ỨNG DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC HỌC SINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG THCS HAI BÀ TRƯNG TP.HCM Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/5070671-nguyen-tan-phu.htmỨNG DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC HỌC SINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG THCS HAI BÀ TRƯNG TP.HCM Xem nội dung đầy đủ tại: https://123doc.org/document/5070671-nguyen-tan-phu.htm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG NHẰM
NÂNG CAO NHẬN THỨC HỌC SINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
TẠI TRƯỜNG THCS HAI BÀ TRƯNG TP.HCM
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN TẤN PHÚ Ngành : Quản lý Môi trường
Niên khóa : 2005 - 2009
Trang 2ỨNG DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC HỌC SINH VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG THCS HAI BÀ TRƯNG TP.HCM
Tác giả
NGUYỄN TẤN PHÚ
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư
ngành Quản Lý Môi Trường
Giáo viên hướng dẫn : Ths Lê Tấn Thanh Lâm PGS TS Bùi Xuân An
Tháng 07 năm 2009
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH NÔNG LÂM TP.HCM
KHOA CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
PHIẾU GIAO NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
HỌ VÀ TÊN SV: NGUYỄN TẤN PHÚ MÃ SỐ SV: 05149076
NIÊN KHÓA: 2005 – 2009
1 Tên đề tài: “ỨNG DỤNG CÔNG CỤ TRUYỀN THÔNG NHẰM NÂNG CAO NHẬN
THỨC HỌC SINH VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG THCS HAI BÀ
TRƯNG TP.HCM “
2 Nội dung KLTN: Kết hợp với đoàn trường tổ chức phong trào “ Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh đô thị năm 2009”
- Phát phiếu điều tra nhận thức học sinh
- Thuyết trình trình trước học sinh toàn trường về chủ đề BVMT
- Tổ chức tuyên truyền trước toàn trường dưới hình thức tiểu phẩm
- Tổ chức cuộc thi thiết kế poster, vẽ tranh cổ động về chủ đề bảo vệ môi trường
3 Thời gian thực hiện: Bắt đầu: tháng 3/2009 Kết thúc: tháng 6/2009
4 Họ và tên Giáo viên hướng dẫn: Ths Lê Tấn Thanh Lâm
PGS TS Bùi Xuân An
Nội dung và yêu cầu KLTN đã được thông qua Khoa và Bộ môn
Ngày tháng năm 2009 Ngày 5 tháng 3 năm 2009
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
Các thầy, cô giáo trường Đại Học Nông Lâm Khoa Môi Trường và Tài Nguyên
đã tận tâm giảng dạy, truyền thụ cho tôi những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ths Lê Tấn Thanh Lâm, PGS TS Bùi Xuân An, người đã hướng dẫn trực tiếp, dành hết tâm huyết tận tình chỉ dạy, dẫn dắt tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khoá luận này
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy Lê Trường Kỳ, Trưởng Phòng Giáo Dục và Đào Tạo quận 3, thành phố
Hồ Chí Minh, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập Ban lãnh đạo, cán bộ trường Trung Học Cơ Sở Hai Bà Trưng, đã cung cấp những thông tin cần thiết, cảm ơn sự giúp đỡ tích cực và đáng quý của thầy Đoàn Hữu Khánh, Phó Hiệu Trưởng, cô Huỳnh Tú Mai, tổng phụ trách Đội đã tạo mọi thuận lợi giúp tôi triển khai điều tra thu thập số liệu tại hiện trường
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 5TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “ Ứng dụng công cụ truyền thông môi trường nhằm nâng cao
nhận thức hoc sinh về bảo vệ môi trường tại trường THCS Hai Bà Trưng TP.HCM ” được tiến hành tại trường THCS Hai Bà Trưng, Quận 3, TP.HCM, trong thời gian từ 12/01/2009 đến 12/06/2009
Mục đích : Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh tại địa bàn và đánh giá vai trò của các công cụ tuyên truyên
Nội dung: Kết hợp với đoàn trường tổ chức phong trào “ Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh đô thị năm 2009”
- Phát phiếu điều tra nhận thức học sinh
- Thuyết trình trình trước học sinh toàn trường về chủ đề BVMT
- Tổ chức tuyên truyền trước toàn trường dưới hình thức tiểu phẩm
- Tổ chức cuộc thi thiết kế poster, vẽ tranh cổ động về chủ đề bảo vệ môi trường
Kết quả thu được :
- Kết quả nhận thức về bảo vệ môi trường của học sinh : hầu hết tỷ lệ học sinh đạt loại tốt các chỉ tiêu đánh giá đều thay đổi theo hướng gia tăng Điều này khẳng định tính hiệu quả của công tác tuyên truyền
- Xây dụng và thực hiện thành công chương trình tuyên truyền giáo dục môi trường qua phong trào “ Tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh đô thị năm 2009” :
Qua công tác tuyên truyền, ý thức bảo vệ môi trường của học sinh hầu hết đã thay đổi theo chiều hướng gia tăng Đồng thời để phát huy tối đa hiệu quả của công tác tuyên truyền cần sử dụng công cụ tiểu phẩm làm nòng cốt và kết hợp với các công cụ khác một cách hợp lý
Trang 6MỤC LỤC
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT v
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa đề tài 2
1.5.1 Ý nghĩa xã hội 2
1.5.2 Ý nghĩa kinh tế 2
1.5.3 Ý nghĩa môi trường 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan về truyền thông môi trường 3
2.1.1 Khái niệm truyền thông môi trường 3
2.1.2 Mục tiêu của truyền thông môi trường 4
2.2 Công cụ truyền thông 4
2.2.1 Truyền thông cá nhân 4
2.2.1.1 Truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp 4
2.2.1.2 Truyền thông qua điện thoại 5
2.2.1.3 Truyền thông qua thư 6
2.2.2 Truyền thông tập thể 6
2.2.3 Phương tiện truyền thông đại chúng 7
2.2.3.1 Báo chí 7
2.2.3.2 Pano, áp phích, tranh ảnh, poster 8
2.2.3.3 Tờ rơi, tờ bướm 9
2.2.3.4 Khẩu hiệu 9
2.2.3.5 Phim ảnh 10
2.2.3.6 Internet 10
2.2.4 Truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm 11
2.2.5 Công cụ pháp luật 11
2.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về TTMT 14
2.3.1 Trên thế giới 14
2.3.1.1 Chương trình phổ biến thông tin đến cộng đồng 14
2.3.1.2 Một số chương trình TTMT tại các nước dựa trên nguyên tắc “Phổ biến thông tin đến cộng đồng” 15
2.3.1.3 Kế hoạch quốc gia về TTMT ở Thái Lan 18
2.3.1.4 Sáng kiến 3R 20
Trang 72.3.1.5 Chương trình TTMT tại các nước quốc gia khác 22
2.3.2 Tại Việt Nam 23
2.3.2.1 Chương trình “Xanh-Sạch-Đẹp” thủ đô 23
2.3.2.2 Tổ chức thực hiện công tác truyền thông GDMT năm 2007 23
2.3.2.3 Chiến dịch GDMT cho các trường tiểu học TP HCM 24
2.4 Hiện trạng địa bàn nghiên cứu 25
2.4.1 Tổng quan về Trường Trung Học Cơ sở Hai Bà Trưng 25
2.4.2 Tình trạng quản lý rác thải 27
2.4.3 Hiện trạng giáo dục nhận thức học sinh 27
