1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại từ thực tiễn thực hiện tại các toà án trên địa bàn thành phố hải phòng

90 186 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì điều đó mà tôi chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của mình, với mong muốn làm sáng tỏ những điểm hạn chế về việc áp dụng khởi kiện, thụ l

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TOÀ

ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐINH NAM VƯƠNG

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TOÀ

ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐINH NAM VƯƠNG

Chuyên ngành: Luật kinh tế HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN ANH TUẤN

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc./

Tác giả luận văn

Đinh Nam Vương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm luận văn với những kiến thức đã được học, tham khảo tài liệu và tình hình thực tế, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn TS…, sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo tại Viện Đại học Mở

Hà Nội và các bạn bè đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận văn của mình

Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới thầy/cô giáo

- TS… là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi

cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội

và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn

Học viên

Đinh Nam Vương

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI 7

1.1 Tranh chấp kinh doanh thương mại 7

1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại 7

1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại 9

1.1.3 Các loại tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 9

1.2 Khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại 10

1.2.1 Khái niệm khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại 11

1.2.2 Đặc điểm của khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại 14

1.3 Thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại 23

1.3.1 Khái niệm thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại 23

1.3.2 Đặc điểm thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại 27

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỞI KIỆN, THỤ LÝ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI CÁC TOÀ ÁN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 39

2.1 Tổng quan tình hình tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng 39

2.1.1 Giới thiệu về thành phố Hải Phòng 39

2.1.2 Tình hình phát sinh tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng 42

Trang 6

2.1.3 Nguyên nhân phát sinh tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa

bàn thành phố Hải Phòng 43

2.2 Thực trạng khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng 50

2.3 Đánh giá chung về ưu khuyết điểm trong hoạt động khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các tòa án thành phố Hải Phòng 63

2.3.1 Những điểm đạt được 63

2.3.2 Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 64

CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG TRONG KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI CÁC TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 66

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay 66

3.1.1 Về phương diện pháp luật 66

3.1.2 Về các phương diện khác 74

3.2 Kiến nghị và đề xuất với Nhà nước và Bộ Tư pháp 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng tranh chấp thương mại nộp đơn khởi kiện trên

địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2016 51Bảng 2.2: Số lượng đơn khởi kiện gửi tới tòa án theo các hình thức 53Bảng 2.3: Tổng số tranh chấp kinh doanh thương mại được thụ lý trên địa

bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian qua 55

HÌNH

Hình 2.1: Số lượng tranh chấp thương mại nộp đơn khởi kiện trên

địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2016 52

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Kinh doanh thương mại là một quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực mà tất cả các chủ thể khi tham gia bằng cách này hay cách khác, nhưng đều hướng đến một mục tiêu chung là lợi nhuận Tranh chấp kinh doanh thương mại là điều các chủ thể khi tham gia quan hệ này không hề mong muốn, tuy nhiên nó là một thực tế khách quan buộc các bên phải chấp nhận như một phần của cuộc chơi Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là điều rất quan trọng, bởi

vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ này Pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại thuộc nhóm luật tư, do đó nó dựa trên phương pháp điều chỉnh đặc trưng của hệ thống luật

tư là phương pháp tự do thỏa thuận, ý chí, và bình đẳng giữa các bên tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó nguyên tắc tự định đoạt là một trong những

nguyên tắc cơ bản, mang tính cốt lõi

Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến pháp và các văn bản Luật như Luật thương mại, Bộ luật tố tụng dân sự hay Luật Trọng tài thương mại Tuy nhiên, đã qua nhiều lần thay thế văn bản nhưng những quy định về việc đảm bảo và tôn trọng nguyên tắc này vẫn còn chưa được chi tiết, cụ thể và vẫn còn thiếu Điều này dẫn tới còn có nhiều

những bất cập, có thể dẫn ra một số nội dung sau đây:

- Pháp luật hiện nay quy định chưa rõ ràng, cụ thể và chi tiết về việc cách thức áp dụng, quy định hiện hay chế tài tài bắt buộc tôn trọng nguyên tắc trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án

- Về việc tôn trọng tự do thỏa thuận trong việc lựa chọn phương thức giải quyết; và tôn trọng những thỏa thuận giải quyết đã được các bên thống nhất và đề ra trước khi đưa ra cơ quan tài phán không được pháp luật qui định

và ghi nhận, cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc

Trang 10

- Còn có những qui định thiếu hợp lý, mâu thuẫn và vi phạm quyền quyết định của các chủ thể

- Còn có sự can thiệp quá sâu của các thủ tục tố tụng cũng như việc tòa

án giải quyết vượt quá yêu cầu của các đương sự trong vụ án tranh chấp liên quan đến kinh doanh thương mại được giải quyết tại tòa án Đây không chỉ là

vi phạm nguyên tắc tự định đoạt mà còn vi phạm nguyên tắc tự do kinh doanh theo quy định của Hiến pháp

Ý thức sâu sắc được những bất cập và hạn chế đó tôi lựa chọn đề tài

“Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực hiện tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp chương trình Cao học Thạc sĩ Luật kinh tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong góc độ lý luận và thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại luôn được sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu của nhiều tác giả Nhiều người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu luôn tìm tòi, sáng tạo và có những công trình khoa học về vấn đề này Có thể kể đến một

số các công trình nghiên cứu sau đây:

“Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục

giải quyết các vụ án kinh tế”, Khóa luận tốt nghiệp/Trần Anh Hoài; Người

hướng dẫn: TS Nguyễn Thái Phúc, TP HCM năm 2002; “Quyền tự định đoạt

của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004”, Khoa Luật – ĐHQGHN, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật dân sự, mã số 60 38 30/ Nguyễn Phương Hạnh TS Nguyễn Công Bình hướng dẫn, Hà Nội năm

