ÐỔI MỚI CÔNG TÁC ÐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH BÌNH PHƯỚC TỪ NAY ÐẾN NĂM 2015 Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/5070674-nguyen-thi-anh-dao.htmÐỔI MỚI CÔNG TÁC ÐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH BÌNH PHƯỚC TỪ NAY ÐẾN NĂM 2015 Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/5070674-nguyen-thi-anh-dao.htm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ÐÀO TẠO
ÐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
ÐỔI MỚI CÔNG TÁC ÐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ
DÂN TỘC THIỂU SỐ TỈNH BÌNH PHƯỚC
TỪ NAY ÐẾN NĂM 2015
NGUYỄN THỊ ANH ÐÀO
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ÐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN CHUYÊN NGÀNH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VÀ KHUYẾN NÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 04/2009
Trang 2Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh tế, trường Đại học
Nông lâm Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước từ nay đến năm 2015” do Nguyễn Thị Anh Đào, sinh viên khóa 31, ngành Khuyến nông và Phát triển nông thôn đã bảo vệ
thành công trước Hội đồng vào ngày
TS Lê Quang Thông Người hướng dẫn
Ngày tháng năm
Chủ tịch Hội đồng chấm báo cáo Thư ký Hội đồng chấm báo cáo
Ngày tháng năm Ngày tháng năm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã trải qua một quá trình học tập không
ít gian truân, nhưng nhờ có sự động viên giúp đỡ của nhiều người, nhiều cơ quan, đơn vị tôi cũng đã hoàn thành được đề tài
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng quý Thầy Cô khoa Kinh tế, bộ môn Phát Triển nông thôn – Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tận tình chỉ dạy, truyền thụ những kiến thức quý báu, hướng dẫn tận tình và em xin cảm ơn Ban Giám đốc cùng các Thầy Cô Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Bình Phước đã tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin trân trọng cảm ơn thầy Lê Quang Thông – Giáo viên hướng dẫn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các đồng nghiệp Ban Dân vận Tỉnh ủy đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về kinh phí học tập, thời gian, in ấn tài liệu và động viên tôi rất nhiều về tinh thần để tôi hoàn thành quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ban Dân tộc tỉnh, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục - Đào tạo, Đài Phát thanh – Truyền hình tỉnh, trường Dân tộc Nội trú tỉnh, trường Dân tộc Nội trú huyện Bù Đăng, Ban Dân vận các Huyện, Thị ủy, Đảng
ủy xã Đăk Nhau (Bù Đăng) và các phòng ban chuyên môn của các đơn vị đã tạo điều kiện tiếp và cung cấp số liệu, thông tin cũng như thời gian để tôi thực tập hoàn thành luận văn
Lời cám ơn sâu sắc nhất xin gửi đến mẹ, người đã sinh thành nuôi dưỡng tôi và hai anh trai yêu quý đã khuyến khích động viên về vật chất lẫn tinh thần cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi cũng xin cảm ơn đến bạn bè thân hữu, tất cả các bạn sinh viên lớp Phát triển, Ban cán sự các lớp tại chức của Trường Đại học Nông Lâm tại Bình Phước đã động viên góp ý, ủng hộ để tôi hoàn thành được đề tài này
Một lần nữa tôi xin được tri ân với tất cả mọi người !
Sinh viên Nguyễn Thị Anh Đào
Trang 4Khóa luận “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước từ nay đến 2015” được nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước từ các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số, từ đó cung cấp cơ sở cho các cấp lãnh đạo của ngành giáo dục cũng như các ngành chức năng khác trong công tác tổ chức
và quy hoạch nhân sự cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay và những năm tiếp theo, nhằm đảm bảo số lượng phù hợp với tỷ lệ 20 % dân số đồng bào dân tộc tỉnh Bình Phước, đồng thời nâng cáo chất lượng trình độ, năng lực cán bộ dân tộc thiểu số, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng ở địa phương
Trang 51.1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3 1.1.5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 3
1.1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu 3
2.1.3 Khí hậu thời tiết 7
Trang 63.1.1 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ
3.2 Phương pháp nghiên cứu 23
3.2.1 Thu thập tài liệu sơ cấp 23 3.2.2 Thu thâp tài liệu thứ cấp 23
4.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh 24
4.2 Kết quả thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh
25
4.3 Thực trạng công tác cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước 27
4.3.1 Những thành tựu trong công tác cán bộ dân tộc thiểu số 27 4.3.2 Kết quả công tác đào tạo – bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ
cán bộ, công chức dân tộc thiểu số
29
4.3.3 Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ dân tộc cấp xã, phường, thị trấn:
38
4.3.5 Những hạn chế của công tác cán bộ dân tộc thiểu số 42 4.3.6 Đặc điểm đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Bình Phước 48
Trang 74.3.7 Hạn chế trong đào tạo cán bộ dân tộc 49 4.4 Giả thuyết về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc
thiểu số từ nay đến năm 2015
50
4.4.1 Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS 50
4.4.2 Những vấn đề cơ bản cần đào tạo, bồi dưỡng 53 4.4.3 Kết cấu chương trình đào tạo, bồi dưỡng 54 4.4.4 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng 55
4.4.6 Kinh phí thực hiện 56 4.4.7 Tổ chức thực hiện 57 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị 60
5.2.2 Yêu cầu 61 5.2.3 Giải pháp thực hiện 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC
Trang 8HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy Ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
TrangBảng 2.1 Dân số tỉnh Bình Phước chia theo thành phần dân tộc
Bảng 4.1 Tổng hợp số lượng học sinh đi học cử tuyển và học sinh dân tộc thiểu
số đi học theo nhu cầu của tỉnh từ 1998 – 2008
Bảng 4.2 Tổng hợp chất lượng cán bộ DTTS theo cấp quản lý
Bảng 4.3 Tổng hợp cán bộ dân tộc chủ chốt của tỉnh do Ban Thường vụ Tỉnh ủy
(khóa VIII) quản lý (2006 – 2010)
Bảng 4.4 Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Đồng Xoài
Bảng 4.5 Ban Chấp hành Đảng huyện Lộc Ninh
Bảng 4.6 Ban Chấp hành Đảng huyện Đồng Phú
Bảng 4.7 Ban Chấp hành Đảng huyện Bình Long
Bảng 4.8 Ban Chấp hành Đảng huyện Bù Đăng
Bảng 4.9 Ban Chấp hành Đảng huyện Phước Long
Bảng 4.10 Tỷ lệ % dân số là đồng dân tộc thiểu số các huyện, thị
Bảng 4.11 Tổng hợp kết quả điều tra
Bảng 4.12 Tổng hợp nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ DTTS
831
3334
343535353637384051
Trang 10CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
1.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”
“Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” “Nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” “Vì vậy, vấn đề cán bộ là vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, Bởi vậy, trong bất cứ thời kỳ nào, Đảng ta cũng đều chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, trong
đó cán bộ là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng
Trong giai đoạn hiện nay, để phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vấn đề đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ càng trở nên quan trọng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: “Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên, phát huy vai trò của người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương”; và “Làm tốt công tác quy hoạch
và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ dân tộc thiểu số” Cụ thể hóa một bước quan điểm trên, kết luận Hội nghị Trung ương sáu (khóa IX) của Đảng đã nêu rõ :Tăng cường công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý “Đặc biệt quan tâm phát hiện đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia giỏi từ những cán
bộ trẻ, thanh thiếu niên ưu tú, ưu tiên đối với những người xuất thân công nhân, nông dân
ưu tú, con em gia đình có công với cách mạng, dân tộc ít người”
Vấn đề đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số là vấn
đề hết sức quan trọng, là chìa khóa để giải quyết vấn đề phát triển kinh tế – xã hội ở miền
Trang 11núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời góp phần thực hiện chiến lược Đại đoàn kết toàn dân và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta
Xuất phát từ thực tiễn của tỉnh Bình Phước, tác giả chọn đề tài “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là người dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước từ nay đến năm 2015” làm luận văn tốt nghiệp của mình
1.1 2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay trở thành nhiệm vụ quan trọng và được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm Nhiều công trình của các cá nhân và tập thể những nhà nghiên cứu ở những cấp độ và quy mô khác nhau đã được công bố Những năm gần đây đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luận cứ và giải pháp” của Lê Phương Thảo (NXB lý luận chính trị, 2005);
“Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu
số vùng cao biên giới trong thời kỳ đổi mới” của Phạm Phương Lan (tạp chí giáo dục lý luận số 1/2002); “Góp phần nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ người dân tộc Khơme” của Nguyễn Quốc Đãng (tạp chí cộng sản, số 33/2003); “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ” của Bùi Đình Phong, (NXB Lao động, Hà Nội 2003); “Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ đảng viên hiện nay, thực trạng
và giải pháp” của Đào Duy Quát (NXB chính trị Quốc gia, Hà nội 2007); “Đánh giá quy hoạch luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của Trần Đình Hoan (NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 2008)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều nội dung về quy hoạch, đạo tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ nói chung và cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về ví trí, vai trò quan trọng của cán bộ dân tộc trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và cụ thể về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Bình Phước
1.1.3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Trang 12Mục đích của luận văn là nghiên cứu về đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước từ nay đến năm 2015, trên cơ sở đó, tác giả mạnh dạn nêu lên một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước
* Nội dung nghiên cứu có ý nghĩa:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ và công tác cán bộ
Thứ hai, phân tích thực trạng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước từ các khâu quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số,
để nhằm phát huy vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Bình Phước
1.1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là vấn đề cán bộ dân tộc thiểu số trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phạm vi nghiên cứu: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước hiện nay
1.1.5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta Cơ sở thực tiễn của đề tài là thực trạng phát huy vai trò cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước từ năm 2000 đến nay
Về phương pháp nghiên cứu luận văn được triển khai trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, lôgíc – lịch sử, lý luận thực tiễn
1.1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng trong việc hoạch định chính sách về cán bộ nói chung, cán bộ người dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở cho các cấp lãnh đạo của ngành giáo dục cũng như các ngành
Trang 13chức năng khác trong công tác tổ chức và quy hoạch nhân sự Đối với xã hội, nghiên cứu góp phần tích cực vào việc phát triển nguồn nhân lực và trình độ dân trí cho cộng đồng dân tộc thiểu số nói riêng
Luận văn cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho việc nghiên cứu giúp dạy và học tập của việc xây dựng cán bộ ở trường Chính trị tỉnh, các trường Đại học và học viện
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Hình 2.1 Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Bình Phước
Nguồn: Website tỉnh Bình Phước
Trang 15Tỉnh Bình Phước là tỉnh miền núi, dân tộc, nằm ở vùng biên giới trong khu vực miền Đông Nam Bộ, nối liền với Nam Tây Nguyên và là phần cuối của dãy Trường Sơn, Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia Tỉnh có đường biên giới dài 240km
Bình Phước là vùng trung du miền núi phía bắc của tỉnh Sông Bé cũ gồm 7 huyện
và 1 thị xã: Bình Long, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đốp, Bù Đăng, Đồng Phú, Chơn Thành và thị xã Đồng Xoài, gồm có 102 xã, phường, thị trấn, trong đó có 43/102 xã đặc biệt khó khăn với trên 210 thôn, ấp, sok (thuộc vùng sâu, vùng xa, biên giới) Tỉnh có tổng diện tích tự nhiên là 6.853,93km2 Do chịu sự tác động của những biến thiên về địa chất, Bình Phước mang dáng dấp cao nguyên có diện tích khoảng 1100 héc ta chủ yếu là rừng tự nhiên; quanh sườn núi có nhiều hang động, dòng sông Bé ẩn hiện lượn quanh tạo nên những thác nước hùng vĩ, thơ mộng như Thác Mẹ, Thác Mơ… Ngay sát thị trấn Thác
Mơ (huyện Phước Long) nổi lên núi Bà Rá cao 723m, là một trong ba ngọn núi cao nhất miền Đông Nam Bộ Trong đấu tranh cách mạng, núi Bà Rá chiếm vị trí quân sự quan trọng đối với vùng và khu vực Thời Mỹ – Ngụy, nơi đây địch xây dựng một trung tâm truyền tin và bố trí lực lượng khá đông, có lúc gần một tiểu đoàn với hỏa lực mạnh Dưới chân núi chúng dựng trại giam để cần giữ những chiến sĩ cách mạng Trong chiến tranh chống Mỹ, lợi dụng địa thế hiểm trở núi cao, rừng rậm, hang động động và thác ghềnh, các chiến sĩ cách mạng đã dựa vào đây để chống lại nhiều cuộc càn quét của quân thù Núi Bà Rá trở thành một trong những căn cứ địa của tỉnh Bình Phước
2.1.2 Nguồn tài nguyên
a/ Tài nguyên nước: Với hệ thống sông suối tương đối nhiều, mật độ 0,7 –
0,8km/km2, Bình Phước có 3 con sông lớn: Sông Bé, sông Sài Gòn và sông Đồng Nai Sông Bé dài 360km, là phụ lưu của hệ thống sông Đồng Nai, bắt nguồn từ vùng đồi núi tỉnh Đắc Lắc chảy uốn khúc theo chiều dài của tỉnh Sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Lâm Đồng) dài 635km, nhưng chỉ chảy qua lãnh thổ Bình Phước đoạn
Bù Đăng Sông Đồng Nai có giá trị cung cấp thủy sản và nguồn nước cho một bộ phận dân cư ở Phước Long Sông Sài Gòn dài 250km, bắt nguồn từ vùng đồi cao huyện Lộc Ninh chảy giữa hai tỉnh Bình Phước và Tây Ninh Ngoài các con sông trên, trong tỉnh còn
có suối Cần Lê, suối Cam, suối Nước Trong, suối Giai, suối Rạt, sông Mã Đà (Đồng Phú)
Trang 16nước chảy quanh năm tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân trong tỉnh
b/ Tài nguyên đất: Bình Phước ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên, địa hình thấp dần từ Đông bắc (giáp Tây Nguyên) xuống Tây Nam (tức là xuống các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, biên giới Campuchia) Độ dốc địa hình phụ thuộc vào cấu tạo địa chất Trên nền đất phù sa cổ và Bazan thường có địa hình bằng phẳng hơn trên nền đá trầm tích nhưng nhìn chung độ dốc địa hình toàn vùng thấp, thuận lợi cho việc trồng trọt
và chăn nuôi Tỉnh Bình Phước có 7 nhóm đất: Đất xám, đất đen, đất phù sa, đất phèn, đất
đỏ vàng, đất dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá trong đó đất đỏ vàng và đất đỏ Bazan chiếm diện tích lớn, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều… Trong lòng đất có các loại khoáng sản chính có giá trị kinh tế như đá vôi ở Tà Thiết (Lộc Ninh), vời trữ lượng khoảng 360 triệu tấn, chất lượng đảm bảo để sản xuất xi măng; đá xây dựng trữ lượng trên 1 tỷ m3, một số khác có chất lượng tốt dùng làm đá ốp lát như ở núi Cẩm (Lộc Hưng – Lộc Ninh), Bà Rá (Phước Long) Ngoài ra vùng quặng Bôxít, nối dài từ Gia Nghĩa (Đắc Lắc) xuống tới núi Bà Rá, trữ lượng trên 1 tỷ tấn