2.4.4 Ưu điểm của hệ thống quản lý môi trường tại đơn vị 27
2.4.5 Nhược điểm của hệ thống quản lý 28
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 29
3.1 Bài thuyết trình 29
3.1.1 Nội dung 29
3.1.2 Phương pháp tiến hành 29
3.1.3 Tiến độ thực hiện 30
3.2 Poster, tranh cổ động 30
3.2.1 Nội Dung 30
3.2.2 Phương pháp tiến hành 30
3.2.3 Tiến độ thực hiện 30
3.3 Tiểu phẩm kịch sân khấu 31
3.3.1 Nội dung 31
3.3.2 Phương pháp tiến hành 31
3.3.3 Tiến độ thực hiện 31
3.4 Phiếu điều tra 31
3.4.1 Nội dung 31
3.4.2 Phương pháp tiến hành 32
3.4.3 Tiến độ thực hiện 34
3.5 Kế hoạch thực hiện 35
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 36
4.1 Bài thuyết trình 36
4.2 Poster cổ động 36
4.3 Tiểu phẩm 37
4.4 Phiếu điều tra 38
4.4.1 Đối với học sinh lớp 6 38
4.4.2 Đối với học sinh lớp 7 40
4.4.3 Đối với học sinh lớp 8 40
4.4.4 Đối với học sinh lớp 9 41
4.4.5 Kết quả tổng hợp 43
4.5.Đánh giá 46
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến Nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
THCS Trung học cơ sở
Sở GD-ĐT Sở Giáo Dục và Đào Tạo
UBND Uỷ Ban Nhân Dân
BVMT Bảo vệ môi trường
GDMT Giáo dục môi trường
TTMT Truyền thông môi trường
WB Ngân Hàng Thế Giới
BAPEDAL Cơ quan kiểm soát ô nhiễm quốc gia Indonesia
DENR Bộ Môi Trường và Tài nguyên Philippin
3R Reduce (giảm thiểu) - Reuse (tái sử dụng) - Recycle (tái chế) ASEAN Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức và bố trí nhân sự trường THCS Hai Bà Trưng .26
Đồ thị 4.1 Sự thay đổi về tỷ lệ % học sinh có kiến thức tốt về môi trường trước và sau khi tiến hành tuyên truyền 43
Đồ thị 4.2 Sự thay đổi về tỷ lệ % học sinh nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác BVMT trước và sau khi tiến hành tuyên truyền .44
Đồ thị 4.3 Sự thay đổi về tỷ lệ % học sinh có ý thức BVMT trước và sau khi tiến hành tuyên truyền 44
Đồ thị 4.4 Sự thay đổi về tỷ lệ % học sinh có thái độ nhiệt tình tham gia công tác BVMT trước và sau khi tiến hành tuyên truyền 45
DANH SÁCH CÁC BẢNG Bảng 2.1 Phân hạng trong chương trình PROPER 15
Bảng 2.2 Bảng xếp hạng áp dụng trong chương trình PROPER 16
Bảng 3.1 Bảng thống kê số lượng học sinh 8 lớp đại diện .32
Bảng 3.2 Bảng tiến độ thực hiện 35
Bảng 4.1 Kết quả công tác tuyên truyền đối với học sinh khối 6 .39
Bảng 4.2 Kết quả công tác tuyên truyền đối với học sinh khối 7 .40
Bảng 4.3 Kết quả công tác tuyên truyền đối với học sinh khối 8 .41
Bảng 4.4 Kết quả công tác tuyên truyền đối với học sinh khối 9 .42
Trang 10do ý thức của người dân Người dân có ý thức tốt thì công tác quản lý của chính quyền
sẽ gặp nhiều thuận lợi Vì vậy, giảm thiểu ô nhiễm môi trường chỉ thực hiện được khi người dân được tuyên truyền giáo dục và nâng cao ý thức về BVMT
Trên thế giới, tại các nước phát triển, công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao
ý thức BVMT cho người dân đã được tiến hành từ rất sớm Tại Việt Nam, công tác tuyên truyền mới trong giai đoạn khởi đầu và còn khá mới đối với người dân tại các đô thị lớn Công tác tuyên truyền chưa thật sự gây được ấn tượng và làm đúng vai trò : tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân
Việt Nam chúng ta có khoảng 17.586.900 học sinh từ lớp 1 đến lớp 12, trong đó
có 6.792.000 học sinh cấp THCS (theo Bộ GD-ĐT, 2005) Tại TP Hồ Chí Minh hiện
có khoảng 927.751 học sinh theo từ lớp 1 đến lớp 12, trong đó cấp THCS là 327.652 học sinh (theo Sở GD-ĐT TP.HCM, 2008)
Theo các nhà tâm lý học, độ tuổi từ 11-14 (học sinh THCS) là độ tuổi hình thành nhận thức rõ rệt nhất ở con người và là giai đoạn quan trọng để giáo dục nhận thức Đồng thời đối tượng ở độ tuổi này là thành phần dể tiếp thu, học hỏi những điều hay, mới lạ Giới trẻ thành phố tiếp thu rất nhanh và họ cũng sẽ truyền đạt điều họ tiếp thu cho các tầng lớp khác trong gia đình, ngoài xã hội nên là đối tượng chính cần nghiên cứu và tuyên truyền nhận thức về bảo vệ môi trường
Trang 11Vì những lý do trên, được sự đồng ý của trường Đại Học Nông Lâm, Khoa Công Nghệ Môi Trường tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài : “ Ứng dụng công cụ truyền thông môi trường nhằm nâng cao nhận thức hoc sinh về bảo vệ môi trường tại trường THCS Hai Bà Trưng TP.HCM ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Nâng cao ý thức của học sinh trường THCS Hai Bà Trưng về BVMT
- Đánh giá vai trò, tính hiệu quả của các công cụ trong công tác tuyên truyền
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tổng quát nhận thức học sinh về vấn đề BVMT
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức học sinh về BVMT
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu : Trường THCS Hai Bà Trưng
- Khách thể nghiên cứu : học sinh trường THCS Hai Bà Trưng
- Đối tượng nghiên cứu: nhận thức về BVMT của học sinh
- Thời gian nghiên cứu : từ tháng 01/2009 đến tháng 07/2009
1.5 Ý nghĩa đề tài
1.5.1 Ý nghĩa xã hội
Nâng cao nhận thức BVMT của học sinh
1.5.2 Ý nghĩa kinh tế
Tiết kiệm chi phí cho hệ thống xử lý, thu gom, vận chuyển chất thải
1.5.3 Ý nghĩa môi trường
Giảm thiểu ô nhiễm, tạo cảnh quan môi trường sạch đẹp
Trang 12Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về truyền thông môi trường
2.1.1 Khái niệm truyền thông môi trường
Theo Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư Mở ( http://www.vi.wikipedia.org ) Truyền thông được hiểu là một quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ giữa hai người hoặc một nhóm người với nhau. Truyền thông môi trường
là một quá trình tương tác xã hội hai chiều nhằm giúp cho những người có liên quan hiểu được các yếu tố môi trường then chốt, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của chúng
và cách tác động vào các vấn đề có liên quan một cách thích hợp để giải quyết các vấn
đề về môi trường
Truyền thông môi trường không nhằm quá nhiều vào việc phổ biến thông tin
mà nhằm vào việc chia sẻ nhận thức về một phương thức sống bền vững và nhằm khả năng giải quyết các vấn đề môi trường cho các nhóm người trong cộng đồng xã hội
▲Phân biệt truyền thông môi trường với giáo dục môi trường
- GDMT là quá trình tương tác một chiều, người giảng dạy Æ người tiếp thu, nhằm giúp người tiếp thu tiếp nhận các kiến thức, thông tin về vấn đề môi trường, nhằm giải quyết vấn đề đó hiệu quả hơn
- GDMT chức năng chính là phổ cập thông tin cho một tầng lớp xác định về vấn đề môi trường