2011; “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, ĐH

Luật TP HCM, Luận văn Thạc sĩ Luật dân sự, mã số 60 38 01 03/ Đinh Kim

Huệ, TS Nguyễn Văn Cường hướng dẫn, TP HCM năm 2007; “Hợp đồng điều đình trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam”, Khóa luận tốt nghiệp/ Lê Văn Luân TS Ngô Huy Cương hướng dẫn - Hà Nội 2010; “Giải

Trang 11

quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng”, Khóa luận tốt nghiệp/ Ngô

Thế Lập TS Ngô Huy Cương hướng dẫn - Hà Nội năm 2009; “Bản án dân

sự sơ thẩm với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự”, Trần Minh

Tiến, Tạp chí nghề Luật, số 5/2006; “Những nguyên tắc tố tụng đặc trưng

trong Bộ luật tố tụng dân sự”, Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí kiểm sát, số

1/2005, tr.19-23; “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật

tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2005, tr 64 - 66…

Tuy nhiên những đề tài, bài báo và các công trình khoa học nói trên chỉ mới phân tích và làm rõ nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự, hoặc có đi vào việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt để giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nhưng dựa trên các chế định pháp luật cũ, các văn bản pháp luật đã lạc hậu và hết hiệu lực, bị thay thế các văn bản pháp luật mới hiện hành Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự, Luật thương mại và Luật trọng tài thương mại ra đời đến nay đây chưa có một một đề tài nào trực tiếp nghiên

cứu và đi sâu vào nội dung “Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh, thương

mại từ thực tiễn thực hiện tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng”

Chính vì điều đó mà tôi chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ Luật học chuyên ngành Luật Kinh tế của mình, với mong muốn làm sáng tỏ những điểm hạn chế

về việc áp dụng khởi kiện, thụ lý trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở các tòa án của thành phố Hải phòng hiện nay, nghiên cứu

kỹ những quy định mới về chế định áp dụng khởi kiện, thụ lý trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại để từ đó đề xuất một vài giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam trong lĩnh vực này, và đưa nó được áp dụng một cách triệt để vào cuộc sống

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu để đạt được những mục đích cơ bản sau:

Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về khởi

Trang 12

kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại, phân tích thực trạng quy định của pháp luật, thực tiễn thực thi việc áp dụng khởi kiện, thụ lý vào giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng

và đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc đó để giải quyết các vụ việc tranh chấp trong thực tế Việc ghi nhận và tôn trọng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án Từ đó kiến nghị đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục tiêu cụ thể như sau:

Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, bản chất, đặc điểm và nguyên tắc cơ bản trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại

Thứ hai, nghiên cứu thực trạng khởi kiện, thụ lý giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian qua

Thứ ba, kiến nghị và đề xuất các giải pháp cụ thể mang tính luật định nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng trong khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về việc khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

- Về nội dung: đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, khía cạnh pháp lý và

thực tiễn khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh

thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Trang 13

- Về không gian: đề tài nghiên cứu thực tiễn tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong việc nhận khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại

- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp luận: đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên cơ sở

quan điểm duy vật và phép biện chứng

Phương pháp cụ thể: các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là thống

kê, phân tích, tổng hợp, so sánh các văn bản quy phạm pháp luật, các vụ việc trong thực tiến giải quyết tranh chấp

6 Những điểm mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ Luật học đề cập đến vấn đề nghiên cứu các lý luận và thực tiễn tại các tòa án trên địa bàn một địa phương cụ thể như thành phố Hải Phòng trong việc nhận khởi kiện, thu lý giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nên có những điểm mới khoa học như sau:

Thứ nhất, hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, làm rõ bản chất pháp

lý và ý nghĩa pháp luật trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh

thương mại

Thứ hai, đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp

dụng và nhu cầu thực tế đối với việc khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ

đó phân tích, làm rõ những mặt ưu, nhược điểm trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Trang 14

Thứ ba, từ nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn pháp luật, từ đó đề

xuất được một số kiến nghị về hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại ở Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu làm 3 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại

Chương 2 Thực trạng khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh doanh thương mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Chương 3 Hoàn thiện pháp luật tố tụng về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH

CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1 Tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại

Theo triết học Mác – Lê nin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội,

là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại như một tất yếu tự nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội Tranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mẫu thuẫn và từ những lợi ích riêng Tuy nhiên, mâu thuẫn và tranh chấp lại tạo nên những phát triển của xã hội, góp phần xây dựng xã hội ngày càng hiện đại, văn minh Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường là những trong vấn đề quyền lực giữa hai bên”

Tranh chấp kinh doanh thương mại (KDTM) được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại, cụ thể:

Theo quy định tại khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “ Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch

vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”

Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”

Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng các dịch vụ,… nhằm mục đích sinh lợi Do đó, hai hoạt động này đã

Trang 16

được Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 không dùng khái niệm “tranh chấp về hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế mà dùng khái niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã liệt kê đầy

đủ hơn các hành vi kinh doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân

Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ,… gọi chung là hoạt động KDTM

Cách định nghĩa này, mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra được bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh khi tham gia các hoạt động KDTM Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn đến mức không thể điều hoà thì tranh chấp mới xảy ra

Ngoài các định nghĩa trên, về tranh chấp KDTM thì giáo trình Luật Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan điểm về tranh chấp thương mại: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động thương mại

Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa được cách hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua Luật Thương mại và Luật tố tụng dân sự

Tóm lại, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại Và có thể định nghĩa một cách ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM là

Trang 17

những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM”

1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại

Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như trên, có thể cho thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao hàm các đặc điểm pháp lý sau:

- Chủ thể trong tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt động KDTM là các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm cung ứng các dịch vụ trên thị trường, các hoạt động xúc tiến, đầu tư thương mại, cung ứng dịch vụ trên thị trường và các hoạt động khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh chấp KDTM có thể là thương nhân hoặc các nhà đầu tư khác

- Tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt động KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và nghĩa

vụ hợp pháp của mình bị bên kia xâm phạm và yêu cầu phải được giải quyết

- Tranh chấp KDTM phải là những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng

đã cam kết giữa các bên (hợp đồng thương maih, góp vốn thành lập công ty, mua bán chứng khoán,…)

1.1.3 Các loại tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự

Tại điều 30, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã liệt kê các tranh chấp

về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, theo đó có các loại tranh chấp KDTM bao gồm năm nhóm việc như sau:

- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty

Trang 18

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật

1.2 Khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại

Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính xung đột vừa hợp tác Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trở lại bình thường ổn định Do đó, việc giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM

Khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền tự lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của mình bằng các con đường khác nhau Trên thực tế tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng toà án hoặc các phương thức khác ngoài toà án Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM quy định đối với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM nói trên về trình tự, thủ tục và các nội dung khác đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp KDTM theo quy trình, đảm bảo tính pháp lý

- Đối với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM như hoà giải, thương lượng chỉ cần các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật chưa có quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng phương thức này nhưng trong các phương thức giải quyết khác mà pháp luật có quy định về trình tự

Trang 19

thủ tục đều khuyến khích các bên tiến hành hoà giải hoặc thương lượng trước khi buộc phải tiến hành các thủ tục khác

- Trong trường hợp lựa chọn toà án là cơ quan giải quyết tranh chấp KDTM thì các bên phải tuân thủ triệt để nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này

Mặc dù tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng nhiêu phương thức khác nhau như thương lượng, hoà giải hoặc bằng con đường toà án hoặc bằng các cơ quan khác ngoài toà án nhưng tác giả chỉ tập trung đi sâu phân tích các vấn đề có liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp KDTM thông qua thủ tục tố tụng tại toà án đặc biệt tập trung vào khởi kiện và thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại đã trình bày ở phần đối tượng và phạm vi nghiên cứu trong luận văn

1.2.1 Khái niệm khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại

Trước năm 1959, trong một số văn bản pháp luật như Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về xác định thẩm quyền xét xử về dân sự và thương sự của Toà án sơ cấp, Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp

và tố tụng thuật ngữ vụ kiện dân sự được sử dụng để chỉ những tranh chấp

dân sự có yêu cầu Toà án giải quyết Đến năm 1959, khi mà Hiến pháp 1959

ra đời, thuật ngữ vụ kiện trước đây được thay thế bằng thuật ngữ vụ án, cụ thể theo Điều 1 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định “Toà án nhân

dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự ” Khái niệm vụ án dân sự ở đây được dùng để chỉ những vụ kiện dân sự và cả những việc dân sự đặc biệt – bao gồm cả những việc trong đó có tranh chấp hay không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự

Đến những năm 1990, các vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ dân sự đều được giải quyết thông qua các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải

Trang 20

quyết các tranh chấp lao động Thuật ngữ vụ án dân sự là tiếp tục được kế thừa sử dụng trong các văn bản pháp luật này Theo đó, thủ tục để giải quyết các vấn đề phát sinh căn cứ vào loại quan hệ cụ thể, thủ tục tố tụng dân sự giải quyết cho quan hệ dân sự, thủ tục tố tụng kinh tế giải quyết cho các quan

hệ kinh tế, kinh doanh thương mại; và thủ tục tố tụng lao động giải quyết cho các quan hệ lao độngchứ không căn cứ vào việc vụ việc đó có tranh chấp hay không Hay nói cách khác, theo các Pháp lệnh nói trên, khi các đương sự có nhu cầu đưa các vụ việc dân sự, kinh tế, lao động để giải quyết theo thủ tục tố tụng thì tất cả các vụ việc, tranh chấp hay không tranh chấp vẫn được gọi chung là vụ án

Thực tiễn giải quyết các loại việc về dân sự, kinh tế, lao động cho thấy nếu áp dụng một thủ tục tố tụng chung với những trình tự nghiêm ngặt như nhau, thông qua phiên toà với những thủ tục như thẩm vấn, tranh luận, đối chất cho một số loại việc không có tranh chấp, chỉ đơn giản là việc xác nhận một sự kiện pháp lý nào đó thì lại dẫn đến sự rườm rà, kéo dài việc giải quyết, gây mất thời gian vừa gây tốn kém cho công dân và Nhà nước, không bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự

Vì vậy, khi cho soạn thảo BLTTDS 2004, nhà làm luật đã xây dựng hai loại thủ tục riêng biệt là thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có tranh chấp và thủ tục giải quyết việc dân sự không có tranh chấp Theo đó, lần đầu tiên khái niệm vụ việc dân sự và việc dân sự đã được BLTTDS ghi nhận chính thức Khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế cho khái niệm vụ án dân sự trước đây, còn hiện tại, nếu các cá nhân, cơ quan tổ chức có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ thì gọi là vụ án dân sự, nếu cơ quan cá nhân tổ chức không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ nhưng có yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự thì là việc dân sự Có thể nói, từ thời điểm này khái niệm vụ

án dân sự không còn nội hàm bao rộng như trước nữa, bao gồm cả các tranh chấp và yêu cầu mà chỉ bao hàm các tranh chấp về dân sự, các yêu cầu về dân

Trang 21

sự đã được tách ra thành một khái niệm riêng biệt Tuy xét về góc độ nội hàm thì khái niệm vụ án dân sự đã bị thu hẹp lại, nhưng xét về mặt phạm vi thì khái niệm này lại được mở rộng ra thêm rất nhiều bởi lúc này vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động

Nhà nướcTrong trường hợp cần yêu cầu Toàán bảo vệ quyền lợihay công nhận các quyền của mình thì chủ thể cóthể khởi kiện hoặc yêu cầu

Toàán giải quyết Theo quy định tại Điều 14 Hiến pháp 2013 thì “Ở nước

Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh

tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và

được quy định trong Hiến pháp và luật” Trong đó quyền dân sự có ý nghĩa

rất quan trọng Theo đó các chủ thể có quyền thực hiện các hành vi như lao động, sản xuất kinh doanh, tham gia vào các giao dịch dân sự…theo quy định của pháp luật nhằm thỏa mãn lợi ích của mình, tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội Khi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm hay tranh chấp thì họ có quyền thực hiện những biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo vệ và một trong những biện pháp đó chính là khởi kiện VADS

Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa

án bảo vệ quyền lợi của mình Pháp luật cũng quy định các trường hợp khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước Điều 162 BLTTDS sửa đổi xác định những chủ thể cóquyền khởi kiện mặc dù không có quyền lợi tranh chấp hay

vi phạm Đó là:

- Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định;

Trang 22

- Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động do pháp luật quy định;

- Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách

- Ngoài ra theo quy định của BLDS, hộ gia đình, tổ hợp tác là các chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự, vì vậy khi tham gia các quan hệ dân

sự nếu xảy ra tranh chấp các chủ thể này cũng có quyền yêu cầu Tòa án bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Như vậy, khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là việc cá

nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị xâm phạm hay có tranh chấp với chủ thể khác

Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại vụ là hoạt động đầu tiên của tố tụng dân sự, là hành vi tố tụng đầu tiên của nguyên đơn làm phát sinh các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự Việc thực hiện quyền khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại thể hiện bằng việc nguyên đơn nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án, được xác định là sự kiện thực tế có ý nghĩa pháp lý làm phát sinh quá trình tố tụng Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là giai đoạn đầu tiên để bắt đầu thủ tục tố tụng

1.2.2 Đặc điểm của khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại

Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được xem là “Công cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích ” [4,390] Hoạt động khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại có những đặc điểm sau:

Trang 23

- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được pháp luật ghi nhận là hoạt động bảo vệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Cụ thể khởi kiện được pháp luật ghi nhận dưới dạng quyền khởi kiện tại Điều 161 BLTTDS, theo đó cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện VADS (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo

vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của mình Xuất phát từ yêu cầu của việc cần đảm bảo quyền con người, khi quyền hay lợi ích bị xâm phạm chủ thể có quyền cần phải có một công cụ để bảo vệ lợi ích của mình hoặc của người khác mà phương pháp hiệu quả nhất chính là nhờ vào quyền lực cũng như sự công minh của Nhà nước và pháp luật thông qua việc làm đơn khởi kiện Việc làm đơn khởi kiện là bước đầu tiên trong hoạt động khởi kiện, từ việc làm đơn gửi Tòa án sẽ phát sinh những thủ tục tố tụng tiếp theo như đơn khởi kiện được Tòa án thụ lý hay không thụ lý, nếu đơn được chấp nhận Tòa án sẽ ra các quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án…Chính vì vậy, khởi kiện được coi là hoạt động không thể thiếu để làm phát sinh vụ án dân sự

- Khởi kiện là hoạt động do các chủ thể có quyền lợi hoặc được pháp luật trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng quy định Các hoạt động khác do các cơ quan tố tụng thực hiện ví dụ: Tòa án thực hiện việc thụ lý, việc chuẩn bị xét xử, hòa giải, phiên tòa, Chi cục thi hành án dân sự thực hiện việc thu tạm ứng án phí, lệ phí….Trừ các trường hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định thì chủ thể có quyền khởi kiện thường

là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại có tranh chấp

- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được thực hiện ở thời điểm trước khi Tòa án thụ lý vụ án Hoạt động ngay sau việc nộp

Trang 24

đơn khởi kiện là hoạt động xem xét đơn khởi kiện Tòa án sau khi nhận đơn khởi kiện sẽ xem xét đơn và trong thời hạn luật định phải ra một trong các quyết định thụ lý nếu thuộc thẩm quyền; chuyển đơn nếu không thuộc thẩm quyền và trả lại đơn Khởi kiện chính là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác nhau tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự,

là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là hoạt động trong đó các đương sự được tự do định đoạt, theo đó các nhân, cơ quan, tổ chức và các chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại có quyền thực hiện hoặc không thực hiện hoạt động khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi

vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc theo thỏa thuận của các bên Đây là đặc điểm đặc trưng của hoạt động này Việc khởi kiện được thực hiện trên cơ sở

tự nguyện và quyền tự do của cá nhân, đồng thời pháp luật cũng ghi nhận việc

tự định đoạt và tự thỏa thuận của các chủ thể Điều này xuất phát từ bản chất dân sự của hoạt động kinh doanh thương mại nên trong tố tụng dân sự thì các đương sự có quyền tự định đoạt về việc bảo vệ quyền lợi của mình Các đương sự được tự do lựa chọn các phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích của mình như trung gian hòa giải, trọng tài hoặc yêu cầu sự can thiệp của Tòa án bằng việc thực hiện hoạt động khởi kiện

1.2.3 Điều kiện khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại Thứ nhất, Điều kiện về chủ thể khởi kiện

Để khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện

và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Đây là điều kiện đầu tiên phải xác định khi đương sự thực hiện việc khởi kiện (điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015)

Người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở (sau đây

Trang 25

gọi tắt là dân sự) Về nguyên tắc, quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự chỉ có được khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung: quan hệ dân sự, hôn nhân gian đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở (viết tắt

là quan hệ dân sự) Chủ thể không có quyền, lợi ích dân sự, không có quyền khởi kiện trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, mặt dù người khởi kiện có quyền, lợi ích dân sự nhưng quyền, lợi ích

đó không hoặc chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án dân sự

Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật quy định quyền khởi kiện của các

cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm

vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Thứ hai, Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của mình Việc xác định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước Đồng thời, việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cũng góp phần cho các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và người dân dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện Thẩm quyền của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Để vụ án dân sự được thụ lý, đơn khởi kiện

Trang 26

phải gửi đến đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết Cụ thể: Vụ án mà chủ thể khởi kiện thuộc phạm vi thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại các Điều 26, 28, 32 BLTTDS năm 2015; Vụ việc được khởi kiện phải đúng với cấp Tòa án có thẩm quyền quy định tại các Điều 35, 36, 37, 38 BLTTDS năm 2015; Vụ việc được khởi kiện đúng thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Điều 39 BLTTDS năm 2015; Trường hợp người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án theo quy định tại Điều 40 BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu đương sự cam kết không khởi kiện tại các Tòa án khác Nếu do thỏa thuận lựa chọn tòa án giải quyết thì phải kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận; Đối với những việc pháp luật quy định phải yêu cầu cơ quan khác giải quyết trước thì chủ thể khởi kiện chỉ được khởi kiện vụ án khi các cơ quan hữu quan đã giải quyết mà họ không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan đó

Khi xác định thẩm quyền, Tòa án cũng phải xác định đó là loại tranh chấp nào (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại hay lao động…) để vào sổ thụ lý loại án đúng với quy định Việc xác định này có ý nghĩa rất lớn khi xác định các quy phạm pháp luật nội dung để áp dụng Chẳng hạn, nếu đó là tranh chấp đất đai thì sẽ áp dụng các quy định trong Luật Đất đai, Bộ luật dân sự để giải quyết hoặc nếu tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì sẽ áp dụng Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp để giải quyết

Thứ ba, vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động để bảo vệ quyền, lợi ích bị xâm phạm Hết thời hạn đó thì chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Theo quy định tại Điều 185 BLTTDS năm 2015, riêng đối với yêu cầu hoàn trả lại tài sản thuộc sở hữu nhà nước, yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện Quy định thời hiệu

Trang 27

khởi kiện góp phần quan trọng vào việc ổn định các quan hệ kinh tế - xã hội, hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện Tùy thuộc vào tính chất của mỗi loại tranh chấp mà pháp luật quy định thời hiệu khởi kiện

Trên thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện không được thực hiện trong thời hạn quy định Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ, pháp luật quy định không tính vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng; trở ngại khách quan; người có quyền khởi kiện chưa thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện (Điều 186 BLTTDS năm 2015)

Thứ tư, sự việc chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp có quy định khác của pháp luật

Nếu sự việc đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết bằng một bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì đương sự không được khởi kiện lại đối với vụ án đó nữa, trừ những trường hợp: Bản án, quyết định của tòa án bác đơn xin ly hôn; Yêu cầu xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại; Yêu cầu thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ; Vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác

Trang 28

theo quy định của pháp luật (Khoản 1 Điều 193 BLTTDS năm 2015) thì đương sự có quyền khởi kiện lại

Tòa án chỉ được thụ lý giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật Điều kiện này nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, sự ổn định của các quan hệ xã hội, một việc đã được giải quyết thì không giải quyết lại nữa để tránh tình trạng chồng chéo cũng một sự việc mà nhiều cơ quan giải quyết và tránh việc cố tình kéo dài việc khiếu kiện của đương sự

1.2.4 Trình tự khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại

1.2.4.1 Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

Theo quy định tại điều 190, Bộ luật tố tụng hình sự 2015, quy định về cách gửi đơn kiện đến tòa án như sau:

- Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

+ Nộp trực tiếp tại Tòa án;

+ Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

+ Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

- Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến

- Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn

Trang 29

- Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này

1.2.4.2 Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện được quy định tại điều 191, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

- Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn

Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

- Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện

- Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

Trang 30

+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

- Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

- Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện cho các nguyên đơn trong một số trường hợp sau:

+ Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều

186 và Điều 187 của Bộ luật này hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

+ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật: Chưa có

đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

+ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

+ Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;

+ Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật này: Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi

cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được

Trang 31

nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ

lý, giải quyết theo thủ tục chung

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

+ Người khởi kiện rút đơn khởi kiện

- Tòa án yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện trong một số trường hợp sau đây:

+ Trường hợp đơn khởi kiện không có đủ các nội dung quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu

rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày Văn bản thông báo có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn để theo dõi Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện

+ Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định tại khoản 4 Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện

1.3 Thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại

1.3.1 Khái niệm thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại

Thụ lý vụ án dân sự không phải là một quyền của chủ thể pháp luật, mà

nó là một tổ hợp các hoạt động của cơ quan có thẩm quyền giải quyết các vụ

Trang 32

án dân sự Khái niệm “thụ lý” các vụ án dân sự hình thành từ rất lâu trong lịch

sử lập pháp và có mối quan hệ biện chứng với quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật

Có thể nói, chỉ khi quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật được thực thi thì mới có hoạt động thụ lý đơn khởi kiện của các cơ quan tiến hành tố tụng

Và ngược lại, chỉ khi hoạt động thụ lý được thực hiện thì quyền khởi kiện của chủ thể pháp luật mới được thực hiện và quyền lợi hợp pháp của chủ thể mới

có khả năng được đảm bảo

Xét về mặt thuật ngữ, theo Từ điển tiếng việt “Thụ lý là tiếp nhận giải

quyết vụ kiện” (Viện khoa học ngôn ngữ, Từ điển tiếng Việt 2003, NXB Đà

Nẵng) Dưới góc độ pháp lý, theoTừ điển Luật học thì “Thụ lý vụ án là bắt đầu tiếp nhận một vụ việc để xem xét giải quyết Theo pháp luật TTDS, thụ lý

vụ án là việc toà dân sự nhận đơn yêu cầu của đương sự đề nghị xem xét, giải quyết một vụ việc để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân,

tổ chức, cơ quan” (Từ điển Luật học 2006, NXB Bách Khoa + Tư Pháp, Hà Nội)

Như vậy có thể thấy về mặt thuật ngữ thì khái niệm thụ lý vụ án dân sự

là việc Toà án bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết vụ án dân sự Còn về mặt khoa học pháp lý, khái niệm thụ lý vụ án dân sự được tiếp cận từ khái quát đến cụ thể, nghĩa là thụ lý vụ án dân sự là việc toà án tiếp nhận đơn đề nghị của đương sự để xem xét giải quyết

Về mặt lý luận, cũng tồn tại hai quan điểm khác nhau về thụ lý vụ án

dân sự Quan điểm thứ nhất thì cho rằng thụ lý vụ án dân sự “là hành vi tố

tụng của Toà án chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự và như vậy đã chính thức ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể vào các quan hệ tố tụng Việc thụ

lý là bước khởi điểm làm phát sinh các quan hệ pháp luật TTDS Mặc dù vậy, nói một cách chính xác thì thụ lý gồm có nhiều hành vi tố tụng được diễn ra trong thời hạn nhất định, do đó nó được coi như là một giai đoạn tố tụng

Trang 33

nhỏ” (Tống Công Cường, Luật TTDS Việt Nam, nghiên cứu so sánh, NXB Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh) Quan điểm thứ hai lại cho rằng “Thụ lý

vụ án dân sự là việc Toà án nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện và vào sổ thụ lý để vụ án để giải quyết” (Giáo trình Luật TTDS, Đại học Luật Hà Nội, NXB CAND, 2014)

Có thể thấy các quan điểm này đã nói lên một cách tương đối thống nhất nội dung cơ bản của khái niệm thụ lý VADS, đó là việc chấp nhận đơn khởi kiện của đương sự để xem xét Tuy nhiên ở quan điểm thứ hai đã nêu được rõ ràng hoạt động cơ bản của việc thụ lý VADS bao gồm nhận đơn và vào sổ thụ lý, với cách tiếp cận này giúp ta có thể nhìn nhận rõ hơn về nội dung của khái niệm thụ lý Còn quan điểm thứ nhất tác giả mới chỉ đề cập đến việc Toà án chấp nhận đơn khởi kiên của đương sự nhưng mà chưa đề cập đến các hoạt động cơ bản của việc thụ lý VADS

Khi có mẫu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận quyền

về dân sự, HN&GĐ , và các chủ thể này có yêu cầu Toà án giải quyết VADS

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ thì Toà án sẽ phải tiến hành giải quyết theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định

Sau khi nhận được đơn khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo thì Toà án phải vào sổ nhận đơn và xem xét trong thời hạn do pháp luật quy định Tòa án sẽ phải kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện, xác định các điều kiện để thụ lý VADS như điều kiện về quyền khởi kiện của chủ thể; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác… Trong trường hợp thấy vụ án thuộc thẩm quyền của mình thì Toà án phải thông báo cho người khởi biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí,

Trang 34

tạm ứng lệ phí (trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng

án phí, tạm ứng lệ phí, án phí và lệ phí) Sau khi người khởi kiện nộp cho Toà

án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí thì Toà án quyết định nhận giải quyết và vào sổ thụ lý VADS Các hoạt động đó của Toà án được gọi là thụ lý VADS

Thụ lý vụ án là việc Tòa án chấp nhận đơn của người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý của Tòa án Thụ lý vụ án là công việc đầu tiên của Tòa án trong quá trình tố tụng Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng vì nó đặt ra trách nhiệm của Tòa án phải giải quyết các tranh chấp trong thời hạn luật định Cũng giống như khởi kiện, nếu không có việc thụ lý của Tòa án thì không có các bước tiếp theo của hoạt động tố tụng Khác với các vụ án hình sự, việc thụ lý

vụ án được thực hiện sau khi có quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố

bị can; trong vụ án kinh doanh, thương mại thì việc thụ lý vụ án được thực hiện khi có đơn kiện của đương sự, yêu cầu của cơ quan tổ chức.Nếu không

có việc thụ lý vụ việc thì Toà án sẽ không có các bước tiếp theo của quá trình

tố tụng Thụ lý VADS bao gồm 02 hoạt động cơ bản là nhận đơn khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án dân sự để giải quyết Các hoạt động này bao gồm nhiều công đoạn nhỏ như tiếp nhận đơn khởi kiện, kiểm tra nội dung đơn đã đầy đủ điều kiện luật định hay chưa, Toà án nhận những tài liệu chứng cứ ban đầu kèm theo đơn khởi kiện, thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí và vào sổ thụ lý Khi Tòa án đã vào sổ thụ lý VADS đồng nghĩa với việc Toà án đã xác nhận trách nhiệm giải quyết vụ việc thuộc về mình mà không phải thuộc về một cơ quan Nhà nước nào khác, và cũng từ đây các mối quan hệ pháp luật tố tụng sẽ được phát sinh, các chủ thể sẽ bị ràng buộc với nhau và mối quan hệ

đó sẽ tiếp tục được điều chỉnh bằng các quy định cụ thể của pháp luật TTDS

Khi nhận được đơn khởi kiện, tòa án nghiên cứu kỹ đơn kiện, xem xét

tư cách pháp lý của người gửi đơn kiện, xác định thẩm quyền của Tòa án mình với việc giải quyết vụ án, để quyết định thụ lý hay trả lại đơn kiện Nếu

Trang 35

vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Tòa án phải thông báo ngay cho người khởi kiện đến làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí

Nếu người khởi kiện được miễn, hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, thì Tòa án phải thụ lý ngay vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo

Như vậy, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại là việc Toà án chấp nhận đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu của người khởi kiện, người yêu cầu khi đã thỏa mãn các điều kiện thụ lý và vào sổ thụ lý để giải quyết tranh chấp về kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự

1.3.2 Đặc điểm thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại

Thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại bao gồm những đặc điểm sau:

- Thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại là một hoạt động do Toà

án có thẩm quyền thực hiện: Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013

thì “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Do đó, Tòa án là cơ quan xét xử các VADS nên thụ lý VADS là một trong những chức năng, nhiệm vụ quyền hạn chỉ do Toà án thực hiện mà không một cơ quan Nhà nước nào khác có thẩm quyền thực hiện

- Thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại trong pháp luật TTDS

chỉ được thực hiện trên cơ sở có yêu cầu của chủ thể có đầy đủ điều kiện mà pháp luật quy định:

Điều này có thể hiểu dù có tranh chấp, mâu thuẫn dân sự diễn ra, hay

có những sự kiện pháp lý xảy ra là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của một chủ thể nào đó nhưng nếu các đương sự, chủ thể không yêu cầu Toà

án giải quyết mâu thuẫn, công nhận sự kiện pháp lý thì Toà án cũng không thể

Trang 36

thực hiện hoạt động thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại để giải quyết Điều này chính là do sự đặc trưng của quan hệ dân sự, luôn đề cao sự tự thoả thuận, tự quyết định của các cá nhân, cơ quan, tổ chức Mặt khác, không phải mọi chủ thể khi có tranh chấp, mâu thuẫn hoặc có quyền lợi cần được bảo vệ đều có quyền thực hiện việc khởi kiện, yêu cầu Toà án mà chỉ những chủ thể đầy đủ điều kiện do pháp luật quy định mới được thực hiện Hay nói cách khác, chỉ có những “người trong cuộc” mới có quyền thực hiện yêu cầu Toà

án thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại, còn những người không liên quan thì không có quyền này (trừ một số trường hợp bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước, hay bảo vệ lợi ích những người chưa hoặc không có khả năng thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của mình )

- Thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại bao gồm hai hoạt động

cơ bản là nhận đơn khởi kiện và vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết:

Các hoạt động này bao gồm nhiều công đoạn nhỏ như tiếp nhận đơn khởi kiện kiểm tra nội dung đơn đã đầy đủ điều kiện khởi kiện và điều kiện thụ lý theo luật định hay chưa, Toà án nhận những tài liệu chứng cứ ban đầu kèm theo đơn khởi kiện, thông báo yêu cầu bổ sung đơn khởi kiện (nếu cần), thông báo về việc nộp tiền tạm ứng án phí và cuối cùng là việc vào

sổ thụ lý VADS

- Thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại phải được thực hiện theo

quy định của pháp luật TTDS:

Tương tự như mọi hoạt động tố tụng khác, khi thực hiện thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại, Toà án đều phải tuân theo đầy đủ, chính xác mọi quy định của pháp luật TTDS Các vấn đề về chủ thể có quyền khởi kiện, thẩm quyền giải quyết của Toà án, thu tiền tạm ứng án phí, hình thức của đơn khởi kiện, việc trả lại đơn khởi kiện, thời hạn thông báo việc thụ lý đều phải đảm bảo tuân theo các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục, thời gian, cách thức thực hiện đã được quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng dân sự

Trang 37

Ngoài ra, điều kiện để vụ án được thụ lý còn phải tuân theo các quy định trong Luật Thương mại, Luật Đất đai, Luật Dân sự,… Mọi trường hợp vi phạm các quy định của pháp luật TTDS về thụ lý vụ án, chẳng hạn như thụ lý

vụ án khi vụ án chưa thoả mãn điều kiện khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không có lý do chính đáng, khách quan đều là sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

- Tòa án chỉ thực hiện hoạt động thụ lý khi việc khởi kiện của các chủ

thể có quyền khởi kiện thỏa mãn các điều kiện thụ lý theo quy định của pháp luật TTDS:

Để Tòa án có thể thụ lý VADS thì Tòa án phải xem xét việc khởi kiện của các chủ thể có thỏa mãn đầy đủ các điều kiện thụ lý VADS hay không? Các điều kiện này bao gồm điều kiện khởi kiện; điều kiện về hình thức khởi kiện; tài liệu, chứng cứ gửi kèm theo đơn khởi kiện và điều kiện về nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí

1.3.3 Trình tự thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại

1.3.3.1 Nghiên cứu đơn khởi kiện và giấy tờ kèm theo đơn khởi kiện

vụ án kinh doanh, thương mại

Để thực hiện quyền khởi kiện, trước hết đương sự phải nộp đơn khởi kiện đến Toà án có thẩm quyền Đơn khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại theo quy định chung về nội dung và hình thức đơn khởi kiện quy định tại Điều 164 BLTTDS 2015 Tuy nhiên, nội dung và hình thức đơn khởi kiện vụ

án kinh doanh, thương mại có những điểm riêng cần chú ý như sau:

Nội dung tranh chấp phải được phản ánh rõ ràng trong đơn khởi kiện, đặc biệt đối với những tranh chấp có quy định bên bị vi phạm phải thực hiện việc khiếu nại trước khi khởi kiện ra toà án thì trong đơn kiện phải thể hiện rõ các bên tranh chấp đã khiếu nại với nhau hay chưa

Những yêu cầu của nguyên đơn trong đơn khởi kiện phải cụ thể, rõ ràng Yêu cầu của đương sự trong các vụ án kinh doanh, thương mại là các

Trang 38

yêu cầu tính được bằng tiền và tranh chấp về kinh doanh, thương mại không được miễn tạm ứng án phí Do đó, giá trị tranh chấp giữa các bên là cơ sở để toà án tính tạm ứng án phí Trên thực tế, nhiều đơn khởi kiện gửi đến Toà án đưa ra yêu cầu bằng ngoại tệ hoặc chỉ đưa ra mức lãi suất hoặc chỉ đưa ra số tiền là phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại Trong những trường hợp này, Toà

án phải yêu cầu đương sự quy đổi ra tiền Việt nam và có cách tính cụ thể để

ra số tiền phạt hợp đồng, tiền bồi thường thiệt hại

Về hình thức đơn khởi kiện đối với các vụ án kinh doanh, thương mại cần lưu ý đến người đứng tên trong đơn kiện Đương sự trong các tranh chấp kinh doanh, thương mại thường là các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân Đó là công ty nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty

cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã Người kí đơn khởi kiện trong trường hợp này là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân Riêng đối với công ty hợp danh, các thành viên hợp danh đều có quyền đại diện theo pháp luật của công ty nhưng Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc

là đại diện cho công ty với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước Toà án

Do đó, Chủ tịch Hội đồng thành viên có quyền kí đơn khởi kiện Đối với doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp là người kí đơn khởi kiện Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân, cũng có thể uỷ quyền cho người khác kí đơn kiện và tham gia tố tụng tại Toà án Ngoài ra, đương sự là công ty thì đơn kiện phải có dấu của công ty vào cuối đơn Ví dụ, vụ án do đơn vị phụ thuộc của pháp nhân khởi kiện, đơn kiện do giám đốc chi nhánh không được uỷ quyền hợp pháp kí tên và đóng dấu chi nhánh Trong những trường hợp như vậy, Toà án phải hướng dẫn

cụ thể cho đương sự để sửa lại đơn khởi kiện theo đúng yêu cầu hoặc xuất trình giấy uỷ quyền hợp lệ

Kèm theo đơn khởi kiện, đương sự phải nộp kèm theo những giấy tờ, tài liệu sau:

Trang 39

(1) Đối với tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận

- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình: Văn bản hợp đồng mà các bên đã kí kết, các phụ lục hợp đồng (nếu có); Hoá đơn, chứng từ, giấy biên nhận, phiếu thu liên quan đến việc giao nhận hàng hoá, cung ứng dịch vụ và thanh toán; Biên bản thanh lí hợp đồng; Công văn, giấy tờ, khiếu nại hoặc biên bản làm việc giữa các bên

- Các giấy tờ tài liệu nhằm xác định tư cách pháp lí của người khởi kiện

và người kí đơn kiện: Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh- đầu tư (nếu có); Điều lệ hoạt động của pháp nhân; Quyết định bổ nhiệm hoặc biên bản bầu người đại diện theo pháp luật, giấy uỷ quyền

(2) Đối với tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức công ty

- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình: Điều lệ hoạt động của công ty; Danh sách thành viên (đối với công ty TNHH, công ty hợp danh), danh sách cổ đông sáng lập (đối với công ty cổ phần), sổ đăng kí thành viên, sổ đăng kí cổ đông; Biên bản bầu chức danh quản lí công ty; Biên bản định giá tài sản góp vốn của thành viên; Biên bản cuộc họp của cơ quan quản

lí công ty liên quan đến nội dung tranh chấp; Các quyết định quản lí công ty liên quan đến nội dung tranh chấp

- Các giấy tờ, tài liệu chứng minh tư cách pháp lí của người khởi kiện

và người kí đơn kiện (nếu có)

Trang 40

1.3.3.2 Xác định tư cách người khởi kiện trong các vụ án kinh doanh, thương mại

Trước hết, Thẩm phán phải xem xét tư cách chủ thể pháp lí của người khởi kiện Trong các vụ án phát sinh từ tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh, người khởi kiện thường là các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân

Đó là công ty nhà nước, Hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty hợp danh

Có nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể thành lập các chi nhánh, đội sản xuất, phân xưởng, văn phòng đại diện Đây chỉ là các đơn vị phụ thuộc của pháp nhân và không có tư cách chủ thể pháp lí độc lập để tham gia quan

hệ tố tụng Khi tranh chấp phát sinh từ hợp đồng do các đơn vị phụ thuộc kí kết thì pháp nhân có đơn vị phụ thuộc sẽ thực hiện quyền khởi kiện

Thứ hai, Thẩm phán phải xem người khởi kiện có tư cách khởi kiện hay không Quan hệ kinh doanh rất phức tạp và đa dạng, tham gia quan hệ có thể

có nhiều chủ thể khác nhau Để xác định chủ thể nào có quyền khởi kiện và chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ, Thẩm phán phải xác định tranh chấp kinh doanh, thương mại đó phát sinh từ quan hệ pháp luật nào Ví dụ như trong quan hệ đại diện cho thương nhân, quan hệ uỷ thác mua bán hàng hoá

Thứ ba, Thẩm phán phải xác định người khởi kiện có bị mất quyền khởi kiện không Trong một số quan hệ pháp luật về kinh doanh, thương mại yêu cầu các bên tranh chấp phải thực hiện việc khiếu nại trong thời hạn khiếu nại, nếu không khiếu nại sẽ bị mất quyền khởi kiện Ví dụ như trong quan hệ hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường thuỷ nội địa, bằng đường hàng không

1.3.3.3 Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án kinh doanh,

Để xác định thẩm quyền giải quyết của Toà án trong các tranh chấp về kinh doanh, thương mại, trước hết Toà án phải xác định tranh chấp phải thuộc

Ngày đăng: 01/09/2018, 00:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm