh tiểu học ở tất cả các khối lớp trong đó cao nhất ở khối lớp 2; thứ nhì khối lớp 3; thứ 3 là khối lớp 4 TNGT là nguyên nhân đứng hàng thứ 2 và
có xu hướng tăng dần từ học sinh lớp 1 đến học sinh lớp 5 Bỏng là nguyên nhân thứ 3 gây TNTT cho học sinh tiểu học, TNTT do bỏng cao ở các khối lớp 3,4 và 5
Về địa điểm xảy ra TNTT, tỷ lệ xảy ra cao nhất ở trên đường phố, đường làng (31,5%); thứ nhì ở nhà (29,6%) và thứ 3 xảy ra ở trường (21,7%) Trường học là nơi xảy ra ngã nhiều nhất, chiếm 38,2% các trường hợp TNTT ở trường; TNGT xảy ra nhiều trên đường phố đường làng (80%); hơn 93,3% TNTT do bỏng xảy ra ở nhà Điểm hạn chế của đề tài này là số mẫu chỉ là học sinh nên chưa đánh giá được các yêu tố nguy cơ do người chăm sóc trẻ gây nên Nghiên cứu vẫn tập trung vào đánh
giá thực trạng chưa phân tích được các yếu tố liên quan đến người chăm sóc trẻ
(nguồn trích dẫn: Thực trạng tai nạn thương tích (TNTT) ở học sinh tiểu học tại
thành phố Đà Nẵng – Nguyễn Thúy Quỳnh – Phạm Việt Cường)
- 6/2009 TS Lê Vũ Anh, Ths Nguyễn Thuý Quỳnh và các cộng sự đã có nghiên cứu, khảo sát; Tình hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp Nghiên cứu mô tả cắt ngang với mục tiêu mô tả thực trạng chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi thuộc các xã ưu tiên thuộc 6 tỉnh nghiên cứu Các thông tin chi tiết về chấn thương được phân tích từ một mẫu nghiên cứu gồm 8369 hộ gia đình với tổng số 17893 trẻ dưới 18 tuổi Kết quả điều tra cho thấy tỷ suất chấn thương chung không gây tử vong của 6 tỉnh là 4360/100.000; 5 nguyên nhân gây chấn thương không tử vong thường gặp là ngã, chấn thương do giao thông, chấn thương do động/súc vật tấn công, chấn thương do vật sắc nhọn,
và chấn thương do bỏng Tỷ suất chấn thương gây tử vong là 31,2/100.000; 3 nguyên nhân chấn thương gây tử vong hay gặp là đuối nước, chấn thương do giao thông, và ngã Về sơ cấp cứu chấn thương, 57% số các trường hợp chấn thương được sơ cấp cứu ban đầu và khoảng 70% các trường hợp chấn thương được điều trị tại các cơ sở Y tế tuyến xã, huyện Hậu quả thường gặp của chấn thương là các vết cắt/trầy xước (63%), gãy xương (12%), và bỏng (9%) Phần lớn các chấn thương là nhẹ và không để lại di chứng; tuy nhiên chấn thương gây tử vong chiếm khoảng 1% Điều tra cũng đề xuất một số khuyến nghị nhằm lập kế hoạch làm giảm tỷ lệ chấn thương như xây dựng ngôi nhà an toàn, trường học an toàn và
Trang 12cộng đồng an toàn, đồng thời nâng cao năng lực, cung cấp các trang thiết bị và
nâng cao khả năng điều trị cho các cơ sở y tế (nguồn trích dẫn: khảo sát; Tình
hình chấn thương và các yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 18 tuổi tại 6 tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Đồng Tháp – Tiến Sỹ
Lê Vũ Anh)
Trường Đại học Y tế Công Cộng và Mạng lưới nghiên cứu Y tế công cộng Việt Nam, được sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế như UNICEF, WHO, tổ chức Atlantic Philanthropies đã triển khai Điều tra tai nạn thương tích năm (VNIS) trên quy mô toàn quốc ký hiệu VNIS 2010 VNIS 2010 sẽ là công cụ hữu dụng cho PCTNTT ở Việt Nam Với thiết kế quy mô lớn và chất lượng mang tầm quốc gia, điều tra sẽ cung cấp một bức tranh tổng thể đúng đắn về thực trạng TNTT ở Việt Nam VNIS 2010 được thiết kế với hai cấu phần:
+ Cấu phần tử vong được thiết kế để xác định các nguyên nhân chính dựa trên nền cuộc Điều tra di biến động dân số Việt Nam năm 2010 (PC 2010) Hoàn cảnh cụ thể của gần 5.000 trường hợp tử vong do tai nạn thương tích được điều tra chi tiết thông qua công cụ xác định nguyên nhân tử vong bằng phương pháp phỏng vấn do
Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) xây dựng và đã được chỉnh sửa phù hợp với Việt Nam
+ Cấu phần tai nạn thương tích là một cuộc khảo sát với cỡ mẫu là gần 50.000 hộ gia đình dựa trên khung mẫu của PC 2010 Các sự kiện tai nạn thương tích của tất
cả các thành viên hộ gia đình, các yếu tố nguy cơ môi trường của tai nạn thương tích ở cấp độ hộ gia đình và các yếu tố nguy cơ hành vi tai nạn thương tích của người trả lời trong hộ gia đình được thu thập bằng bộ câu hỏi tiêu chuẩn
Kết quả khảo sát cho thấy, TNTT là nguyên nhân gây ra từ 43-63% tử vong ở nhóm từ 5-19 tuổi và 9,6% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi TNGT là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong và tập trung chủ yếu trong nhóm tuổi lao động Kết quả điều tra VNIS 2010 cũng cho thấy, ngã là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 trong các nguyên nhân TNTT, trong
