1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn áp dụng tại tòa án nhân dân thành phố hà nội

97 187 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bùi Đăng Hiếu: Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối; Hoàng Thị Thanh: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do khô

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG LĨNH VỰC

THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN QUÝ TRỌNG

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Người cam đoan

Ngô Thị Thu Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tập thể giáo viên Khoa đào tạo Sau đại học – Viện đại học Mở Hà Nội đã hết lòng tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Quý Trọng – người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và động viên cá nhân tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Thật lòng vô cùng cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ, động viên của toàn thể gia đình, bạn bè trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, cũng như trong suốt quá trình học tập vừa qua

Mặc dù đã hết sức cố gắng song khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy giáo, cô giáo cũng toàn thể bạn bè góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 3 năm 2018

Học viên thực hiện

Ngô Thị Thu Hà

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG HƯƠNG MẠI VÔ HIỆU VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU 6

1.1 Khái quát về hợp đồng thương mại và hợp đồng thương mại vô hiệu 6

1.1.1 Khái niệm hợp đồng và hợp đồng thương mại 6

1.1.2 Nhận diện hợp đồng thương mại vô hiệu 9

1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại vô hiệu 13

1.1.4 Các nguyên tắc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự trong việc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu 18

1.2 Pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu 22

1.2.1 Khái lược lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu 22

1.2.2 Khái niệm và nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu 33

Chương 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35

2.1 Các điều kiện kiện kinh tế-xã hội của thành phố Hà Nội ảnh hưởng tới việc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu 35

2.1.1.Thuận lợi 35

2.1.2.Khó khăn 36

2.2 Thực tiễn các quy định pháp luật về xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu 37

2.2.1 Số liệu xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại TAND thành phố Hà nội 37

2.2.2.Đánh giá hoạt động xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại TAND thành phố Hà Nội 41

Chương 3 NHỮNG YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU Ở VIỆT NAM 65

Trang 5

3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật hợp đồng và xử lý hợp đồng thương mại

vô hiệu 65

3.1.1 Hoàn thiện pháp luật hợp đồng và xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu

là một tất yếu khách quan, sự đòi hỏi của thực tiễn 65 3.1.2 Yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu 67

3.2 Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu và xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu 71

3.2.1 Hoàn thiện các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 71 3.2.2 Về các trường hợp tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu 74 3.3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hoạt động xét xử hợp đồng thương mại vô hiệu 84

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hợp đồng thương mại trong đời sống xã hội đặc biệt là trong các hoạt động giao thương hàng hóa dịch

vụ giữa các chủ thể với nhau Chế định hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh thương mại nói riêng luôn được coi là một chế định pháp lý quan trọng không thể thiếu trong hoạt động thương mại của mỗi quốc gia khi mà cơ chế hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng Hợp đồng thương mại tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự vận động linh hoạt và an toàn trong các giao dịch kinh doanh hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể trực tiếp hoặc dán tiếp tham gia Khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, các nhà làm luật đều quan tâm tới các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về

xử lý hợp đồng vô hiệu Các quy định này có tác dụng đảm bảo sự ổn định của xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Việc xử lý hợp đồng vô hiệu như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi ích của các bên trong hợp đồng Do vậy, các quy định về

xử lý hợp đồng vô hiệu phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đảm bảo sự hài hòa giữa quyền của các bên chủ thể và lợi ích của cộng đồng, nhà nước nói chung Tuy nhiên, hiện nay các quy định về hợp đồng vô hiệu vẫn còn nhiều vướng mắc Các quy định có phần còn cứng nhắc, chưa đầy đủ, có quy định còn chồng chéo, gây nên cách hiểu không thống nhất Ví dụ như: Các căn cứ để tuyên bố hợp đồng vô hiệu còn có nhiều điểm chưa rõ ràng; hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu còn quy định chung chung, khó áp dụng Quyền lợi của các chủ thể tham gia trong quan hệ thương mại không được đảm bảo thỏa đáng khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu Về phía các cơ quan nhà nước, do tính phức tạp của các quan hệ hợp đồng, những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúng túng trong công tác xét xử

có liên quan tới hợp đồng vô hiệu Nói cách khác, chính điều đó làm hạn chế năng lực của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng Và trên thực tế, cũng không ít trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do một bên giao kết

Trang 8

hợp đồng lợi dụng các quy định của pháp luật để "lách luật", nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình

Việc xây dựng các quy định pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn không những là yêu cầu chính đáng của thương nhân để họ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình mà còn là điều kiện

để cơ quan nhà nước hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước đặt ra Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề này là một yêu cầu cần thiết hiện nay

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn của mình Luận văn chủ yếu phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại, xử lý hợp đồng vô hiệu Từ thực trạng xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại tại TAND thành phố Hà Nội chỉ rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập về xử lý HĐVH Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về

xử lý HĐVH trong lĩnh vực thương mại

2 Tình hình nghiên cứu

Việc nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu cũng như pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại đã được nhiều nhà khoa học quan tâm trong các thời kỳ trên nhiều góc độ khác nhau, như:

- Giáo trình Luật thương mại trường Đại học Luật Hà Nội, tập 2, Nbx Tư Pháp năm 2017; Khoa Luật Đại học Quốc gia, Học viện khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt nam và các cơ sở đào tạo ngành luật

- Bên cạnh đó, vấn đề hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại còn được

đề cập trong một số ấn phẩm như: Sách Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự của Bộ

Tư Pháp; Lê Thị Bích Thọ: “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu”, Luận án tiến sĩ, năm 2002; Nguyễn Văn Cường: "Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu"

Trang 9

năm 2004; Luận án Tiến sỹ; Cao Thị Thùy Dương: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam"Luận văn thạc sĩ, năm 2004…

- Một số công trình khoa học khác cũng đề cập đến hợp đồng vô hiệu, như:

TS Bùi Đăng Hiếu: Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối; Hoàng Thị Thanh: “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức”…Tuy nhiên, có thể nhận thấy các công trình có liên quan đến đề tài chủ yếu được nghiên cứu các quy định của pháp luật được quy định trong các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, Bộ luật dân sự của giai đoạn 2004 trở về trước chưa được bổ sung theo pháp luật sửa đổi sau này Do vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện các quy định về hợp đồng thương mại vô hiệu từ lý luận đến thực tiễn xét xử tại Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt là sau khi Bộ luật thương mại 2015 ra đời cũng nảy sinh nhiều vấn đề cấp thiết đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung

3 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề về hợp đồng thương mại, hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại và xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại trên phương diện lý luận Thực trạng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại từ thực tiễn hoạt động của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đúc rút những kết quả và hạn chế, bất cập Trên cơ sở đó, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại trong giai đoạn hiện nay

- Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn tập trung làm rõ những vấn đề sau:

+ Phân tích và lý giải làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng, hợp đồng thương mại vô hiệu, cách thức xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vô hiệu trong Bộ luật dân sự và Luật thương mại năm 2005

Trang 10

+ Lược sử quá trình điều chỉnh của pháp luật Việt nam về hợp đồng thương mại vô hiệu qua các thời kỳ làm nổi bật sự phát triển của các quy định pháp luật về vấn đề này

+ Nghiên cứu thực tiễn xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

+ Đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu

- Phạm vi nghiên cứu: tác giả tập trung nghiên cứu các quy định về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu, xử lý hợp đồng vô hiệu được quy định tại Bộ luật dân sự 2015, Luật Thương mại năm 2005, có khảo cứu quy định của một số nước trân thế giới về vấn đề này Đồng thời, tác giả đánh giá, bình luận thực tiễn xử lý hợp đồng vô hiệu tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại, hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại và thực tiễn xử

lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại tại TAND thành phố Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại (sau đây thống nhất gọi chung là hợp đồng thương mại vô hiệu) cũng như xử lý nó chủ yếu được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2013, Luật Thương mại năm 2005 và một số văn bản pháp luật liên quan

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu của luận văn được thực hiện trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

Tác giả sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá…để giải quyết các nội dung và đạt được mục tiêu đề ra

Trang 11

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản của hợp đồng thương mại , hợp đồng thương mại vô hiệu như: nhận diện hợp đồng thương mại, khái niệm, đặc điểm hợp đồng thương mại vô hiệu …

- Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND thành phố Hà Nội về xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu theo quy định tại Luật thương mại và Bộ luật Dân sự 2015

- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại trong giai đoạn hiện nay