Vì vậy, TTMT là quá trình tiến hành tuyên truyền, nâng cao nhận thức về môi trường, trong đó GDMT là một hình thức chủ yếu Và GDMT lại sử dụng các phương tiện TTMT làm công cụ để thực hiện công tác giảng dạy
Trang 132.1.2 Mục tiêu của truyền thông môi trường
- Thông tin cho người bị tác động bởi các vấn đề môi trường biết tình trạng của họ, từ
đó họ quan tâm đến việc tìm kiếm các giải pháp khắc phục
- Huy động các kinh nghiệm, kỹ năng, bí quyết địa phương tham gia vào các chương trình bảo vệ môi trường
- Thương lượng hoà giải các xung đột, khiếu nại, tranh chấp về môi trường giữa các cơ quan, trong nhân dân
- Tạo cơ hội cho mọi thành phần trong xã hội tham gia vào việc bảo vệ môi trường, xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường
- Khả năng thay đổi các hành vi sẽ được hữu hiệu hơn thông qua đối thoại thường xuyên trong xã hội
2.2 Công cụ truyền thông
Theo tài liệu do Từ Điển Bách Khoa Toàn Thư Mở cung cấp, công cụ truyền thông bao gồm:
2.2.1 Truyền thông cá nhân
Truyền thông cá nhân là quá trình tương tác giữa một hoặc một nhóm người với một đối tượng riêng lẽ nhằm trao đổi thông tin, tiếp thu nhận thức, có thể thực hiện thông qua nhiều hình thức
2.2.1.1 Truyền thông qua tiếp xúc trực tiếp
Đây là hình thức truyền thông đơn giản và hiệu quả nhất, quá trình tương tác trao đổi thông tin diễn ra tức thời, các nhóm truyền đạt thông tin và nhận thức diễn ra trực tiếp thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động Thích hợp trong công tác truyền thông cần nắm bắt rõ sắc thái tình cảm, nhận thức của đối tượng, khảo sát trên diện hẹp, số lượng đối tượng khảo sát ít
* Ưu điểm
- Thông qua tiếp xúc trực tiếp, có thể đánh giá được sắc thái tình cảm, nhận thức thông qua hành vi cư chỉ của đối tượng, đây là một yếu tố vô cùng quan trọng trong công tác truyền thông
Trang 14-Người phỏng vấn giữ vai trò chủ động, có thể khai thác triệt để các câu hỏi mang tính chuyên sâu
- Sự trao đổi thông tin giữa người phỏng vấn và đối tượng diễn ra nhanh hơn các phương pháp khác, giúp cho công tác truyền thông và khảo sát kết quả thu được diễn
- Phải sắp đặt trước cuộc phỏng vấn, chuẩn bị bảng câu hỏi cần điều tra
- Đòi hỏi phải có kinh nghiệm trong vấn đề nắm bắt tâm tư tình cảm, nhận thức thông qua hành vi, cử chỉ của đối tượng
2.2.1.2 Truyền thông qua điện thoại
Hình thức tương tác trao đổi thông tin, tiếp thu nhận thức bằng ngôn ngữ thông qua công cụ hỗ trợ máy điện thoại Thích hợp sử dụng trong công tác truyền thông tại các địa bàn xa nơi cư trú, nhóm đối tượng tương đối ít
- Đòi hỏi kỹ thuật sử dụng điện thoại, kỹ thuật giao tiếp qua điện thoại
- Không tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nên không thể hiểu rõ trạng thái tình cảm, nhận thức của đối tượng về vấn đề cần trao đổi
- Không sắp đặt trước cuộc phỏng vấn, khả năng không tiếp xúc được với đối tượng cao : không có mặt tại nhà, tại cơ quan, đường dây bận, sự cố kỹ thuật…
Trang 152.2.1.3 Truyền thông qua thư
Đây là hình thức tương tác trao đổi thông tin thông qua công cụ chữ viết, được trình bày trên giấy Thích hợp trong công tác truyền thông trên diện rộng, nhóm đối tượng tương đối nhiều, xa địa bàn cư trú
* Ưu điểm
- Chi phí thấp, khảo sát được trên diện rộng
- Có khả năng chủ động về thời gian khi lập bảng câu hỏi, không đòi hỏi kỹ năng giao tiếp cao như hình thức tiếp xúc trực tiếp
* Nhược điểm
- Yêu cầu trình độ học vấn của đối tượng, có khả năng đọc hiểu từ ngữ
- Đòi hỏi kỹ năng giao tiếp, khả năng trình bày vấn đề thông qua công cụ chữ viết
- Thời gian thu nhận kết quả lâu, quá trình trao đỏi thông tin và thu nhận kết quả không diễn ra đồng thời
- Không sắp đặt trước cuộc phỏng vấn, khả năng không tiếp xúc được với đối tượng cao, thư không đến tay người nhận : thất lạc, thay đổi địa bàn cư trú…
- Có thể tiếp xúc, khảo sát cùng lúc với nhiều đối tượng, trên diện rộng
- Thu hút được nhiều đối tượng tham gia thông qua nhiều hoạt động phong phú
* Nhược điểm
- Tốn kém chi phí chuẩn bị, thực hiện chương trình
- Đòi hỏi kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày trước công chúng tốt
- Yêu cầu kỹ năng giải quyết vấn đề, giải quyết các tình huống bất ngờ
Trang 16- Các buổi hội thảo, tập huấn, huấn luyện, họp nhóm, tham quan… đòi hỏi phải được chuẩn bị trước : yêu cầu tiền trạm, chuẩn bị dụng cụ, thiết bị…
- Phải xác định rõ nhóm đối tượng khảo sát, để chuẩn bị đề tài, xây dựng chương trình hấp dẫn, mới lạ để thu hút đối tượng
2.2.3 Phương tiện truyền thông đại chúng
Phương tiện truyền thông đại chúng là các công cụ truyền thông có khả năng ảnh hưởng cao, tiếp xúc hàng ngày với quần chúng nhân nhân, dễ đạt hiệu quả cần thiết, bao gồm :
2.2.3.1 Báo chí
Đây là công cụ truyền thông có tính đại chúng cao nhất, phổ biến rộng rãi trong tầng lớp quần chúng nhân dân, được hầu hết mọi người biết đến hàng ngày Được chia làm 4 loại : báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử Có một công thức chung cho báo chí: báo điện tử cập nhật, phát thanh đưa tin, truyền hình phản ánh và báo viết bình luận
▲ Báo viết
Báo viết la thể loại truyền thông đại chúng xuất hiện lâu đời nhất, hình thức thể hiện trên giấy, được phát hành hàng ngày (nhật báo), hàng tuần (tuần báo), hàng tháng (nguyệt san)…
* Ưu điểm
- Tính phổ cập cao
- Có nội dung sâu, người đọc có thể nghiên cứu
* Nhược điểm
- Khả năng truyền tải thông tin chậm
- Chỉ có khả năng tương tác một chiều, khả năng tương tác hai chiều (giữa người đọc
và người viết) kém
▲ Báo nói (Radio)
Trong công cụ báo nói, thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là radio thông
qua ngôn ngữ nói Ra đời vào thế kỷ 19
Trang 17▲ Báo hình (máy truyền hình T.V)
Trong công cụ báo hình, thông tin được chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh qua thiết bị đầu cuối là máy phát hình (đài truyền hình) và máy thu hình (television)
* Ưu điểm
- Khả năng truyền tải thông tin nhanh
- Có hình ảnh trực quan, sinh động, thu hút người xem
* Nhược điểm
- Khả năng tương tác hai chiều chưa cao
- Đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao cho công tác vận hành, bảo trì
▲ Báo điện tử
Báo điện tử sử dụng giao diện website trên Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video clip)
* Ưu điểm
- Khả năng truyền tải thông tin nhanh, thông tin cập nhật nhanh,
- Khả năng tương tác hai chiều cao, người xem có thể đưa ra ý kiến phản hồi
* Nhược điểm
- Tính phổ cập không cao
- Yêu cầu người trình bày, người đọc có kỹ thuật, hiểu biết nhất định
2.2.3.2 Pano, áp phích, tranh ảnh, poster
Pano, áp phích, tranh ảnh, poster là hệ thống truyền thông bằng hình ảnh, biểu ngữ trưng bày tại các khu vực đông dân cư
Trang 18* Ưu điểm
- Có khả năng truyền tải thông tin cao
- Thu hút sự quan tâm của mọi người
Trang 19* Ưu điểm
- Cô đọng, xúc tích, với rất ít từ ngữ, có thể diễn tả điều muốn truyền đạt
- Dễ đọc, dễ nhớ, dễ đi vào tâm trí người dân
ký cá nhân (blog)… Chúng dùng để truyền đạt và cung cấp thông tin đến người đọc
*Ưu điểm
- Có khả năng cung cấp một lượng thông tin khổng lồ, cập nhật liên tục
- Khả năng cung cấp thông tin cao
- Khả năng tương tác hai chiều cao
- Có các hình ảnh, âm thanh trực quan, sinh động
*Nhược điểm
- Tính phổ cập chưa cao
Trang 20- Yêu cầu trình độ kỹ thuật cao đối với người trình bày, người đọc phải có kỹ thuật, hiểu biết nhất định
2.2.4 Truyền thông qua những buổi biểu diễn lưu động, tham gia hội diễn, các chiến dịch, tham gia các lễ hội, các ngày kỷ niệm
Đây là hình thức truyền thông bằng công cụ hỗ trợ như văn nghệ (kịch nói, hát, múa…), diễn thuyết, hội thao…
* Ưu điểm
- Thu hút được nhiều người tham gia
- Khả năng truyền đạt thông tin cao
Chương II, Điều 9 Hành vi gây ảnh hưởng đến việc giữ gìn vệ sinh chung
1 Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 60.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây
a) Không thực hiện các quy định về quét dọn rác, khai thông cống rãnh trong và xung quanh nhà ở, cơ quan, doanh nghiệp, doanh trại gây mất vệ sinh chung;
b) Đổ nước hoặc để nước chảy ra khu tập thể, lòng đường, vỉa hè, nhà ga, bến xe, nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông hoặc ở những nơi khác làm mất vệ sinh chung;
c) Vứt rác, xác động vật, chất thải hoặc bất cứ vật gì khác ra nơi công cộng, chỗ có vòi nước, giếng nước ăn, ao, đầm, hồ mà thường ngày nhân dân sử dụng trong sinh hoạt gây ô nhiễm hoặc làm mất vệ sinh;
Trang 21d) Tiểu tiện, đại tiện ở đường phố, trên các lối đi chung;
đ) Để gia súc, gia cầm hoặc các loại động vật khác phóng uế ở nơi công cộng;
e) Lấy, vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông thô sơ trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không đảm bảo vệ sinh;
g) Tự ý đốt chất thải, chất độc hoặc các chất nguy hiểm khác ở khu vực dân cư, nơi công cộng
2 Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Vận chuyển phân bằng phương tiện giao thông cơ giới trong thành phố, thị xã để rơi vãi hoặc không đảm bảo vệ sinh;
b) Đổ rác hoặc bất cứ vật gì khác vào hố ga, hệ thống thoát nước công cộng
3 Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi làm nhà vệ sinh không đúng quy định gây mất vệ sinh chung
4 Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành
a) Vi phạm điểm b, c, d, đ, e, g khoản 1; điểm a khoản 2; điểm b khoản 4 Điều này thì
bị buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường do vi phạm hành chính gây ra; b) Vi phạm điểm b khoản 2; điểm a khoản 4 Điều này thì bị buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu do vi phạm hành chính gây ra;
c) Vi phạm khoản 3 Điều này thì bị buộc tháo dỡ công trình vệ sinh
Trang 22(2) Nghị định 81/2006/NĐ-CP
1 Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ môi trường; hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, thủ tục xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả
2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các quy định quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định này phải bị xử lý vi phạm hành chính
3 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quy định tại Nghị định này bao gồm:
a) Vi phạm các quy định về thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi
trường và các quy định khác về bảo vệ môi trường;
b) Vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự
cố môi trường
4 Những hành vi vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường được quy định trong các Nghị định có liên quan thì áp dụng theo quy định tại các Nghị định đó để xử phạt
* Ưu điểm
- Đảm bảo mọi người chấp hành đúng nội dung văn bản pháp luật đề ra
- Thực hiện trên diện rộng với sự tham gia của tất cả mọi người
* Nhược đểm
- Mang tính cưỡng chế
- Khả năng truyền đạt thông tin không cao
Trang 232.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước về TTMT
2.3.1 Trên thế giới
2.3.1.1 Chương trình phổ biến thông tin đến cộng đồng
Theo Trần Thị Thanh Phương (2001), trong gần mười năm qua, WB (Ngân hàng Thế giới) đã tạo xúc tác cho ý tưởng mới về quản lý môi trường theo mô hình mới, được biết đến với tên gọi "Chương trình phổ biến thông tin đến cộng đồng"
Các nhà quản lý môi trường đã và đang sử dụng hai cách tiếp cận là mệnh lệnh
- kiểm soát (công cụ pháp quy) và dựa trên quy luật điều tiết thị trường (công cụ kinh tế) Công cụ pháp quy được sử dụng đầu tiên và cho đến nay vẫn phát huy hiệu lực như một công cụ truyền thống, có tác dụng buộc các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm ngặt các quy định môi trường trong một thời hạn nhất định Vào những năm thập kỷ
80, công cụ pháp quy đã được bổ sung thêm bằng các công cụ kinh tế Lợi thế của các công cụ này là tạo sự lựa chọn cho doanh nghiệp và các nhà quản lý môi trường bằng cách tạo ra các đòn bẩy kinh tế cho các biện pháp quản lý môi trường
Cả hai cách tiếp cận trên đều đem lại kết quả, nhất là khi được phối hợp tốt, tuy nhiên đều đòi hỏi chi phí quản lý lớn, đặc biệt cho quá trình đo đạc giám sát môi trường Nhưng bất lợi nhất là đã đưa các doanh nghiệp vào vị trí đối lập với cơ quan môi trường một cách miễn cưỡng Để khắc phục điểm yếu này WB đã phát triển và cổ
vũ cho một cách tiếp cận mới : Sử dụng thông tin như một công cụ quản lý, hỗ trợ cho các phương pháp quản lý môi trường bằng công cụ pháp quy và công cụ kinh tế
Những nét đặc trưng của cách tiếp cận thứ 3 này là
- Thông tin về mức độ tuân thủ môi trường của các doanh nghiệp được thu thập đầy
đủ, chính xác và toàn diện nhiều mặt mang tính hỗ trợ bổ sung cho nhau
- Thông tin được phổ biến đến cộng đồng một cách phù hợp với hoàn cảnh địa phuơng
và phương thức ứng xử theo truyền thống văn hóa cộng đồng tại địa phương
- Cộng đồng có ý thức về môi trường và hiểu biết về sử dụng thông tin, từ đó chủ động tham gia vào các hoạt động tại địa phương, tạo ra những thách thức cho các doanh nghiệp phải thay đổi hành vi về môi trường trong hoạt động kinh doanh của mình
Trang 24- Sự ủng hộ và cam kết mạnh mẽ của chính quyền và có thể chế thích hợp để quản lý
và truyền bá thông tin
Do vậy, trong mô hình này nổi bật là vai trò của các cơ quan truyền thông đại chúng, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức quần chúng, đảm bảo cho thông tin được sử dụng hiệu quả nhất Trong khi đó, cộng đồng đóng vai trò như những nhà quản lý không chính thức
2.3.1.2 Một số chương trình TTMT tại các nước dựa trên nguyên tắc “Phổ biến thông tin đến cộng đồng”
▲ Chương trình PROPER ở Indonesia - kiểm soát, đánh giá và xếp hạng ô nhiễm
PROPER được BAPEDAL bắt đầu vào đầu năm 1995 tại 187 nhà máy nằm ở một số lưu vực sông trên đảo Sumatra, Java và Kalimantan, tập trung vào lĩnh vực ô nhiễm nước thải vì đã có nhiều số liệu và kinh nghiệm trong lĩnh vực này Tùy theo mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường, một hệ thống màu được áp dụng để phân hạng như sau:
Bảng 2.1 Phân hạng trong chương trình PROPER
Phân hạng trong
PROPER
Tình hình tuân thủ quy định môi trường
Màu Vàng Thực hiện được các tiêu chuẩn quốc tế
như công nghệ sạch, giảm thiểu chất thải, phòng ngừa ô nhiễm
Màu Xanh Lá Cây Tuân thủ vượt mức các tiêu chuẩn quốc
gia và có các qui trình kiểm soát và quản
lý phát thải Màu Xanh Da Trời Tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia
Trang 25Màu Đỏ Có tổ chức một số hoạt động kiểm soát
ô nhiễm song thiếu sự tuân thủ
Màu Đen Không có nỗ lực kiểm soát ô nhiễm và
gây thiệt hại nghiêm trọng về môi trường
Những đánh giá ban đầu cho thấy có tới 2/3 các nhà máy mang màu Đỏ, nhưng cũng có được gần 1/3 nhà máy được màu Xanh da trời, 5 nhà máy Xanh lá cây và 6 nhà máy màu Đen Tháng 06 / 1995, Phó Tổng thống Indonesia đã chủ trì buổi lễ công khai trước quần chúng để chúc mừng và trao giải thưởng cho 5 nhà máy được xếp hạng Xanh lá cây (tuân thủ vượt mức) Sau đó BAPEDAL thông báo cho các nhà máy khác về xếp hạng của họ và cho các nhà máy màu Đỏ và Đen một thời hạn 6 tháng để làm sạch trước khi phổ biến toàn bộ thông tin cho cộng đồng Sau một thời gian là 6 tháng và 18 tháng, mức thay đổi rất rõ nét
Bảng 2.2 Bảng xếp hạng áp dụng trong chương trình PROPER
Vàng Xanh Lá Cây Xanh Da Trời
Đỏ Đen
Trang 26chiếm gần 90% tổng ô nhiễm nước Trong kế hoạch mở rộng này các nhà máy sẽ được xếp hạng theo cả các chỉ tiêu ô nhiễm không khí và chất thải độc hại
Chương trình PROPER được đánh giá thành công về nhiều mặt Thành công của chương trình do hai nguyên nhân chính: cách quản lý phù hợp dựa trên tiêu chuẩn
và đánh giá hoạt động môi trường một cách rõ ràng, đơn giản, dễ thể hiện trên các phương tiện truyền thông và dễ hiểu đối với người dân (Tài liệu do Trần thị Thanh Phương, chuyên gia môi trường WB cung cấp)
▲ Chương trình ECOWATCH của Philippin
Theo WB, khi tác động của PROPER trở nên rõ ràng thì DENR (Bộ môi trường
và Tài nguyên), Philippin đã xây dựng được một chương trình tương tự gọi là ECOWATCH Tháng 4/1997, ECOWATCH đã công bố bản báo cáo đầu tiên của mình về 52 nhà máy tại Manila Tổng kết cho thấy có tới 48 nhà máy xếp hạng đỏ hoặc Đen, tức là có tới 92% các nhà máy không tuân thủ Cũng như ở Indonesia, sự không tuân thủ này bắt nguồn từ sự không thành công của các công cụ quản lý truyền thống
Để xây dựng ECOWATCH, chính phủ Philippin cũng theo đuổi chiến lược của PROPER Tổng thống Fidel Ramos đã chúc mừng các nhà máy Xanh da trời tại một buổi lễ công khai Các nhà máy Đen và Đỏ được thông báo riêng về mức xếp hạng, cùng với thời hạn để giảm ô nhiễm Tháng 11/1998, toàn bộ thông tin được thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Chương trình đã làm tăng đáng kể
số lượng các nhà tuân thủ qui định môi trường Mặc dù vẫn chưa có nhà máy nào đạt mức Vàng hay Xanh lá cây, nhưng số các nhà máy đạt Xanh da trời đã tăng từ 8% vào tháng 4/1997 lên 58% vào tháng 11/1998 Số nhà máy Đỏ cũng giảm xuống nhanh chóng
▲ Theo Trần Thị Thanh Phương (2001), một số chương trình phổ biến thông tin đến cộng đồng đã thực hiện tại các nước trên thế giới :
- Ấn Độ: Hội đồng kiểm soát ô nhiễm Tamil Nadu, cơ quan giám sát ô nhiễm không khí và nước đối với tất cả các đơn vị sản xuất công nghiệp trong nước, đã cung cấp dữ
Trang 27- Brazil: Cơ quan môi trường thành phố Sao Paulo đã cung cấp thông tin về ô nhiễm hữu cơ các nguồn nước của 1.250 nhà máy
- Đài Loan: Phòng bảo vệ chất lượng nước thuộc Cơ quan Bảo vệ môi trường Đài Loan đã cung cấp số liệu thải từ 1.800 nhà máy
- Hà Lan: Bộ Nhà ở, Quy hoạch không gian và môi trường đã cung cấp số liệu ô nhiễm nước của 700 nhà máy được giám sát thường xuyên
- Hàn Quốc: Cục kiểm soát ô nhiễm quốc gia đã cung cấp số liệu năm 1991 về nước thải của 13504 nhà máy
- Mehico: Cơ quan Giám sát nước quốc gia cấp số liệu năm 1994 của 7.500 nhà máy tại khu vực đô thị Monterrey
- Phần Lan: Văn phòng Nước thải công nghiệp của Ban quốc gia về nước và môi trường đã cung cấp số liệu về nước thải từ 193 nhà máy lớn
- Sri Lanka: Chương trình cải thiện môi trường đô thị của WB và ủy ban đầu tư Sri Lanka đã cung cấp số liệu về ô nhiễm của 2 khu công nghiệp chính gồm 143 cơ sở
- Trung Quốc: Cơ quan môi trường quốc gia đã cung cấp thông tin về ô nhiễm nước từ
cơ sở dữ liệu tổng hợp về các nguồn ô nhiễm công nghiệp chính trên toàn quốc
- Tại Việt Nam: Trên cơ sở các bài học kinh nghiệm từ các chương trình đã và đang thực hiện ở các nước, WB đang tiến hành một dự án trợ giúp kỹ thuật để thực hiện Chương trình phổ biến thông tin đến cộng đồng, như là một phần của nỗ lực xây dựng Chiến lược quản lý thông tin môi trường
2.3.1.3 Kế hoạch quốc gia về TTMT ở Thái Lan
Theo Bộ Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường Thái Lan (1999), TTMT ngày càng được công nhận là một nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch phát triển Việc công nhận vai trò truyền thông cộng đồng ở mọi cấp trong quản lý môi trường và tài nguyên thể hiện mức độ cao nhất sự cần thiết về quyền được thông tin của cộng đồng,
để thay cho phương pháp mệnh lệnh và kiểm tra Chiến lược TTMT mạnh mẽ này đã nâng cao ý thức môi trường trong công chúng Thái Lan
Trang 28▲ Khuôn khổ pháp lý đối với TTMT
Hiến Pháp Thái Lan (1997) khẳng định vai trò của công tác TTMT Đặc biệt, Hiến Pháp qui định công dân có quyền đòi hỏi tham gia mọi bước tiến hành đánh giá tác động môi trường
* Một số điều luật quy định về TTMT trong Hiến Pháp năm 1997:
- Điều 46 : Quyền bảo tồn, khôi phục, tham gia quản lý, duy trỳ, sử dụng cân đối bền vững các tài nguyên thiên nhiên và môi trường của cộng đồng địa phương
- Điều 58 : Quyền được thông tin, được đòi hỏi một môi trường hoàn chỉnh và đánh giá tác động môi trường
- Điều 59 : Quyền được lắng nghe ý kiến công khai
và phát hành tương đối thuận lợi
Trang 29▲ Chương trình giáo dục và TTMT (1999 -2006)
A Cấp quốc gia
1 Chương trình quốc gia về thông tin môi trường và nhận thức cộng đồng
2 Phát triển chương trình giảng dạy đối với GDMT
3 Phát triển các nguồn nhân lực cho Chính phủ, Nhà nước và tư nhân
4 Chương trình truyền thông đại chúng và nhận thức cộng đồng
5 Khuyến khích hoạt động của của các tổ chức phi Chính Phủ
6 Phát triển mạng lưới và kế hoạch hợp tác hành động môi trường để đẩy mạnh giáo dục môi trường, thông tin phục vụ quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
7 Chương trình tham gia của quần chúng giúp Chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch tổng thể về quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường
8 Kế hoạch khuyến khích phát triển môi trường và công nghiệp
9 Hệ thống thông tin phục vụ kế hoạch quản lý lưu vực sông
10 Tham gia của quần chúng vào việc bảo vệ đa dạng sinh học
11 Kế hoạch phối hợp cải tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên
12 Câu lạc bộ thanh niên với môi trường
13 Nhóm tự nguyện viên về môi trường
B Cấp quốc tế
1 Mạng lưới giám sát môi trường ASEAN
2 Giám sát và thông tin môi trường tiểu vùng
3 Điều hoà thông tin và cơ sở dữ liệu môi trường giữa các nước thành viên ASEAN
4 Trung tâm thông tin môi trường lâm thời ASEAN
5 Năm môi trường ASEAN
2.3.1.4 Sáng kiến 3R
Theo tài liệu từ Hội nghị 3R Châu Á, được tổ chức tại Tokyo từ
30/10-01/11/2006, đại diện các nước và các tổ chức đã chia sẻ kinh nghiệm về các hoạt động 3R thiết thực mà họ đã áp dụng và triển khai :
Trang 30Malaysia bắt đầu thực hiện thí điểm phân loại rác tại nguồn tại một số thành phố (Penang, Miri, Subang Jaya) và khuyến khích các trường học thực hiện các chương trình giáo dục 3R Chương trình GDMT về 3R được phân theo cấp độ các hoạt động
- Cấp độ 1: Trang bị các thùng rác tại các lớp học và để dành một không gian riêng
cho 3R nhằm trưng bày các tác phẩm được làm từ phế liệu
- Cấp độ 2: Sử dụng những chiếc cốc nhựa bền để uống nước tại canteen ở trường thay vì sử dụng những túi nilông Tổ chức các hoạt động ngoại khóa
- Cấp độ 3: Để học sinh tự làm những cuộc khảo sát nho nhỏ như trong gia đình các
em thường thải những loại rác nào, và để các em suy nghĩ về việc làm thế nào để giảm thiểu lượng rác đó
Vấn đề GDMT ở Malaysia rất thành công, nâng cao nhận thức cho không chỉ các em học sinh mà còn cho tất cả người dân Ở Malaysia, việc phân lọai rác chỉ chia làm 2 loại là rác tái chế và các loại rác khác, chứ không phân ra rác hữu cơ như ở Việt Nam Hoạt động này diễn ra trên quy mô rộng rãi, được người dân nhiệt tình hưởng ứng
Ở Philippin, dự án phân loại rác được triển khai trên các đảo nhỏ Chính vì diện tích nhỏ hẹp nên vấn đề xử lý rác thải và BVMT ở đây trở nên rất quan trọng Người dân được giáo dục ý thức tốt nên nghiêm túc thực hiện Để kiểm tra được việc thực hiện của người dân và hạn chế những vi phạm, chính quyền địa phương của nước này
đã cử ra những đội giám sát chuyên kiểm tra các điểm tập kết rác thải ở các cụm dân
cư, nếu có điểm nào chưa tốt sẽ tiến hành chấn chỉnh hoặc xử lý luôn Nếu mỗi người dân hay mỗi điểm tập kết có 3 lần vi phạm những yêu cầu của chương trình phân loại rác và bảo vệ môi trường sẽ bị xử phạt ở cấp độ cao hơn
Nhật Bản được xem là nước xuất phát cho sáng kiến 3R với các cuộc hội thảo, hội nghị và đội ngũ chuyên gia về BVMT và phân loại, tái chế rác thải Nhật Bản chỉ phân loại rác tái chế Các vùng nông thôn của Nhật Bản có rất ít đất, bởi vậy nhu cầu phân loại rác hữu cơ không lớn như ở Việt Nam Người dân Nhật Bản thường quan tâm xem người khác nghĩ gì và đánh giá như thế nào về mình, cho nên thói quen đổ rác cũng như phân loại rác luôn được làm tốt để tránh sự than phiền của hàng xóm
Trang 31Hiện nay thói quen cũng như ý thức của người dân đã thay đổi theo hướng tốt lên rất nhiều, nhưng Nhật Bản phải mất khoảng thời gian là 7 năm để làm được điều này
2.3.1.5 Chương trình TTMT tại các nước quốc gia khác
Theo Báo Nhân Dân, ra ngày 09/11/2003, tại các quốc gia khác trên thế giới, chương trình truyền thông, GDMT cũng rất được chú trọng :
Tại Pháp, Bộ Giáo dục Pháp đưa “Chương trình hành động giáo dục” (PAE) vào nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc trung học Trong nhà trường, các môn khoa học tự nhiên (sinh học, hoá học ) và môn địa lý được mở rộng, lồng ghép các nội dung về môi trường Riêng môn địa lý, ở phần đại cương còn được đưa vào những phần kiến thức mới, các hệ sinh thái Các trường đại học, nhất là đại học sư phạm đều coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giảng dạy về môi trường Có trường còn có
cả các khoá đào tạo các “cố vấn môi sinh” Ở những khu đông dân ở các đô thị lớn, các cố vấn này sẽ hướng dẫn người dân đo tiếng ồn, tư vấn việc xử lý rác thải, nước thải hoặc sử dụng những nguyên liệu cách âm với những người có nhu cầu xây dựng nhà cửa
Tại Đức, việc GDMT được đưa vào chính khóa, lồng ghép các nội dung về môi trường vào một số môn học, đặc biệt là môn địa lý Phim ảnh, băng hình, ti-vi được sử dụng nhiều để thực hiện nội dung này Các trường học ở Đức rất coi trọng thực hành Học sinh được đi tham quan rồi về thảo luận kỹ những vấn đề về môi trường quan sát được, hoặc thảo luận những vấn đề môi trường quanh cuộc sống của các em Học sinh cũng từ đó mà tìm ra giải pháp khắc phục Các nhà trường ở Đức cũng thường xuyên
mở các cuộc vận động như vận động học sinh không sử dụng cốc nhựa dùng một lần Vận động học sinh không hút thuốc, không đi ô tô riêng của bố mẹ mà đi xe buýt, tàu điện, đi xe đạp tới trường để giảm lượng CO2 ở trường và tiết kiệm nhiên liệu Học sinh không chỉ tham gia BVMT một cách cụ thể mà còn vận động mọi người chung quanh cùng thực hiện Học sinh Đức thường rất tự hào khi được tham gia các chiến dịch BVMT do nhà trường hoặc một số tổ chức phát động