c/ Tài nguyên rừng: Do khí hậu nhiệt đới ẩm và đất đai màu mỡ nên rừng ở Bình Phước có trữ lượng cao, với nhiều loại gỗ quý như gõ đỏ, cẩm lai, giáng hương, tếch, vên vên, bằng lăng, sao, dầu… Rừng ở Bình Phước có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trướng sinh thái, điều hòa dòng chảy của các con sông lớn như sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai
2.1.3 Khí hậu thời tiết
Bình Phước nằm trong vùng mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm
85 – 90% lượng nước mưa cả năm của vùng nghiên cứu Hầu như không có bão, tuy nhiên thường hay xảy ra lốc xoáy, mưa đá Gió đông chuyển dần sang tây nam, tốc độ bình quân 3,2m/s Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10 – 15% tổng lượng mưa cả năm, tháng có ít mưa nhất là tháng 2, tháng 3 Gió đông chuyển dần sang đông bắc, tốc độ bình quân 3,5 m/s Nhiệt độ bình quân thấp nhất 21,5 – 220C
Sự thay đổi nhiệt độ qua các tháng không lớn song sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm khá lớn, khoảng 7 – 9oC nhất là vào các tháng mùa khô Bình Phước nằm trong vùng
Trang 17dồi dào nắng, tổng số giờ nắng trong năm trung bình từ 2400 – 2500 giờ Lượng mưa
hàng năm biến động từ 2045 – 2325mm Độ ẩm trung bình năm từ 80,8 – 81,4% Khí hậu
Bình Phước có nhiều thuận lợi cơ bản là vùng đất mưa nắng thuận hòa Nếu nắm vững
đặc điểm và quy luật diễn biến của nó thì việc phát triển kinh tế ở Bình Phước rất thuận
lợi, mang lại hiệu quả kinh tế cao trên mọi lĩnh vực
2.1.4 Về giao thông
Nằm giữa các tỉnh đồng bằng và Tây nguyên giáp với Campuchia là các trục
đường giao thông có ý nghĩa chiến lược về quân sự và kinh tế như Quốc lộ 14 có chiều
dài đi ngang qua tỉnh là 110km, Quốc lộ 13 – con đường cực kỳ quan trọng nối thành phố
Hồ Chí Minh và cửa khẩu Hoa Lư (Lộc ninh) với 75km qua tỉnh, đi Campuchia đến biên
giới Thái Lan Đường ĐT 741 là trục đường quan trọng nối Đồng Phú và Phước Long với
chiều dài 120km thuận lợi trong việc vận chuyển hàng hóa, nông sản
Nữ Female
Dân tộc Ethnic, group TỔNG SỐ 833.164 421.744 411.420
Trang 18Dân số toàn tỉnh có 833.164 người, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số 15.743 người, chiếm 19,4% dân số toàn tỉnh với 41 thành phần dân tộc; Dân tộc Kinh chiếm 81,53%, trong 40 dân tộc thiểu số có 04 dân tộc trên 10 ngàn người, đông nhất là dân tộc S’Tiêng 75.120 người chiếm 9,02%, dân tộc Tày 19.873 người chiếm 2,39%, dân tộc Nùng 19.319 người chiếm 2,32%, dân tộc Khmer 14.732 người chiếm 1,77%
Hình 2.2 Cơ Cấu các Thành Phần Dân Tộc
Nguồn: Cục thống kê tỉnh Bình Phước năm 2008
Trang 19tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ”
Định nghĩa trên đây cũng như định nghĩa “Cán bộ” trong đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên, xuất bản năm 1999 so với một số định nghĩa khác có sự phát triển và hợp lý hơn nữa
Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước mà cả trong hệ thống chính trị và cũng chỉ gồm những người có trình độ được đào tạo từ cao đẳng, đại học trở lên mới gọi là cán
bộ Số có trình độ đào tạo thấp hơn gọi là nhân viên Bộ phận cán bộ nghiệp vụ chuyên môn trên đây thường được hình thành thông qua con đường đào tạo từ nhà trường Đây là
bộ phận cán bộ đông đảo và thường ổn định nhất
Với nghĩa thứ hai người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, cũng cần nhấn mạnh cả hệ thống chính trị Đây chính là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân biệt với người thường, không có chức vụ Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc đề bạt bổ nhiệm Nói đến cán bộ
là nói đến con người và người cán bộ ở nước ta được đặt trong mối quan hệ xác định
Trang 20Cán bộ quan hệ với tổ chức và cơ chế, chính sách
Cán bộ quan hệ với phong trào cách mạng của quần chúng
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phỉ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng”
Trong xã hội có giai cấp, đội ngũ cán bộ được hình thành theo quan điểm, mục đích của giai cấp cầm quyền Ở nước ta, cán bộ phải là người trung thành, tận tụy vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Vì vậy, khái niệm cán
bộ có hai nghĩa sau:
1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị, có trình độ đào tạo từ Cao đẳng, Đại học trở lên
2 Người làm công tác có chức vụ, phân biệt với người bình thường không có chức
vụ trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị”
Mỗi loại cán bộ đều có vai trò, vị trí nhất định trong xã hội Cần phân biệt các loại cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý
Cán bộ lãnh đạo có hai nghĩa sau:
“Thứ nhất, dùng để chỉ người đứng đầu của một tổ chức, một phong trào Thứ hai,
là người làm thức tỉnh hành vi của người khác”
Trang 21Sự lãnh đạo của Đảng theo Lênin phải bằng đường lối chính trị, bộ máy tổ chức bố trí cán bộ Sự lãnh đạo đó thông qua những con người cụ thể Người chỉ rõ: “Sự lãnh đạo chính trị sẽ là gì chứ ? Ai lãnh đạo nếu không phải là những con người, lãnh đạo cách mạng, nếu không phải là phân phối lực lượng”
Không có một đội ngũ cán bộ đông đảo về số lượng, đặc biệt đảm bảo chất lượng thì không thể nói tới quyền lãnh đạo: “Người cộng sản lãnh đạo chỉ có một cách duy nhất
để chứng minh quyền lãnh đạo của mình, đó là tìm cho mình được nhiều, càng ngày càng nhiều, những người phụ tá, biết giúp đỡ họ làm việc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú
ý đến kinh nghiệm của họ” Đảng cầm quyền có hai vấn đề hệ trọng: Một là đường lối chính trị, hai là vấn đề cán bộ, trong đó theo Lênin “Mấu chốt là vấn đề người, vấn đề lựa chọn con người” Bởi vì mọi nghị quyết, đường lối, chủ trương đều do con người làm ra Chủ nghĩa Mác – Lênin đánh giá cao vai trò của cán bộ, nhưng phải là cán bộ đã được lựa chọn, bảo đảm chất người, trình độ người Nếu không tìm thấy sự nâng cao, vượt trội về phẩm chất, năng lực ở những người cán bộ thì họ không xứng đáng là cán bộ, chưa nói đến người cộng sản, người lãnh đạo Bởi vì nếu như vậy, họ cũng chỉ như “bộ phận còn lại của giai cấp vô sản” mà thôi
Lênin không chỉ dừng lại ở việc đề ra một cách toàn diện tiêu chuẩn cán bộ mà trên
cơ sở đánh giá vai trò của cán bộ, Người còn chỉ ra những yêu cầu, nội dung cụ thể của công tác cán bộ với ý nghĩa Đảng, người làm công tác cán bộ là chủ thể, còn cán bộ là khách thể
Lênin đều nhấn mạnh đến tính khoa học trong việc lựa chọn và sử dụng cán bộ Người cho rằng sử dụng, bố trí cán bộ là một khoa học, nghĩa là phải đặt người đúng vị trí, có trí thức, kinh nghiệm ở lĩnh vực đó Việc tuyển lựa cán bộ xuất thân từ công nông
và nhân dân lao động là nhiệm vụ cơ bản, cấp bách, lâu dài thuộc quan điểm giai cấp trong công tác cán bộ theo học thuyết Mác – Lênin
3.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước về cán bộ và công tác cán bộ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Người rất quan tâm tới công tác cán bộ và huấn luyện cán bộ của Đảng Tư tưởng về công tác cán bộ của Người nhằm xây dựng được đội ngũ
Trang 22cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, có năng lực lãnh đạo, biết tổ chức quần chúng thực hiện tốt nhiệm vụ của cách mạng nước ta, đi đến mục tiêu đã chọn
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi “Cán bộ là gốc của mọi công việc; công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu” Cán bộ là người giúp Đảng, Chính phủ xây dựng chính sách, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn để lãnh đạo nhân dân trong từng giai đoạn cách mạng “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”
Trong công việc và quan hệ với nhân dân, người cán bộ cách mạng phải chí công
vô tư Quyền lực của người cán bộ lãnh đạo, quản lý là do quần chúng nhân dân trao cho,
vì vậy phải hết lòng phục vụ lợi ích chung của nhân dân, luôn luôn trung thành với quyền lợi của nhân dân, của Đảng, của giai cấp, dân tộc Sử dụng đúng đắn quyền lực nhân dân giao phó, cầm quyền vì dân, vừa là sự thử thách nghiêm khắc vừa là yêu cầu then chốt đối với người lãnh đạo, quản lý Trong tác phẩm sửa đổi lối làm việc Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” Để vừa có đức vừa có tài phụng sự nhân dân, người cán bộ “phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác – Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của Việt Nam, phải học tập lý luận chung của Đảng; phải biết đoàn kết với những người ngoài Đảng, phải biết dựa vào quần chúng, phải phát huy sức sáng tạo của quần chúng lao động” Công tác cán bộ của Đảng mang tính chiến lược và có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng
Đảng ta luôn xác định, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ; công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng cần có một đội ngũ cán bộ thích ứng, có phẩm chất và năng lực phù hợp với đòi hỏi của nhiệm vụ Vì vậy, công tác cán bộ cần vươn lên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn hiện nay, cụ thể là: Toàn
bộ công tác xây dựng đội ngũ cán bộ (xác định tiêu chuẩn, lập quy hoạch, kế hoạch, đào tạo bồi dưỡng, xây dựng quy chế, hoàn thiện chính sách…) đều phải xuất phát và gắn với
Trang 23yêu cầu cả trước mắt và lâu dài của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Mặt khác, quá trình chuyển biến mạnh mẽ của đất nước cũng sẽ tạo nên môi trường rèn luyện, thử thách, sàng lọc, tuyển chọn cán bộ, không ngừng nâng cao các kiến thức, phẩm chất năng lực của đội ngũ cán bộ
Những yêu cầu chủ yếu đối với việc đổi mới công tác cán bộ là:
Đổi mới công tác cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc là môi trường thực tiễn để rèn luyện, tuyển chọn và đào tạo cán bộ, nâng cao phẩm chất, kiến thức, năng lực của đội ngũ cán bộ Thường xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ Đồng thời, tăng cường số cán bộ xuất thân từ công nhân, trước hết là cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp Phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài, không phân biệt đảng viên hay người ngoài Đảng, dân tộc, tôn giáo; kế thừa phát huy truyền thống tốt đẹp của đội ngũ cán bộ cách mạng để xây dựng các thế hệ cán bộ hiện tại và tương lai
Thường xuyên đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách cán bộ Xây dựng đội ngũ cán bộ và xây dựng tổ chức, đổi mới cơ chế chính sách, phương thức, lề lối làm việc có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau Có nhiệm vụ chính trị mới lập tổ chức; có tổ chức mới bố trí cán bộ, không vì cán bộ mà lập ra tổ chức Mỗi cán bộ trong tổ chức phải có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm rõ ràng Quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ phải gắn với yêu cầu và nội dung xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng bộ máy Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, kiện toàn hệ thống chính trị, đổi mới cơ chế chính sách
Trên cơ sở phát triển sự nghiệp giáp dục và đào tạo, nâng cao dân trí để xây dựng đội ngũ cán bộ một cách cơ bản, chính quy, có hệ thống; đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân để giáo dục, rèn luyện, đào tạo, đánh giá, sàng lọc, tuyển chọn cán bộ Không đánh giá, sử dụng cán bộ một cách cảm tính, chủ quan Mọi phẩm giá và bằng cấp, danh hiệu và chức vụ, tài năng và cống hiến đều phải được kiểm nghiệm qua hoạt động thực tiễn Phong trào cách mạng của quần chúng là
Trang 24trường học lớn của cán bộ Phải dựa vào dân để phát hiện, kiểm tra và kiểm soát cán bộ Đảng trực tiếp chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cho cả hệ thống chính trị và trên mọi lĩnh vực Đảng thực hiện đường lối, chính sách cán bộ thông qua các tổ chức Đảng và đảng viên trong các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, thực hiện đúng quy trình, thủ tục, pháp luật của Nhà nước, điều lệ của các đoàn thể và tổ chức xã hội Phân công, phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp ủy và các tổ chức Đảng; đồng thời thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp, coi đây là một trong những việc quan trọng bậc nhất của lãnh đạo Những vấn đề về chủ trương, chính sách, đánh giá, bố trí, sử dụng, điều động, đề bạt, khen thưởng, xử lý, kỷ luật cán bộ nhất thiết phải do cấp ủy có thẩm quyền quyết định theo đa số Nghiêm túc chấp hành các nghị quyết của cấp ủy về cán bộ và công tác cán bộ, cá nhân phải chấp hành quyết định của tập thể; tổ chức Đảng cấp dưới phải chấp hành quyết định của tổ chức Đảng cấp trên
Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác tổ chức cán bộ đã được các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện nghiêm túc, đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần quan trọng vào việc củng cố, phát triển đội ngũ cán bộ, ổn định tư tưởng, thống nhất nhận thức và hoạt động trong Đảng và nhân dân
3.1.3 Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ dân tộc thiểu số
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ Bởi vậy trong bất cứ thời kỳ nào, Đảng ta cũng đều chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ là người dân tộc thiểu số đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng Trong giai đoạn hiện nay, để phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vấn đề xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ càng trở nên quan trọng Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã nhấn mạnh: “Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số Động viên phát huy vai trò của người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương” và “Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ dân tộc thiểu số” Cụ thể hóa một bước quan điểm trên đây, kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa IX của Đảng
đã nêu rõ: Tăng cường công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý “Đặc biệt quan tâm phát hiện đào tạo, bồi dưỡng nhân tài tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia
Trang 25giỏi, từ những cán bộ trẻ, thanh thiếu niên ưu tú, ưu tiên đối với những người xuất thân công nhân, nông dân ưu tú, con em gia đình có công với cách mạng, dân tộc ít người” Cho nên vấn đề quy hoạch, tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số không những là vấn
đề hết sức quan trọng, là chìa khóa để giải quyết vấn đề phát triển kinh tế – xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, đồng thời nó góp phần thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân và chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa IX đã đề ra nhiệm vụ “Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc”
Cụ thể hóa nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về đào tạo, bồi dưỡng như: Quyết định số 874/TTg của Thủ tướng Chính phủ về công tác đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức’ Thông tư liên tịch số 79/TTLT ngày 19/9/1997 của Ban Tổ chức – cán bộ Chính phủ, Bộ Kế họach và đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ giáo dục và đào tạo hướng dẫn thực hiện Quyết định số 874/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức giai đoạn
2001 – 2005, văn bản 1189/CP – ĐPI ngày 27/12/2000 của Chính phủ về việc điều tra, đánh giá đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số và lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng
Các văn bản pháp lý nói trên đóng một vai trò rất quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức dân tộc thiếu số, cán bộ làm công tác dân tộc nói riêng
3.1.4 Nhân tố tâm lý tộc người trong công tác cán bộ
Dân tộc Việt Nam hợp thành từ 54 dân tộc anh em Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hình thành tâm lý dân tộc, tạo nên bản sắc văn hóa của con người Việt Nam cả truyền thống và hiện đại
Tâm lý dân tộc cũng là một hình thái của ý thức xã hội, tuy nhiên khác với hệ tư tưởng, khi hình thái kinh tế – xã hội thay đổi thì hệ tư tưởng về căn bản thay đổi theo, còn tâm lý dân tộc không diễn ra theo quy luật của nó Quá trình xây dựng hình thái kinh tế xã hội mới, nhiều đặc điểm tâm lý của xã hội cũ không phù hợp sẽ dần mất đi, nhường chỗ cho những đặc điểm tâm lý dân tộc, tâm lý tộc người được thể hiện qua phong tục tập quán, nếp nghĩ, cung cách ứng xử,… vẫn tiếp tục tồn tại và ảnh hưởng đến từng cá nhân
Trang 26cũng như các nhóm, tầng lớp xã hội của xã hội hiện đại, Tâm lý dân tộc kể cả truyền thống và hiện đại luôn tồn tại hai mặt: Mặt tích cực – nếu biết phát huy sẽ trở thành động lực của sự phát triển, mặt tiêu cực – nếu không có giải pháp hạn chế sẽ trở thành lực cản cho sự pháp triển
Tâm lý tộc người, bản sắc văn hóa dân tộc là những vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm Tâm lý tộc người ảnh hưởng đến sự phát triển nói chung hay công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ lãnh đạo hiện nay nói riêng có thể là tích cực, là động lực, song cũng có thể là tiêu cực, là lực cản
* Những ảnh hưởng của tâm lý cộng đồng
Tâm lý cộng đồng được coi là đặc trưng nổi bật của con người Việt Nam trong truyền thống, nó được biểu hiện trước tiên trong gia đình và dòng họ sau đó tính cộng đồng được thể hiện ở cộng đồng làng – xã và rộng hơn là đất nước
Ở các miền núi – vùng dân tộc thiểu số, tính cộng đồng buôn làng vẫn được xem là một đặc trưng tâm lý tiêu biểu nhất trong quan hệ xã hội, nhất là trong xã hội cổ truyền
Nó tạo nên sự gắn bó, kết hợp chặt chẽ, cố kết mọi thành viên của cộng đồng, tạo thành sức mạnh để đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm
Tâm lý cộng đồng làng xã đã góp phần tạo nên sự đoàn kết, đồng thuận, nâng cao
ý thức trách nhiệm cá nhân của đồng bào các dân tộc, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý khu vực này đối với công tác cán bộ; đào tạo phát triển nguồn nhân lực Đồng bào các dân tộc thiểu số đã quan tâm đến việc cho con đi học để sau này làm cán bộ phục vụ quê hương và tự hào về tộc người ngày càng có nhiều con em có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn cao và giữ những cương vị lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở Tuy nhiên ngoài những ảnh hưởng tích cực trên còn có những ảnh hưởng tiêu cực cần được khắc phục như:
Tâm lý cộng đồng làng xã dễ dẫn đấn biệt lập, gây trở lực cho việc hòa nhập bản làng vào cộng đồng dân tộc, quốc gia Tính khép kín, biệt lập, cục bộ địa phương đã ảnh hưởng không nhỏ đến cán bộ ở miền núi dân tộc trong công tác quy hoạch, đánh giá nhất
là trong công tác sử dụng, đề bạt cán bộ Mặt khác, bản làng dân tộc cho đến nay vẫn còn biệt lập, khép kín; luật tục, tập quán pháp còn là cơ sở cho việc vận hành xã hội Cho nên
Trang 27trong nhiều trường hợp dẫn đến sự chênh lệch, không thống nhất giữa luật tục với luật pháp của Nhà nước Đặc điểm này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của người lãnh đạo, quản lý các cấp Thực tiễn công tác quản lý đòi hỏi đội ngũ này làm sao phải có sự kết hợp hài hòa, vừa kế thừa được những nhân tố hợp lý của luật tục, vừa thực hiện nghiêm minh luật pháp chung của Nhà nước Luật tục cũ, thói quen trong cách nghĩ, cách làm, sự hạn chế về mặt nhận thức pháp luật đã có ảnh hưởng lớn đến công tác và hiệu quả hoạt động của người cán bộ cơ sở tại các vùng miền núi đa dân tộc
Tính cộng đồng làng/bản của các tộc người ở các vùng miền núi đa dân tộc được hình thành từ cộng đồng về cư trú, cộng đồng về sở hữu và lợi ích, cộng đồng về tâm linh, cộng đồng về văn hóa, trong đó yếu tố cộng lợi đang trở thành vấn đề nan giải, bức xúc và
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực quản lý xã hội tại các vùng miền núi đa dân tộc hiện nay
* Dân trí và s nh n th c c a các t c ng i v vai trò c a giáo d c – đào t o
Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên đội ngũ cán
bộ là người dân tộc thiểu số đã có bước phát triển mới cả về số lượng và chất lượng, tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số đã được nâng lên một bước trong hệ thống chính trị các cấp Nhưng, nhìn một cách khách quan thì đến nay đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu
số còn thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, cơ cấu chưa đồng bộ nhất là ở cấp xã, phường đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số hiện nay vẫn ở tình trạng thiếu và hẫng hụt về cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị, cán bộ khoa học – công nghệ, cán bộ quản lý kinh tế có trình độ, năng lực Từ đó thấy rằng do thói quen nhận thức chưa đầy
đủ, còn hạn chế về vị trí, vai trò của giáo dục, của việc đầu tư cho con em các dân tộc đi học Trong các tộc người ở miền núi vẫn còn quan niệm coi sự học chưa phải là nhu cầu bức xúc, thiết thực Mặt khác, do đời sống kinh tế còn khó khăn nên việc con đi học là gánh nặng cho gia đình Bên cạnh đó chất lượng giáo dục miền núi lại có nhiều hạn chế, tình trạng bỏ học diễn ra thường xuyên nên đã tạo ra khó khăn rất lớn trong việc tạo nguồn xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là ờ cấp huyện, cấp tỉnh Đây là một khó khăn đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ mới có thể khắc phục được
Trang 28* Ch ngh a kinh nghi m là nét tâm lý nh h ng tiêu c c đ n đ i ng cán b và công tác cán b các vùng mi n núi đa dân t c
Ở vùng miền núi, do trình độ lực lượng sản xuất của các tộc người miền núi còn thấp, cuộc sống vẫn chưa khắc phục được thói quen du canh, du cư; tự cung tự cấp nên trong tiềm thức của người dân, thậm chí ngay cả ở một số cán bộ thôn, bản, xã chỉ để người có tuổi, người đứng đầu dòng họ, già làng; chưa chú trọng bồi dưỡng thế hệ trẻ, thậm chí còn thiếu tin tưởng vào đội ngũ cán bộ trẻ có học vấn, có trình độ và được đào tạo Chính vì thế, trong công tác cán bộ, nhất là những chức danh do dân bầu, dân cử, người được tín nhiệm phần lớn là đã nhiều tuổi Đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm cũng là nguyên nhân dẫn đến tư tưởng độc đóan, gia trưởng trong công tác cán bộ
* nh h ng c a tâm lý c c b , t t ng dân t c h p hòi
Tâm lý cục bộ, dân tộc hẹp hòi bắt nguồn từ chỗ coi trọng và tuyệt đối hóa tình cảm gia đình, dòng họ, làng bản, cùng dân tộc và nó thường thể hiện trong quan hệ xã hội cũng như trong công tác cán bộ, làm lẫn lộn giữa việc công và việc tư, giữa tình cảm gia đình, dòng họ, dân tộc, buôn làng với chức trách, nhiệm vụ được giao của bản thân Từ hiện tượng tâm lý tiêu cực trên mà trong nội bộ ở một số huyện, xã cũng như ở một số cơ quan xuất hiện bè phái, phe cánh, làm mất đoàn kết nội bộ; chỉ tin và chú trọng bồi dưỡng, cất nhắc người cùng dòng họ, dân tộc với mình Thậm chí các đợt bầu cử vào HĐND các cấp, nhất là cấp cơ sở đã xuất hiện những dòng họ vận động nhau bỏ phiếu cho người dòng họ mình, cùng dân tộc với mình Tâm lý cục bộ, dân tộc hẹp hòi cũng dẫn đến tình trạng khi có một cán bộ của dòng họ mình, dân tộc mình làm lãnh đạo thì ủng hộ, bao che, nương tựa vào nhau theo kiểu “một người làm quan cả họ được nhờ” Chính từ đây đã nảy sinh ra những bất đồng, xung đột, làm suy yếu sự đoàn kết trong nội bộ, kìm hãm công tác cán bộ
* nh h ng c a tâm lý ng i va ch m, d hòa vi quý
Cuộc sống bình yên trong bản, làng trong mối quan hệ cộng đồng nhà – làng – nước bền chặt đã hình thành nên tâm lý dĩ hòa vi quý mà cốt lõi của nó là xu hướng sống nặng về tình cảm, trọng tình nghĩa hơn cả pháp luật của người tiểu nông Vì muốn tồn tại,
Trang 29người ta phải sống gắn bó với nhau, giao tiếp, nhờ cậy và dựa vào nhau cho nên dẫn đến
cả nể, hòa cả làng, ngại va chạm, ngại đấu tranh đến cùng cho lẽ phải, ít biểu hiện quan đểm, chính kiến của mình, thậm chí còn nhận thức, tỏ thái độ hành vi theo gương người đứng đầu dòng họ, già làng, trưởng bản, người đứng đầu cơ quan mà không biết người đó đúng hay sai Tâm lý trên cũng dẫn đến không ít người dân, thậm chí cả người cán bộ trở thành thụ động, thiếu chính kiến, ngại đấu tranh phê bình, dẫn đến nguy cơ mất đoàn kết nội bộ
* nh h ng c a tâm lý th đ ng và l i
Tâm lý thụ động, ỷ lại là một nét tâm lý tiểu nông điển hình nảy sinh từ nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu kéo dài hàng ngàn năm ở nước ta Xuất phát từ đề cao kinh nghiệm, người có tuổi, người có chức sắc nên trong cuộc sống và lao động của các tộc người miền núi dân tộc trước đây hình thành thói quen dựa dẫm, trông chờ; người trẻ trông chờ vào già làng, trưởng bản Mặt khác, trong cơ chế quan liêu, tập trung bao cấp kéo dài trước đây, thói quen này lại càng có điều kiện tồn tại và phát triển trong đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ vùng dân tộc thiểu số nói riêng Ở một số cán bộ còn có tâm
lý yên phận, thiếu ý chí, nghị lực phấn đấu vươn lên; thiếu mạnh dạn, tìm tòi cái mới, muốn duy trì cơ chế “xin - cho” trước đây Có không ít cơ quan, địa phương cấp cơ sở thiếu cán bộ, song không chủ động xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng lại trông chờ vào sự điều động, luân chuyển của cấp trên
- Thứ hai, con người truyền thống quan hệ với nhau theo huyết thống, dòng họ, gia đình, gia tộc hẹp có tính bền vững lâu dài
Trang 30- Thứ ba, phạm vi giao tiếp của cư dân khép kín trong buôn, làng, quê quán, địa phương với mối giao tiếp thâm sâu Mọi hoạt động của họ không vượt qua ranh giới của buôn làng Nhiều người sinh ra lớn lên và chết tại buôn làng, không một lần đi xa
Từ những đặc trưng trên cùng với cách làm ăn theo phương thức tự cung, tự cấp ở trình độ thô sơ, thấp kém, dựa dẫm phần lớn vào thiên nhiên đã dẫn đến tầm nhìn hạn hẹp,
tư duy trực giác, manh mún Chính từ đây đã dẫn đến hiện tượng công tác cán bộ thiếu tính chiến lược lâu dài, mang tính chắp vá, chỉ nhìn thấy vụ việc, vấn đế trước mắt ở địa phương mình mà chưa có tầm nhìn xa, lâu dài
3.1.5 Đặc điểm của hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Trong cách mạng Tháng Tám năm 1945, cùng với nhân dân cả nước, đồng bào các dân tộc thiểu số đã đứng lên lật đổ chế độ thực dân phong kiến, thiết lập hệ thống chính quyền cách mạng từ tỉnh đến huyện, làng Trong các buôn làng người dân tộc thiểu số thành lập hệ thống chính quyền quản lý các hoạt động của buôn, làng Các cấp chính quyền có đại biểu là người dân tộc thiểu số
Sau cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể được hình thành từ tỉnh đến xã Bên cạnh hệ thống quản lý hành chính còn
có hệ thống quản lý kinh tế, rập khuôn theo mô hình ở đồng bằng với hai bộ phận là kinh
tế quốc doanh và kinh tế tập thể Xã là đơn vị hành chính đóng vai trò cầu nối giữa làng/buôn với huyện Cấp xã được trao quyền quản lý nhiều mặt
Trong quá trình hoạt động, thiết chế của hệ thống chính trị cơ sở không ngừng được kiện toàn về tổ chức, đã tạo những lớp người kế cận tại các buôn/làng thay thế dần đội ngũ cán bộ tăng cường
Nghiên cứu các thiết chế của hệ thống chính trị ở cơ sở thấy được một số đặc điểm sau:
- Mô hình, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng chưa tính toán đầy đủ yếu tố văn hóa xã hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, nên nhìn chung thiết chế của hệ thống chính trị ở cơ sở
Trang 31chưa phù hợp, thậm chí còn đối lập với các thiết chế xã hội cổ truyền mà chúng vẫn còn chi phối đến đời sống người dân
- Bộ máy của hệ thống chính trị cơ sở cồng kềnh, hiệu quả quản lý Lãnh đạo, nhất
là về lĩnh vực kinh tế không cao, tính hình thức sự yếu kém và sự bất cập với yêu cầu và nhiệm vụ là khá phổ biến Nhiều thiết chế đặt ra chỉ có tính hình thức, hoạt động kém hiệu quả, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể quần chúng Một số nơi mọi việc đều do Chủ tịch, Bí thư giải quyết, hoặc phải đợi lệnh của Bí thư, Chủ tịch Điều này phản ánh một thực trạng là nhiều người được cơ cấu vào các thiết chế của hệ thống chính trị không có
uy tín, không có năng lực lãnh đạo nên không phát huy được vai trò và nhiệm vụ được giao Mặt khác, do cơ cấu đặt ra còn mang tính hình thức, có chức nhưng không có quyền, không được tạo điều kiện để phát huy khả năng, vai trò của mình, trong khi đó một số người giữ vai trò chủ chốt trong hệ thống chính trị đã bao sân, làm thay hoặc giải quyết công việc không đúng chức năng của mình Hiện tượng Bí thư Đảng làm thay công việc của chính quyền, Chủ tịch làm thay công việc của các đoàn thể quần chúng do tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cơ sở hoạt động kém hiệu lực, nên không nắm được dân dẫn đến xa rời quần chúng
- Chế độ sử dụng, đãi ngộ cán bộ của Nhà nước chưa khuyến khích được những người đang làm việc cũng như động viên những người có năng lực và có uy tín tham gia trong các tổ chức của hệ thống chính trị ở cơ sở là một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự yếu kém trong hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở
- Về phương diện quản lý xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn một số vùng chịu ảnh hưởng của các tổ chức tôn giáo (Thiên chúa giáo, Tin lành…)
Các thiết chế chính trị – xã hội ở nông thôn miền núi còn bộc lộ nhiều yếm kém bởi nhiều nguyên nhân đó là:
+ Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, chưa tính toán đầy đủ điều kiện lịch sử, cụ thể của các dân tộc thiểu số nên đã áp đặt mô hình của hệ thống chính trị đồng bằng nặng tính hành chính quan liêu vào vùng miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số
Trang 32+ Chưa nhận thức đầy đủ vị trí của cấp xã và buôn/làng, thôn, ấp Vì vậy, một thời gian dài chính quyền buôn/làng, thôn, ấp ít được củng cố, địa bàn xã lại quá rộng, chính quyền xã không sát dân nên việc quản lý các quá trình kinh tế – xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ít hiệu quả
+ Chưa nhận thức đầy đủ ảnh hưởng của các yếu tố truyền thống đối với quá trình quản lý xã hội ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Trong khi đó các thiết chế xã hội cổ truyền vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt và luôn chi phối đời sống buôn làng
+ Đội ngũ cán bộ cấp xã năng lực còn hạn chế, trình độ học vấn còn thấp, chưa được đào tạo cơ bản đầy đủ; bộ máy tổ chức cồng kềnh, chồng chéo, một số bộ phận không phát huy vai trò; cán bộ ít hiểu biết phong tục tập quán các dân tộc thiểu số, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của Đảng, Nhà nước, chưa thực sự là chính quyền của nhân dân và đại diện cho nhân dân
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1.Thu thập tài liệu sơ cấp
Do hạn chế về thời gian nghiên cứu, phương tiện đi lại, kinh phí và tính đặc thù của đề tài nên tác giả không thể tiến hành điều tra toàn bộ ở các huyện, thị mà chỉ tiến hành điều tra ở huyện Bù Đăng (huyện có đồng bào dân tộc thiểu số chiếm nhiều nhất so với các huyện, thị trong tỉnh 36,66%); điều tra ở trường dân tộc nội trú tỉnh và một số đơn
vị như : Ban Dân tộc tỉnh, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục – Đào tạo, Đài phát thanh - Truyền hình tỉnh
Mẫu số 01 (Dành cho học sinh, sinh viên), với số lượng 40 mẫu: Điều tra tại trường Dân tộc nội trú Điểu Ong (huyện Bù Đăng) 20 mẫu, trường Dân tộc nội trú tỉnh 20 mẫu
Mẫu số 02 (Dành cho cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số) với 10 mẫu: Điều tra tại xã Đăk Nhau (Bù Đăng) 01 mẫu, Ban Dân tộc tỉnh 05 mẫu, Ban Dân vận Tỉnh
ủy 01 mẫu, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh 01 mẫu, trường Dân tộc nội trú tỉnh 02 mẫu
Trang 33Mẫu số 03 (Dành cho cán bộ địa phương), có 10 mẫu: Điều tra tại xã Đăk Nhau (huyện Bù Đăng) 02 mẫu, Ban Dân tộc tỉnh 01 mẫu, Sở Nội vụ 01 mẫu, Ban Tổ chức Tỉnh ủy 01 mẫu Huyện ủy Bù Đăng 01 mẫu, Ban Dân vận Tỉnh ủy 01 mẫu, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh 01 mẫu, trường Dân tộc nội trú tỉnh 01 mẫu, Sở Giáo dục – Đào tạo 01 mẫu
Ngoài điều tra bằng các mẫu có sẵn, tác giả còn phỏng vấn thêm các vị lãnh đạo của tỉnh như: Đ/c Điểu Điều – Đại biểu Quốc hội khóa 11- Phó Ban Dân tộc tỉnh; đ/c Phan Minh Hoàng – Giám đốc Đài phát thanh – Truyền hình tỉnh; Đ/c Bùi Văn Thành - Phó trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy; đ/c Phan Sỹ Giản – Giám đốc sở Giáo dục – Đào tạo, đ/c Trương Thị Tuyết Trưởng phòng đào tạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy; đ/c Vũ Văn Mừng Trưởng phòng đào tạo Sở Nội vụ
3.2.2 Thu thập tài liệu thứ cấp
Gồm có các văn bản của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, số liệu từ Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Sở Nội vụ, Sở Giáo dục – Đào tạo, Ban Dân tộc tỉnh và Ban Dân vận các huyện, thị trong tỉnh…
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh
Từ khi mới tái lập (1/1/1997), đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội của đại bộ phận nhân dân trong tỉnh còn nhiều khó khăn thiếu thốn, cơ sở hạ tầng và xuất phát điểm kinh
tế của tỉnh thấp kém Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, cùng với sự cố gắng nỗ lực vươn lên của Đảng bộ, nhân dân trong tỉnh, tình hình kinh tế – xã hội của địa phương đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, thu nhập bình quân đầu người đạt 703USD/người/năm (số liệu năm
Trang 342007) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Cơ sở hạ tầng giao thông
và mạng lưới thông tin liên lạc được nâng cấp; giáo dục, y tế đầu tư phát triển góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hoàn thành mục tiêu chiến lược giáo dục của tỉnh “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”
Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, bộ mặt nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có nhiều thay đổi, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào không ngừng được cải thiện và nâng cao Đồng bào các dân tộc ngày càng phấn khởi, tin tưởng vào những chủ trương, chính sách của Đảng và công cuộc đổi mới của đất nước
Tuy nhiên hiện nay Bình Phước vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức trên con đường phát triển Mức sống của nhân dân nhìn chung còn thấp, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số do trình độ dân trí thấp, việc tiếp cận KHKT còn hạn chế nên một bộ phận còn trong tình trạng đói nghèo và thiếu đói giáp hạt; tình hình di dân tự do, phá rừng làm rẫy đã và đang tạo ra nhiều áp lực cho địa phương; tình hình an ninh trật tự vùng biên giới, vấn đề dân tộc, tôn giáo còn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp có thể gây tác động xấu đến sự ổn định và phát triển của tỉnh
4.2 Kết quả thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh
Bình phước là tỉnh miền núi có 41 thành phần dân tộc khác nhau cùng sinh sống trên địa bàn, chiếm 19,4% dân số toàn tỉnh, trong đó có nhiều dân tộc di cư từ phía Bắc vào với số lượng tương đối lớn như dân tộc Tày, Nùng… Từ khi tách tỉnh đến nay, Đảng
bộ tỉnh đặc biệt quan tâm đến công tác dân tộc Tỉnh ủy đã ban hành nhiều nghị quyết, chủ trương, chính sách như: Nghị quyết 07-NQ/TU về phát triển kinh tế – xã hội vùng miền núi dân tộc, Nghị quyết 08 – NQ/TU về xóa đói giảm nghèo, chủ trương xây dựng nhà tình thương cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn… Nhờ có những chủ trương đúng đắn kịp thời nên đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên rõ rệt
a) Về kinh tế
Trang 35Việc triển khai có hiệu quả các chương trình dự án như: 134, 135, 168 của Chính phủ…; đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đã mang lại những hiệu quả to lớn, giúp đồng bào dân tộc thiểu số vươn lên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo Cơ sở hạ tầng được tập trung đầu tư đã góp phần mang lại những thay đổi trong diện mạo kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số Đến nay 100% số xã trên địa bàn tỉnh
đã có đường điện lưới đến trung tâm xã và đường giao thông đến các thôn ấp, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào giao thương phát tiển kinh tế Công tác khuyến nông, khuyến lâm được quan tâm đã góp phần quan trọng giúp đồng bào tiếp cận KHKT, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Những hộ khá, giàu trong đồng bào dân tộc thiểu số tăng lên đáng
kể, ngày càng xuất hiện nhiều mô hình nông dân sản xuất giỏi có thu nhập từ 50 đến 100 triệu đồng/năm Toàn tỉnh hiện chỉ còn 5.754 hộ là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo
b) Về văn hóa xã hội
-Chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc: Đã nghiên cứu phục hồi
và bảo tồn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc tại chỗ (S’Tiêng, Mnông, Khmer…) và sưu tầm hiện vật như : trang phục, công cụ lao động, vũ khí săn bắn, các nhạc cụ truyền thống như cồng, chiêng, sáo… hiện đã có trên 1000 hiện vật được sưu tầm Đồng thời, tiến hành nghiên cứu các đề tài khoa học, bảo tồn những lễ hội truyền thống, nhằm giữ gìn và phát huy những gía trị bản sắc văn hóa dân tộc
-Lĩnh vực phát thanh truyền hình: Hoạt động phát thanh truyền hình, truyền thanh
cơ sở phát triển khắp trong tỉnh, với nhiều nội dung tuyên truyền phong phú đa dạng thu hút trên 95% tỷ lệ hộ nghe Đặc biệt, từ tháng 6/2006 đã xây dựng được 2 chương trình phát sóng tiếng dân tộc S’Tiêng và Khmer trên 2 kênh 25UHF và kênh 6VHF với thời lượng trung bình 36phút/ngày Chương trình phủ sóng phát thanh truyền hình đã cơ bản đến được vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số góp phần đưa tiếng nói của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào dân tộc Hiện nay toàn tỉnh có 5 đội chiếu phim lưu động chuyên phục vụ các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số
c) Về giáo dục – y tế
Trang 36- Về giáo dục: Cơ sở vật chất, trường lớp, phòng học ngày càng được củng cố, kiện
toàn, trên 91,5% phòng học được xây dựng kiên cố Đội ngũ giáo viên toàn ngành là 8.050 người (có 266 người là giáo viên người dân tộc thiểu số) luôn được chú trọng bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đạt chuẩn qua đào tạo từ Đại học, Cao đẳng và Trung cấp trở lên chiếm 91,8% Số học sinh dân tộc thiểu số đến trường đúng tuổi chiếm tỷ lệ ngày càng cao Tỷ lệ học sinh đến lớp ngày càng tăng Đến nay tổng số học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số đang theo học tại các trường có trên 36.907 em Toàn tỉnh có 5 trường dân tộc nội trú với 1.045 em, học bổng dành cho học sinh trường dân tộc nội trú là 360.000đ/người/tháng Nhiều em sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học đã được cử tuyển vào học tại các trường trung học, cao đẳng và đại học Ngoài những ưu đãi của nhà nước, các em cũng được hưởng các ưu đãi khác theo quy định của tỉnh Các sở, ban ngành
đã bố trí việc làm cho 40 sinh viên học cử tuyển là người dân tộc thiểu số đã tốt nghiệp ra trường
- Về y tế: Mạng lưới y tế không ngừng được củng cố, nhất là y tế thôn bản 100%
thôn bản có nhân viên y tế, nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi Hệ thống cơ sở khám, chữa bệnh ngày càng được củng cố và phát triển, trang thiết bị được đầu tư hiện đại Hiện nay, toàn tỉnh có 8 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, 92/102 xã, phường, thị trấn có trạm
y tế đạt 56,3%, tỷ lệ trẻ en dân tộc thiểu số được tiêm chủng theo quy định đạt chỉ tiêu giao (trên 95%)
d) Về quốc phòng - an ninh
Nhìn chung, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được đảm bảo ổn định Mặc dù có một số vụ việc khiếu kiện liên quan đến đất đai, nhưng hầu hết đã được xử lý, giải quyết kịp thời, không để xảy ra điểm nóng Các cấp chính quyền thường xuyên chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục tư tưởng, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc và chương trình mục tiêu 5 giảm; xây dựng, củng cố và thành lập các tổ nhân dân tự quản, tổ
an ninh nhân dân, tổ hòa giải, đã được đông đảo đồng bào dân tộc tham gia, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn củng cố quốc phòng – an ninh ở địa phương
4.3 Thực trạng công tác cán bộ dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Phước
Trang 374.3.1 Những thành tựu trong công tác cán bộ dân tộc thiểu số
* Thành công trong công tác quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số
Trong những năm qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh luôn coi trọng việc chăm lo đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ là người dân tộc thiểu số Đặc biệt là từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX và X nhất nghị quyết Trung ương bảy khoá IX về công tác dân tộc; Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII và VIII đến nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số đã có bước chuyển biến tích cực, đáp ứng được yêu cầu tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số phục vụ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương Bình Phước Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã quan tâm đầu tư về nhiều mặt cho công tác này Đến nay đã xây dựng được một hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú, bao gồm 04 trường cấp huyện, 01 trường cấp tỉnh và nhiều trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, Trung tâm giáo dục thường xuyên, trường chính trị tỉnh, 01 trường cao đẳng sư phạm, 01 trường cao đẳng nghiệp vụ cao su,
01 trường đào tạo nghề Tôn Đức Thắng, ngoài ra còn có các trường Đại học liên kết mở các lớp Đại học tại chức, Cao đẳng, Trung học… tại tỉnh Nhờ vậy, đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, tham gia ngày càng đông đảo trong hệ thống chính trị, trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội, an ninh – quốc phòng Tính đến năm 2008, số cán bộ dân tộc thiểu số có trình độ sau đại học là 01 người, số có trình độ đại học, cao đẳng là 189 người, trung cấp là 162 người, sơ cấp có
129 người Ngoài ra hiện nay có 131 sinh viên dân tộc đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng, còn có hàng ngàn công nhân là người dân tộc thiểu số được đào tạo chuyên môn để phục vụ cho các công ty, doanh nghiệp Nhiều cán bộ dân tộc thiểu số đã và đang giữ vị trí chủ chốt trong các cơ quan Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cơ sở Họ đã và đang góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng phát triển kinh tế địa phương và bảo vệ tổ quốc
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII, hiện nay ở các huyện, thị
và xã, phường đã và đang triển khai thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó vấn đề quy hoạch cán bộ dân tộc thiểu số đã được coi trọng Nhìn chung, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số những năm qua có những ưu điểm chính sau:
Trang 38Một là, đã tạo được sự thống nhất trong nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền và đội ngũ cán bộ chủ chốt các địa phương, nhất là ở các địa phương có đông đồng bào là người dân tộc thiểu số Qua các bước triển khai, thảo luận đã giúp cho các cấp ủy Đảng lãnh đạo các ngành, đoàn thể có nhận thức đúng đắn và nhất quán về quan điểm cơ bản của Đảng về công tác quy hoạch cán bộ Trong đó có cán bộ dân tộc thiểu số Mọi người đều ý thức rõ mỗi thời kỳ cách mạng đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, xây dựng được đội ngũ cán bộ có tài và có đức Công tác chuẩn bị đội ngũ cán
bộ trẻ, có đủ điều kiện, tiêu chuẩn về mọi mặt sẵn sàng kế thừa nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới Vì vậy, các cấp ủy và cán bộ chủ chốt các cấp đều thấy rằng, việc chỉ đạo
và thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở địa phương, đơn vị mình là yêu cầu cấp thiết
Hai là, đã cụ thể hóa tiêu chuẩn một số chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý chủ chốt Trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp ủy đã nhận thức rõ tiêu chuẩn là căn cứ để đánh giá, xác định nguồn tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí,
sử dụng cán bộ
Nhìn chung, về phẩm chất chính trị, các cấp và các địa phương làm quy hoạch đều đặt ra yêu cầu: Có lập trường, tư tưởng vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước, có ý thức đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm, vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng
+ Về năng lực: Có khả năng nắm bắt, phán đoán tình hình để đề ra phương hướng,
kế hoạch và lãnh đạo tổ chức thực hiện đạt kết quả, có khả năng đoàn kết nội bộ, vận động quần chúng, am hiểu về văn hóa, phong tục tập quán đồng bào dân tộc thiểu số
+ Về trình độ: Ở các địa phương đều coi trọng tiêu chuẩn về trình độ, tùy cấp độ quy hoạch và đặc điểm, mỗi địa phương có những tiêu chí khác nhau, cấp trên cơ sở tối thiểu là có trình độ cấp III
+ Về phẩm chất đạo đức, phong cách: Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể các địa phương đều đưa ra các tiêu chí: Trung thực, thẳng thắn, có uy tín trong nội bộ tổ chức
và cộng đồng, tác phong làm việc nhanh nhẹn, có tinh thần trách nhiệm cao
Trang 39+ Về tuổi đời: Ở nhiều địa phương đã có cơ cấu ba đội tuổi, trong đó đối tượng trẻ được chú trọng, đặc biệt là những đối tượng mới hoàn thành nghĩa vụ quân sự, học sinh phổ thông trung học dân tộc nội trú
Ba là, việc lựa chọn cán bộ dự bị được tiến hành một cách dân chủ Trong đánh giá lựa chọn, xét duyệt cán bộ dự bị, các cấp ủy Đảng đã tiến hành thận trọng, thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, đảm bảo sự thảo luận tập thể, nhất trí theo đa số, ít có tình trạng cực đoan, cục bộ, bè phái, ưu ái cá nhân
Bốn là, công tác quy hoạch đã tạo ra được một đội ngũ cán bộ kế cận là người dân tộc thiểu số trẻ, có chất lượng, có cơ cấu tương đối hợp lý, bước đầu đảm bảo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới
Năm là, qua thực tiễn công tác quy hoạch cán bộ đã giúp cho các cấp ủy Đảng, chính quyền các địa phương hình thành được nội dung, phương pháp cơ bản, cụ thể trong công tác quy hoạch cán bộ, đồng thời đưa công tác quy hoạch cán bộ dần đi vào nề nếp
4.3.2 Kết quả công tác đào tạo – bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc thiểu số
a) Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc thiểu số và công tác đào tạo – bồi dưỡng
Chất lượng đội ngũ cán bộ được trình bày ở phụ lục số 01 “Chất lượng đội ngũ cán
bộ người dân tộc thiểu số tỉnh Bình Phước”
Cấp tỉnh : có 36 cán bộ người dân tộc thiểu số, trong đó trình độ văn hóa cấp III:
36 người; trình độ chuyên môn: đại học 24 người, cao đẳng 02 người, trung cấp, 01 người, chưa qua đào tạo 5 người; Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 01 người, cử nhân 01 người , trung cấp 10 người, chưa qua đào tạo là 25 người
Cấp huyện: có 76 cán bộ người dân tộc thiểu số, trong đó trình độ văn hóa cấp I:
02 người, cấp II: 05 người; cấp III: 69 người; trình độ chuyên môn: đại học 24 người, cao đẳng 04 người, trung cấp, 23 người, sơ cấp 09 người, chưa qua đào tạo 16 người; Trình
độ lý luận chính trị: Cao cấp 05 người, không có cử nhân, trung cấp 06 người, chưa qua đào tạo là 64 người
Trang 40Cấp xã: có 121 cán bộ người dân tộc thiểu số, trong đó trình độ văn hóa cấp I: 22 người, cấp II: 34 người; cấp III: 66 người; trình độ chuyên môn: đại học 6 người, trung cấp, 28 người, sơ cấp 03 người, chưa qua đào tạo 84 người; Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 01 người, không có cử nhân, trung cấp 39 người, sơ cấp 40 người, chưa qua đào tạo là 41 người
Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, trong những năm qua các cấp ủy, chính quyền luôn quan tâm đến công tác đào tạo – bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức dân tộc thiểu số Đến nay đã bố trí 233 cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số vào làm việc ở các cơ quan Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng ban hành những quy định
về chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là con em đồng bào dân tộc thiểu số đang học tập ở các trường trong cả nước Trong thời gian 1998 – 2008, đã lựa chọn được 487 học viên đủ điều kiện đi đào tạo theo chế độ cử tuyển; hỗ trợ kinh phí cho 28 sinh viên theo học trường Cao đẳng sư phạm Sóc Trăng, 89 học viên học đại học tại chức Nông lâm tại tỉnh Bình Phước được hưởng chế độ theo Quyết định 159/2005/QĐ – UBND của UBND tỉnh ngày 21/12/2005 Cụ thể như sau: