1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT, ĐỀ XUẤT VÀ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH, QUẬN THỦ ĐỨC

91 254 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHẢO SÁT, ĐỀ XUẤT VÀ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH, QUẬN THỦ ĐỨC Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/5070693-pham-nguyen-phuong-trang.htmKHẢO SÁT, ĐỀ XUẤT VÀ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH, QUẬN THỦ ĐỨC Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/5070693-pham-nguyen-phuong-trang.htm

Trang 1

Tác giả

PHẠM NGUYỄN PHƯƠNG TRANG

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư ngành

Kỹ Thuật Môi Trường

Giáo viên hướng dẫn GVHD 1: Ks Nguyễn Thiên Di GVHD 2: Ths Vũ Thị Hồng Thủy

Tháng 7 năm 2009

Trang 2

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài cũng như trong 4 năm học tập tại giảng

đường Đại học tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, động viên từ gia đình, thầy

cô, các cơ quan ban ngành, và các bạn Tôi muốn được gửi lời cảm ơn đến:

- Các thầy cô trong Khoa Công nghệ Môi Trường, Đại học Nông Lâm

TP.HCM đã hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quí báu cho tôi trong

4 năm vừa qua;

- Cô Vũ Thị Hồng Thủy đã nhiệt tình hướng dẫn, hỗ trợ tôi trong suốt quá

trình thực hiện đề tài;

- Thầy Nguyễn Thiên Di đã hỗ trợ và đóng góp ý kiến cho tôi;

- Ban Giám hiệu, các thầy cô và các em học sinh trường Tiểu học Lương

Thế Vinh Quận Thủ Đức đã giúp đỡ tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài

- Gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ tôi

Xin chân thành cám ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 1 tháng 7 năm 2009 Sinh viên thực hiện

Phạm Nguyễn Phương Trang

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

Đề tài “Khảo sát, đề xuất và thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDMT tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Quận Thủ Đức” được thực hiện nhằm mang đến những nét mới trong hoạt động GDMT tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh, đồng thời góp phần nâng cao nhận thức và ý thức BVMT của học sinh của trường

Để đạt được những mục đích đề ra, Đề tài sẽ thực hiện các nội dung sau:

- Thu thập các tài liệu về GDMT, các dự án GDMT đã được thực hiện

- Khảo sát hiện trạng môi trường và tình hình thực hiện công tác GDMT tại các trường tiểu học trên địa bàn Quận Thủ Đức

- Thu thập, đánh giá hiện trạng cơ sở vật chất và tình hình hoạt động của trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Quận Thủ Đức

- Đề xuất các hoạt động nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDMT trường Tiểu học Lương Thế Vinh

- Triển khai các hoạt động đề xuất tại Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

- Đánh giá kết quả đạt được, rút ra kết luận và các bài học kinh nghiệm

Kết quả đạt được cho thấy các hoạt động thử nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDMT tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh đã đạt được những mục tiêu đề

ra, tạo tiền đề cho công tác GDMT được triển khai hiệu quả hơn trong thời gian sắp tới Tuy nhiên, vẫn còn một vài hạn chế cần được ghi nhận, rút kinh nghiệm để công tác GDMT được đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

TRANG TỰA i

LỜI CÁM ƠN ii

TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

Chương I MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

1.3 Nội dung nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 2

1.6 Giới hạn đề tài 2

Chương II TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 3

2.1 Khái niệm về giáo dục môi trường 3

2.1.1 Định nghĩa 3

2.1.2 Mục tiêu 3

2.1.3 Phạm vi và đối tượng 4

2.1.4 Nhiệm vụ và phương hướng GDMT 4

2.1.4.1 Nhiệm vụ 4

2.1.4.2 Phương hướng 4

2.1.5 Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động GDMT 5

2.1.5.1 Hoạt động ở trên lớp 5

2.1.5.2 Hoạt động ở ngoài lớp 5

2.2 Công tác GDMT trên thế giới và ở Việt Nam 6

2.2.1 Trên thế giới 6

2.2.2 Ở Việt Nam 7

Chương III ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 8

3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học 8

3.1.1 Đặc trưng của học sinh tiểu học 8

3.1.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học 8

3.1.2.1 Đặc điểm của các quá trình nhận thức 8

3.1.2.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học 9

3.2 Công tác giáo dục môi trường ở các trường tiểu học 9

3.2.1 Mục tiêu GDMT trong trường tiểu học 9

3.2.2 Phương thức GDMT trong trường tiểu học 10

3.2.2.1 GDMT thông qua lồng ghép nội dung vào các môn học 10

3.2.2.2 GDMT thông qua lồng ghép nội dung vào các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động tập thể 10

3.2.2.3 GDMT qua chỉ đạo thực hiện công tác phổ cập GD tiểu học đúng độ tuổi 10

3.2.2.4 GDMT qua chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia 11

3.2.2.5 GDMT thông qua xây dựng môi trường học tập bạn hữu trẻ em 11

3.2.2.6 GDMT thông qua giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em 11

Trang 5

3.3.2 Đánh giá ý thức về môi trường của học sinh tiểu học 12

Chương IV KHẢO SÁT MỨC ĐỘ NHẬN THỨC MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GDMT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH, QUẬN THỦ ĐỨC 20

4.1 Tổng quan về trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Quận Thủ Đức 20

4.1.1 Lịch sử hình thành: 20

4.1.2 Cơ cấu tổ chức 20

4.1.3 Cơ sở vật chất, hạ tầng 21

4.2 Đặc điểm học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh 22

4.2.1 Qui mô học sinh 22

4.2.2 Tình hình học tập trong 2 năm học 2007 - 2008 & 2008 - 2009 22

4.2.3 Các phong trào – hoạt động của học sinh 23

4.3 Hiện trạng môi trường và nhận thức môi trường của học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh 24

4.3.1 Hiện trạng môi trường 24

4.3.2 Công tác GDMT tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh 24

4.3.3 Mức độ nhận thức môi trường của học sinh 25

4.4 Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDMT cho học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh 28

Chương V TRIỂN KHAI THỰC NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GDMT CHO HS TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH 29

5.1 Mục đích thực nghiệm 29

5.2 Kế hoạch tổ chức thực nghiệm 29

5.3 Triển khai các nội dung thực nghiệm: 30

5.3.1 Các hoạt động giáo dục 30

5.3.1.1 Chiếu phim giáo dục môi trường 30

5.3.1.2 Dạy các chuyên đề về môi trường 32

5.3.1.3 Gắn các khẩu hiệu nhắc nhở tiết kiệm nước 35

5.3.2 Hoạt động ngoại khóa 36

5.3.2.1 Tổ chức hội thi vẽ tranh về môi trường 36

5.3.2.2 Tổ chức hội thi sản phẩm tái chế 37

5.3.2.3 Tổ chức đội tuyên truyền viên 38

5.3.2.4 Tổ chức cho học sinh tham gia ngày hội môi trường 39

5.3.2.5 Phát tờ bướm, poster về giáo dục môi trường 40

Chương VI ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GDMT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH QUẬN THỦ ĐỨC 41

6.1 Đánh giá hiệu quả thông qua phiếu khảo sát lần 2 41

6.2 Ý kiến của giáo viên về chương trình GDMT cho học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh 46

Chương VII KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 47

7.1 Kết luận 47

7.2 Kiến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 51

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GDMT Giáo dục môi trường

BVMT Bảo vệ môi trường

MT Môi trường

HS Học sinh

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Sơ đồ biểu thị mục tiêu GDMT qua từng cấp độ 4

Hình 3.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ học sinh khối 1 có hành vi tốt đối với MT 13

Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS K.2&K.3 có sự hiểu biết tốt về MT xung quanh 14

Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ học sinh khối 2&3 có hành vi tốt đối với MT 15

Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS khối 4&5 có sự hiểu biết tốt về MT xung quanh 17

Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức nhân sự của Trường Tiểu học Lương Thế Vinh 20

Hình 6.1 Biểu đồ so sánh mức độ thay đổi nhận thức về MT của HS Khối 1 42

Hình 6.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ học sinh yêu thích các hoạt động GDMT 44

Hình 6.2 Biểu đồ thể hiện mức độ tác động của các hoạt động GDMT 45

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 3.1 Thống kê tỷ lệ HS chưa có kiến thức tốt về các vấn đề MT xung quanh 14

Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ học sinh chưa có ý thức tốt về môi trường Khối 2&3 16

Bảng 3.3 Thống kê tỷ lệ học sinh chưa có kiến thức tốt các vấn đề MT Khối 4&5 17

Bảng 3.4 Thống kê tỷ lệ học sinh trả lời chưa có ý thức tốt về MT Khối 4&5 18

Bảng 4.1 Bảng thống kê số lượng công nhân viên chức của nhà trường 21

Bảng 4.2 Qui mô học sinh 22

Bảng 4.3 Kết quả học tập năm học 2007 - 2008 22

Bảng 4.4 Kết quả học tập năm học 2008 - 2009 22

Bảng 4.5 Tỷ lệ học sinh Khối 1 có ý thức tốt đối với môi trường 25

Bảng 5.1 Kế hoạch tổ chức thực hiện tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh 29

Bảng 5.2 Thống kê chỉ số nước sinh hoạt trường Tiểu học Lương Thế Vinh 36

Bảng 6.1 Kết quả so sánh mức độ thay đổi trong nhận thức MT của HS K.1 41

Bảng 6.2 Kết quả so sánh mức độ thay đổi trong nhận thức MT của HS K.2& K3 42

Bảng 6.3 Kết quả so sánh mức độ thay đổi trong nhận thức MT của HS K.4&K.5 43

Bảng 6.4 Tỷ lệ học sinh đánh giá mức độ tác động của các hoạt động GDMT 45

Trang 8

có trách nhiệm với thế hệ mai sau Do đó, bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề không chỉ của riêng các nhà khoa học hay quản lí môi trường mà là nhiệm vụ chung của mọi người, mọi quốc gia Đã có rất nhiều giải pháp bảo vệ môi trường được ban hành, trong đó giáo dục là một biện pháp rất được xem trọng

Hoạt động của hệ thống giáo dục có tác động rất lớn đến việc bảo vệ môi trường; Hơn ¼ dân số nước ta đang theo học trong nhà trường các cấp; cấp học càng thấp, số lượng càng đông Nếu tính thêm cả người lớn đang học tập dưới các hình thức khác nhau và phụ huynh học sinh thì giáo dục liên quan trực tiếp đến từng gia đình, từng người dân Nhu cầu giáo dục môi trường cho mọi tầng lớp xã hội do đó trở nên cấp bách

Học sinh tiểu học là đối tượng đông đảo nhất, là những người đang bắt đầu hình thành những nhận thức, thái độ và hành vi trong cuộc sống Đây là những chủ nhân tương lai của đất nước, những người trực tiếp bảo vệ và phát triển môi trường mai sau

Vì vậy quan tâm, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục họ cũng chính là góp phần bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sống trong tương lai

Nhà trường hướng dẫn và chuẩn bị cho con em thực hiện các vai trò xã hội của mình, cung cấp kiến thức, kĩ năng, giá trị để học sinh trở thành những thành viên có ích trong xã hội Những gì các em thu được lúc còn nhỏ sẽ là cơ sở cho cuộc sống và hành vi lúc trưởng thành Khi áp lực môi trường tăng lên thì việc cân nhắc về môi trường trong các quyết định hàng ngày sẽ trở nên quan trọng đối với thế hệ mai sau Trẻ em hôm nay là những người sẽ trở nên quan trọng đối với thế hệ mai sau, chìa khóa cho tương lai nằm trong sự giáo dục thế hệ trẻ ngày nay, trong đó tất yếu phải có GDMT

Do vậy việc GDMT cho đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học là điều hết sức cần thiết và quan trọng Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tác giả đã tiến hành

thực hiện đề tài “ Khảo sát, đề xuất và thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao hiệu

Trang 9

1.2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

Đề tài được thực hiện với mục tiêu :

- Xác định cơ sở lí luận và nội dung GDMT trong trường phổ thông Từ đó

đề xuất các phương pháp giúp GDMT trong trường tiểu học

- Làm cho học sinh có chuyển biến về ý thức, thái độ và hành vi đối với môi trường và BVMT

1.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát hiện trạng môi trường và công tác giáo dục môi trường ở các trường tiểu học trên địa bàn Quận Thủ Đức

- Thu thập, đánh giá hiện trạng cơ sở vật chất và tình hình hoạt động của Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

- Đề xuất các hoạt động nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDMT Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

- Triển khai các hoạt động đề xuất tại Trường Tiểu học Lương Thế Vinh, đánh giá kết quả đạt được và rút ra bài học kinh nghiệm

1.4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đề tài được thực hiện trong khuôn khổ các hoạt động đề xuất thực hiện cho Trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Quận Thủ Đức

- Đối tượng hướng đến của đề tài là các em học sinh tiểu học của Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

™ Phương pháp khảo sát, thu thập dữ liệu:

- Thu thập dữ liệu: thu thập các tài liệu về GDMT và GDMT cho học sinh tiểu học

- Khảo sát: tiến hành tham quan, khảo sát sơ bộ hiện trạng môi trường tại các trường tiểu học

- Điều tra bằng phương pháp phát phiếu khảo sát cho các đối tượng học sinh và giáo viên

™ Phân tích, xử lý dữ liệu: từ các số liệu thu thập được, tiến hành phân tích, đánh giá và đề xuất các hoạt động

™ Triền khai thực nghiệm các hoạt động

™ Đánh giá, dự báo: từ kết quả thu được của quá trình xử lý dữ liệu, tiến hành đánh giá, dự báo

Trang 10

Chương II TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG

2.1 KHÁI NIỆM VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG

2.1.1 Định nghĩa

Định nghĩa được chấp nhận một cách phổ biến nhất do hội nghị Quốc tế về môi trường của Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Tbilisi năm 1977 đưa ra, theo đó GDMT có mục đích: “Làm cho các cá nhân và các cộng đồng hiểu được rằng bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều tác nhân sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức

về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường

Tuyên ngôn Tbilisi (UNESCO – UNEP 1978) cho rằng: GDMT không phải là một môn riêng biệt đưa thêm vào chương trình giáo dục, cũng không phải là một chủ

đề nghiên cứu, mà là một đường hướng hội nhập vào chương trình đó GDMT là kết quả của một sự định hướng lại và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn hóa nghệ thuật… ) và nó cung cấp một nhận thức toàn diện về môi trường

2.1.2 Mục tiêu

- Giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết, những khái niệm cơ bản

về môi trường và bảo vệ môi trường (nhận thức); những tình cảm, mối quan tâm trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường (thái độ, hành vi); những kỹ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên khác cùng tham gia, tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề môi trường và có những hành động thích hợp giải quyết vấn đề (kỹ năng hành động)

- GDMT phải chú ý đến cả 3 lĩnh vực: lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực tình cảm, ý thức và kỹ năng hành động Tình cảm là một trong những yếu tố quyết định nhận thức, xây dựng động cơ và kỹ năng tham gia cải thiện môi trường

- GDMT phải làm từ khi trẻ mới lớn để tạo những hành vi tốt đẹp và trách nhiệm đối với môi trường, từ lứa tuổi mẫu giáo đến khi trưởng thành, trong cả hệ thống giáo dục phổ thông cũng như sự tham gia của gia đình và xã hội Tất cả các chương trình GDMT cần được phát triển dựa trên mối quan hệ giữa các đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và khả năng nhận thức về môi trường xung quanh

- GDMT trong nhà trường phổ thông nhằm trang bị cho học sinh ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của Trái đất, kỹ năng đánh giá vai trò và vẻ đẹp của thiên nhiên và giá trị nhân cách sâu sắc trên nền tảng của đạo đức môi trường

Trang 11

Hình 2.1 Sơ đồ biểu thị mục tiêu GDMT qua từng cấp độ 2.1.3 Phạm vi và đối tượng

Đối tượng chính của GDMT trong giai đoạn đầu là học sinh, sinh viên Tác động đến học sinh, sinh viên không những có kết quả trước mắt mà còn đạt được những lợi ích lâu dài và có tác động dây chuyền đến các thành phần khác trong xã hội Vì:

- Học sinh, sinh viên còn đang trong quá trình phát triển các thái độ nhận thức

và hành vi

- Học sinh, sinh viên là thành viên của nhóm dân cư đông nhất

- Tương lai là của họ, sự thành đạt trong tương lai của họ phụ thuộc vào phát triển bền vững hiện nay nhiều hơn bất kì nhóm nào khác

- Thông qua họ có thể tác động đến một số thành phần khác trong xã hội nhờ các hoạt động phong trào, tính năng động của thanh niên

Tác động đến học sinh, sinh viên hiệu quả nhất là qua hệ thống trường học Trường học bảo đảm tác động thống nhất, và chương trình dài hạn này bảo đảm rằng các quyết định, hành động có ảnh hưởng đến môi trường được hình thành một cách có

- Làm cho học sinh nhận rõ đặc điểm của môi trường tự nhiên, vai trò của môi trường đối với đời sống và sự phát triển của xã hội loài người, những tác động của con người làm cho môi trường biến đổi xấu đi và những hậu quả của nó

- Từ cơ sở nhận thức đó, giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, vai trò của môi trường tương đối với đời sống trong lành, sạch đẹp cho mình, cho mọi người

và chống lại những hành vi phá hoại hoặc gây ô nhiễm môi trường

- Trang bị cho học sinh một số phương pháp và kỹ năng BVMT để họ có thể thực hiện các nhiệm vụ BVMT ở địa phương

- Nhận thức

- Thái độ

- Ứng xử

Khả năng hành động hiệu quả về môi trường:

- Kiến thức

- Kỹ năng

- Dự báo các tác động

- Tổ chức hành động

Trang 12

Hiện nay, việc GDMT tuy đã có chương trình giảng dạy ở các trường phổ thông, song nó không được cấu tạo thành môn riêng mà tổng hợp vào các môn học, phương hướng GDMT ở trong các trường phổ thông hiện nay là:

- Thông qua kiến thức các môn học để lồng ghép hoặc liên hệ các kiến thức GDMT nhằm trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi trường và các biện pháp BVMT tương đối đầy đủ

- Việc GDMT được triển khai thông qua toàn bộ hệ thống các trường học chính qui và tư thục, từ các lớp mẫu giáo cho đến các lớp phổ thông, cao đẳng và đại học

- Việc GDMT phải chú ý khai thác tình hình thực tế của môi trường địa phương

- Cuối cùng, nội dung và phương pháp GDMT phải phù hợp với mục tiêu đào tạo từng cấp học và đặc điểm tâm lí nhận thức của học sinh theo từng lứa tuổi khác nhau

2.1.5 Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động GDMT

2.1.5.1 Hoạt động ở trên lớp

Thông qua môn học trong chính khóa có các biện pháp sau:

- Phân tích những vấn đề môi trường ở trong môn học

- Khai thác thực trạng môi trường đất, nước làm nguyên liệu để xây dựng bài học GDMT

- Xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học, nhưng gắn liền với thực tế địa phương

- Sử dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được “vật chất hóa” như

là điểm tựa, cơ sở để học sinh phân tích, tìm tòi, khám phá các kiến thức cần thiết về môi trường

- Sử dụng các tài liệu tham khảo (các bài báo, các tư liệu, số liệu mới điều tra, công bố, các ảnh chụp mới nhất….) để làm rõ thêm các vấn đề môi trường

- Thực hiện các tiết học có nội dung gần gũi với môi trường như ở ngay chính sân trường, vườn trường, đồng ruộng, điểm dân cư tập trung…

2.1.5.2 Hoạt động ở ngoài lớp

- Báo cáo các chuyên đề về bảo vệ môi trường do các nhà khoa học, các kỹ thuật viên hay giáo viên về môi trường trình bày

- Thực hiện tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương

- Tham gia tuyên truyền, vận động thực hiện bảo vệ môi trường (chiến dịch truyền thông)

- Tham gia các chiến dịch xanh trong nhà trường: thực hiện việc trồng cây, quản lí và phân loại rác thải

- Tham quan, cắm trại, trò chơi

Trang 13

- Tổ chức các câu lạc bộ, thành lập các nhóm hoạt động môi trường

- Tổ chức các cuộc thi kể chuyện, ngâm thơ, hát, làm báo tường có nội dung GDMT, thi làm các bài tìm hiểu thiên nhiên, môi trường

- Tổ chức thi tái chế, tái sử dụng

- Tổ chức triển lãm, biểu diễn văn nghệ

- Xây dựng dự án và thực hiện

- Hoạt động phối hợp với gia đình, cộng đồng và Hội cha mẹ học sinh

2.2 CÔNG TÁC GDMT TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

2.2.1 Trên thế giới

GDMT đã được quan tâm và triển khai rộng rãi trên bình diện thế giới

a Châu Âu:

Vào tháng 5 năm 1958, Hội đồng cộng đồng châu Âu đã họp và thống nhất rằng

“Cần phải tiến hành từng bước cụ thể thông qua biện pháp toàn diện tăng cường GDMT trên khắp cộng đồng”

Nghị quyết chỉ ra rằng các quốc gia cộng đồng sẽ cố gắng thực hiện biện pháp nhất định, bao gồm đưa GDMT vào tất cả các ban ngành giáo dục, cân nhắc tới mục đích cơ bản của GDMT khi soạn thảo chương trình, áp dụng các biện pháp thích hợp

để nâng cao kiến thức về môi trường trong bước đào tạo ban đầu và đào tạo tại chức cho giáo viên… (Báo cáo chuyên đề của Hội đồng Châu Âu, 6 - 7/1988)

b Ở nhiều nước trên thế giới, việc GDMT được thực hiện bằng sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường và các tổ chức xã hội Trong nhà trường, GDMT được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường của đất nước

- Ba Lan: Các kiến thức về môi trường, bảo vệ môi trường được học từ lớp 1 đến lớp 5 trong các môn chủ yếu: Địa, Sinh, Văn, Mỹ thuật

- Hoa kỳ: Liên đoàn quốc gia Bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF) đã giảng dạy

ở các trường 33 bài học về môi trường có thể áp dụng vào thực tế

- Pháp: “ Chương trình hành động giáo dục” được đưa vào các trường tiểu học

và trung học

c Ở Châu Á và Đông Nam Á

Hiện nay, cũng như các nước châu Á khác, các nước Đông Nam Á đang đứng trước một khó khăn về GDMT: sự thiếu hụt chuyên gia có đủ trình độ để giảng dạy về môi trường học, tiếp cận nguồn thông tin, tài liệu thích hợp có định hướng chiến lược Tuy vậy, mỗi nước vẫn có những thành tựu đáng kể:

- Ở Singapore, đất nước được coi như bảo vệ môi trường tốt nhất Đông Nam

Á Có được vị trí hàng đầu ấy là nhờ học đã biết đưa GDMT đi song song với xử phạt

“ Giáo dục có lẽ đã đi trước nửa bước còn xử phạt thì thật nặng và nghiêm minh”, một giáo sư đã nói vậy

- Trung Quốc: Giáo dục môi trường được đưa vào các cấp học từ phổ thông đến đại học Ở phổ thông, nhất là bậc tiểu học, giáo dục môi trường được khai thác ở

Trang 14

hầu hết các môn học Ở bậc Đại học, các trường đại học có hẳn chương trình và môn học riêng như Luật Môi trường, Kinh tế môi trường, Kỹ thuật môi trường, Quản lý môi trường…

- Nhật Bản: Ngay từ tuổi mẫu giáo, học sinh đã được giáo dục kỹ về bảo vệ môi trường như giữ gìn sạch sẽ, tay chân, quần áo, bỏ rác, giấy vụn đúng với quy định Bỏ giấy vào thùng rác riêng để tái chế, chai lọ cũng bỏ vào thùng riêng Còn ở bậc phổ thông, ngay từ tiểu học, chương trình giáo dục môi trường được đưa vào cả chính khoá lẫn ngoại khoá Nhật Bản coi trọng thực hành – học sinh được thực hành nhiều Các em nhỏ được học và thực hành trồng cây, những em lớn được tập đo độ ô nhiễm không khí, nước…

2.2.2 Ở Việt Nam

Ở nước ta việc GDMT mới được bắt đầu từ những năm cuối của thập niên 70, còn việc GDMT trong nhà trường phổ thông mới được thực hiện vào thập niên 80 cùng với kế hoạch cải cách giáo dục

Đúng ra hành động có ý nghĩa biểu trưng rất lớn ở nước ta về GDMT là ngay từ

1962, Bác Hồ đã khai sinh “ Tết trồng cây” và cho đến nay, phong trào này ngày càng phát triển mạnh mẽ Năm 1991, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã có chương trình trồng cây

hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo và bảo vệ nôi trường (1991 – 1995)

Thông qua việc thay sách giáo khoa, các tài liệu chuyên ban và thí điểm, tác giả sách giáo khoa đã chú trọng đến việc đưa nội dung GDMT vào sách Đợt thay sách bắt đầu từ 2002 đã tích hợp kiến thức môi trường vào tất cả các môn học

Trong “ Kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000” GDMT được ghi nhận như một bộ phận cấu thành

Và đến ngày 7/8/2001 Thủ tướng Chính Phủ đã phê duyệt đề án “ Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”

Trong nhiều năm qua, chương trình GDMT trong trường học cũng thu hút được

sự quan tâm và hỗ trợ của nhiều tổ chức trong và ngoài nước:

- Tại Quảng Trị, năm 2003 Quỹ Môi trường Sida (SEF) đã thực hiện dự án mang mã số SEF 16/03 – tại trường tiểu học Kim Đồng Nội dung của dự án hướng dẫn các em giữ vệ sinh trường lớp, giữ gìn bảo vệ môi trường cho gia đình và xã hội

- Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF/SGP) đã tài trợ cho Hội GDMT thành phố Hải Dương triển khai dự án về việc “Xây dựng Đảo Cò Chi Lăng thành một trung tâm GDMT”

Và trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm và thành quả đã đạt được trong lĩnh vực GDMT, đề tài: “ Khảo sát, đề xuất và thực hiện các hoạt động nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDMT trong trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Quận Thủ Đức” được thực hiện với mong muốn mang đến những nét mới trong các hoạt động GDMT

Trang 15

Chương III ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Ở CÁC

TRƯỜNG TIỂU HỌC

3.1 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC

3.1.1 Đặc trưng của học sinh tiểu học

Cấp Tiểu học có 5 lớp từ lớp 1 đến lớp 5 dành cho trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Nhìn tổng thể, học sinh tiểu học có ba đặc trưng sau:

- Là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển: Là thực thể hồn nhiên

nên trẻ em ngây thơ, trong sáng Bản tính của trẻ em luôn được thể hiện ra bên ngoài

không hề che giấu, không hề “đóng kịch”

- Là nhân cách đang hình thành: Trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học là thực

thể đang lớn lên, đang hoàn thiện về cơ thể (sinh lí) và đang phát triển về tâm hồn

- Có hoạt động học là hoạt động chủ đạo

Trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi

là hoạt động chủ đạo sang hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Hoạt động học tập

có vai trò và ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học

Học sinh tiểu học có thể phân ra theo hai cấp độ phát triển:

– Cấp độ I: gồm các lớp 1, lớp 2 và lớp 3, trong cấp độ này thì lớp 1 là lớp đặc biệt vì là đầu vào của bậc Tiểu học

– Cấp độ II gồm lớp 4 và lớp 5 Lớp 5 được coi là đầu ra của cấp Tiểu học

3.1.2 Đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học

3.1.2.1 Đặc điểm của các quá trình nhận thức

™ Tri giác

Đối với học sinh tiểu học, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật, như cầm nắm, sờ mó vào sự vật ấy Vì thế, cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực đối với các em

Học sinh tiểu học thường chỉ tập trung chú ý liên tục trong khoảng từ 30 đến 35 phút

™ Trí nhớ

Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan, hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ, lôgíc Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời

™ Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh tiểu học Cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua sự mô tả bằng lời nói, cử chỉ, điệu bộ của mình, điều này cũng được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học

Trang 16

™ Tư duy

Đối với học sinh tiểu học, tri giác phát triển sớm hơn và tri giác trước hết là nhận biết những dấu hiệu bên ngoài, mà những dấu hiệu này chưa chắc đã là bản chất của sự vật và hiện tượng đang được các em xem xét Đó là nguyên nhân của những khó khăn, những khiếm khuyết của học sinh tiểu học trong quá trình lĩnh hội khái niệm

3.1.2.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học

™ Tính cách

Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như tính hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha Hồn nhiên nên trẻ em rất cả tin, tin vào thầy cô, tin vào sách, tin vào người lớn và tin vào khả năng của bản thân

™ Nhu cầu nhận thức

Trở thành học sinh lớp một, nhu cầu nhận thức của trẻ em phát triển và thể hiện

rõ nét, đặc biệt là nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, khát vọng hiểu biết mọi thứ có liên quan Trước hết là nhu cầu tìm hiểu những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, tiếp đến, lên lớp trên, là nhu cầu gắn liền với sự phát hiện nguyên nhân, các mối quan hệ … Nếu học sinh lớp 1 có nhu cầu tìm hiểu “cái này là cái gì” thì học sinh lớp 4, lớp

5 lại có nhu cầu trả lời được các câu hỏi thuộc loại “tại sao”, “như thế nào” nhu cầu tham quan, đọc sách cũng tăng lên với sự phát triển của kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc

™ Tình cảm

Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lí, trong nhân cách mỗi người Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Tình cảm tích cực sẽ kích thích trẻ em nhận thức

và thúc đẩy trẻ em hoạt động

Như vậy, với tư cách là hoạt động chủ đạo, hoạt động học làm cho học sinh tiểu học phát triển mạnh về trí tuệ, đồng thời hoạt động học cùng với các hoạt động khác cũng hình thành và phát triển tình cảm và những nét tâm lí nhiều mặt, những phẩm chất tâm lí của nhân cách đang hình thành Giáo dục toàn diện ở Tiểu học là đảm bảo điều kiện để học sinh tiểu học được học, được thực hiện các hoạt động để có sự phát triển hài hoà tối ưu có thể được trong điều kiện cụ thể

3.2 CÔNG TÁC GDMT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC

Theo số liệu thống kê đầu năm 2008 cả nước hiện nay có gần 7 triệu học sinh tiểu học, khoảng 323.506 giáo viên tiểu học với gần 15.028 trường tiểu học

Tiểu học là cấp học nền tảng, là cơ sở ban đầu rất quan trọng trong việc đào tạo các em thành các công dân tốt cho đất nước

3.2.1 Mục tiêu GDMT trong trường tiểu học

™ Làm cho học sinh bước đầu biết và hiểu:

- Các thành phần môi trường và quan hệ giữa chúng: đất, nước, không khí,

Trang 17

- Ô nhiễm môi trường

- Biện pháp BVMT xung quanh (nhà ở, trường, lớp học, thôn xóm…)

™ Làm cho học sinh bước đầu có khả năng:

- Tham gia các hoạt động BVMT phù hợp với lứa tuổi (trồng, chăm sóc, bảo vệ cây; làm cho môi trường xanh, sạch, đẹp…)

- Sống hòa hợp, gần gũi, thân thiện với thiên nhiên

- Sống tiết kiệm, ngăn nắp, vệ sinh, chia sẻ, hợp tác…

- Yêu quí thiên nhiên, gia đình, trường lớp, quê hương, đất nước

- Quan tâm đến môi trường xung quanh

3.2.2 Phương thức GDMT trong trường tiểu học

GDMT trong trường tiểu học được tiến hành với nhiều phương thức khác nhau:

3.2.2.1 GDMT thông qua lồng ghép nội dung vào các môn học

Từ năm 2003, việc nghiên cứu lồng ghép nội dung GDMT vào các môn học ở bậc tiểu học đã được tiến hành trong khuôn khổ Dự án VIE/98/018 Dự án này đã xây dựng được một số thiết kế mẫu modul GDMT khai thác từ SGK tiểu học

Nội dung GDMT được thể hiện ở tất cả các môn học: Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, Tự nhiên và Xã hội, Nghệ thuật, Thể dục và gắn vào từng bài cụ thể:

Chẳng hạn:

+ Chương trình môn Đạo đức ở tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5 đều phản ánh các

chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của HS với gia

đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên: Bài 14 (lớp 1); bài 7, 8 14 (lớp

2); bài 6, 13, 14 (lớp 3); bài 8, 9, 14 (lớp 4) là những bài có liên quan đến GDMT

3.2.2.2 GDMT thông qua lồng ghép nội dung vào các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động tập thể

Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động tập thể, nội dung GDMT cho HS hết sức đa dạng và hiệu quả Thông qua các tiết sinh hoạt dưới

cờ đầu tuần, các buổi sinh hoạt lớp, các hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh và Nhi đồng Hồ Chí Minh, các hội thi hiểu biết về GDMT được tổ chức hết sức đa dạng với các nội dung và hình thức rất phong phú và phù hợp với lứa tuổi HS tiểu học

3.2.2.3 GDMT qua chỉ đạo thực hiện công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi

Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là một nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa

to lớn trong việc duy trì, củng cố và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở bậc tiểu học

Một tiêu chuẩn của phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi là tiêu chuẩn về cơ

sở vật chất Đồng thời, các trường tiểu học phải thực hiện quy định về vệ sinh trường tiểu học theo Quyết định số 2165/GD - ĐT của Bộ GD - ĐT; giáo dục HS biết quan tâm, chăm lo, gìn giữ, bảo vệ cơ sở vật chất của nhà trường, xây dựng môi trường nhà trường trong sạch, lành mạnh và an toàn

Trang 18

3.2.2.4 GDMT qua chỉ đạo xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia

Xây dựng và phát triển hệ thống trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia là một chủ trương lớn của ngành HS đến trường không những được học tập, mà còn được tham gia các hoạt động vui chơi trong một môi trường sư phạm lành mạnh, một không gian xanh, sạch, đẹp, an toàn và đủ các điều kiện để phát triển toàn diện

Trong các các quy định về khuôn viên nhà trường đạt chuẩn Quốc gia có quy định:

Trường có hệ thống nhà chức năng đảm bảo HS được luyện tập, phát triển các khả năng chuyên biệt; trường lớp đẹp, hài hoà trong môi trường phát triển bền vững là điều kiện tối ưu để giáo dục HS ý thức luôn quan tâm, chăm sóc trường lớp, bảo vệ của công Trên cơ sở đó, hình thành và phát triển những chuẩn mực hành vi ứng xử thân thiện với môi trường

3.2.2.5 GDMT thông qua xây dựng môi trường học tập bạn hữu trẻ em

Môi trường học tập bạn hữu trẻ em là môi trường trong đó HS được học tập, hoạt động và vui chơi một cách dân chủ, cởi mở, an toàn, sức khoẻ, hoà nhập, hỗ trợ

và giáo dục hiệu quả

Qua công tác xây dựng môi trường an toàn, vệ sinh trong trường tiểu học bạn hữu trẻ em, có thể giáo dục cho HS thái độ thân thiện và ý thức trách nhiệm đối với việc giữ gìn và bảo vệ môi trường

3.2.2.6 GDMT thông qua giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em

Qua giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em, giúp HS biết và hiểu các quyền của các em, đồng thời giáo dục các em phải có trách nhiệm và bổn phận đối với cộng đồng, xã hội Trong đó, có trách nhiệm và bổn phận tham gia chăm sóc, bảo vệ môi trường trong và ngoài nhà trường

Trên đây là một số nội dung cơ bản nhất có liên quan tới việc lồng ghép GDMT trong nhà trường tiểu học Trên thực tế, việc lồng ghép GDMT là một nội dung giáo dục luôn được quan tâm và xuyên suốt trong các nhiệm vụ giáo dục của nhà trường Làm tốt công tác GDMT là một cơ sở quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của bậc tiểu học; đồng thời, là một nội dung thúc đẩy sự đa dạng hoá các loại hình hoạt động giáo dục, giảm sức ép việc học tập trên lớp cho HS

3.3 MỨC ĐỘ NHẬN THỨC MÔI TRƯỜNG CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THỦ ĐỨC

3.3.1 Phiếu khảo sát mức độ nhận thức môi trường cho học sinh

Từ hiện trạng công tác GDMT cho học sinh tiểu học nói chung ở Việt Nam và để

có cái nhìn cụ thể hơn về nhận thức môi trường của học sinh tiểu học trên địa bàn quận Thủ Đức từ đó có thể đề xuất hướng GDMT cho đối tượng này một cách khách quan hơn, đề tài cũng đã tiến hành khảo sát 4 trường tiểu học trên địa bàn quận Thủ Đức: Trường Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Văn Triết, Từ Đức, Lương Thế Vinh với số

Trang 19

— Nội dung phiếu khảo sát như sau:

Trên cơ sở xem xét đặc điểm tâm sinh lý của học sinh cấp tiểu học, sau khi được tiếp xúc với các em học sinh lớp 1,2,3,4,5 cũng như tìm hiểu công tác giáo dục trong nhà trường cùng một số tài liệu khác, các câu hỏi khảo sát được soạn thảo cho từng cấp lớp 1, lớp 2&3, lớp 4&5 Chi tiết bảng câu hỏi khảo sát được trình bày ở Phụ lục 1 Vì đối tượng là học sinh tiểu học, các em mới bắt đầu hình thành những khái niệm, nhận thức cũng những thói quen sinh hoạt ban đầu nên các câu hỏi cũng rất đơn giản, dễ hiểu, số lượng câu hỏi ít, nội dung gần gũi với các em Nội dung của các câu hỏi khảo sát tập trung vào 3 vấn đề: 2- 3 câu hỏi khảo sát kiến thức môi trường cơ bản, 3-4 câu khảo sát thói quen sinh hoạt phản ánh ý thức về môi trường, 1-2 câu khảo sát nguyện vọng, sở thích của các em đối với hoạt động môi trường Cấu trúc câu hỏi tùy vào từng cấp độ như sau:

™ Khối lớp 1: Đối với các em học sinh lớp 1, đây là lứa tuổi mới bắt đầu hình thành những khái niệm về cuộc sống xung quanh.Vì vậy 6 câu hỏi chỉ khảo sát những thói quen gắn với sinh hoạt hằng ngày của các em như: bỏ rác, tắt đèn, chăm sóc cây xanh, dọn dẹp vệ sinh…, mức độ nhắc nhở của phụ huynh đến việc bắt đầu hình thành

ý thức cho các em, sở thích của các em đối với các hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên quan tới môi trường

™ Khối lớp 2&3: các em bắt đầu có những nhận thức mới , thích tìm hiểu những sự vật, hiện tượng mới Có 11 câu hỏi khảo sát với 3 phần như sau: khảo sát những kiến thức liên quan đến môi trường rất cơ bản gần gũi với các em như: tiết kiệm nước, trồng nhiều cây xanh… ;thói quen sinh hoạt hằng ngày của các em như: bỏ rác, tiết kiệm điện, nước Những câu hỏi này sẽ phản ánh mức độ GDMT và nhận thức của học sinh trong nhà trường, ở trong gia đình & xã hội Đồng thời cũng khảo sát tỉ lệ học sinh muốn tham gia vào những hoạt động môi trường mà các em yêu thích và có thể đề xuất thêm những hoạt động để có biện pháp tiếp cận với các em trong công tác GDMT

™ Khối lớp 4&5: Các em đã có những khái niệm về môi trường và bảo vệ môi trường, khả năng tiếp thu kiến thức tương đối tốt so với lớp 1,2,3 Số lượng câu hỏi khảo sát là 11 câu với những nội dung sau: Khảo sát những kiến thức môi trường căn bản như: nilong có dễ phân hủy không, rác tái chế, ảnh hưởng của rác thải…; thói quen sinh hoạt của các em như: bỏ rác vào thùng, tiết kiệm điện nước Qua những câu hỏi này sẽ hiểu thêm được mức độ nhận thức, quan tâm, trách nhiệm về những vấn đề môi trường xung quanh của các em Câu hỏi mở số 11 phản ánh nguyện vọng của học sinh đối với môi trường sống của bản thân và gia đình, điều này giúp hiểu rõ hơn cách nhìn của các em về môi trường sống hiện nay và tương lai

3.3.2 Đánh giá ý thức về môi trường của học sinh tiểu học

Sau khi tổng kết phiếu khảo sát, kết quả thu được và từng khối lớp của 4 trường như sau:

Trang 20

™ Khối 1:

Qua điều tra nhận thức về những hoạt động hằng ngày của học sinh khối 1, đa phần ở lứa tuổi này các em cũng đã được giáo dục ít nhiều về những việc làm đúng, các em đã có những thói quen sinh hoạt khá tốt ở gia đình và trường học Tỷ lệ học sinh có những thói quen tốt được thể hiện ở biểu đồ sau:

Tắt đèn khi ra khỏi phòng

Thích tưới cây Khóa vòi nước sau khi

sử dụng

Súc miệng bằng ca nhỏ

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỶ LỆ HỌC SINH KHỐI 1 CÓ HÀNH VI TỐT

ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ học sinh khối 1 có hành vi tốt đối với MT

Qua biểu đồ trên ta thấy tỉ lệ học sinh khối 1 có những hành vi, thói quen tốt như:

bỏ rác, tiết kiệm điện, nước… khá cao(từ 53% - 77%) Đây là độ tuổi mà mọi hoạt động chịu sự tác động, hướng dẫn của người lớn, tuy nhiên tỉ lệ học sinh được phụ huynh giáo dục, nhắc nhở chưa thật nhiều chỉ có 50 – 64% phụ huynh nhắc nhở các

• Có đến 31% học sinh không quan tâm đến vấn đề tiết kiệm điện

• 21% học sinh không yêu thích các công việc chăm sóc môi trường xung quanh mình như tưới cây

• 22% học sinh có thói quen bỏ hộp sữa xuống bất cứ đâu sau khi uống xong

• 23% học sinh không được gia đình quan tâm nhắc nhở phải có thói quen đúng

về BVMT trong sinh hoạt hằng ngày

Nhìn chung các em học sinh ở lứa tuổi lớp 1 là những người bắt đầu có những khái niệm hình thành về những việc làm đúng, chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi sự chỉ dạy của người lớn đặc biệt là gia đình và trường học Các em rất biết vâng lời do đó thầy

cô và ba mẹ là những người trực tiếp hình thành ý thức cho các em Đối với học sinh lớp 1 tỉ lệ học sinh 20 – 35% chưa có những hành vi đúng đắn đây là một tỉ lệ khá cao

do nhận thức của các em còn rất mới nên việc giáo dục hình thành một thói quen tốt cho học sinh lứa tuổi này cần được đẩy mạnh hơn nữa để hình thành nếp sống tốt cho

Trang 21

™ Khối lớp 2 & lớp 3:

— Kết quả khảo sát sự hiểu biết của học sinh về môi trường xung quanh: Tỷ

lệ học sinh khối 2&3 trả lời đúng những câu hỏi khảo sát kiến thức môi trường cơ bản được thể hiện ở biểu đồ sau:

Biều đồ 3.2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS K.2&K.3 có sự hiểu biết tốt về MT

xung quanh Trong quá trình học tập, học sinh cũng đã được tiếp xúc với các bài học có liên quan đến môi trường nên bước đầu đã có những kiến thức về môi trường ở một mức

độ nào đó, tỉ lệ học sinh trả lời đúng các câu hỏi khảo sát tương đối cao (40 – 80%)

Tỷ lệ học sinh lớp 3 có kiến thức nhiều hơn khối lớp 2 là không nhiều (khoảng 5%) Tuy nhiên vẫn còn một số đông học sinh chưa nắm rõ các vấn đề môi trường khá gần gũi với các em như sau:

Bảng 3.1 Thống kê tỷ lệ HS chưa có kiến thức tốt về các vấn đề MT xung quanh STT Câu hỏi khảo sát kiến

thức MT

Tỷ lệ HS K.2 chưa có kiến thức tốt về MT

Tỷ lệ HS K.3 chưa có kiến thức tốt về MT

• 5% HS không biết (23% HS )

4 Cần trồng nhiều cây xanh

về môi trường khá tốt do những vấn đề này khá quen thuộc với các em từ trong học đường(lồng ghép trong SGK) đến các phương tiện thông tin đại chúng vẫn có khá

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỶ LỆ HỌC SINH K2&K3 CÓ SỰ HIỂU BIẾT TỐT VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH

3pp xử lí rác thải

Ích lợi của tiết kiệm nước

Ích lợi của trồng cây xanh

Khối 2 Khối 3

Trang 22

nhiều trường hợp các em vẫn chưa có sự hiểu biết, quan tâm đến các vấn đề môi trường xung quanh mình như cách xử lí rác, trồng nhiều cây xanh…

— Kết quả khảo sát về ý thức của học sinh đối với môi trường sống (câu 5-8): Khi được hỏi về những thói quen sinh hoạt hằng ngày, kết quả thu được từ các

em học sinh của khối lớp 2 -3 cho thấy rằng các em đã được giáo dục, nhắc nhở và có thái độ khá tốt trong những hành động của mình đối với môi trường như sau:

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỶ LỆ HỌC SINH KHỐI 2&3 CÓ NHỮNG

HÀNH VI TỐT ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

Khóa vòi nước sau khi sử dụng

Đọc và thực hiện theo các bảng nhắc nhở

Khối 2 Khối 3

Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ học sinh khối 2&3 có hành vi tốt đối với MT

Đa số các em học sinh đều có ý thức trong việc: phải bỏ rác vào thùng, khóa vòi nước sau sử dụng (với tỉ lệ từ 30-83%) Học sinh lớp 3 do được tiếp xúc nhiều và có những kiến thức về môi trường tương đối nên chiếm tỉ lệ cao hơn trong việc thực hiện các thói quen tốt cho môi trường

66% - 70% các em cũng đã nhận định được vấn đề “tại sao các bạn học sinh không

bỏ rác vào thùng” là do các bạn HS quên là phải có ý thức bỏ rác vào thùng Điều này thể hiện rằng các em bắt đầu cũng có những nhận định chung về ý thức BVMT của bản thân và những người xung quanh

Ngược lại tỷ lệ học sinh chưa có thái độ và hành động đúng được thể hiện ở bảng sau:

Trang 23

Bảng 3.2 Thống kê tỷ lệ học sinh chưa có ý thức tốt về môi trường Khối 2&3

STT Câu hỏi khảo sát ý thức môi

trường của học sinh

• Để nước chảy trong khi đánh răng

• Bỏ rác ra ngoài khi thùng rác đầy

4 Không biết tại sao các bạn học sinh

lại không bỏ rác vào thùng

13% 19%

Qua đây có thể thấy vẫn còn một tỉ lệ học sinh tuy không nhiều vẫn chưa có

thái độ và hành động đúng trong việc có ý thức trong các vấn đề môi trường như việc

phải tiết kiệm điện, nước, bỏ rác đúng nơi qui định….Một số phụ huynh cũng chưa có

thái độ tích cực giáo dục các em có thói quen tốt chiếm tỉ lệ 18 -19% Nhận thức của

các em học sinh khối 3 tuy có khá hơn khối 2 nhưng cũng có sự chênh lệch không

nhiều (1 – 6%)

Nhìn chung các em học sinh khối lớp 2&3 có những kiến thức cơ bản về môi

trường cũng như ý thức, thói quen sinh họat tương đối tốt nhưng không tòan diện ở

một khía cạnh nhất định Tuy các em có biết được vấn đề qua công tác giáo dục của

nhà trường và qua các phương tiện thông tin đại chúng nhưng chưa thực sự đầy đủ

Bên cạnh đó có một tỷ lệ học sinh tương đối đông (gần 20%) là chưa nắm bắt được các

vấn đề môi trường xung quanh, đồng thời có những thói quen tiêu cực gây ảnh hưởng

đến môi trường Đây là những lứa tuổi rất dễ chịu sự tác động của người lớn, tuy nhiên

mức độ quan tâm của phụ huynh chưa thực sự cao để giáo dục các em có những thói

quen tốt

™ Khối lớp 4 & lớp 5:

— Kết quả khảo sát các kiến thức cơ bản về môi trường xung quanh các em:

(từ câu 1- câu 4 trong phiếu khảo sát):

Học sinh lớp 4 & 5 là lứa tuổi cao nhất của học sinh tiểu học Phần lớn các em

đã hình thành những khái niệm, thói quen trong cuộc sống cũng như đã có một kiến

thức nhất định về tri thức và cả những sự việc môi trường sống xung quanh các em

Kết quả khảo sát về kiến thức môi trường cơ bản thu được như sau:

Trang 24

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TỶ LỆ HỌC SINH KHỐI 4&5 CÓ SỰ HIỂU BIẾT TỐT

VỀ CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CƠ BẢN

Biều đồ 3.4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ HS khối 4&5 có sự hiểu biết tốt về MT

xung quanh

Còn lại là số học sinh chưa có những kiến thức tốt về các vấn đề môi trường xung

quanh được thể hiện cụ thể ở bảng sau:

Bảng 3.3 Thống kê tỷ lệ học sinh chưa có kiến thức tốt các vấn đề MT Khối 4&5

STT Câu hỏi khảo sát kiến thức

môi trường

Tỷ lệ HS K.4 chưa

có kiến thức MT tốt

Tỷ lệ HS K.5chưa có kiến thức MT tốt

1 • Bao nilong dễ phân hủy

Tỷ lệ học sinh khối 4&5 chưa có những hiểu biết đúng về môi trường khá cao(đa

số trên 20%) Tuy là độ tuổi đã có một lượng kiến thức nhất định về môi trường cũng

như là lứa tuổi không ngừng học hỏi, tìm tòi, thắc mắc những vấn đề trong cuộc sống

nhưng cũng còn nhiều học sinh chưa quan tâm đến những vấn đề môi trường xung

quanh, gần gũi với bản thân và gia đình các em

— Kết quả khảo sát về ý thức của học sinh đối với môi trường sống(câu 5-8):

Ý thức về các vấn đề môi trường của các em học sinh thu được từ kết quả khảo sát

như sau:

Trang 25

• Các em lớp 4&5đã nhận thức được những việc làm sai trái gây hủy họai môi trường với tỷ lệ khá cao như: đốt rừng làm nương rẫy(76% - 86%), săn bắt thú rừng(77% - 84%), vứt rác xuống ao hồ(76% - 89%)

• 97% HS lớp 4 có thói quen đeo khẩu trang và 77% trong số đó giải thích được lí do của việc làm này Còn đối với học sinh lớp 5 tỉ lệ này là 97% đeo khẩu trang và 77%giải thích đúng

• Vấn đề nhắc nhở, giáo dục của phụ huynh cũng được tăng cường hơn với những việc làm: bỏ rác đúng nơi qui định(71 - 78%), tiết kiệm điện nước(68 - 78%), dọn dẹp, tưới cây(60 - 82%)

• Ý thức của học sinh không chỉ dừng lại và bó hẹp ở mức độ tự giác cho bản thân mà còn có thái độ nhắc nhở bạn bè và những người xung quanh BVMT (85 – 93% HS sẽ nhắc nhở bạn mình)

Bên cạnh đó tỷ lệ HS lớp 4 & 5 chưa có ý thức tốt về môi trường được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 3.4 Thống kê tỷ lệ học sinh trả lời chưa có ý thức tốt về MT Khối 4&5

STT Câu hỏi khảo sát nhận thức

1 Những việc không nên làm:

- Trồng nhiều cây xanh

- Tiết kiệm điện, nước

- 9%

- 10%

- 9%

- 10%

2 • Không đeo khẩu trang

• Không giải thích được lí do

đi đúng hướng, tiếp nhận nguồn thông tin đúng để có những hành động đúng cho mai sau

— Khảo sát nhu cầu, nguyện vọng tham gia vào các họat động GDMT của

học sinh tiểu học:

Các câu hỏi cuối cùng của phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu nhu cầu của học sinh

về công tác GDMT trong nhà trường Kết quả cho thấy các em rất yêu thích các họat

động GDMT, 72 – 91% học sinh các khối lớp có mong muốn biết thêm được các kiến thức môi trừơng, 84 – 91% học sinh sẽ tự nguyện tham gia vào các đội nhóm có các

Trang 26

họat động BVMT Mức độ yêu thích các họat động môi trường còn thể hiện ở chỗ hầu như trên 40% học sinh các trường có mong muốn tham gia tất cả các họat động đề xuất trong phiếu khảo sát như: tham gia các buổi học ngọai khóa, tham gia các hội thi, dọn dẹp vệ sinh …Ngòai ra hơn 80% học sinh lớp 5 có mong ước cho môi trường sống trong lành hơn, đất nước xanh sạch hơn, con người có ý thức trong các vấn đề môi trường hơn Qua đây chúng ta có thể thấy được rằng thái độ tích cực của học sinh tiểu học đối với các họat động GDMT, đây là nền tảng cho công tác GDMT đã và sẽ triển khai vào các trường tiểu học trong thời gian sắp tới Vì vậy cần phải có những biện pháp thích hợp để dần đưa GDMT đến với đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh tiểu học

Qua kết quả khảo sát mức độ nhận thức môi trường của học sinh và tìm hiểu công tác GDMT trong trường học trên địa bàn quận Thủ Đức cho thấy với tình hình công tác GDMT ở các trường tiểu học chưa được quan tâm đúng mức như hiện nay thì việc vẫn còn một tỷ lệ nhất định học sinh chưa có những kiến thức, những thái độ, thói quen đúng đắn về môi trường là hoàn toàn có thể lí giải được Công tác GDMT chỉ chủ yếu là biện pháp nhắc nhở hoặc tích hợp một vài nội dung sơ lược vào trong các bài giảng chính khóa như hiện nay sẽ chỉ tác động vào ý thức các em một phần nào đó nhưng sẽ không toàn diện và đồng bộ nhằm hình thành thói quen tốt đối với môi trường cho các em Đợt khảo sát chỉ với số lượng 20% HS của mỗi khối lớp nhưng kết quả có khoảng 20 – 30% chưa có nhận thức đúng đắn về các vấn đề MT, đây là một con số đáng quan tâm Mặt khác các em học sinh tiểu học có thái độ rất tích cực với các họat động GDMT đề xuất, đây là tiền đề rất tốt cho các họat động GDMT trong phạm vi nhà trường Vì vậy cần phải có những biện pháp đưa GDMT vào trong trường học, đặc biệt là trong trường tiểu học dưới nhiều hình thức, vì đây là lứa tuổi dễ thay đổi nhận thức và hành động của các em theo một chiều hướng tốt nhất để xây dựng một thế hệ xanh tương lai cho đất nước

Sau quá trình khảo sát, nhận thức được mức độ cần thiết của công tác GDMT trong trường học, cũng như mong muốn đề xuất và tiến hành thực nghiệm các giải pháp tổ chức GDMT để từ đó có thể đề xuất và ứng dụng những hướng GDMT hiệu quả vào trong trường học, đề tài đã tiến hành thực nghiệm các biện pháp GDMT đề xuất tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh, Quận Thủ Đức

Trang 27

Chương IV KHẢO SÁT MỨC ĐỘ NHẬN THỨC MÔI TRƯỜNG VÀ

ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GDMT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH, QUẬN THỦ

HS

4.1.2 Cơ cấu tổ chức

— Cơ cấu nhân sự của trường được tổ chức như theo sơ đồ 4.1:

Hình 4.1 Sơ đồ tổ chức nhân sự của Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

HIỆU TRƯỞNG

TỔ 1

BĐD CHA MẸ HỌC SINH

PHT HÀNH CHÍNH QUẢN TRỊ PHT CHUYÊN MÔN

Trang 28

— Số lượng cán bộ, công nhân viên chức của nhà trường được thể hiện theo bảng sau:

Bảng 4.1 Bảng thống kê số lượng công nhân viên chức của nhà trường

Tổng số CB-GV-CNV

Biên chế HĐ trong

biên chế

HĐ ngoài biên chế Phân tích

Đoàn viên thanh niên

Đoàn viên công đoàn BGH 3 3 3 3 0 0 0 0 2 0 3 Giáo viên 52 48 50 46 0 0 0 0 2 19 52 GVTA 3 3 3 3 0 0 0 0 0 0 3 GVTD 1 0 1 0 0 0 0 0 0 0 1 Nhân viên 17 14 1 1 8 5 8 8 0 0 17

Bảo mẫu 34 34 0 0 0 0 34 34 0 0 34 Cấp dưỡng 13 13 0 0 0 0 13 13 0 0 13 Cộng 123 115 58 53 8 5 55 55 4 19 123

Nguồn: Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

Trình độ chuyên môn giáo viên :

- Mỗi lớp học được trang bị bảng từ, tủ đồ dùng dạy học, một tivi, một đầu đĩa

và các trang thiết bị dạy học khác

Trang 29

4.2 ĐẶC ĐIỂM HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH

4.2.1 Qui mô học sinh

Bảng 4.2 Qui mô học sinh

Nguồn: Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

4.2.2 Tình hình học tập trong 2 năm học 2007 - 2008 & 2008 - 2009

— Kết quả học tập cuối năm học 2007 - 2008

Bảng 4.3 Kết quả học tập năm học 2007 - 2008

Danh hiệu Khối lớp Sĩ số

Không danh hiệu

Nguồn: Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

— Kết quả học tập cuối năm học 2008 – 2009

Bảng 4.4 Kết quả học tập năm học 2008 - 2009

Nguồn: Trường Tiểu học Lương Thế Vinh

Danh hiệu Khối lớp Sĩ số

Không danh hiệu

Trang 30

Qua bảng số liệu về kết quả học tập 2 năm 2008 và 2009 cho thấy trình độ chung của học sinh trường Tiểu học Lương Thế Vinh tương đối cao, với tỉ lệ học sinh giỏi luôn chiếm hơn 50%, còn lại là học sinh tiên tiến, học sinh không danh hiệu chiếm

tỉ lệ rất ít Điều này cho thấy mức độ tiếp thu của học sinh của trường tốt sẽ sẽ tạo tiền

đề cho công tác GDMT được triển khai và thực hiện một cách thuận lợi và tối ưu

4.2.3 Các phong trào – hoạt động của học sinh

Ngoài việc học nhà trường còn tổ chức các hoạt động phong trào để các em có điều kiện tham gia ngoài giờ học, phát huy khả năng, sự yêu thích của mình Đồng thời khích lệ tinh thần thi đua giữa các lớp trong nhà trường, xây dựng trường học ngày một tốt hơn Trong năm học nhà trường đã tổ chức nhiều các hoạt động, phong trào thi đua như:

- Tổ chức cho học sinh toàn trường tham gia các hoạt động phong trào chào mừng các ngày lễ lớn

- Tổ chức thi vẽ tranh cấp trường

- Tổ chức giải bóng đá học sinh cấp liên Đội

- Tổ chức cho học sinh đi tham quan khu ‘Thảo Cầm Viên” và khu du lịch Đại Thế Giới

- Tham gia giải Lê Quý Đôn trên báo Nhi Đồng lần thứ 14 học kỳ 1

- Tổ chức cho học sinh đi viếng nghĩa trang Thủ Đức nhớ về cội nguồn

- Thành lập các câu lạc bộ TDTT trong trường học

- Học sinh của trường đi tham dự các giải TDTT cấp Thành Phố

- Tổ chức hội thi “Kế hoạch nhỏ”

- Tổ chức hội thi “ Búp Măng Xinh” cấp trường

- Tổng kết học sinh toàn trường thi đua thực hiện “Nếp sống văn minh” xây dựng môi trường thân thiện, học sinh tích cực

- Tham gia hội trại an tòan giao thông cấp Thành Phố

- Tổ chức cuộc thi thiết kế “Báo tường” cấp trường cho học sinh khối 3, 4,

5 và đại diện 2 khối 1, 2

- Phối hợp với trẻ em khuyết tật tổ chức buổi giao lưu văn nghệ

- Thực hiện công trình măng non

- Tham gia hội thi “Thả Diều” do Phòng GD tổ chức

Tuy nhà trường đã tổ chức rất nhiều những hoạt động phong trào cho học sinh, nhưng chủ yếu là nâng cao tinh thần thi đua, tiến bộ của các em chứ chưa mang tính chất lồng ghép giáo dục nhiều Đặc biệt về lĩnh vực môi trường chưa được lồng ghép giáo dục cho các em một cách sâu sắc Nhà trường hoàn toàn có thể GDMT cho các

em thông qua các hoạt động phong trào như: vẽ tranh, tham quan ngoại khóa, thi báo tường…

Trang 31

4.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ NHẬN THỨC MÔI TRƯỜNG CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH

4.3.1 Hiện trạng môi trường

Nhìn chung công tác môi trường của trường Tiểu học Lương Thế Vinh được thực hiện khá tốt, tạo được một môi trường sạch sẽ và an toàn phục vụ học tập và sinh hoạt của học sinh nơi đây

™ Nhà vệ sinh:

Số lượng :10 nhà vệ sinh (2 cho giáo viên và 8 cho học sinh), được đặt ở khu vực cuối mỗi dãy phòng học Tuy được các nhân viên quét dọn nhưng vẫn còn tình trạng phát sinh mùi hôi vào những giờ cao điểm

™ Hệ thống cấp thoát nước:

- Cấp nước: Trường sử dụng nguồn nước từ nhà máy cấp nước Thủ Đức

để phục vụ cho việc sinh hoạt và ăn uống, còn lại là sử dụng nước giếng cho vệ sinh và tưới cây

- Thoát nước: Có hệ thống thoát nước mưa riêng dẫn ra hệ thống cống chung, nước từ nhà vệ sinh và nước thải sinh hoạt sẽ được dẫn đến các bể tự hoại đặt ngầm trong khuôn viên nhà trường

™ Cây xanh:

Độ che phủ của cây xanh khoảng 20% với các chủng lọai cây như: phượng, bàng, các loại cây cảnh…được phân bố hợp lí trong khuôn viên trường

4.3.2 Công tác GDMT tại trường Tiểu học Lương Thế Vinh

Nhà trường cũng đã và đang có những biện pháp quan tâm bước đầu GDMT cho học sinh, tuy nhiên chưa đặc biệt chú trọng đẩy mạnh công tác này:

- Công tác giảng dạy: thông qua việc dạy các môn học có liên quan tới môi trường như: địa lý, tự nhiên xã hội, đạo đức, tiếng việt…giáo viên đứng lớp ít liên hệ đến vấn đề môi trường ngoài thực tế, không nhắc nhở nhiều đến các em những vấn đề

về bảo vệ môi trường để có thể tác động nhằm hình thành ý thức BVMT cho học sinh

- Giáo dục ngoại khóa:

+ Trường cũng đã cho dán các khẩu hiệu “Mắt thấy rác tay nhặt liền”;

“không khạc nhổ, xả rác bừa bãi” ở trong sân trường và những khu vực công cộng

Trang 32

đồng thời cũng nhắc nhở học sinh trong những giờ sinh hoạt dưới cờ về vấn đề xả rác bừa bãi

+ Tổ chức những đợt thi đua trường lớp xanh - sạch - đẹp với những lần kiểm tra đột xuất để khuyến khích học sinh giữ vệ sinh lớp học, trồng và chăm sóc cây xanh…

+ Tổ chức những đợt tham quan dã ngoại nhằm giúp các em tiếp xúc, tìm hiểu và gần gũi với thiên nhiên xung quanh như: Thảo Cầm Viên, khu du lịch Đại Thế Giới…

Nhìn chung BGH nhà trường cũng đã bắt đầu quan tâm đến công tác GDMT cho học sinh nhưng chưa có những hoạt động lôi cuốn nhằm kích thích sự yêu thích của học sinh để tham gia tích cực vào các hoạt động BVMT Mức độ giáo dục môi trường còn ít và chưa thực sự được đẩy mạnh, cần đề cao tầm quan trọng của công tác này và thực hiện nhiều biện pháp tích cực, phù hợp với lứa tuổi, sở thích của học sinh hơn nữa để tác động đến suy nghĩ và ý thức của đối tượng này

4.3.3 Mức độ nhận thức môi trường của học sinh

Trường Tiểu học Lương Thế Vinh là một trong 4 trường đã được đề tài khảo sát mức độ nhận thức môi trường ở phần 3.3 Tuy nhiên để có cái nhìn cụ thể hơn về mức

độ nhận thức của học sinh trường này, xin được tóm tắt kết quả khảo sát mức độ nhận thức môi trường của học sinh ở đây như sau:

™ Khối 1:

Bảng 4.5 Tỷ lệ học sinh Khối 1 có ý thức tốt đối với môi trường

STT Nội dung câu hỏi Tỷ lệ HS có ý thức

tốt đối với MT

Tỷ lệ HS có ý thức không tốt đối với MT

1 Có bỏ rác xuống sân trường? - 64% không có - 12% thường xuyên

- 24% 1 vài lần

2 Có tắt đèn sau khi ra khỏi

phòng?

4 - Tắt đèn trước khi đi ngủ

đúng chỗ, tiết kiệm điện,nước?

Như vậy đối với học sinh khối lớp 1 tỷ lệ học sinh chưa nhận thức và có thói

Trang 33

phải có sự can thiệp nhiều của người lớn, đặc biệt là phụ huynh và giáo viên Tuy nhiên tỷ lệ mức độ nhắc nhở của phụ huynh đối với HS lớp 1 là chưa cao, cần phải có biện pháp tác động tích cực thường xuyên hơn nữa để các em có thói quen ngay từ ban đầu

™ Kết quả khảo sát khối lớp 2,3,4 & lớp 5:

— Phần khảo sát những kiến thức cơ bản về môi trường sống xung quanh:

- Khối lớp 2: dù mới bắt đầu làm quen với những khái niệm môi trường nhưng các em học sinh khối 2 cũng có những kiến thức cơ bản về môi trường như: hơn 50% học sinh biết cách xử lí rác, 55% hiểu đầy đủ tầm quan trọng của việc tiết kiệm nước, 70% nhận thấy vai trò của việc trồng cây xanh Tuy nhiên tỷ lệ học sinh chưa có nhận thức rõ các vấn đề này cũng còn khá cao: 15% học sinh không biết rác được xử lí như thế như thế nào hoặc chỉ biết một cách xử lí mà thôi, 10% học sinh không nhận thấy cần phải tiết kiệm nước và 30% không quan tâm đến vấn đề trồng nhiều cây xanh hay không

- Khối lớp 3: tuy tỷ lệ nhận thức của các em cao hơn lớp 2 một chút nhưng mức độ chênh lệch không nhiều: 7% HS không biết cách nào để xử lí rác và có 21% học sinh biết cả 3 cách xử lí, 4% cho rằng không cần phải tiết kiệm nước và có 71%hiểu đầy đủ ý nghĩa của tiết kiệm nước, hơn 30% cho rằng không cần hoặc không qua tâm đến vấn đề trồng nhiều cây xanh

- Khối 4: 99% học sinh hiểu biết về trách nhiệm BVMT là của tòan dân, 33% biết được rằng nilong rất khó phân hủy, 67% biết rác có thể tái chế tái sử dụng, 95% biết sự ảnh hưởng của rác thải nhưng chỉ có 32% biết lí do tại sao Như vậy còn đến 67% không biết được nilong rất khó phân hủy, 68% không hiểu tại sao rác thải lại gây ảnh hưởng đến sức khỏe Đây là tỉ lệ khá cao đối với học sinh lớp 4 khi những kiến thức này các em đã được tiếp xúc nhiều qua bài học và các phương tiện thông tin đại chúng

- Khối 5: đây là khối có tỷ lệ học sinh nhận thức tương đối cao do các em được tiếp xúc khá nhiều qua các môn học Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều học sinh chưa nhận biết rõ các vấn đề cơ bản này: chỉ có 50% biết nilong khó phân hủy, 50%còn lại thì không biết rõ; 8% chưa biết rác thải có thể tái chế, tái sử dụng; 7% không biết rác thải bừa bãi gây ảnh hưởng tới sức khỏe và có 93% biết điều này nhưng chỉ có 55% giải thích đúng lí do

Nhận xét: Học sinh 5 khối lớp của trường Tiểu học Lương Thế Vinh theo đánh giá của phiếu khảo sát thì phần lớn các em đã có những kiến thức khá cơ bản, đây sẽ là kiến thức nền, là điều kiện tốt để có các em sẽ dễ dàng tiếp cận với các kiến thức MT mở rộng hơn trong phạm vi bài học SGK Đối với các khối 2, 3, 4, Tỷ lệ học sinh chưa có các kiến thức cơ bản còn tương đối nhiều do các em ít có được mở rộng liện hệ các vấn đề môi trường trong bài học, vì vậy cần phải có thêm các tiết học về môi trường để các em có thêm hiểu biết và liên hệ thực tế tốt hơn

Trang 34

— Phần khảo sát ý thức môi trường thông qua hành động, thói quen của HS:

- Khối 2: Học sinh có ý thức môi trường thấp chiếm tỷ lệ sau: 12% mở đèn khi không cần thiết, 11% mở vòi nước chảy khi đánh răng, 13% bỏ rác ra ngòai khi thùng rác đầy, còn lại đa phần các em có ý thức trong việc bỏ rác đúng nơi qui định (94%), khóa kĩ vòi nước (40%)… bên cạnh đó các em cũng thực hiện theo những bảng nhắc nhở ở trường học và những khu vực công cộng với tỷ lệ 65% HS, khỏang 12 -14

% là các em không đọc hoặc không thực hiện theo những nhắc nhở này Tỷ lệ học sinh không được bố mẹ nhắc nhở chiếm 25%

- Khối 3: Tỷ lệ học sinh có ý thức môi trường chưa tốt như sau: 9% mở đèn khi không cần thiết, 7% mở vòi nước chảy khi đánh răng, 11% bỏ rác ra ngòai khi thùng rác đầy Học sinh ý thức bỏ rác vào thùng (89%), kiểm tra vòi nước (65%) Việc thực hiện theo những bảng nhắc nhở chiếm 82%, còn lại khỏang 9% không đọc và không thực hiện theo(9%) Học sinh không được nhắc nhở chiếm 13%

- Khối 4: Đa số các em đều biết được những hành động không đúng chỉ có một số ít học sinh 5 -7% không biết được hành động săn bắt thú rừng là không đúng hoặc trồng nhiều cây xanh, tiết kiệm điện nước lại là những hành động sai; 92% các

em đều có ý thức đeo khẩu trang nhưng có đến 32% không biết lí do tại sao phải đeo chúng Phụ huynh có nhắc nhở học sinh nhưng vẫn còn 14% phụ huynh không quan tâm tới vấn đề giáo dục con em BVMT; 68% HS trả lời sẽ nhắc nhở bạn vi phạm xả rác nhưng cũng có 28% HS không quan tâm

- Khối 5: 8 -9% HS không biết được hành động săn bắt thú rừng là không đúng hoặc trồng nhiều cây xanh, tiết kiệm điện nước lại là những hành động sai 94% các em đều có ý thức đeo khẩu trang nhưng đến 37% không biết lí do tại sao phải đeo chúng 12% phụ huynh không quan tâm tới vấn đề giáo dục con em BVMT; 70% HS trả lời sẽ nhắc nhở bạn vi phạm xả rác nhưng cũng có 14- 16% HS không quan tâm hoặc sẽ báo với nhà trường

Như vậy qua khảo sát thấy rằng HS các khối 2&3 có ý thức môi trường chưa được tốt như các khối 4&5 Đối tượng HS lớp 4&5 các em đã có những nhận thức cao trong thói quen sinh họat hằng ngày của mình đối với môi trường xung quanh Chỉ còn một tỷ lệ nhỏ HS chưa có ý thức hoặc không quan tâm tới những việc làm đúng Vì vậy công tác GDMT cần phải tác động mạnh và thường xuyên để duy trì những thói quen tốt của học sinh cũng như thay đổi dần ý thức của những học sinh chưa tốt

Qua phân tích đánh giá số liệu khảo sát 5 khối lớp của trường Tiểu học Lương Thế Vinh cho thấy HS bước đầu đã có những ý thức tốt trong các họat động sinh họat của mình, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là chưa có ý thức cao Điều này cho thấy việc giáo dục nhắc nhở của nhà trường đối với các em là tương đối tốt, đây sẽ là một môi trường nền rất thuận lợi cho công tác GDMT của nhà trường Tuy nhiên công tác giáo dục của trường

Trang 35

thức một cách toàn diện các vấn đề môi trường xung quanh mình còn chưa cao Cần có những biện pháp GDMT đưa mạnh vào trong trường học để duy trì các thói quen tốt của các em cũng như thay đổi suy nghĩ nhận thức hành động của các đối tượng học sinh chưa hiểu hết tầm quan trọng của việc BVMT Các biện pháp đề xuất sẽ được trình bày ở phần sau

4.4 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GDMT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG THẾ VINH

Sau khi tiếp xúc với các em học sinh tại trường cũng như thông qua kết quả phiếu khảo sát thu được từ các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Thủ Đức nói chung

và trường Tiểu học Lương Thế Vinh nói riêng cho thấy rằng công tác GDMT đã và đang có nhưng bước khởi điểm ban đầu nhưng chưa thực sự được đẩy mạnh mà chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở và có lồng ghép một phần nội dung nhỏ trong các bài giảng

có liên hệ các vấn đề môi trường Điều này chưa tác động tích cực đến học sinh đặc biệt là lứa tuổi nhỏ và hiếu động này Vì vậy cần phải có các biện pháp giáo dục phong phú, phù hợp, sinh động mang tính chất hoạt động để dễ thu hút các em nhằm thay đổi

- Thông qua hoạt động dã ngoại định kì của trường (2 lần/năm) có thể tổ chức cho các em tham quan dã ngoại giúp các em gần gũi với thiên nhiên…

- Tổ chức những hoạt động ngoại khóa như: làm xanh lớp học, dọn dẹp vệ sinh trường, lớp hoặc khu vực lân cận…

- Tổ chức các cuộc thi về môi trường như: vẽ tranh, sản phẩm tái chế, làm báo tường…

- Luôn nhắc nhở các em trong mọi hoạt động về công tác BVMT thông qua các buổi sinh hoạt dưới cờ, các bảng nhắc nhở, đồng thời cũng có chính sách khen thưởng và xử phạt hợp lí nhằm tạo tâm lí tích cực cho các em

- Thông qua các hoạt động thi đua của nhà trường phải lồng vào việc thi đua BVMT tạo mục tiêu phấn đấu cho toàn trường

- Lên kế hoạch cụ thể và dần triển khai việc phân loại rác trong toàn trường nhằm tạo thói quen phân loại rác

- Làm phong phú công tác GDMT dưới nhiều hình thức như: chiếu các bộ phim thực tế, phim hoạt hình, về môi trường sẽ tác động nhiều hơn vào lứa tuổi này

Trang 36

Chương V TRIỂN KHAI THỰC NGHIỆM CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GDMT CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯƠNG

THẾ VINH

5.1 MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM

- Kiểm tra tính hiệu quả của các biện pháp GDMT đã đề xuất

- Xác định tính khả thi của đề tài thông qua đánh giá kết quả thu được

2 • Chiếu phim họat hình về

môi trường và trao đổi các

vấn đề liên quan sau buổi

chiếu phim

• Phát tờ bướm, poster tuyên

truyền về môi trường

2/3 – 6/3 (lớp 1,2,3)

- Chiếu tại lớp, đối với lớp 1,2,3

- Chiếu tại hội trường đối với lớp 4,5 (không có tivi tại lớp)

vòi nước sau khi sử dụng”,

“phân lọai rác trước khi bỏ vào thùng” lần lượt ở vòi nước, lớp học…

4 Tổ chức buổi tập huấn cho

giáo viên

14/3 - BGH tập trung giáo viên và

tổ chức buổi tập huấn tại hội trường với hơn 100 giáo viên

- Mời giảng viên giảng dạy

Trang 37

9/3 – 20/3 Sinh họat với đội tuyên truyền

viên về vấn đề theo dõi, nhắc nhở việc xả rác, phân lọai rác… của các lớp

6 Kết hợp với sinh họat đội, tổ

chức tưới cây, dọn vệ sinh

vào các ngày thứ 7

21/3, 7/4, 4/4, 18/4, 2/5

- 2 tuần/1 lần

- Dọn dẹp rác, lá cây xung quanh trường và tứơi cây

7 Tiến hành tổ chức phân lọai

rác bằng hình thức sinh họat

dưới cờ và lồng ghép thi đua

giữa các lớp

10/3 – 30/4 - Kết hợp với GVCN hướng

dẫn việc phân lọai rác

- Cộng điểm thi đua cho những lớp thực hiện tốt

8 Tổ chức hội thi vẽ tranh về

môi trường

30/3 – 6/4 - Phát động; 30/3

- Tổ chức: 6/4

=> Kế họach cụ thể ở Phụ lục 7

9 Tổ chức hội thi sản phẩm tái

chế để tham dự hội thi sản

phẩm tái chế của quỹ tái chế

Trang 38

Nội dung:

Đề tài đã xin phép được sử dụng phim GDMT do Chi Cục BVMT Tp.HCM sản xuất 2009 phục vụ cho công tác truyền thông GDMT trong các trường Tiểu học trên địa bàn Thành phố

Nội dung phim là câu chuyện về một ngày bình thường của một bạn học sinh tiểu học và những người xung quanh Phim kể về các hành động sai trong sinh hoạt hằng ngày như: mở vòi nước trong khi đánh răng, sử dụng nhiều quạt và nhiều đèn khi không cần thiết, bỏ hộp sữa xuống đường, xả rác trong công viên, xả rác xuống dòng sông, lãng phí giấy Đối lập với các hành động sai ấy là các hành động đúng để BVMT như: đánh răng bằng ca nhỏ, sử dụng đèn và quạt khi cần thiết, bỏ rác vào thùng, không được xả rác trong công viên và những nơi công cộng, tiết kiệm giấy, trồng nhiều cây xanh…

Hình thức tổ chức:

Xem phim, trả lời câu hỏi và thảo luận nhóm

 Chuẩn bị:

Giáo viên:

- Đĩa phim về môi trường

- Một số câu hỏi thảo luận nhóm

- Các thiết bị chiếu phim: đầu DVD, tivi

Học sinh

Chú ý xem phim và chuẩn bị ý kiến để trả lời các câu hỏi của giáo viên

 Tổ chức hoạt động chiếu phim môi trường

Tiến hành:

- Giáo viên bắt đầu mở phim cho các em xem trong vòng 15 phút

- Sau khi xem phim xong giáo viên chia nhóm thành 5 nhóm (mỗi nhóm 7- 8 học sinh) thi đua với nhau Giáo viên đặt câu hỏi cho 5 nhóm học sinh “Hãy kể các hành động sai trong bộ phim vừa rồi” và “ những việc làm đúng trong phim”

- Học sinh thảo luận trong nhóm và cử người phát biểu ý kiến Giáo viên cho điểm mỗi nhóm câu trả lời đúng Cuộc thi diễn ra cho đến khi không còn nhóm nào trả lời nữa, giáo viên tổng hợp ý kiến và chấm điểm cho các nhóm Công bố nhóm giỏi I,

II, III, IV, V

Kết luận: Kết thúc buổi chiếu phim, giáo viên tiến hành tóm lược lại những hành động nào đúng cũng như những hành động nào sai trái trong việc BVMT sống Những việc làm nhỏ của các em thôi nhưng cũng sẽ tác động lớn đến môi trường Vì thế chỉ nên thực hiện theo những hành động đúng để bảo vệ môi trường là bảo vệ chính cuộc sống của chúng ta

Ö Đánh giá hoạt động:

Đã tiến hành chiếu phim về môi trường cho 50/50 lớp (từ lớp 1- lớp 5) của

Trang 39

này vì các em không phải học những bài học suông mà được xem phim thực về các vấn đề xung quanh mình Qua bộ phim, các em cũng đều nhận thức được hành động nào đúng, sai trong quá trình xem phim và cũng hiểu được rằng mình không nên làm theo những hành động sai đó và tích cực đưa ý kiến phát biểu trong quá trình thảo luận nhóm (đến gần 98% các đáp án được đưa ra) Hoạt động này bước đầu tác động đến nhận thức của các em trong tư tưởng và sẽ hướng các em có những hành động đúng

5.3.1.2 Dạy các chuyên đề về môi trường

Công tác GDMT thông qua hình thức giảng dạy các chuyên đề về môi trường là điều cần thiết giúp các em có những kiến thức môi trường nhất định, từ đó nâng cao ý thức BVMT hơn Giáo viên có thể dành 1 tiết/1 tháng vào các giờ ngoại khóa buổi chiều để dạy từ 1-2 chuyên đề môi trường cho học sinh

™ Giới thiệu phần mềm GDMT cho học sinh tiểu học

Nhằm tạo giáo cụ trực quan để giúp các em học sinh hiểu bài giảng với những kiến thức thực tế, sinh động với âm thanh và hình ảnh phong phú, giúp học sinh dễ học, dễ nhớ và tạo hứng thú học tập, nhóm Tin học ứng dụng thuộc Viện ITIMS (trường ĐHBK HN) đã xây dựng bộ chương trình phần mềm giảng dạy về giáo dục và bảo vệ môi trường (GDMT) trong khuôn khổ đề tài trọng điểm cấp Bộ GD&ĐT Bộ chương trình gồm 5 phần mềm Mỗi phần mềm là một chủ đề về giáo dục bảo vệ môi trường như: nước sạch, cây xanh, không khí, tiếng ồn và rác thải

Lần đầu tiên áp dụng kỹ thuật hoạt hình, phần mềm được xây dựng trên công nghệ Macromedia, lập trình hành động với Action Script và được phát triển trên môi trường Macromedia Flash MX nên các phần mềm được trình bày dưới dạng bài giảng trực quan, thí nghiệm và trắc nghiệm và có giao diện đẹp mắt và phù hợp với lứa tuổi học sinh

Phần mềm được xây dựng và hoàn thiện dựa trên một qui trình công nghệ qua nhiều công đoạn và có sự tham gia, cộng tác chặt chẽ giữa các giáo viên, chuyên gia môi trường, chuyên gia công nghệ trong suốt quá trình hoàn thiện sản phẩm

- Tóm tắt nội dung:

+ Trong phần mềm cây xanh có nhân vật cây xanh hướng dẫn các em học sinh về lợi ích của cây xanh đối với môi trường sống của con người, tác động điều hòa khí hậu của rừng, lá phổi của trái đất

+ Trong phần mềm nước sạch các câu chuyện về biển cả, về các yếu tố làm nước bị ô nhiễm, rồi hậu quả của nó được diễn ra tuần tự thông qua nhân vật giọt nước như một người bạn đồng hành cùng với các em học sinh trong suốt chương trình

+ Phần mềm không khí với cô bé cưỡi bong bóng giảng giải về tầm quan trọng của bầu khí quyển bao bọc trái đất, các thành phần của không khí cần thiết cho

sự sống, nguy cơ của tầng ô zôn và đồng thời khuyến khích các em học sinh ý thức bảo vệ khí quyển

Trang 40

+ Phần mềm rác thải, nhân vật thùng rác với giọng khàn khàn sẽ dẫn dắt các

em học sinh trong suốt phần mềm rác thải, với thí nghiệm phân loại rác

+ Phần mềm tiếng ồn do một chú bé với cặp tai nghe rất to dẫn dắt Tiếng ồn trong phần mềm này sẽ đến với các em học sinh không chỉ qua các tiếng ồn gây ô nhiễm thực sự trong đời sống hàng ngày như tiếng động cơ, tiếng cưa máy, âm nhạc quá to… mà còn được trực quan hóa dưới dạng các sóng âm…

- Ứng dụng: Dùng làm tài liệu minh họa trực quan, sinh động cho giáo viên giảng

dạy về môi trường trên lớp với máy tính và Projector Có thể dùng như tài liệu học tập trên đĩa CD cho học sinh tự học ở nhà

™ Ứng dụng phần mềm GDMT vào công tác GDMT tại trường Tiểu học Lương

Thế Vinh

Trong thời gian 3 tháng thực hiện, đề tài đã tiến hành giảng dạy 2 chuyên đề Cây xanh và Nước sạch cho học sinh khối 1&2, và 4 chuyên đề Cây xanh, Nước sạch, Rác thải và Ô nhiễm không khí cho học sinh khối 3,4,5

Do nội dung bài giảng khá dài nên phần này chỉ trích lược trình bày cách thực hiện giảng dạy 1 chuyên đề Cây xanh Nội dung 3 chuyên đề còn lại sẽ được trình bày ở phần Phụ lục 8

II Thời gian: 30 phút

III Nội dung và hình thức

1.Nội dung

- Cây xanh có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người

- Làm thế nào để bảo vệ , giữ gìn và phát triển

- Các nguy cơ hủy diệt màu xanh của trái đất

2 Hình thức

- Cho học sinh tiếp xúc với từng phần nhỏ trong chủ đề này qua các hình ảnh, lời dẫn trong phần mềm

- Trả lời các câu hỏi, thảo luận nhóm

- Làm các thí nghiệm để tìm hiểu thêm về cây xanh

- Xem thêm phim hoạt hình về phá hoại rừng

IV Chuẩn bị:

Ngày đăng: 01/09/2018, 08:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w