Tại Úc thì các chiến dịch về môi trường được giới thiệu và truyền đạt gắn liền với lợi ích của người dân Các chương trình truyền hình hay quảng cáo về môi trường
Trang 32liệu thực tế Chương trình GDMT thường có nội dung hấp dẫn, các nhà tư vấn không phải xuất hiện như các chuyên gia về lý thuyết suông mà đưa ra những giải đáp có tính thực hành cao giúp ích cho người tiêu dùng Từ việc tập trung vào những lợi ích
của từng cá nhân người ta nâng cao ý thức BVMT, tiết kiệm nhiên liệu, nguồn nước…
2.3.2 Tại Việt Nam
2.3.2.1 Chương trình “Xanh-Sạch-Đẹp” thủ đô
Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Hà Nội đã làm tham mưu cho UBND TP
Hà Nội soạn thảo định hướng chiến lược về tuyên truyền giáo dục nâng cao dân trí về môi trường cho nhân dân Hà Nội đến năm 2010 ( Tài Liệu : Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên
và Môi Trường Hà Nội)
Nội dung GDMT trong các khu phố của các quận nội thành và làng xã ở các huyện ngoại thành chủ yếu là về nếp sống văn minh, giữ gìn vệ sinh trong các khu dân
cư nhằm làm tốt việc quản lý rác thải, bảo vệ cây xanh, giữ cảnh quan thiên nhiên Vấn
đề này được kết hợp chặt chẽ với việc tổ chức phong trào "Xanh-Sạch-Đẹp" thủ đô và chính phong trào "Xanh-Sạch-Đẹp" thủ đô là bài học thực tiễn sinh động của việc GDMT cộng đồng Hội bảo vê thiên nhiên và môi trường thủ đô phối hợp với các ngành có liên quan đã tổ chức thành công các cuộc hội thảo, các lớp tập huấn, các chuyên đề trên truyền hình về BVMT nhân kỷ niệm ngày môi trường thế giới hàng năm cũng như hưởng ứng các tuần lễ về nước sạch và vệ sinh môi trường, tuần lễ an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp do nhà nước phát động
Hà Nội cũng đã làm tốt việc sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng phục
vụ cho GDMT cộng đồng Đài phát thanh và truyền hình Hà Nội, báo Hà Nội mới, báo Kinh tế và Đô Thị đã đề cập đều đặn những vấn đề bức xúc về môi trường của thủ đô
Sử dụng thường xuyên hệ thống loa phóng thanh của các phường xã để phục vụ cho việc GDMT cộng đồng, 100% các phường, xã của Hà Nội được thông tin những vấn
đề về môi trường
2.3.2.2 Tổ chức thực hiện công tác truyền thông GDMT năm 2007
Năm 2007, Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các ngành: Sở GD-ĐT,
Trang 33quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Vườn quốc gia Tràm Chim và các ngành tổ chức tuyên truyền, GDMT, kết quả cụ thể như sau:
- Tuyên truyền về các kiến thức môi trường và kỹ năng GDMT cho 100 cán bộ là Trưởng, Phó Phòng Giáo dục và Hiệu trưởng của 39 Trường THPT
- Tập huấn nâng cao nhận thức về BVMT cho hơn 700 hộ nuôi trồng thủy sản ở các huyện: Châu Thành, Lai Vung, Hồng Ngự và Cao Lãnh
- Tổ chức nói chuyện chuyên đề về ngày môi trường thế giới, hiện trạng môi trường ở Việt Nam và Đồng Tháp cho 700 người là cán bộ tuyên truyền viên về môi trường ở phường Mỹ Phú, phường 4, phường Hòa Thuận, phường 6, phường 11, xã Hòa An thuộc thành phố Cao Lãnh
- Tổ chức tập huấn và nói chuyên đề về ngày môi trường thế giới cho 200 người là Chủ tịch, Phó Chủ tịch Công đoàn cơ sở của các ban, ngành đoàn thể tỉnh và các huyện, thị, thành phố
- Phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Cao Lãnh, huyện Lai Vung
tổ chức Hội thi tìm hiểu về môi trường với 300 người tham gia
- Kết quả công tác truyền thông tuyên truyền giáo dục về môi trường năm qua được đổi mới về phương pháp, chất lượng cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
ở cơ sở được nâng cao Tạo được nhận thức của cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước và trong cộng đồng dân cư Tạo được ý thức của mọi người chủ động tham gia công tác bảo vệ môi trường ngày được tốt hơn (Tài liệu : Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đồng Tháp, 2007)
2.3.2.3 Chiến dịch GDMT cho các trường tiểu học TP HCM
Đây là chương trình do Tetra Pak Việt Nam phối hợp với Sở GD-ĐT TP.HCM
tổ chức hàng năm từ năm 2005 Từ năm 2005 đến 2008, chương trình đã tổ chức hội thảo và tập huấn về môi trường cho hơn 200 hiệu trưởng và 200 cán bộ giáo viên cốt cán của các trường tiểu học tại TP.HCM Tháng 03/2005, Sở GD-ĐT TP.HCM triển khai chiến dịch GDMT cho các trường tiểu học với hai mục tiêu trọng tâm : đào tạo về
ý thức BVMT và thu gom vỏ hộp giấy Các chuyên gia môi trường cũng tiếp cận hơn 100.000 em của khoảng 200 trường để giảng dạy về tiết kiệm tài nguyên môi trường
Trang 34về những hành động, công việc mà các em có thể làm để tham gia BVMT tại nhà, tại
trường học và trên đường phố
Ngoài ra chương trình còn tổ chức “Ngày hội môi trường” cho các trường tiểu
học thuộc 24 quận, huyện trong thành phố, bao gồm các hoạt động như: Đố em, xem
tiểu phẩm kịch rối, thi khéo tay hay làm với vỏ hộp giấy, thi vẽ tranh, các trò chơi vận
động, triển lãm quy trình tái chế giấy Bên cạnh đó, 20 trường của 4 quận huyện
được chọn thí điểm triển khai đặt thùng, thu nhặt và xử lý phân lọai rác đưa đến nhà
máy tái chế giấy ở tỉnh Bình Dương (Sở GD -ĐT TP.HCM, 2008)
2.4 Hiện trạng địa bàn nghiên cứu
2.4.1 Tổng quan về Trường Trung Học Cơ sở Hai Bà Trưng
+ Lịch sử thành lập và phát triển
Trước 1975 mang tên trường dòng Thiên Đức Tháng 04/1976, trường được
mang tên Hai Bà Trưng, hai vị nữ anh hùng đầu tiên của dân tộc ta Trường có nhiều
học sinh đạt danh hiệu học sinh giỏi cấp Quận, cấp Thành Phố, cấp Toàn Quốc
Trường đạt tỷ lệ tốt nghiệp THCS 100% nhiều năm liên tục, đạt thành tích tiên tiến
TDTT cấp thành phố Trường có Chi Bộ độc lập, lãnh đạo toàn diện các hoạt động của
Ban Giám Hiệu, cán bộ, giáo viên, công nhân viên, Công Đoàn, Chi Đoàn, Đội TNTP
HCM (Trích : Kỷ Yếu Trường Hai Bà Trưng, năm học 2007 -2008)
Gồm 27 phòng học, 11 phòng chức năng : thực hành, thí nghiệm Lý-Hóa-Sinh, Điện,
phòng Dinh Dưỡng, phòng đồ dùng dạy học, phòng Lab, phòng vi tính, phòng nghe
nhìn, thư viện đạt chuẩn quốc gia
+ Địa bàn hoạt động
Trường nằm trên đường Hai Bà Trưng, địa bàn phường 8, quận 3 tp HCM, nằm trên
ranh giới giao nhau giữa quận 1 và quận 3
- Địa chỉ : 295 Hai Bà Trưng P8 Q3 TP HCM
- Điện thoại : 0838290169
Lý
Trang 35Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức và bố trí nhân sự trường THCS Hai Bà Trưng.
Hiệu trưởng
Hiệu phó chuyên môn
Hiệu phó CSVC
Văn Toán Hoá-Sinh Anh Văn Văn Thể Mỹ Sử-Địa-GDCD
Tổ Chuyên Môn
Bảo vệ Nhân viên lao công Đoàn đội
Trang 362.4.2 Tình trạng quản lý rác thải
Trường có tất cả 3 nhân viên lao công, thu gom rác và làm vệ sinh trong trường Trong khuôn viên sân trường, cách 15m có đặt 1 thùng rác, trên hành lang có 1 thùng rác ở mỗi đầu cầu thang, trong lớp học, trong các phòng bàn đều có bố trí 1 thùng rác Rác tại các phòng ban và lớp học được nhân viên lao công thu gom 2 lần/ngày vào 11h45 và 17h30 Rác tại sân trường được thu gom 4lần/ngày vào đầu giờ học, sau giờ
ra chơi mỗi buổi sáng/chiều để đáp ứng nhu cầu bỏ rác của học sinh, tránh tình trạng thùng đầy rác Rác được thu gom từ các thùng rác nhỏ này sẽ được tập trung tại 4 thùng rác lớn 120L đặt tại 3 góc sân trường, và mỗi buổi chiều sẽ có xe rác thu gom
2.4.3 Hiện trạng giáo dục nhận thức học sinh
Hiện nay giáo dục BVMT trong nhà trường được lồng ghép trong chương trình phổ thông dưới dạng những bài học ngoại khóa, các môn học lồng ghép như giáo dục công dân, địa lý, khoa học công nghệ Các môn học này có thể được hỗ trợ bởi phần mềm giáo dục BVMT, những phần mềm dậy học sinh kiến thức, kỹ năng về giáo dục BVMT, sống và phát triển trong một môi trường phát triển bền vững Bên cạnh đó nhà trường còn tổ chức tuyên truyền, GDMT thông qua công tác làm đồ dùng, mô hình dạy học, các buổi sinh hoạt ngoại khoá, và tổ chức cho học sinh tham gia các phong trào môi trường cấp quận, cấp thành phố : “Hành Tinh Xanh”, “Thực hiện nếp sống văn minh đô thị”,v.v…
Ngoài ra giáo viên còn thường xuyên nhắc nhở và xử lý các vi phạm gây ô nhiễm môi trường nên đa số học sinh đã có ý thức bỏ rác đúng nơi quy định, tiết kiệm nước… Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số ít học sinh vứt rác không đúng nơi quy định như vứt ngoài cổng trường, vứt rác cạnh thùng rác, vứt ngay tại chỗ, trong hộc bàn …
2.4.4 Ưu điểm của hệ thống quản lý môi trường tại đơn vị
- Nhà trường đã đề ra được các cách thức tuyên truyền phong phú qua các phong trào thi đua, thúc đẩy học sinh tham gia vào hoạt động BVMT
- Đồng thời hình thức xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường, công tác BVMT, tuyên truyền thực hiện nếp sống văn minh đô thị tại địa bàn nhìn chung được thực hiện khá tốt
Trang 372.4.5 Nhược điểm của hệ thống quản lý
- Nhà trường quản lý học sinh theo phương pháp kỷ luật nghiêm khắc sẽ tạo cho các
em cảm giác sợ sệt chứ không phải tự giác ý thức trong việc BVMT
- Các phong trào thi đua BVMT do nhà trường đề ra chỉ thu hút được số ít học sinh tham gia Do các phong trào mang tính chất thi đua, cạnh tranh giữa các lớp trong trường, giữa các trường trong địa bàn quận và thành phố nên số lượng học sinh tham gia chưa đạt yêu cầu, còn mang nặng tính hình thức
- Hành vi BVMT của các em chỉ gói gọn trong khuôn viên nhà trường, ra khỏi cổng trường các em sẽ có thái độ bất mãn do bị gò bó trong khuôn phép dẫn đến nhận thức không tốt về việc BVMT
- Giáo viên chưa góp phần cùng các em BVMT dẫn đến nhận thức sai lệch của các em
là : BVMT chỉ là nhiệm vụ của những người nhỏ tuổi như các em, người lớn có thể thoải mái trong việc gây ra ô nhiễm, lãng phí tài nguyên
Trang 38Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức học sinh tại trường THCS Hai Bà Trưng được thực hiện thông qua 4 công cụ :
3.1 Bài thuyết trình
3.1.1 Nội dung
- Khái quát hiện trạng ô nhiễm tại thành phố Hồ Chí Minh
- Các khó khăn trong công tác quản lý rác thải hiện nay
- Tầm quan trọng của ý thức, nhiệm vụ của học sinh trong công cuộc BVMT hiện nay
3.1.2 Phương pháp tiến hành
- Phương pháp trực quan : Nhằm gia tăng tính trực quan, sinh động và để củng cố tính
tuyên truyền cho đề tài nghiên cứu tác giả áp dụng phương pháp trực quan thông qua 3 công cụ là, bài thuyết trình, cuộc thi vẽ tranh cổ động và kịch nói Phương pháp trực quan được áp dụng trong bái thuyết trình thông qua các dẫn chứng, số liệu cụ thể, nêu
rõ hiện trạng ô nhiễm, những khó khăn trong công tác quản lý rác thải
- Phương pháp phân tích, tổng hợp : Phân tích là tách một vật thể hoặc một hiện
tượng phức tạp ra thành những bộ phận, những yếu tố, những mặt đơn giản của nó Tổng hợp là liên kết, thống nhất lại các bộ phận, các mặt, các yếu tố đã được phân tích Giữa phân tích và tổng hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau Không tách các
bộ phận để nghiên cứu thì không thể hiểu thấu đáo cái toàn thể và ngược lại, không tổng hợp các bộ phận vào một thể toàn bộ thì không thể hiuể được vai trò, vị trí, tính chất của các bộ phận ấy trong cái toàn bộ
Khi nghiên cứu nhận thức của học sinh, tác giả áp dụng đồng thời hai phương pháp phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ từng khía cạnh của vấn đề cần nêu lên trong
Trang 39bài thuyết trình Đồng thời đề cập đến các vến đề được học sinh quan tâm như hiện trạng quản lý rác thải và khó khăn hiện nay, vai trò của học sinh trong công tác BVMT
3.1.3 Tiến độ thực hiện
- 03/02/2009 Æ 08/02/2009 : Xây dựng bài thuyết trinh nhằm chuẩn bị, thu thập đầy
đủ số liệu từ các nguồn liên quan
- 09/02/2009 : Trình bày bài thuyết trình trước học sinh toàn trường vào ngày trong giờ sinh hoạt dưới cờ, hai buổi sáng và chiều, thời gian 7Æ10 phút
3.2 Poster, tranh cổ động
3.2.1 Nội Dung
Tổ chức cuộc thi vẽ tranh cổ động chủ đề “bảo vệ môi trường” Với thể lệ : mỗi lớp được tham gia tối đa 2 bức tranh hoặc poster cổ động, được vẽ bằng màu nước hoặc sơn dầu trên khổ giấy A3 hoặc A4 Thời gian tham gia là 1 tuần từ 09/02/2009 Æ 14/02/2009.Sau khi thực hiện công tác chấm điểm, trao giải, chọn ra một số bức tranh
và poster đẹp trưng bày dọc trên các hành lang để học sinh có thể quan sát được
3.2.2 Phương pháp tiến hành
- Phương pháp trực quan : Áp dụng phương pháp trực quan nhằm tăng khả năng tư
duy, sáng tạo của học sinh trong công tác tuyên truyền, cuộc thi vẽ tranh giúp học sinh
Trang 403.3 Tiểu phẩm kịch sân khấu
3.3.1 Nội dung
Tiểu phẩm mang tên “ Ông Thần Rác” (xem phụ lục 3), có sự tham gia của 10 học sinh của trường Tiểu phẩm có nội dung phê phán hành vi xả rác bừa bãi, kêu gọi tinh thần trách nhiệm trong việc giữ gìn vệ sinh chung Bên cạnh đó tiểu phẩm còn nêu lên hiện trạng ý thức của người dân hiện nay Tiểu phẩm có phần kết để mở nhằm giúp người xem tự quyết định và lựa chọn cho mình một kết thúc hợp lý
3.3.2 Phương pháp tiến hành
- Phương pháp trực quan : Nhằm gia tăng tính sinh động, tạo cảm giác phấn khởi,
thích thú cho học sinh khi tiếp cận công tác tuyên truyền, tiểu phẩm đã áp dụng phương pháp trực quan, sinh động đề cập đến những vấn đề thường ngày, xảy ra xung quanh mọi người Tiểu phẩm mang đến tiếng cười và thông qua đó sẽ để lại ấn tượng
sâu sắc cho học sinh
3.3.3 Tiến độ thực hiện
- 19/01/2009 Æ 21/01/2009 : Xây dựng kịch bản tiểu phẩm
- 03/02/2009 Æ 08/02/2009 : Tập kịch cho học sinh
- 09/02/2009 : Diễn kịch tại sân khấu trong sân trường
3.4 Phiếu điều tra