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo trong học tập, giảng dạy và áp dụng trong thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng, Hợp đồng thương mại vô hiệu

và pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu và thực tiễn

xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu tại tòa án nhân dân thành phố Hà nội

Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại vô

hiệu ở Việt nam

Kết luận

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 12

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG HƯƠNG MẠI VÔ HIỆU VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG

THƯƠNG MẠI VÔ HIỆU 1.1 Khái quát về hợp đồng thương mại và hợp đồng thương mại vô hiệu

1.1.1 Khái niệm hợp đồng và hợp đồng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là công cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người và người liên quan đến tài sản trong một xã hội có tổ chức Các quan hệ ấy không chỉ hình thành trong lĩnh vực dân sự mà cả trong các lĩnh vực thương mại, lao động, thậm chí trong lĩnh vực hành chính Mỗi loại hợp đồng, trong mỗi lĩnh vực, có những đặc điểm rất

lý quan trọng và phổ biến để con người thực hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu trong đời sống xã hội Tuy vậy trong lịch sử lập pháp của nhân loại,

để tìm ra một thuật ngữ chính xác, như thuật ngữ “ hợp đồng” đang được sử dụng ở nhiều quốc gia hiện nay là việc không mấy dễ dàng Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có rất nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ về hợp đồng như: Khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, tờ giao ước, tờ ưng thuận, chấp thuận…Sau này, các văn bản hiện hành của nhà nước ta không còn được sử dụng thuật ngữ “ khế ước” hay “hiệp ước”

đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương mại Đây là điểm cá biệt bởi trong pháp luật của nhiều nước, người ta chỉ sử dụng thuật ngữ “ Hợp đồng” nói chung, chứ không sử dụng thuật ngữ “ Hợp đồng dân sự”, “ Hợp đồng thương mại”, “ Hợp đồng lao động” một cách cụ thể như pháp luật Việt Nam

Khái niệm về hợp đồng được quy định trong Bộ Luật dân sự năm 2015 có sự thay đổi so với quy định về hợp đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005 Theo đó,

“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền

và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thỏa thuận 2

Trang 13

1.1.1.2 Khái niệm hợp đồng thương mại

Danh từ “hợp đồng” được xuất hiện lần đầu tiên trong pháp lệnh hợp đồng kinh tế công bố ngày 28/09/1989 và pháp lệnh về hợp đồng dân sự công bố ngày 07/05/1991 Theo hai văn bản này, hợp đồng kinh tế bao gồm các hợp đồng được kí kết nhằm mục đích kinh doanh giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với

tư nhân có đăng kí kinh doanh theo pháp luật Các tranh chấp phát sinh trong việc thi hành hợp đồng kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế, các hợp đồng khác không phải là hợp đồng kinh tế đều là hợp đồng dân sự Như vậy, một hợp đồng được coi là hợp đồng kinh tế hay dân sự tùy theo chủ thể và mục đích theo đuổi: hợp đồng mua bán là hợp đồng kinh tế nếu được kí kết giữa các công ty với nhau, giữa công ty và tư nhân có đăng kí kinh doanh nhằm mục đích kinh doanh; hợp đồng là dân sự nếu được kí kết giữa các cá nhân với nhau

Tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, luật pháp không phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế ( còn gọi là hợp đồng thương mại), các qui định về hợp đồng dân sự được áp dụng cho hợp đồng thương mại ( Hoa Kỳ, Thụy Sĩ, Ý, Pháp) Tuy nhiên , tại Pháp một số hợp đồng do mục đích của nó được xem là hành

vi thương mại bị chi phối bởi các qui tắc của Bộ luật thương mại

Tại Việt Nam, Luật thương mại công bố ngày 27/06/2005 quy định một số

giao dịch được xem là hoạt động thương mại, Điều 3 Luật thương mại 2005: “Hoạt

động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Các hợp đồng thực hiện các hoạt động thương mại này do Luật thương mại chi phối; do đó chúng ta có thể tạm gọi các hợp đồng này là các hợp đồng thương mại Nhưng lợi ích của sự phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại chẳng còn là bao khi mà ngày nay Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2015 đã quy tụ mọi tranh tụng về một mối: Tòa án dân sự xét xử mọi tranh chấp về dân sự, thương mại, lao động…Mặc dù vậy các hợp đồng thực hiện hoạt động thương mại được dự liệu trong Luật thương mại cũng có những đặc tính riêng của nó, ngoài các quy tắc chung cho mọi hợp đồng được dự liệu trong luật dân sự

Trang 14

Có thể xem xét hợp đồng thương mại trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng Nhiều vấn đề về hợp đồng trong thương mại được điều chỉnh bởi pháp luật không có sự khác biệt với các hợp đồng dân sự, như: Giao kết hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và xử lý hợp đồng vô hiệu… Bên cạnh đó, xuất phát từ yêu cầu của hoạt động thương mại, một số vấn đề

về hợp đồng thương mại được quy định trong bộ luật thương mại có tính chất là sự phát triển tiếp tục những quy định của dân luật truyền thống về hợp đồng (như chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên, chế tài và giải quyết tranh chấp hợp đồng ) Hợp đồng thương mại có những đặc điểm nhất định để nhận biết và phân biệt với các loại hợp đồng khác

Về chủ thể, hợp đồng thương mại được thiết lập giữa các chủ thể là thương nhân Theo quy định của Luật thương mại, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6 Luật thương mại 2005) Điểm mấu chốt là tất cả chủ thể của quan hệ hợp đồng thương mại (thương nhân) đều phải có đăng ký kinh doanh Thương nhân là chủ thể của hợp đồng thương mại có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài Luật thương mại quy định về thương nhân nói chung và thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam

Về hình thức, hợp đồng thương mại có thể được thiết lập dưới hình thức văn bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong những trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng thương mại bằng hình thức văn bản (Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại ) Luật thương mại cho phép các bên hợp đồng có thể thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15 Điều 3 Luật thương mại 2005)

Về nội dung và mục đích của hợp đồng thương mại: Mục đích của các bên trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận Trường hợp có chủ thể hợp đồng không nhằm mục đích lợi nhuận giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước

Trang 15

Việt Nam, thì hợp đồng được áp dụng Luật thương mại khi bên không nhằm mục đích lợi nhuận lựa chọn áp dụng Luật thương mại (Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005) Hợp đồng thương mại có thể chia thành những nhóm chủ yếu như sau:

Một là, hợp đồng mua bán hàng hóa: Hợp đồng mua bán hàng hóa không có yếu tố quốc tế; hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển khẩu) và hợp đồng mua bán hàng hóa qua

Sở giao dịch hàng hóa (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn)

Hai là, hợp đồng dịch vụ: Hợp đồng cung ứng dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa (hợp đồng trong các hoạt động xúc tiến thương mại, trung gian thương mại, các hoạt động thương mại cụ thể khác); các hợp đồng cung ứng dịch vụ chuyên ngành (hợp đồng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, đào tạo, du lịch )

Ba là, những hợp đồng trong các hoạt động đầu tư thương mại đặc thù khác (hợp đồng giao nhận thầu xây lắp, hợp đồng chuyển nhượng dự án khu đô thị mới, khu nhà ở, dự án hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp )

Từ những phân tích trên ta có thể định nghĩa: Hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương nhân với nhau hoặc với người liên quan nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động thương mại Lưu ý, người có liên quan ở đây không phải là thương nhân tham gia hợp đồng không nằm mục đích sinh lợi nhưng có liên quan đến thương mại và có lựa chọn luật áp dụng là Luật thương mại

1.1.2 Nhận diện hợp đồng thương mại vô hiệu

1.1.2.1 Khái niệm hợp đồng thương mại vô hiệu

Hợp đồng thương mại vô hiệu hiện nay là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, song để đưa ra một khái niệm cụ thể thì chưa có tài liệu nào đề cập tới Tuy nhiên cũng có thể hiểu một hợp đồng thương mại vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật hoặc một hợp đồng không có giá trị pháp lý hoặc không có giá trị bắt buộc đối với các bên giao kết hợp đồng Như vậy hợp đồng thương mại vô hiệu

được hiểu là “hợp đồng giao kết có sự thể hiện ý chí của các bên tham gia, nhưng

Trang 16

có sự vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 ( Điều 122) làm cho hợp đồng vô hiệu”.3