đó tập trung vào nhóm đối tượng trên 60 tuổi Đuối nước là nguyên nhân TNTT gây tử vong đứng thứ 3 trong quần thể đặc biệt tập trung vào trẻ em dưới 19 tuổi và rất cao trong nhóm tuổi 0-4 và 5-9 tuổi Trẻ em ở các hộ gia đình nghèo và cận nghèo, khu vực nông thôn có nguy cơ TNTT cao gấp 2 lần so với khu vực khác
- Tại Quảng trị theo số liệu thống kế: Trong năm 2006 trên địa bàn tỉnh có, 88 người tử vong do tai nạn đuối nước, 68 người tử vong do tai nạn giao thông Bên cạnh đó, 92% diện tích đất ở Quảng Trị còn ô nhiễm bom mìn hoặc nghi ngờ ô nhiễm bom mìn, năm 2007, 28 người chết và bị thương do bom mìn tại Quảng Trị
(nguồn trích dẫn:Báo cáo tình hình TNTT Tỉnh Quảng Trị năm 2006 – Sở Y Tế
Quảng Trị)
mắc tai nạn thương tích , trong đó có 144 trường hợp tử vong (nguồn trích dẫn:
Báo cáo tình hình TNTT Tỉnh Quảng Trị năm 2012 – Sở Y Tế Quảng Trị)
Trang 13Mục tiêu và những nội dung cần nghiên cứu của đề tài
- Trên thế giới hiện đang tiếp cận nghiên cứu theo mô hình dịch tễ học nên đã mô tả được các vấn đề trong tai nạn thương tích liên quan đến vật chủ (con người), tác nhân (xe cộ hay sản phẩm) và môi trường (tự nhiên hay xã hội) nên các nghiên cứu được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và có nhiều cách tiệp cận hiệu quả trong hạn chế chấn thương
Tại việt Nam các nghiên cứu vẫn chủ yếu tập trung vào thực trạng tai nạn thương tích đang xảy ra tại các địa phương và các loại hình tai nạn thương gặp tại cộng đồng nên chỉ đưa ra được các khuyến cáo về cải thiện môi trường hay tăng cường thực thi các pháp luật về an toàn Trong khi chủ thể của vấn đề là người dân trong cộng đồng vẫn chưa được chú ý đến, chưa tìm ra được các đáp án nhằm thay đối kiến thức, thái độ, thực hành của chính vật chủ Nếu người dân trong cộng đồng được cung cấp kiến thức, có thái độ tích cực trước các vấn đề không an toàn và thực hành hành vi an toàn thì việc phòng ngừa TNTT mới thật sự có hiệu quả Muốn có các can thiệp hiệu quả ngoài việc tìm hiểu về thực trạng, cải thiện môi trường thì chúng ta cũng cần phải hiểu rõ người dân trong cộng đồng đang biết gì về tai nạn thương tích? họ ứng phó như thế nào? Và việc gì họ cần thực hiện để hạn chế tai nạn thương tích?
- Chính vì thế chúng ta cần phải có những tìm hiểu cụ thể về thực trạng, kiến thức, thái độ, hành vi của người dân trong việc phòng ngừa tai nạn thương tích từ đó đưa ra được các khuyến nghị can thiếp phù hợp
gia tăng hiện nay, là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật toàn cầu… Ở Việt Nam, TNTT ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp Theo báo cáo của Cục môi trường bồ Ytế: năm 2011 tại 55 tỉnh thành có gần 1.250.000 trường hợp mắc tai nạn thương tích, tăng trên 7,37% so với năm 2010 Trong đó, TNTT do tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ lớn nhất với 40,06%, tiếp theo là ngã, tai nạn lao động và bạo lực, đuối nước…Độ tuổi mắc TNTT ở trẻ em ngày càng tăng, đang là một trong các môi nguy cơ hàng đầu gây tử vong và chấn thương ở trẻ em Việt Nam nói chung và Quảng Trị nói riêng Tai Nạn Thương Tích đang gây nên tình trạng tử vong thương tật vĩnh viễn hoặc phải nằm viện dài ngày ở trẻ
em Nhưng chi phí cho y tế, hay chăm sóc cho những nạn nhân mang thương tật đang cản trở quá trình phát triển kinh tế của các gia đình Bên cạnh đó trẻ em là lực lượng đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về tâm sinh lý và thể lực, là nguồn nhân lực cho đất nước trong tương lai Vì thế TNTT
sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với gia đình và xã hội
có trục đường sắt và đường bộ cắt ngang địa bàn huyện, hệ thống song ngòi dày đặc, các trục đường liên thôn, liên xã chưa được nâng cấp, người dân chủ yếu là làm nông chính vì thế nguy cơ gây tai nạn thương tích đang ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm đối với trẻ em huyện Hải Lăng Vì vậy việc nâng cao kiến thức, thái
độ, hành vi của người chăm sóc trẻ về tai nạn thương tích là một việc làm thiết
Trang 14thực, cấp bách để hạn chế tỷ lệ mắc/ tử vong của trẻ do tai nạn thương tích gây
nên do sự bất cẩn của người chăm sóc
Trang 15Cuộc khảo sát được thực hiện từ ngày 04/2013 tới 4/2014 bao gồm hai nội dung chính: 1) Tập huấn cho các cán bộ điều tra trước khi triển khai nghiên cứu; 2) Thu thập số liệu tại cộng đồng Tổng số có 686 đối tượng là người chăm sóc trẻ tại 19 xã, 01 thị trấn, huyện Hải lăng tham gia vào nghiên cứu
Kết quả phân tích cho thấy người chăm sóc trẻ chính trong gia đình hầu hết là bố mẹ trẻ chiếm tới 95% Bố mẹ trẻ có trình độ học vấn tương đối thấp, đa số có trình độ trung học cơ sở trở xuống, trong số này có tới 1.2% không đi học – đây chủ yếu là ông/ bà của trẻ
Nghề nghiệp chính của các hộ gia đình điều tra chủ yếu là làm nông nghiệp chiếm tới 63.5% và do đó thu nhập của hộ gia đình tương đối thấp Đa số các hộ gia đình có thu nhập trong vòng 12 tháng qua nằm trong khoảng từ 10,000,000 VND – 50,000,000 VND chiếm tỷ lệ cao tới 70.8%, đặc biệt có tới 13% hộ gia đình chỉ có thu nhập từ 2,000,000 VND – 10,000,000 VND
Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ trẻ em trong các hộ gia đình mắc tai nạn thương tích khá cao, trung bình cho toàn huyện là 19.4%, trong số những xã này thì Hải Chánh ghi nhận có tỷ lệ trẻ bị tai nạn thương tích cao nhất tới 25% trong tổng số những người trả lời phỏng vấn của xã
Liên quan tới kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ, kết quả phân tích cho thấy có tới 21.3% trong tổng số đối tượng điều tra cho biết họ chưa từng nghe về tai nạn thương tích cho trẻ em Trong số 78.7% đối tượng còn lại đã nghe và biết về tai nạn thương tích trẻ em nhưng kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích của họ cũng ở mức trung bình Hầu hết kiến thức của các đối tượng nghiên cứu về phòng chống tai nạn thương tích mới chỉ dừng lại ở kiến thức ban đầu Chắng hạn, khi được hỏi về phòng chống đuối nước cho trẻ, hầu hết các đối tượng đều biết không cho trẻ bơi khi không có người lớn đi kèm, tuy nhiên những yếu tố nguy cơ khác như giếng, dụng cụ đựng nước cần có nắp đậy an toàn hoặc ao, hồ, sông suối cần có biển cảnh báo nguy hiểm thì lại có tỷ lệ thấp đối tượng biết được điều này
Kết quả phân tích cho thấy các đối tượng điều tra mong muốn được tiếp nhận thông tin liên quan tới tai nạn thương tích trẻ em từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm truyền
Trang 16hình, loa đài phát thanh của địa phương, các hội/ tổ chức tại địa phương, qua các buổi truyền thông trực tiếp tại thôn/ xóm và qua các tranh ảnh, áp phích, tờ rơi Trong những nguồn đó, truyền thông trực tiếp tại thôn/ xóm được các đối tượng mong muốn nhất Đây là một gợi ý tốt cho các hoạt động can thiệp về truyền thông trong thời gian tới
Từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị nhằm giảm tỷ lệ tai nạn thương tích của trẻ em tại cộng đồng cũng như nâng cao kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích trẻ em cho những người chăm sóc trẻ, đặc biệt là bố mẹ trẻ và trẻ Nhóm kiến nghị bao gồm:
- Nâng cao sự tham gia của các ban ngành liên quan tại địa phương trong phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
- Nâng cao nhận thức về nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích trẻ em cho người chăm sóc trẻ, giáo viên và trẻ em tại địa huyện Hải Lăng
- Giảm thiểu các nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích trẻ em tại gia đình, nhà trường và cộng đồng
- Vận động chỉnh sửa/ thay đổi chính sách của địa phương liên quan tới phòng chống tai nạn thương tích trẻ em
- Các kênh truyền thông mong muốn của người dân để nhận thông tin về phòng tránh tai nạn thương tích tại cộng đồng
GIỚI THIỆU VÀ THÔNG TIN CHUNG:
Thông tin chung về địa bàn điều tra
Hải Lăng là một huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Trị Hiện nay Hải Lăng là một trong những huyện khó khăn trong 10 huyện thị của tỉnh Tổng diện tích của huyện có 46.692,53 hecta trong đó 12.894 hecta trồng lúa Huyện có 20 đơn vị hành chính (gồm
19 xã và 01 thị trấn) với 98 thôn Trong đó 10 xã thuộc diện nghèo, khó khăn
Tính đến 31/12/2009, tổng số dân 86.323 người trong đó 42.478 nam và 43.484 nữ; tổng số hộ gia đình 22.298 hộ Mật độ dân số 202 người/km2; là huyện có mật độ dân
số cao thứ 4 trong tỉnh (sau Đông Hà, Thị xã Quảng Trị, huyện Triệu Phong)
Thu nhập chính của người dân trong huyện là từ nông nghiệp (Nông nghiệp chiến tới 60% trong cơ cấu nền kinh tế), tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 19.6% (theo điều tra hộ nghèo tháng 12/2010)
Mục tiêu của cuộc điều tra
Mục đích
hành phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em dưới 16 tuổi của hộ gia đình
thương tích trẻ em của người chăm sóc trẻ
Khuyến nghị các giải pháp cải thiện kiến thức – thái độ - thực hành phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em của người dân cộng đồng
Mục tiêu cụ thể
Trang 17 Mô tả thực trạng mắc và chết về TNTT trẻ em và nguyên nhân của từng loại TNTT trẻ em, bao gồm tai nạn giao thông, đuối nước, bỏng, ngộ độc, ngã, điện giật, động vật cắn/húc tại 19 xã, 01 thị trấn của huyện Hải Lăng
Khảo sát kiến thức – thái độ - thực hành phòng chống tai nạn thương tích của người chăm sóc trẻ trong các xã của huyện Hải Lăng
thương tích trẻ em của người chăm sóc trẻ
Khuyến nghị các giải pháp cải thiện kiến thức – thái độ - thực hành phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em của người dân cộng đồng
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA:
Địa bàn điều tra
Điều tra được tiến hành trên 19 xã, 1 thị trấn của huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị:
Đối tượng điều tra
Đối tượng của cuộc điều tra là các bà mẹ, người chăm sóc trẻ có con dưới 16 tuổi tại địa bàn 19 xã, 01 thị trấn trong địa bàn dự án tại huyện Hải Lăng, Quảng Trị
Phương pháp điều tra
Thiết kế điều tra
Cuộc điều tra đã áp dụng phương pháp định lượng sử dụng bộ câu hỏi có sẵn để phỏng vấn bà mẹ và người chăm sóc trẻ Bộ câu hỏi bao gồm 6 phần: 1) Thông tin chung của người trả lời phỏng vấn; 2) Quan sát hộ gia đình – Bảng kiểm ngôi nhà an toàn cho trẻ; 3) Các loại tai nạn thương tích đối với con của người phỏng vấn; 4) Kiến thức, thái độn về phòng tránh tai nạn thương tích trẻ em; 5) Kiến thức về thực hành sơ cứu ban đầu một số tai nạn thương tích chính; 6) Kênh tiếp cận thông tin mong muốn
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Đối tượng nghiên cứu là hộ gia đình có con dưới 16 tuổi tại địa bàn 19 xã và 01 thị trấn, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
Cỡ mẫu được tính theo phương pháp tính cỡ mẫu cho một cuộc điều tra cắt ngang, theo công thức:
Trong đó
Z : ý nghĩa thống kê mong muốn, thường lấy Z( 1-anpha/2) = 1.96
d : Sai số ấn định trong nghiên cứu = 4% (0.04)
p: tỉ lệ mắc thô do thương tích nhẹ 0.5 trong thời gian 1 năm;
Theo công thức cỡ mẫu cần có là: N = (0,04)
)96,1(
2
2
) 5 , 0 1 ( 5 ,
0
X
= 600 hộ
2 2
) 2 / 1 (
d
p
Z
Trang 18Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp xác suất tỷ lệ với quy mô dân số (Probability
Proportion to Size) để tiến hành chọn ngẫu nhiên đơn tham gia phỏng vấn tại mỗi xã
- Với cách tính trên, cỡ mẫu dự tính sẽ là 600
Tại 20 xã có tổng cộng là 98 thôn Nhóm nghiên cứu lấy đơn vị mẫu cơ bản (PSU) là
thôn như vậy mỗi thôn sẽ là 1 PSU Số lượng người được phỏng vấn tại mỗi PSU sẽ
bằng tổng số người dự kiến chia cho tổng số PSU Mỗi PSU sẽ lựa chọn 6.1 người và
nhóm quyết định là lấy 7 người/ PSU để dự phòng Cuối cùng, tổng số người được
mời phỏng vấn dự kiến tăng lên là 686 người
Cách tính cở mẩu : lập danh sách tất cả các hộ gia đình có con dưới 16 tuổi trong toàn
huyện và chia đều cho 686 , chọn khoảng cách K
Bảng 1 Cỡ mẫu phỏng vấn của từng xã
mong muốn
Thực tế thu thập được
Các điều tra viên được tập huấn 2 ngày 27/06/2013 đến 28/06/2013 trước khi tiến hành
điều tra thực tế tại địa bàn Nội dung cuộc tập huấn bao gồm: 1) Giới thiệu chung về
cuộc nghiên cứu; 2) Các kỹ năng cần thiết khi tiến hành thu thập số liệu sử dụng bảng
hỏi; 3) Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu; 4) Giới thiệu về bộ câu hỏi; 5) Thực hành
bộ câu hỏi tại cộng đồng; 6) Quy trình thu thập số liệu tại thực địa
Trang 19Nhóm điều tra bao gồm 25 điều tra viên chia làm 5 nhóm và các giám sát viên là thành viên nhóm nghiên cứu là nhân viên phòng y tế huyện Hải Lăng, Trung Tâm Y Tế, Chương trình phát triển vùng Huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, chịu trách nhiệm chung cho cả nhóm nghiên cứu là chủ nhiệm đề tài, thư ký đề tài Tại mỗi nhóm điều tra, có một nhóm trưởng và 1 giám sát viên chịu trách nhiệm giám sát chất lượng phiếu thu thập được của các thành viên trong nhóm Giám sát viên của mỗi nhóm đọc hết 100% số phiếu của các thành viên của mình sau mỗi buổi thu thập tại thôn để kiểm tra
số lượng và chất lượng các phiếu thu thập được sau đó tổng hợp lại báo cáo cho chủ nhiệm đề tài và thư ký đề tài
Phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch và nhập vào máy tính bằng chương trình Epi-Infor sau đó chuyển sang phần mềm SPSS phiên bản 16.0 để phân tích
Điểm mạnh/ hạn chế của cuộc điều tra
Cuộc điều tra đã được tiến hành theo kế hoạch và đạt được mục tiêu 684 đối tượng bà
mẹ hoặc người chăm sóc trẻ đã được phỏng vấn Các thành viên trong nhóm điều tra
có tinh thần làm việc tốt, đoàn kết và có mối quan hệ tốt với các đối tác địa phương Công tác chuẩn bị cho cuộc điều tra đã được thực hiện tương đối tốt Tất cả các nhân viên y tế xã và y tế thôn đã được thông báo trước về cuộc điều tra do đó đã xếp lịch cho hoạt động này Các công cụ và vật liệu cần thiết cho cuộc điều tra cũng được chuẩn bị đầy đủ và tốt
Các giám sát viên và tư vấn cùng làm việc để kiểm tra lại từng phiếu hàng ngày để tìm
ra các sai sót hoặc thiếu hụt thông tin để kịp thời bổ sung vào ngày hôm sau
Tuy nhiên cũng còn một số điểm hạn chế cần rút kinh nghiệm cho những cuộc điều tra sau:
- Việc lập danh sách các hộ có con dưới 16 tuổi tại một số xã chậm nên việc thông báo cho các hộ nằm trong danh sách được phỏng vấn diễn ra quá gấp nên
có một số hộ không có nhà tại thời điểm điều tra phải thay bằng hộ khác
- Tại một số thôn, do địa bàn khó khăn trong việc đi lại, các hộ gia đình cách xa nhau nên ảnh hưởng tới tiến độ triển khai Có một số hộ phải làm sang ngày khác mới điều tra được
- Một số nghiên cứu viên trong quá trình phỏng vấn bỏ sót câu hỏi trong bộ phiếu hỏi điều này dẫn đến thiếu thông tin tại một số câu hỏi
Trang 20KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN:
Thông tin chung về đối tượng điều tra
Thông tin về nhân khẩu học
Cuộc điều tra được tiến hành tại 98 thôn của 19 xã, 01 thị trấn: Hải Dương, Hải Xuân, Hải Trường, Hải Thiện, Hải Hòa, Hải Quy, Hải Thành, Hải Lâm, Hải Vĩnh, Hải Tân, Hải Thượng, Hải Phú, Hải Ba, Hải An, Hải Khê, Hải Quế, Hải Chánh, Hải Sơn, Hải Thọ và Thị trấn Hải Lăng; huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị Tổng cộng có 684 người chăm sóc trẻ tại hộ gia đình được phỏng vấn với bộ câu hỏi có sẵn Kết quả phân tích cho thấy toàn bộ đối tượng trên là người dân tộc Kinh, và ngôn ngữ sử dụng chính trong giao tiếp hàng ngày là tiếng Kinh
A2 Dan toc (100% dân tộc kinh)
Frequency Percent
Valid Percent
Cumulative Percent Valid 1
(Kinh) 684 100.0 100.0 100.0
Về tình trạng hôn nhân
Hầu hết đối tượng tham gia tại thời điểm điều tra đã kết hôn và hiện đang sống cùng với vợ/ chồng chiếm 92.5% Có 0.7 % đối tượng sống độc thân Tỷ lệ ly dị và ly thân chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số đối tượng trả lời chiểm một tỷ lệ tương đương là 0.4% và 0.1% Trong tổng số đối tượng trả lời có 6.1% là góa – đây chủ yếu là ông hoặc bà của trẻ Bảng 2 dưới đây mô tả tình trạng hôn nhân của các đối tượng điều tra
Bảng 2 Tình trạng hôn nhân của đối tượng điều tra
A4 Tinh trang hon nhan hien nay
Frequency Percent
Valid Percent
Cumulative Percent Valid 1 (Độc thân) 5 7 7 7
2 (Đã kết hôn) 633 92.5 92.5 93.3
3 (Ly dị) 3 4 4 93.7
4 (Ly thân) 1 1 1 93.9
5 (Góa) 42 6.1 6.1 100.0 Total 684 100.0 100.0
Số lượng con
Trang 21Kết quả phân tích cho thấy, tỷ lệ đối tượng phỏng vấn có 2 và 3 con chiếm tỷ lệ cao nhất tương ứng tới 21.0% và 24.9% sau đó là tới 4 con chiếm tỷ lệ 19.4% Tỷ lệ đối tượng có 1 con chiếm tỷ lệ khá khiêm tốn 12.3%, tỷ lệ có từ 5 con trở lên giảm dần Bảng 3 mô tả tỷ lệ cụ thể số con trong các hộ điều tra
Bảng 3 Tỷ lệ số hộ có con trong các hộ điều tra
Phân loại số con (A5_recode)
Frequency Percent
Valid Percent
Cumulative Percent Valid 1 con 108 15.8 15.8 15.8
2 con 215 31.4 31.4 47.2
>= 3con 361 52.8 52.8 100.0 Total 684 100.0 100.0
Số con dưới 16 tuổi
Trong số đối tượng điều tra, tỷ lệ hộ có 1 con dưới 16 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất tới 34.2%, sau đó là 32.4% có 2 con dưới 16 tuổi, và tỷ lệ này cho số hộ có 3 con dưới 16 tuổi là 22.1% Và tỷ lệ số hộ có 4, 5 con dưới 16 tuổi giảm dần khi chỉ chiếm tương đương là 8.2% và 2.1%
Bảng 4 Tỷ lệ số hộ có con dưới 16 tuổi
Người chăm sóc trẻ chính trong gia đình
Kết quả nghiên cứu cho thấy, bố mẹ là người chăm sóc trẻ chính và chiếm tỷ lệ cao nhất trong số những người chăm sóc cho trẻ với tỷ lệ 95%, sau đó là ông bà chiếm 4.7% Anh/ chị và người khác đóng vai trò rất nhỏ trong việc chăm sóc trẻ trong gia đình
Bảng tỉ lệ % người chăm sóc trẻ chính trong gia đình
Frequency Percent
Valid Percent
Cumulative Percent Valid 1 (Bố/mẹ) 650 95.0 95.0 95.0
2 (Ông/bà) 32 4.7 4.7 99.7
3 (Họ hàng) 1 1 1 99.9
4 (Khác…) 1 1 1 100.0
Trang 22Bảng tỉ lệ % người chăm sóc trẻ chính trong gia đình
Frequency Percent
Valid Percent
Cumulative Percent Valid 1 (Bố/mẹ) 650 95.0 95.0 95.0
2 (Ông/bà) 32 4.7 4.7 99.7
3 (Họ hàng) 1 1 1 99.9
4 (Khác…) 1 1 1 100.0 Total 684 100.0 100.0
Trình độ học vấn cao nhất
Hầu hết đối tượng trả lời phỏng vấn có trình độ học vấn cao nhất từ trung học cơ sở (cấp 2) trở xuống Có rất ít số lượng đối tượng hoàn thành cao đẳng hoặc đại học Trong số đó, tỷ lệ đối tượng hoàn thành trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao là 43.6%, hoàn thành tiểu học là 25.3%, chưa học hết tiểu học là 7.5% và tỷ lệ không đi học chiếm 1.2% Trong khi đó tỷ lệ hoàn thành từ trung học phổ thông đến đại học cũng còn thấp Cụ thể, trung học phổ thông là 13.2%, hoàn thành cao đẳng và trung cấp nghề là 1.9% và đại học chỉ chiếm có 3.4% Biểu đồ 1 dưới đây mô tả cụ thể trình độ học vấn của đối tượng điều tra
Biểu đồ 1 Trình độ học vấn của đối tượng điều tra
Frequenc
Valid Percent
Cumulative Percent
Điều kiện kinh tế hộ gia đình
Nghề nghiệp hiện tại
Nghề nghiệp hiện tại chính của các đối tượng điều tra là nông nghiệp chiếm tới 63.5%
Số lượng đối tượng làm phi nông nghiệp hoặc làm công ăn lương chiếm 19% Tỷ lệ nhóm đối tương điều tra làm thuê tại các xưởng sản xuất hộ gia đình cũng chiếm một
Trang 23số lượng nhỏ chỉ có 3.1% Đối tượng làm nông nghiệp chiếm lớn nên hầu hết đối tượng làm việc ngay tại địa bàn thôn/ xóm của mình chiểm 51.8%
Bảng phân bố nghề nghiệp hiện tại của người chăm sóc trẻ
Frequency Percent
Valid Percent
Cumulative Percent Valid 2 (Ko làm gì) 10 1.5 1.5 1.5
3 (Làm công ăn lương) 66 9.6 9.6 11.1
4 (Phi Nông nghiệp) 64 9.4 9.4 20.5
Thu nhập trong vòng 12 tháng qua
Xuất phát từ nghề làm nông nghiêp nên tỷ lệ số hộ có tổng thu nhập trong vòng 12 tháng qua trong khoảng từ 50,000,000 VND-100,000,000 VND chiểm tỷ lệ 12.7%, tỷ
lệ hộ gia đình có tổng thu nhập từ 100,000,000 VND-300,000,000 VND là rất thấp chỉ chiếm chó 1.9% Trong khi đó, tỷ lệ hộ gia đinh có thu nhập trong khoảng 10,000,000 VND-50,000,000 VND chiểm tỷ lệ cao tới 70.8% và tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập dưới 10,000,000 VND cũng chiếm một tỷ lệ tương đối 15.2% Điều này cho thấy, thu nhập trong các đối tượng điều tra tại địa bàn là thấp
Bảng kiểm ngôi nhà an toàn:
Nhóm nghiên cứu mong muốn tìm hiểu những yếu tố nguy cơ dẫn đến tai nạn thương tích trẻ em tại gia đình nên đã đưa một phần về quan sát hộ gia đình trong thiết kế điều tra Bảng kiểm ngôi nhà an toàn sử dụng trong đợt khảo sát này là những tiêu chí cho một ngôi nhà an toàn dành cho trẻ được áp dụng chung trên toàn quốc Các chỉ số trong bảng kiểm được chia ra làm 3 cấp độ: 1) không áp dung; 2) Đạt và 3) không đạt Không áp dụng sẽ được các điều tra viên đánh dấu khi hộ gia đình không có những tiêu chí mà bảng kiểm đưa ra ví dụ: trong bảng kiểm có mục “có hàng rào quanh ao cá
Kết luận: Đối tượng chăm sóc trẻ em chính trong địa bàn điều tra là bố mẹ trẻ, có một
số lượng nhỏ là ông bà của trẻ Bố/ mẹ trẻ hầu hết có trình độ học vấn thấp chỉ yếu tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ phông Nghề nghiệp chính của các đối tượng này là nông nghiệp và do đó có mức thu nhập hàng năm thấp trong khoảng 10,000,000 VND-50,000,0000 VND
Trang 24và những hố nước”, khi đến hộ gia đình, phỏng vấn viên sẽ quan sát nếu hộ đó không
có ao cá hoặc hồ nước thì sẽ đánh dấu vào mục không áp dụng
1 Đối với nguy cơ dẫn tới ngã
Các tiêu chí trong bảng kiểm để phòng ngã cho trẻ tại gia đình bao gồm: 1) Có cửa/ ban công/ hang rào chắc chắn nếu nhà ở gần đường/ đường ray xe lửa; 2) Có hàng rào quanh ao cá và những hỗ nước, hố vôi trong khu vực nhà; 3) Tay vịn cầu thang, cầu vào nhà có chấn song chắc chắn, an toàn; 4) Có cửa chặn ở đầu hoặc cuối cầu thang đủ cao; 5) Chấn song ở ban công và cửa sổ chắc chắn và an toàn; 6) Có bậc thềm phụ cho trẻ bước xuống an toàn
Bảng 4 Tiêu chí về phòng chống ngã cho trẻ
dụng
Đạt K đạt
Có cửa/ ban công/ hàng rào chắc chắn nếu nhà ở
gần đường/ đường ray xe lửa
Có cửa chặn ở đầu hoặc cuối cầu thang đủ cao 592 53 39
Chấn song ở ban công và cửa sổ chắc chắn và an
toàn
Có bậc thềm phụ cho trẻ bước xuống an toàn 195 294 195
Trong các tiêu chí trên, tỷ lệ các hộ đáp ứng được tiêu chí có chắn song ở ban công và cửa số chắc chắn và an toàn chiểm tỷ lệ cao nhất Một điều đáng chú ý ở đây là đối với
tiêu chí về Có hàng rào quanh ao cá và những hố nước, hố vôi trong khu vực nhà
có tỷ lệ số hộ đạt thấp Trong tổng số 103 hộ áp dụng thì chỉ có 70 hộ không đạt tương đương với 69% Các tiêu chí khác có tỷ lệ đạt cao hơn
2 Nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích do vật sắc nhọn
Tiêu chí đánh giá ở đây là các vật sắc nhọn như dao, kéo, liềm để ở nơi trẻ không với tới được Kết quả phân tích trong tổng số 673 hộ áp dụng cho thấy hầu hết các hộ đều đạt khi có tới 538 hộ đạt tương đương với 75% Kết quả này cũng tương đồng với kiến thức của các đối tượng về phòng chống tai nạn thương tích do vật sắc nhọn gây ra ở phần phân tích dưới đây Điều này cho thấy đa số các hộ đã có ý thức và kiến thức về phòng chống tai nạn thương tích do vật sắc nhọn gây ra
3 Nguy cơ dẫn tới bỏng
Tiêu chí đánh giá cho phần này bao gồm: 1) Có hộp đựng phích nước nóng và để ở nơi trẻ không với tới được; 2) Rào chắn an toàn xung quanh bếp nếu bếp ở trên sàn nhà
Trang 25Nếu có nhà bếp thì phải có bậc cao hoặc cửa ngăn; 3) Đèn, diêm và bật lửa để ở nơi trẻ không với tới
Phân tích kết quả quan sát cho thấy các hộ gia đình có ý thức cao trong việc để các vật dụng dễ cháy như đèn, diêm và bật lửa xa tầm với của trẻ chiếm 70.6% Điều này cho thấy các hộ có nhận thức khá cao về nguy cơ dẫn tới bỏng từ những vật dụng dễ cháy Tuy nhiên, những nguy cơ gây bỏng khác từ bếp nấu ăn lại có vẻ ít được quan tâm hơn Trong tổng số 515 hộ áp dụng thì chỉ có 275 hộ đạt tiêu chí có rào chắn xung quanh bếp nếu bếp ở trên sàn nhà và nếu có nhà bếp thì phải có bậc cao hoặc cửa ngăn (53.3%) Cũng có tỷ lệ khá cao các hộ ý thức về việc có hộp đựng phích nước nóng và
để ở nơi trẻ không với tới được chiếm 70.6%
4 Nguy cơ dẫn tới đuối nước
Tiêu chí cho phòng chống đuối nước ở gia đình là giếng và các dụng cụ đựng nước có nắp đậy an toàn Trong tổng số 499 hộ áp dụng thì có 365 hộ đáp ứng tiêu chí này tương đương 73.1% Điều này cho thấy việc nhận thức về nguy cơ dẫn đến đuối nước
từ những dụng cụ chứa nước tại gia đình trong số các hộ gia đình quan sát chưa cao
5 Nguy cơ dẫn tới điện giật
Kết quả quan sát các hộ gia đình cho thấy các hộ có ý thức cao trong việc phòng chống điện giật cũng như nguy cơ bị điện giật từ những vật dụng điện trong gia đình Có tới
624 hộ trên tổng số 672 hộ quan sát đạt yêu cầu về các ổ điện, phích cắm an toàn, dây điện không hở và được đặt ở nơi trẻ không với tới được
6 Nguy cơ dẫn tới hóc/ sặc:
Liên quan tới nguy cơ dẫn tới hóc/ sặc từ những đồ chơi nhỏ hoặc những vật nhỏ dễ nuốt ở chỗ trẻ chơi, kết quả quan sát hộ cho thấy có tới 475 hộ đạt yêu cầu trên tổng số
599 hộ áp dụng Điều này cho thấy, các hộ có ý thức khá tốt trong việc phòng chống hóc/ sặc cho trẻ tại gia đình
7 Nguy cơ dẫn tới ngộ độc:
Nguy cơ dẫn tới ngộ độc từ thuốc sâu, thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột và các chất độ khác dẫn tới ngộ độc cho trẻ cũng được các hộ gia đình ý thức khá cao Trong tổng số
741 hộ áp dụng thì có tới 525 hộ đạt yêu cầu khi để bình thuốc sâu, các hóa chất độc hại ở nơi an toàn trẻ không với tới được hoặc không tiếp xúc được
8 Nguy cơ dẫn tới súc vật cắn:
Kết quả phân tích cho thấy, nguy cơ bị chó, mèo cắn khá cao trong các hộ được quan sát Trong tổng số 469 hộ áp dụng thì chỉ có 203 hộ đạt tiêu chí vật nuôi trong nhà phải xích ở chỗ riêng, trẻ không đến gần được và phải có rọ mõm Điều này cho thấy các hộ gia đình chưa ý thức đầy đủ nguy cơ bị tai nạn thương tích do súc vật/ động vật cắn
Kết luận:
Trang 26Việc phân tích bảng kiểm ngôi nhà an toàn cho thấy các hộ gia đình trong diện được quan sát và phỏng vấn chưa có nhận thức đủ lớn về những yếu tố nguy cơ dẫn tới tai nạn thương tích trẻ em tại gia đình Điều này một phần cũng lý giải tại sao địa điểm tai nạn thương tích xảy ra ở nhà chiểm tỷ lệ cao nhất tới 51.9% trong tổng số 133 trường hợp báo cáo bị tai nạn thương tích trong 12 tháng qua Tuy nhiên, việc phân tích cho thấy các hộ gia đình cũng có một số thực hành khá tốt trong việc phòng chống tai nạn thương tích trẻ em tại gia đình Bảng dưới đây tóm tắt chi tiết các hành vi tốt và hành
vi cần cải thiện đối trong việc phòng chống tai nạn thương tích tại gia đình
thương tích
sổ chắc chắn và an toàn
Có bậc thềm phụ cho trẻ bước xuống sân
Cửa chắn ở đầu hoặc cuối cầu thang đủ cao
Cửa, cổng, hàng rào chắc chắn nếu nhà ở gần đường
Phòng thương tích
do vật sắc nhọn
Vật sắc nhọn (dao, liềm, kéo )
để ở nơi trẻ không với tới được
Có dụng cụ để dao, kéo, liềm an toàn như giá treo dao và nơi để dụng cụ
ở nơi trẻ không với tới được Diêm, đèn và bật lửa để ở nơi trẻ không với tới
Rào chắn an toàn xung quanh bếp, có bậc cao hoặc cửa ngăn
nước có nắp đậy an toàn
điện an toàn, dây điện không hở
và được đặt ở nơi trẻ không với tới
Sử dụng các thiết bị điện an toàn
hoặc những vật nhỏ dễ nuốt ở chỗ trẻ chơi
chuột và chất độc khác đựng trong vật chứa an toàn và để xa nơi trẻ em không với tới được
ở chỗ riêng, trẻ không đến gần được Chó, mèo phải được tiêm phòng, có rọ mõm khi ra khỏi nhà
Trang 27Các loại tai nạn thương tích gặp phải
Tỷ lệ tai nạn thương tích tại đia bàn điều tra (theo hộ gia đình)
Theo kết quả phân tích trong nhóm đối tượng đích cho thấy có 133 trẻ trong các hộ gia đình mắc một trong các loại tai nạn thương tích phổ biến chiếm tỉ lệ: 19.4% trên địa bàn huyện Hải Lăng Trong đó, tỷ lệ trung bình tại 19 xã và thị trấn lần lượt là: Hải An: 23.1%; Hải Ba: 0%; Hải Chánh: 32.5%; Hải Dương: 5.7%; Hải Hòa: 21.4%; Hải Khê: 35.7%; Hải Lâm: 9.5%; Hải Phú: 21.4%; Hải Quế: 4.8%; Hải Quy: 42.9%; Hải Sơn: 33.9%; Hải Tân: 17.9%; Hải Thành: 23.8%; Hải Thiện: 40%; Hải Thọ: 11.9%; Hải Thương: 14.3%; Hải Trường: 12.2%; Hải Vĩnh: 9.5%; Hải Xuân: 28.6%; Thị trấn: 4.8%
Trong số trẻ em bị tai nạn thương tích thì trẻ em nam có 90 và nữ là 43 tương đương với 67.7% và 32.3% Biểu đồ dưới đây mô tả chi tiết tỷ lệ của từng xã
Biểu đồ 2: Tỷ lệ Tai nạn thương tích trẻ em tại Huyện Hải Lăng (theo hộ gia đình)
Các loại tai nạn chính và địa điểm xảy ra tai nạn thương tích (theo hộ gia đình)
Kết quả phân tích 133 trẻ em bị tai nạn thương tích cho thấy trẻ đều bị các loại tai nạn thương tích như: đuối nước, điên giật, ngã, bỏng, vật săc nhọn, súc vật/ động vật cắn
và tai nạn giao thông Trong số các loại tai nạn thương tích trên thì ngã chiêm tỷ lệ cao nhất tới 60%, sau đó là tai nạn giao thông 12.8% Có tới 8.3% số trẻ bị bỏng, 6.8% ghi nhận trẻ bị tai nạn sức vật, cắn húc Thương tích do vật sắc nhọn chiếm 5.3% Ngộ độc chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ có 0.8% Số liệu phân tích trên 133 trường hợp bị tai nạn thương tích cũng cho thấy có tới 51.9% trường hợp tai nạn thương tích xay ra ở nhà và con số này xảy ra trên đường là 30.8% Tỷ lệ xảy ra ở trường và ngoài cộng đông nói chung chiếm tỷ lệ thấp tương ứng là 9.0% và 8.3% Biểu đồ 3 dưới đây mô tả các loại
tai nạn thương tích gặp phải ở trẻ
Biểu đồ 3 Các loại tai nạn thương tích trẻ em gặp phải
Hải Lâm, 9.5 Hải Phú, 21.4
Hải Quế, 4.8
Hải Quy, 42.9
Hải Sơn, 33.9
Hải Tân, 17.9 Hải Thành, 23.8 Hải Thiện, 40
Hải Trường, 12.2 Hải Vĩnh, 9.5 Hải Xuân, 28.6
Trang 28Đuối nước, 1.5 Điện giật, 1.5
Ngã, 60.7Bỏng, 8.3
Percent (%)
Cumulative Percent
1 (Ở nhà) 69 51.9 51.9
2 (Trên đường) 41 30.8 82.7
3 (Ở trường) 12 9.0 91.7
4 (Cộng đồng nói chung) 11 8.3 100.0 Tổng 133 100.0
Mức độ nghiêm trọng của các tai nạn thương tích
Trong số 133 trường hợp bị tai nạn thương tích, có hai trường hợp bị tử vong, và có tới
78 trường hợp phải cấp cứu/ điều trị tại cơ sở y tế địa phương, chiếm 58.6% Mức độ thương tích nhẹ phải điều trị tại nhà chiếm 39.8%
Một điều khá ngạc nhiên là trong những trường hợp bị tai nạn thương tích trên thì sự
hỗ trợ của cán bộ y tế chỉ chiếm 8.3% Người giúp đỡ và hỗ trợ lớn nhất cho các trẻ bị tai nạn thương tích là chính bố mẹ trẻ chiếm tới 63.9% trong khi người lớn hoặc hàng xóm xung quanh là 9% Bạn bè của trẻ cũng hỗ trợ các trẻ bị tai nạn thương tích chiếm 15%
Điều này cho thấy rằng việc nâng cao kỹ năng của bố mẹ/ người chăm sóc về kiến thức sơ cứu tai nạn thương tích là việc làm rất cần thiết Trong khi đó, nâng cao hệ thống phát hiện sớm trẻ bị tai nạn thương tích trong cộng đồng để có được sự hỗ trợ từ cán bộ y tế kịp thời cần được thúc đẩy mạnh mẽ trong thời gian tới
Trong số các trường hơp bị tai nạn thương tích thì tới 72.2% nguyên nhân do sự bất cẩn của trẻ trong khi đó sự bất cẩn của người lớn là 27.1% và nguyên nhân khác là
Trang 290.7% Đây cũng là dấu hiệu cho thấy việc nâng cao nhận thức cho trẻ về tai nạn thương tích là cần thiết trong khi đó việc nâng cao kiến thức và kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho người chăm sóc trẻ cũng cần phải tập trung Biểu đồ 5 dưới đây mô tả các nguyên nhân dẫn tới tai nạn thương tích trẻ em tại địa bàn
Biểu đồ 5 Nguyên nhân dẫn tới tai nạn thương tích trẻ em
Frequency (Tần suất)
Percent (%)
Cumulative Percent
1 (Do bất cẩn của trẻ) 96 72.2 72.2
2 (Do bất cẩn của người lớn) 36 27.1 99.2
96 (Khác) 1 8 100.0 Tổng 133 100.0
Chi phí điều tri các tai nạn thương tích
Kết quả phân tích trên 133 trường hợp tai nạn thưong tích cho thấy chi phí điều trị dưới 100,000 VND là 34.6%, chi phí điều trị từ 100,000 VND-1,000,000 VND chiếm tới 36.1% và từ 1,000,000 VND- 5,000,0000 VND chiếm 7.5% Đặc biệt trong số đó
có tới 10 trường hợp chiếm 7.5% chi phí điều trị trên 5,000,000 VND Và chỉ có 12.8% trương hợp không điều trị Điều này cho thấy, trong những trường hợp phải điều trị với chi phí cao trong khoảng 1,000,000 VND-5,000,000 VND và trên 5,000,000 VND thực sự là một gành nặng đối với gia đình khi so sánh với mức thu nhập của hộ gia đình
Frequency (Tần suất)
Percent (%)
Cumulative Percent
Kết luận: Tỷ lệ mắc tai nạn thương tích trẻ em trong địa bàn tại hộ gia đình
tương đối cao chiếm tới 19.3% Trong số các trẻ bị tai nạn thương tích cho thấy trẻ bị hầu hết các loại tai nạn thương tích hay gặp ở trẻ Trong số các tai nạn
thương tích thì ngã chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt trong đó có ghi nhận 1 trường hợp tử vong Có một tỷ lệ khá cao trẻ bị tai nạn thương tích phải điều trị tại các cơ
sở y tế địa phương Bố mẹ là người chủ yếu giúp đỡ trẻ khi trẻ bị tai nạn thương tích Vai trò của y tế chưa phát huy nhiều trong việc giúp đỡ trẻ ngay khi trẻ bị tai nạn thương tích