Hợp đồng thương mại vô hiệu chứa đựng những yếu tố gây vô hiệu như giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa … dẫn tới không đảm bảo một hoặc một số điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng thương mại Thời điểm xác định sự vô hiệu của hợp đồng thương mại được tính từ thời điểm hợp đồng được xác lập Hợp đồng đã ký sẽ không có giá trị thực hiện kể từ khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, trường hợp hợp đồng thương mại vô hiệu đã và đang được thực hiện thì việc thực hiện hợp đồng sẽ

bị chấm dứt

1.1.2.2.Đặc điểm của hợp đồng thương mại vô hiệu

Thứ nhất, Hợp đồng thương mại vô hiệu do không phát sinh hiệu lực theo quy định của pháp luật về hợp đồng

Hợp đồng không thỏa mãn một trong các điều kiện hợp pháp theo quy định của pháp luật về hợp đồng đó là các điều kiện về năng lực chủ thể; điều kiện về mục đích và nội dung thỏa thuận; điều kiện về thể hiện ý chí trong thỏa thuận; điều kiện

về hình thức giao dịch và điều kiện đối tượng hợp đồng phải thực hiện được

Về điều kiện chủ thể khoản 1, Điều 6 luật thương mại năm 2005 quy định chủ thể của hợp đồng thương mại là thương nhân; thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Các chủ thể tham gia hợp đồng thương mại phải

có năng lực chủ thể để thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn kinh doanh, thương mại, chủ thể tham gia hợp đồng thương mại chủ yếu là thương nhân Khi tham gia hợp đồng thương mại nhằm mục đích lợi nhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh phù hợp với nội dung hợp đồng Trường hợp mua bán hàng hóa, dịch vụ có điều kiện thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật

Đại diện hợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng thương mại,

3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

Trang 17

phải lưu ý quy định tại Điều 142 Bộ luật dân sự 2015, theo đó khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng, sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa

vụ đối với bên hợp đồng được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện chấp thuận

Năng lực chủ thể của thương nhân có thể là pháp nhân hoặc cá nhân có đăng

ký kinh doanh; pháp nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật như là một chủ thể bình đẳng, độc lập với các chủ thể khác; Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của pháp nhân phát sinh đồng thời tại thời điểm thành lập pháp nhân, tồn tại trong suốt quá trình hoạt động của pháp nhân và chỉ chấm dứt khi pháp nhân chấm dứt hoạt động; Đối với các pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực chủ thể phát sinh

kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động; Còn năng lực hành

vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự; như vậy thương nhân phải đáp ứng được điều kiện về năng lực chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng thương mại nếu không đáp ứng các điều kiện về năng lực chủ thể sẽ làm cho hợp đồng vô hiệu

Về thể hiện ý chí trong thỏa thuận các bên tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Theo quy định của Bộ luật dân sự, việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng phải tuân thủ theo các nguyên tắc tự do giao kết nhưng không trái pháp luật và đạo đức xã hội, tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Bộ luật thương mại 2005 còn bổ sung thêm nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại (Điều 12); áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại (Điều 13); Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng (Điều 14) và Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại ( Điều 15)

Về hình thức, hợp đồng thương mại có thể được thiết lập dưới hình thức văn bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong những trường hợp

Trang 18

nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng kinh doanh thương mại bằng hình thức văn bản (Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương mại ) Luật thương mại cho phép các bên hợp đồng có thể thay thế hình thức thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (Khoản 15 Điều 3 Luật thương mại 2005)

Về nội dung và mục đích của hợp đồng thương mại: Mục đích của các bên trong hợp đồng thương mại là lợi nhuận Trường hợp có chủ thể hợp đồng không nhằm mục đích lợi nhuận giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thì hợp đồng được áp dụng Luật thương mại khi bên không nhằm mục đích lợi nhuận lựa chọn áp dụng Luật thương mại (Khoản

3 Điều 1 Luật thương mại 2005)

Về điều kiện đối tượng hợp đồng phải thực hiện được, đây cũng là điều kiện rất quan trọng xác lập hợp đồng được thực hiện một cách khả thi và đúng luật bởi vì nếu hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được mà các bên vẫn giao kết thực hiện thì theo Điều 408 BLDS 2015 “ Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”

Khoản 2 Điều 408 BLDS 2015 được quy định nhằm hạn chế sự lạm dụng của một bên khi biết rõ hoặc buộc phải biết đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được nhưng vì mục đích nào đó mà vẫn cố tình giao kết hợp đồng và gây thiệt hại cho bên kia

Thứ hai, các bên tham gia hợp đồng phải chịu hậu quả pháp lý nhất định

Các bên tham gia giao dịch phải chịu hậu quả pháp lý nhất định Thời điểm xác định sự vô hiệu của hợp đồng thương mại được tính từ thời điểm hình thành hợp đồng Hợp đồng đã ký sẽ không có giá trị bắt buộc thực hiện và việc thực hiện

vì thế bị chấm dứt, quay lại tình trạng ban đầu Hậu quả pháp lý của hợp đồng thương mại vô hiệu được giải quyết theo quy định của Điều 131 bộ luật dân sự 2015 đối với hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu Theo quy định này thì hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các

Trang 19

bên kể từ thời điểm xác lập hợp đồng Khi hợp đồng vô hiệu các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên kia

1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại vô hiệu

Các quy định về giao dich dân sự từ Điều 122 đến Điều 133 BLDS 2015 được áp dụng cho hợp đồng thương mại vô hiệu nên dựa vào đó có thể thấy có

* Dựa vào mức độ vi phạm đối với từng loại hợp đồng thương mại cụ thể thì hợp

đồng thương mại vô hiệu được chia thành:

- Hợp đồng thương mại vô hiệu toàn bộ: là hợp đồng mà toàn bộ nội dung của nó đều vi phạm điều kiện có hiêụ lực của hợp đồng hoặc có một số nội dung của hợp đồng bị vô hiệu nhưng lại trực tiếp ảnh hưởng tới phần còn lại của hợp đồng

- Hợp đồng thương mại vô hiệu từng phần: là hợp đồng mà chỉ có một số nội dung vi phạm các điều kiện có hiệu lực của HĐDS, còn các nội dung khác không

vi phạm hoặc có một phần của HĐVH nhưng không ảnh hưởng tới hiệu lực còn lại của hợp đồng

* Dựa vào mức độ vi phạm nghiêm trọng hay không của hợp đồng cũng như

căn cứ vào ý chí của Nhà nước, ý chí của chủ thể tham gia giao dịch thì HĐTMVH đuợc chia thành:

-Vô hiệu tuyệt đối: Các loại hợp đồng thương mại bị vô hiệu tuyệt đối: Hợp

dịch được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm

4 Xem thêm từ Điều 122 đến Điều 133 BLDS năm 2015

5 Điều 123 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015

Trang 20

trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba và khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo qui định bắt buộc của pháp luật.6

- Vô hiệu tương đối: Điều 130 Bộ luật dân sự 2015: “giao dịch dân sự vô hiệu từng phần khi một phần của giao dịch bị vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của giao dịch” Như vậy, chỉ riêng những điều khoản bất hợp pháp bị tiêu hủy, còn các phần khác của hợp đồng vẫn có hiệu lực

* Các loại hợp đồng vô hiệu tương đối:

- Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)

- Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)

- Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 127 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)

- Hợp đồng vô hiệu do người xác lập đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)

Sự phân loại nêu trên dựa vào một số đặc điểm khác biệt chung thể hiện bản chất của hai khái niệm giữa giao dịch vô hiệu tuyệt đối và giao dịch vô hiệu tương đối Đó là:

Thứ nhất, là sự khác biệt về trình tự vô hiệu của giao dịch Giao dịch vô hiệu

tuyệt đối thì mặc nhiên là bị coi là vô hiệu Còn đối với các giao dịch vô hiệu tương đối thì không mặc nhiên vô hiệu mà chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan và bị Tòa án tuyên bố vô hiệu

Thứ hai, là sự khác biệt về thời hạn yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu Đối với các giao dịch vô hiệu tuyệt đối thì thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu không bị hạn chế Còn đối với các giao dịch tuyên bố vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là hai năm kể từ ngày:

6 Điều 129 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015

Trang 21

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập

do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép; d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

Riêng đối với giao dịch dân sự quy định tại Điều 123 (Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội) và Điều 124 (Giao dịch dân

sự vô hiệu do giả tạo) của Bộ luật này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế (Điều 132 Bộ luật dân sự Việt Nam 2015)

Thứ ba, giao dịch thương mại thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối có thể bị vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của Tòa án mà giao dịch này đương nhiên không có giá trị, vì giao dịch vi phạm pháp luật nghiêm trọng cho nên Nhà nước không bảo hộ Vô hiệu tuyệt đối có thể do mọi người có quyền lợi liên quan nêu ra

và không thể khôi phục lại hiệu lực của hợp đồng trong bất kì trường hợp nào Hợp đồng vô hiệu tương đối có thể khôi phục lại hiệu lực của phần hợp đồng đã bị tuyên

bố vô hiệu khi hợp đồng: vô hiệu vì sự thỏa thuận bị tỳ tích (lầm lẫn, đe dọa, lừa dối); vô hiệu vì không có năng lực hành vi; vô hiệu vì khiếm khuyết về hình thức Trong trường hợp này, quyết định của Tòa án là cơ sở làm cho giao dịch trở nên vô hiệu Quyết định của Tòa án mang tính chất phân xử Tòa án tiến hành giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu của các bên (hoặc của đại diện hợp pháp của họ) Bên yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa các cơ sở của yêu cầu Ví dụ : Nếu một người yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu vì lý do khi xác lập giao dịch đã bị lừa dối (hoặc đe dọa) thì bên yêu cầu đó phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa sự kiện lừa dối (hoặc đe dọa) mà bên kia gây ra đối với mình Nếu như một bên yêu

Trang 22

cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu với lý do xác lập giao dịch trong thời điểm không nhận thức được hành vi của mình thì Tòa án buộc bên yêu cầu phải chứng minh được rằng tại thời điểm xác lập giao dịch đó họ bị rơi vào trạng thái không nhận thức được hành vi của mình Dựa trên những minh chứng đó Tòa án mới cân nhắc

để ra quyết định giao dịch có bị coi là vô hiệu hay không

Thứ tư, là sự khác biệt về mục đích Các trường hợp pháp luật tuyên bố giao dịch vô hiệu tuyệt đối nhằm mục đích bảo vệ các lợi ích công cộng (lợi ích của Nhà nước, của xã hội nói chung) Còn các trường hợp pháp luật qui định giao dịch vô hiệu tương đối là nhằm mục đích bảo vệ lợi ích cho các chủ thể tham gia giao dịch

* Căn cứ vào các quy định trong BLDS 2015

cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng

sự thống nhất Khi hai cái đó không có sự đồng nhất thì hợp đồng dân sự vô hiệu Trên cơ sở này, pháp luật quy định HĐDS được xác lập một cách giả tạo thì hợp đồng này vô hiệu còn hợp đồng bị che giấu vẫn có hiệu lực Nếu hợp đồng bị che giấu cũng vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì cũng bị coi là vô hiệu Ngoài ra khi các chủ thể xác lập hợp đồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ

3 thì cũng bị coi là vô hiệu

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành

vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập thực hiện (Điều 125 BLDS 2015) Đối với các HĐDS được xác lập, thực hiện bởi người chưa thành niên, người mất NLHVDS, người bị hạn chế NLHVDS mà theo quy định của pháp luật hợp đồng này phải do

7 Điều 123 BLDS 2015

8 Điều 124 BLDS 2015

Trang 23

người đại diện của họ xác lập, thực hiện thì pháp luật cho phép người đại diện của những người này có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố HĐVH

nhầm lẫn không có sự thống nhất ý chí đích thực với sự thể hiện ý chí đó ra bên ngoài Do đó bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố HĐDS vô hiệu

mà không cần phải yêu cầu bên kia thay đổi nội dung hợp đồng

bản thân chủ thể xác lập hợp đồng bị “tê liệt ” về ý chí và không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc lựa chọn ý chí của một bên (đe doạ) hoặc sự nhận thức không đúng về HĐDS bởi hành vi vi phạm pháp luật, bởi sự định hướng ý chí của chủ thể thành một nội dung khác có lợi cho người định hướng (lừa dối)

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành

đồng theo ý chí của mình Tuy nhiên trên thực tế có những trường hợp bản thân chủ thể xác lập hợp đồng mặc dù có NLHVDS đầy đủ nhưng đã xác lập hợp đồng vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình Ví dụ trong tình trạng say rượu, bia…

với các HĐDS mà pháp luật buộc các bên phải thông qua một hình thức nhất định nhưng các bên lại không thông qua hình thức này thì Toà án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ ấn định một thời hạn để các bên hoàn thành, quá thời hạn này mà các bên không hoàn thành thì HĐVH

của hợp đồng vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phần còn lại của hợp đồng

9 Điều 126 Bộ luật dân sự 2015

10 Điều 127 Bộ luật dân sự 2015

11 Điều 128 Bộ luật dân sự 2015

12 Điều 129 Bộ luật dân sự 2015

13 Điều 130 Bộ luật dân sự 2015

Trang 24

- Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được 14 Trong trường hợp ngay từ khi ký kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được vì

lý do khách quan thì HĐVH Đối với HĐDS vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được cần xác định cụ thể: trong trường hợp ngay từ khi ký kết hợp đồng

có đối tượng không thể thực hiện được vì lý do khách quan thì HĐVH Ví dụ do sự kiện bất khả kháng làm cho đối tượng của hợp đồng không còn: lũ, bão cuốn trôi tài sản…Trong trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên nếu biết hoặc phải biết

về việc đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia Trong trường hợp hợp đồng có nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được thì phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực

1.1.4 Các nguyên tắc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự trong việc xử lý hợp đồng thương mại vô hiệu

Để tạo cơ chế pháp lý đầy đủ cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, phát huy được vị trí, vai trò của Bộ luật dân sự, bảo đảm sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật dân sự trong việc giải quyết hợp đồng thương mại vô hiệu, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc

tế trên cơ sở kế thừa các quy định của pháp luật hiện hành, Bộ luật dân sự năm 2015

đã quy định rất cụ thể về nguyên tắc áp dụng pháp luật dân sự15 như sau:

a) Bộ luật dân sự là luật chung điều chỉnh tất cả các quan hệ dân sự, luật khác có liên quan đến điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không được trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật dân sự Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy định nhưng trái với quy định của Bộ luật dân sự thì phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự

b) Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Bộ luật dân sự và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế

14 Điều 408 Bộ luật dân sự 2015

15 Xem các Điều 4 đến Điều 6 BLDS năm 2015

Trang 25

c) Trường hợp các bên không có thoả thuận và pháp luật không quy định thì

có thể áp dụng tập quán trong quan hệ dân sự Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự Tuy nhiên, tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân

sự thì mới được áp dụng

Nguyên tắc này cũng được quy định tại Khoản 1 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân

sự năm 2015 về nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng Đồng thời, Khoản 1 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định: Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự

d) Trường hợp các phát sinh từ quan hệ dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự

Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự (Khoản 2 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) đ) Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự năm 2015,

án lệ, lẽ công bằng

Liên quan đến án lệ, thực hiện Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ Theo đó,

Trang 26

án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử Để được lựa chọn, án lệ phải đáp ứng được các tiêu chí: (i) chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; (ii) có tính chuẩn mực; (iii) có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau

Án lệ được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố Trường hợp do sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp thì án lệ đương nhiên bị hủy

bỏ Trường hợp do chuyển biến tình hình mà án lệ không còn phù hợp nhưng chưa

có quy định mới của pháp luật thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm xem xét huỷ bỏ án lệ

Nghị quyết cũng quy định rõ, khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau Trường hợp áp dụng án lệ thì số bản án, quyết định của Toà án có chứa đựng án lệ, tính chất, tình tiết vụ việc tương tự được nêu trong án lệ và tính chất, tình tiết vụ việc đang được giải quyết, vấn đề pháp lý trong án lệ phải được viện dẫn, phân tích, làm rõ trong bản án, quyết định của Toà án; trường hợp không áp dụng án lệ thì phải phân tích, lập luận, nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Toà án

án lệ đã được lựa chọn, công bố và thống nhất áp dụng theo quy định của pháp luật

Về việc áp dụng lẽ công bằng, đây là nội dung nhận được nhiều tranh luận

16 Xem thêm Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/04/2016 của Chánh án TANDTC

Trang 27

của các đại biểu trong quá trình thảo luận tại Quốc hội Bởi vì, “theo kinh nghiệm

các nước, kể cả các nước có nền tư pháp lâu đời và phát triển, xét xử theo lẽ công bằng là một công việc khó khăn và phức tạp của Tòa án nói chung và các Thẩm phán nói riêng, bởi hai lẽ Một là, nguyên tắc hàng đầu của Thẩm phán khi xét xử

là ‘độc lập và chỉ tuân theo pháp luật’ và các Thẩm phán đều được đào tạo để xét

xử theo phương thức cơ bản là áp dụng luật pháp hiện hành để ra các phán quyết cho các vụ án Xét xử theo lẽ công bằng là việc không được đào tạo hoặc không quen thuộc Hai là, khi không có cơ sở luật định, Thẩm phán bắt buộc phải dựa vào nhận thức và lương tâm của mình về lẽ công bằng Nếu một Thẩm phán nào đó không có lẽ công bằng ngự trị trong nhận thức và lương tâm, do suy thoái đạo đức hay những tác động bên ngoài thì việc ban hành những bản án tùy tiện và thiên vị

là điều không tránh khỏi Khi đó hy vọng của người dân vào lẽ công bằng chỉ còn dựa vào các Thẩm phán của tòa cấp trên và vai trò kiểm sát tư pháp của các Kiểm sát viên”.17

Để có cách hiểu và áp dụng thống nhất về lẽ công bằng, Khoản 3 Điều 45

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở

lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó.18 Khi pháp luật càng tốt, càng hoàn thiện thì sẽ càng hạn chế được sự sai trái hay lạm dụng của con người Nhưng cũng có một chân lý khác: Có con người đủ năng lực và đạo đức tốt thì mới có một hệ thống tư pháp trong sạch, bảo

vệ được công lý của xã hội và công bằng cho người dân Và cuối cùng thì có hay không có luật, lẽ công bằng, phải luôn là yêu cầu tối thượng và đích đến của mọi bản án, bởi lẽ công bằng không phải là điều gì xa lạ mà chính là công lý và lẽ phải của xã hội loài người

Có thể nói, việc quy định về áp dụng pháp luật dân sự như trên, đặc biệt là về

án lệ và lẽ công bằng, là một trong những điểm mới mang tính chất đột phá của Bộ

17 Nguyễn Văn Cường (2005), Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân

sự vô hiệu, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

18 Điều 45 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Trang 28

luật dân sự năm 2015, thể hiện tinh thần cải cách tư pháp theo Nghị quyết số NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Hiến pháp năm 2013

49-1.2 Pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu

1.2.1 Quy định về hợp đồng thương mại vô hiệu của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ

Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng luôn dành nhiều quan tâm đặc biệt cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng Bởi lẽ, trong mọi thể chế kinh tế, hợp đồng luôn được coi là công cụ pháp lí quan trọng để các thương nhân tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại tìm kiếm lợi nhuận Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung tất yếu này

Ở nước ta, ngay sau khi hai miền Nam - Bắc thống nhất, hòa bình lập lại sau 30 năm bền bỉ cả dân tộc đấu tranh chống ngoại xâm, ngay ngày 10/3/1975 Nhà nước đã ra Nghị định số 54/CP ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế

Và sau đó không lâu, ngay từ những năm đầu của công cuộc “đổi mới” nền kinh

tế, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (được Hội đồng nhà nước ban hành ngày 25/9/1989

và đã hết hiệu lực từ ngày 01/01/2006) tiếp tục ra đời thay thế cho Nghị định 54/CP, đánh dấu mốc quan trọng cho quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế

từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường Và cho tới ngày hôm nay, pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương mại đã có nhiều thay đổi căn bản, từ tư tưởng đến nội dung và hình thức

1.2.2.1 Giai đoạn từ 1945 đến năm 1989

Bắt đầu từ cách mạng tháng tám thành công năm 1945, đất nước ta giành lại được độc lập từ tay người Pháp, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

đã ưu tiên dành nhiều chính sách, pháp luật để khuyến khích phát triển, khôi phục kinh tế đang kiệt quệ của đất nước sau 9 năm kháng chiến chống Pháp trường kì

và gian khổ Các quy định đầu tiên về hợp đồng đã ra đời Do yếu tố hoàn cảnh lịch sử, các quy định pháp luật về hợp đồng kinh tế (hợp đồng trong thương mại)

ra đời sớm hơn so với các quy định về hợp đồng dân sự Ngay từ những năm 1956,

Trang 29

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh kèm theo Nghị định số 735/TTG ngày 10/4/1956 Theo bản Điều lệ đó, hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế với nhau đã được gọi chung là hợp đồng kinh doanh, được kí kết trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Tuy vậy, trong lĩnh vực dân sự, chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 cho phép áp dụng các quy định của pháp luật dân sự thuộc chế độ cũ trong các quan hệ dân sự Điều này đồng nghĩa với việc các bộ luật dân sự riêng biệt của ba miền là

“Bộ luật Bắc Kì” ở miền Bắc, “Hoàng Việt Hộ luật” ở miền Trung và “Bộ dân luật giản yếu Nam Kì” của người An Nam ở miền Nam vẫn tiếp tục được duy trì áp dụng cho tới năm 1959, khi Chỉ thị số 772/CT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao được ban hành, chính thức chấm dứt việc áp dụng các văn bản của chế độ phong kiến, thực dân cũ Nhìn vào đó, có thể thấy suốt từ năm 1959 cho tới khi Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991, ở miền Bắc Việt Nam không hề có văn bản pháp luật riêng nào điều chỉnh quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực dân sự Do yếu tố thời đại và yếu tố lịch sử dân tộc đòi hỏi mà những chế định pháp lí về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh đã nảy mầm từ rất sớm Đó là kết quả tất yếu của một đất nước vốn bị ách đô hộ phong kiến tồn tại hàng trăm năm và chế độ thực dân, tay sai tồn tại hàng chục năm ròng

Kể từ năm 1960, khi miền Bắc nước ta bước vào giai đoạn tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên cơ sở nền kinh tế kế hoạch tập trung, cả miền Bắc đã chuyển mình qua một bước ngoặt mới như một dấu mốc quan trọng Nhà nước ta

đã thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung, tức là Nhà nước vừa là trung tâm quyền lực chính trị, vừa là trung tâm quyền lực kinh tế - chủ sở hữu duy nhất của đa số các tư liệu sản xuất chủ yếu lúc bấy giờ Nền kinh tế đất nước được tập trung hóa cao độ bằng cả quản lí vĩ mô và quản lí vi mô, tức là Nhà nước xuất hiện với vai trò duy nhất, vừa thành lập các tổ chức kinh tế để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa đồng thời lãnh đạo, tổ chức quản lí các tổ chức sản xuất kinh doanh Việc sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai đều do Nhà nước quyết định Các tổ chức, đơn vị kinh tế Xã hội chủ nghĩa thực hiện các quan

Trang 30

hệ hợp đồng với nhau và với các bên có liên quan cũng đều chỉ nhằm thực hiện các kế hoạch và nhiệm vụ được Nhà nước giao Vì vậy, ở giai đoạn này, hợp đồng không được hiểu theo nghĩa đích thực của nó là tự do thỏa thuận mà nó thực chất được hiểu là một dạng “hợp đồng kế hoạch” Kí kết và thực hiện hợp đồng luôn song hành và gắn liền với kế hoạch nhà nước bởi đây là một kỉ luật bắt buộc mà Nhà nước đề ra

Thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với các “kế hoạch” theo người anh cả Liên Xô, phải thừa nhận rằng pháp luật kinh tế Việt Nam giai đoạn này chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật kinh tế Liên Xô, bao gồm cả việc sử dụng thuật ngữ “hợp đồng kinh tế” Thời kì này, kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân chính là hình thức quản lí kinh tế của Liên Xô, những kế hoạch Nhà nước không những mang tính định hướng, dự báo, kiểm tra mà nó còn là kỉ luật bắt

buộc Nói như tinh thần mà V.I Lê nin đã chỉ ra thì: “Chủ nghĩa xã hội không có ý

nghĩa nếu không có tập trung hóa kế hoạch nhà nước” 19 Mô hình kế hoạch tập trung được áp dụng triệt để ở Liên Xô theo một thể thống nhất từ trung ương tới địa phương Để thực hiện điều này, Liên Xô áp dụng theo mô hình vòng tròn, nghĩa là nhà nước xây dựng các chỉ tiêu, kế hoạch và giao cho các xí nghiệp quốc doanh của mình thực hiện Sau đó, các xí nghiệp quốc doanh lại kí hợp đồng với nhau để thực hiện kế hoạch hoặc nhiệm vụ do chính nhà nước đã giao cho Hợp đồng kinh tế ở Liên Xô thực chất là dạng hợp đồng được kí kết giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa nhằm đem lại những mục đích kinh tế nhất định gắn với kế hoạch chung của Nhà nước, là trách nhiệm mà Nhà nước giao phó Trong thời kì kế hoạch hóa tập trung đó, ở Liên Xô, Luật kinh tế được coi là lĩnh vực pháp luật độc lập với pháp luật dân sự Chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư duy nước Nga Xô Viết, các nhà làm luật của Việt Nam khi đó cũng đi theo hướng xây dựng pháp luật về hợp đồng kinh tế (hợp đồng trong lĩnh vực thương mại) cũng đi theo hướng độc lập với pháp luật về hợp đồng dân sự

19 Giáo trình luật thương mại tập II, ( năm 2011), Đại học Luật Hà nội – NXB Công an nhân dân

Trang 31

Ngày 04/01/1960, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 04/TTg ban hành Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh tế để thay thế cho Điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh (năm 1956) Điều lệ này được áp dụng trong một thời gian khá dài ở miền Bắc Việt Nam và chỉ chấm dứt sứ mệnh lịch sử của nó vào năm

1975, khi Nghị định số 54/CP ngày 10/3/1975 quy định điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế được ban hành Bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế được xem là bản Điều lệ chính thức đầu tiên về hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh tế là công cụ pháp lí của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ

nghĩa Điều lệ chỉ rõ: “phải khớp với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân, gắn

liền công tác quản lí của Nhà nước với sự tự chịu trách nhiệm của các tổ chức kinh tế cơ sở” 20 (Điều 1) Bởi điều lệ ra đời với mục đích giúp nhà nước thực hiện việc kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân, củng cố chế độ hoạch toán kinh tế, tăng cường quản lí kinh tế nên thực chất bản chất của việc thực hiện hợp đồng không phải là sự tự nguyện của các bên mà do kỉ luật của Nhà nước

Lúc này, chủ thể tham gia kí kết hợp đồng kinh tế có phạm vi rất hẹp, chỉ bao gồm các tổ chức quốc doanh, các tổ chức công tư hợp doanh, các cơ quan quản lí nhà nước, các đơn vị bộ đội, các tổ chức xã hội, hợp tác xã, các tổ chức sản xuất tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp được phép kinh doanh và có tài khoản tại ngân hàng Nhà nước thể hiện rõ sụ can thiệp của mình vào quan hệ hợp đồng giữa các bên tham gia kí kết Ví dụ như: Hợp đồng kinh tế được điều chỉnh hoặc hủy bỏ khi chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước do cấp có thẩm quyền giao được điều chỉnh hoặc hủy bỏ (Điều 15) Các bên phải chấp hành chế độ giá cả của Nhà nước, nếu chưa có giá quy định thì các bên kí kết được phép tính giá thỏa thuận đồng thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền xin duyệt giá (Điều 13)

Như vậy trước thời kì đổi mới đất nước, vấn đề hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế, thương mại ở Việt Nam không thể hiện đúng được bản chất của hợp đồng là dựa trên cơ sở sự thỏa thuận tự nguyện, phản ảnh mối quan hệ hàng hóa - tiền tệ mà thực chất nó chỉ là một dạng công cụ để các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa thực

20 Nghị định số 54/1975/CP ngày 10/3/1975 của Chính phủ quy định điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế

Trang 32

hiện các kế hoạch Nhà nước giao Mặc dù được hình thành từ khá sớm, ngay từ khi pháp luật còn chưa có quy định chung dành cho pháp luật hợp đồng dân sự, thế nhưng nó lại chỉ mang tính mệnh lệnh hành chính cứng nhắc, theo ý chí của nhà nước Nội dung quy định cũng vẫn còn sơ sài, hình thức văn bản có giá trị pháp lí thấp Văn bản pháp lí có giá trị cao nhất cũng chỉ là Nghị định

1.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1989 đến hết năm 2005

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 thành công rực

rỡ như thổi một làn gió mới vào tư duy kinh tế của chúng ta bằng việc đề ra công cuộc đổi mới nền kinh tế Đảng chủ trương xóa bỏ cơ chế quản lí kinh tế quan liêu bao cấp cũ, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường với sự quản lí của Nhà nước, định hướng Xã hội chủ nghĩa Đây thực sự được coi là một cuộc cách mạng tư tưởng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm xóa bỏ sự kìm hãm phát triển kinh tế của cơ chế cũ, thúc đẩy quan hệ thương mại phát triển

Về bản chất, một nền kinh tế thị trường sẽ luôn đòi hỏi phải đa dạng hóa các hình thức sở hữu, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế ra đời và phát triển Nhà nước phải hạn chế tối đa sự can thiệp trực tiếp vào các hoạt động kinh doanh hợp pháp của các tổ chức, cá nhân Thông qua những chính sách, pháp luật, Nhà nước tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, thuận lợi, đảm bảo cho mọi thành phần kinh tế đều được bình đẳng với nhau trước pháp luật Vì vậy, tư duy về hợp đồng kinh tế và quan hệ pháp luật về hợp đồng kinh tế trước đây không còn phù hợp với hoàn cảnh Nó cần một sự đổi mới phù hợp

Ngày 25/9/1989, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (PLHĐKT) đã được ban hành với những thay đổi cơ bản về tư tưởng và nội dung so với các điều lệ về hợp đồng kinh tế trước đây Tuy nhiên thực tế, trong những năm đầu của công cuộc đổi mới vẫn còn nhiều hợp đồng kinh tế được kí kết theo chỉ tiêu, pháp lệnh Về nguyên tắc chung, các hợp đồng này không thể áp dụng PLHĐKT tế, vì thế ngày 16/01/1990 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 18/HĐBT về việc kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh Và ngày 29/4/1991, Hội

Trang 33

đồng Nhà nước còn ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự để điều chỉnh các quan

hệ mang yếu tố tài sản được thiết lập giữa các tổ chức, cá nhân nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng Để hoàn thiện việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường, hàng loạt những văn bản pháp luật kinh tế chứa đựng các quy định về hợp đồng kinh tế

đã lần lượt được ra đời Phải kể đến là: BLDS năm 1995 (Đã được thay thế bằng

Bộ luật dân sự 2005), Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 1990 (Bộ luật này đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2005), Luật hàng không dân dụng Việt Nam năm

1991 (Luật này đã được thay thế bằng Luật hàng không dân dụng việt Nam năm 2006), Luật thương mại năm 1997 (Luật này đã được thay thế bằng Luật thương mại 2005), Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004, Luật xây dựng năm 2003, Luật đường sắt năm 2005…

Về vấn đề chủ thể, bên cạnh những chủ thể “truyền thống” như xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã tồn tại từ trước, lúc này đối tượng chủ thể cũng được mở rộng thêm như cá nhân có đăng kí kinh doanh (Điều 2 PLHĐKT), những người làm công tác khoa học, kĩ thuật, nghệ nhân, hộ kinh tế gia đình, hộ nông dân, ngư dân cá thể (Điều 42 PLHĐKT), các tổ chức và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam (Điều 43 PLHĐKT) Chế độ trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng cũng được PLHĐKT chú trọng hơn với việc dành tới 10 điều (từ Điều 29 đến Điều 38) trong tổng số 45 điều quy định trực tiếp, chi tiết về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, trong đó đề cao tính tự chịu trách nhiệm của các bên trong hợp đồng Phải ghi nhận PLHĐKT đã có sự đáp ứng yêu cầu đặt ra là bảo đảm các quan hệ kinh tế được thiết lập trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế nhằm đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hóa Điều này cũng là dấu mốc quan trọng trong sự thay đổi về bản chất của hợp đồng kinh tế cũng như bước phát triển cơ bản của pháp luật về hợp đồng kinh tế trong thời kì đổi mới

Tuy vậy, PLHĐKT vẫn tồn tại một số bất cập, hạn chế và chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của thực tiễn kinh doanh ở một số điểm như sau:

Trang 34

Một là, việc nhận diện hợp đồng kinh tế và phân biệt tách rời chúng với hợp đồng dân sự gây nhiều khó khăn và hay nhầm lẫn và mâu thuẫn chồng chéo lên nhau Theo Điều 2 PLHĐKT quy định, bắt buộc ít nhất một bên trong quan hệ pháp luật hợp đồng kinh tế phải là pháp nhân dẫn đến tình trạng hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân (ví dụ: hợp đồng kí giữa các doanh nghiệp tư nhân, cá nhân có đăng kí kinh doanh với nhau) phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình lại không được coi là hợp đồng kinh tế Song, chiếu theo Pháp lệnh hợp đồng dân sự thì loại hợp đồng này cũng không được coi

là hợp đồng dân sự do nó không có bên nào có mục đích sinh hoạt, tiêu dùng Điều này đặt ra câu hỏi lớn cho lỗ hổng của pháp luật, đó là như thế nào thì được định nghĩa là có mục đích kinh doanh và làm sao để phân biệt mục đích là kinh doanh hay tiêu dùng khi một thương nhân tham gia quan hệ hợp đồng Quy định hợp đồng kinh tế được kí kết phải có mục đích kinh doanh được hiểu là tất cả các bên chủ thể đều phải có mục đích kinh doanh hay chỉ cần một bên là đủ

Hai là, PLHĐKT còn quy định sơ sài về thủ tục giao kết hợp đồng kinh tế, nhất là giao kết qua phương thức giao dịch gián tiếp (kí hợp đồng bằng công văn, tài liệu giao dịch) Pháp lệnh chỉ có duy nhất Điều 11 quy định về vấn đề này, nên nhiều nội dung liên quan đến thủ tục giao kết hợp đồng hoàn toàn không rõ ràng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế chưa trả lời được vấn đề như khi nào hợp đồng kinh tế

kí gián tiếp được coi là hình thành và có giá trị pháp lí, thời hạn có hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng, thế nào là đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng…

Ba là, quy định về xử lí hậu quả của hợp đồng kinh tế vô hiệu và các quy định về hợp đồng kinh tế thể hiện sự cứng nhắc, chưa có được sự bao quát hết các trường hợp vô hiệu trong thực tiễn, quy định về xử lí hậu quả hợp đồng kinh tế vô hiệu không có khả năng bảo vệ quyền lợi của người ngay tình Pháp lệnh cũng không cho phép người được ủy quyền kí hợp đồng kinh tế có thể ủy quyền lại cho người khác kí hợp đồng, không quy định các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng kinh tế trong khi lại chỉ liệt kê một số trường hợp hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn

Trang 35

bộ, do vậy bỏ sót nhiều căn cứ có thể dẫn đến hợp đồng kinh tế vô hiệu như: hợp đồng kinh tế được kí kết có dấu hiệu giả tạo, đe dọa, nhầm lẫn, cưỡng bức… Thực tiễn áp dụng quy định về xử lí tài sản khi hợp đồng kinh tế vô hiệu cũng còn nhiều vướng mắc Vấn đề khi các bên không hoàn trả được hiện vật mà trả bằng tiền thì phải tính theo giá ghi trong hợp đồng hay giá thị trường tại thời điểm thanh toán bị

bỏ lửng Ngay cả việc định nghĩa thế nào là “thu nhập bất hợp pháp” cũng chưa được làm rõ Quy định thiệt hại phát sinh các bên phải chịu đồng nghĩa với việc thiệt hại xảy ra cho bên nào, bên đó tự gánh chịu mà không phụ thuộc vào lỗi là không phù hợp và không công bằng Thực tế, nhiều trường hợp hợp đồng kinh tế

bị vô hiệu chỉ do lỗi của một bên gây ra Phần trách nhiệm tài sản của người kí hợp đồng sai thẩm quyền đối với các bên trong các hợp đồng kinh tế bị vô hiệu toàn bộ Cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hợp đồng kinh tế

bị vô hiệu chưa hề được đề cập tới trong PLHĐKT

Bốn là, các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng kinh tế chưa được quy định đầy đủ PLHĐKT không có quy định cụ thể về chế tài hủy, đình chỉ hoặc buộc thực hiện đúng hợp đồng Quan hệ giữa phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại không rõ, mức phạt bị khống chế trong khung phạt từ 2-12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm là quá cứng nhắc, nhiều trường hợp khó áp dụng, ảnh hưởng đến quyền tự do thỏa thuận của các bên, không thể hiện tính răn đe của chế tài này Căn cứ miễn, giảm trách nhiệm do bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với bên vi phạm nhưng bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản là không hợp lí, không đúng với tính chất chịu trách nhiệm trực tiếp của các bên tham gia hợp đồng

Năm là, những nhà làm luật chưa làm rõ được mối quan hệ giữa hợp đồng kinh tế với hợp đồng dân sự Vấn đề có thể áp dụng pháp luật dân sự để giải quyết những quan hệ hợp đồng kinh tế trong thương mại hay không chưa được giải quyết đã dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật khi giải quyết tranh chấp hợp đồng Việc ban hành Bộ Luật dân sự năm 1995 được ghi nhận là mốc quan trọng trong quá trình xây dựng xã hội dân sự Khi xây dựng dự thảo BLDS năm 1995 đã

có nhiều ý kiến đề xuất nên bỏ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế nhưng khi bộ luật này

Trang 36

được thông qua thì vẫn không thay thế được cho PLHĐKT Rõ ràng, hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự giống nhau ở khá nhiều điểm Ví dụ như chúng đều là

sự thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện của các chủ thể, sự thỏa thuận hướng tới việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Việc tham gia quan hệ hợp đồng cũng chỉ để phục vụ cho mục đích nào đó của các bên Bên cạnh nhũng điểm giống nhau đó, giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế có một số điểm khác biệt nhưng không phải là những khác biệt về bản chất, cụ thể là: Chủ thể của hợp đồng dân sự có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình đáp ứng các quy định của pháp luật trong khi chủ thể của hợp đồng kinh tế là các pháp nhân, cá nhân có đăng kí kinh doanh và một số chủ thể đặc biệt khác và bắt buộc trong một quan hệ hợp đồng ít nhất một bên phải là pháp nhân Hình thức của hợp đồng dân sự có thể bằng văn bản, lời nói, cử chỉ trong khi hình thức của hợp đồng kinh tế chỉ có thể bằng văn bản Nếu xét về mặt lí luận thì hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự có cùng bản chất, bởi chúng đều là các giao dịch song phương, đều là hợp đồng, đều hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể ở vị trí hoàn toàn bình đẳng với nhau Tuy vậy, phạm vi hợp đồng dân sự rộng rãi hơn, bao trùm lên phạm vi hợp đồng kinh tế Hay nói một cách cụ thể, hợp đồng kinh tế thực chất là

để phục vụ cho các hoạt động thương mại kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận Vì vậy, đối với quan hệ hợp đồng kinh tế thì các quy định của PLHĐKT được ưu tiên áp dụng trước, những vấn đề nào chưa được quy định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự theo đúng nguyên tắc “Lex specialis derogate lex generali” (luật chuyên ngành thay thế cho luật chung) trong luật La Mã

Bởi trong hệ thống pháp luật có sự phân biệt giữa hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế nên cũng hình thành hai hệ thống cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng Các tranh chấp hợp đồng kinh tế có thể được giải quyết bằng trọng tài (phi chính phủ) hoặc Tòa án bằng một thủ tục riêng theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế còn các tranh chấp hợp đồng dân sự thì được giải quyết bằng Tòa án theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án dân sự (Từ ngày 1/1/2005 các tranh chấp kinh doanh, thương mại và tranh

Trang 37

chấp dân sự đều được giải quyết tại Tòa án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân

sự 2004) Việc phân biệt tranh chấp kinh tế với các tranh chấp dân sự tuy ít nhiều tạo ra tính chuyên nghiệp hơn cho các hoạt động xét xử của Tòa án nhưng lại làm phát sinh hàng loạt các khó khăn, vướng mắc do khó phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế với tranh chấp dân sự Thời hiệu khởi kiện các tranh chấp kinh tế với tranh chấp dân sự; thời hiệu khởi kiện các tranh chấp kinh tế quá ngắn (6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp) dẫn đến nhiều vụ việc phải xét xử nhiều lần hoặc đình chỉ do hết thời hiệu khởi kiện…

1.2.2.3 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay

Giai đoạn ba là giai đoạn hiện tại, bắt đầu từ dấu mốc Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật dân sự sửa đổi - Luật dân sự năm 2005 và luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 thay thế cho Luật dân sự năm 1995 và PLHĐKT năm 1989 Bên cạnh đó, Quốc hội còn thông qua Luật thương mại năm 2005, trong đó chứa đựng rất nhiều quy định về hợp đồng trong hoạt động kinh doanh của các thương nhân Luật thương mại năm 2005 cũng

có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, thay thế cho Luật thương mại năm 1997 So với

Bộ luật dân sự năm 1995, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1998 và Luật thương mại năm 1997, Bộ luật dân sự năm 2005 và Luật thương mại năm 2005 có nhiều quy định mới, tiến bộ về điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng nói chung và hợp đồng trong hoạt động kinh doanh nói riêng Có thể kể đến một số điểm nổi bật về Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập thông qua các điểm nổi bật:

Bộ luật dân sự năm 2005 đã thay đổi quan niệm về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Kể từ ngày 01/01/2006 khái niệm hợp đồng kinh tế không tồn tại, mọi loại hợp đồng dù được kí kết giữa các thương nhân với nhau để phục vụ mục đích kinh doanh thu lợi nhuận hay được kí giữa các cá nhân với nhau để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng đều gọi chung là hợp đồng dân sự Trong từng lĩnh vực cụ thể, các hợp đồng dân sự được kí kết để phục vụ cho hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận có thể được phân biệt thành các loại hợp đồng riêng như hợp đồng

Trang 38

mua bán, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng xây dựng, hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tín dụng…

Bộ luật dân sự năm 2005 đã thống nhất điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng trong lĩnh vực thương mại Pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc được Nhà nước thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ việc kí kết và thực hiện hợp đồng phục vụ hoạt động thương mại, tìm kiếm lợi nhuận Trước ngày 01/01/2006, Pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại được phân chia thành hai lĩnh vực riêng biệt: PLHĐKT điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được coi là hợp đồng kinh tế Bộ luật dân sự năm 1995 điều chỉnh các quan hệ hợp đồng được coi là hợp đồng dân sự Từ ngày 01/01/2006, Bộ luật dân sự năm 2005 đã thống nhất điều chỉnh pháp luật đối với mọi quan hệ hợp đồng, trong đó có hợp đồng trong lĩnh vực thương mại

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn phát triển mới của đất nước, trước yêu cầu thể chế hóa Nghị quyết đại hội đảng lần thứ XI để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế được ghi nhận trong hiến pháp 2013 thì BLDS 2005 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập

Ngày 1/1/2017, Bộ luật Dân sự năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành

Bộ luật được thiết kế để thực sự trở thành luật chung của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phục vụ hội nhập quốc tế, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát

toàn phù hợp với sự phát triển của đất nước ta hiện nay BLDS đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân sự, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế Qua đó, phát huy

Trang 39

được vị trí, vai trò của BLDS thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng

bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta

1.2.2.Khái niệm và nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu

1.2.2.1 Khái niệm

Các quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu của nước ta tồn tại trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Ngoài các quy định chung về hợp đồng thương mại vô hiệu trong Bộ luật dân sự có thể tìm thấy những quy định về hợp đồng thương mại vô hiệu trong các văn bản khác nhau như: Luật Thương mai, Luật kinh doanh bảo hiểm…Các hợp đồng thương mại vô hiệu sẽ do pháp luật chung về hợp đồng kết hợp với pháp luật chuyên nghành điều chỉnh

Để cho hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể được thực hiện có hiệu quả

và đảm bảo được sự quản lý của nhà nước thì nhà nước ban hành nhiều quy phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đề của hợp đồng Như vậy pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu bao gồm một hệ thống các văn bản pháp luật khác nhau, trong các văn bản đó sẽ bao gồm nhiều điều luật quy định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng vô hiệu, định hình các quy tắc xử sự của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Từ đó ta có thể kết luận pháp luật điều

chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu như sau: “ Pháp luật về hợp đồng thương mại

vô hiệu là một hệ thống các quy tắc xử sự do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng” 21

1.2.2.2 Nội dung chủ yếu của pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại vô hiệu

Nội dung của pháp luật về hợp đồng thương vô hiệu mại được quy định trong luật thương mại và bộ luật dân sự Luật thương mại 2005 quy định về hành vi

21 Lê Thị Bích Thọ, Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu, Luận án tiến

sỹ luật học

Trang 40

thương mại nhưng không quy định về hợp đồng, các quy định về giao dịch dân sự

vô hiệu được áp dụng chung cho mọi quan hệ hợp đồng Điều đó có nghĩa rằng các quan hệ được xác lập dựa trên hợp đồng thương mại cũng sẽ được điều chỉnh dựa trên các quy định của pháp luật Dân sự về giao dịch dân sự Và các vấn đề về Hợp đồng thương mại vô hiệu cũng không ngoại lệ Tại khoản 3 Điều 4 luật thương mại

2005 thể hiện: “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại

Như vậy có thể nhận thấy nội dung pháp luật về hợp đồng thương mại vô hiệu được điều chỉnh theo Bộ luật dân sự trên tất cả các phương diện, từ trình tự thủ tục xử lý, thẩm quyền của Tòa án, thẩm quyền tuyên bố hợp đồng thương mại vô hiệu, luật áp dụng, thời hiệu khởi kiện, chứng cứ chứng minh, tư cách đương sự, quan hệ pháp luật có tranh chấp đều tuân theo quy định của Bộ luật dân sự và tố tụng dân sự trong điều kiện luật thương mại không quy định

Pháp luật về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại là một trong những chế định pháp lí xuất hiện sớm nhất trong hệ thống pháp luật Các nhà lập pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu, học hỏi những quy định pháp luật từ thực tiễn cũng như luật pháp của các nước trên thế giới, cân nhắc chúng cùng với hoàn cảnh thực tế tại Việt Nam để đưa ra một văn bản có tính chất chuẩn mực pháp lí cao trong hệ thống pháp luật thương mại Trên thực tế, các quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực thương mại ngày càng đa dạng và phức tạp hơn Pháp luật điều chỉnh về hợp đồng thương mại nói chung và hợp đồng thương mại vô hiệu nói riêng luôn đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quan hệ hợp đồng bình đẳng, an toàn, cùng có lợi cho các tổ chức, cá nhân

22 Điều 4 Luật thương mại 2005

Ngày đăng: 01/09/2018, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Văn Cường (năm 2004) "Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu", Luận án Tiến sỹ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu
17. Cao Thị Thùy Dương (năm 2004): "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam", Luận văn thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam
6. Giáo trình luật thương mại tập I (năm 2011), Đại học Luật Hà nội – NXB Công an nhân dân, trang 14-15 Khác
7. Giáo trình luật thương mại tập II (năm 2011), Đại học Luật Hà nội – NXB Công an nhân dân, trang 15-18 Khác
8. Giáo trình kỹ năng giải quyết vụ việc dân sự (Năm 2013), Học viện Tư pháp – NXB Tư pháp Khác
9. Đỗ văn Đại (Năm 2014), Luật hợp đồng việt nam bản án và bình luận bản án, tập 1 – NXB Chính trị quốc gia Khác
10. Đỗ văn Đại (Năm 2014), Luật hợp đồng việt nam bản án và bình luận bản án, tập 2 – NXB Chính trị quốc gia Khác
13. Phạm Duy Nghĩa ( 1999), Mối quan hệ giữa pháp luật thương mại, kinh tế và dân sự, Đại học quốc gia Hà nội Khác
14. Lê Thị Bích Thọ (2002), Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu, Luận án tiến sỹ luật học, trang 27 Khác
15. Nguyễn Đức Giao (2000), “ Vị trí, vai trò của chế định hợp đồng trong bộ luật dân sự Việt nam, thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ tư pháp Khác
18. Những quy định chung của luật hợp đồng ở Pháp, Đức, Anh , Mỹ (Năm 1993), NXB Chính trị quốc gia Khác
19. Đỗ Văn Đại (Năm 2013), Bình luận bộ luật dân sự tập - Tập 1, 2, 3 , NXB Chính trị quốc gia Khác
20. Nguyễn Văn Cường (2005), Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, Luận văn tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Khác
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khác
22. Tòa án nhân dân thành phố Hà nội (Năm 2013), Báo cáo kết quả công tác năm 2013 và nhiệm vụ công tác năm 2014 Khác
23. Tòa án nhân dân thành phố Hà nội (Năm 2014), Báo cáo kết quả công tác năm 2014 và nhiệm vụ công tác năm 2015 Khác
24. Tòa án nhân dân thành phố Hà nội (Năm 2015), Báo cáo kết quả công tác năm 2015 và nhiệm vụ công tác năm 2016 Khác
25. Tòa án nhân dân thành phố Hà nội (Năm 2016), Báo cáo kết quả công tác năm 2015 và nhiệm vụ công tác năm 2017 Khác
26. Tòa án nhân dân thành phố Hà nội (Năm 2017), báo cáo kết quả công tác 6 tháng đầu năm 2017 Khác
27. Tòa án nhân dân tối cao (Năm 2016), Tài liệu tham khảo tại hội nghị triển khai công tác năm 2016 của ngành Tòa án nhân dân Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w