1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo pháp luật việt nam

79 253 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hoá Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện phá

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC ĐIỀU TRA XỬ LÝ CÁC VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa đào tạo sau Đại học Viện Đại học Mở Hà Nội Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa đào tạo sau Đại học xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Hồng Chuyên

Trang 4

4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Viện Đại Học Mở Hà Nội, các thầy, cô Khoa đào tạo Sau đại học, các phòng, ban, thư viện Viện Đại học

Mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Vân Anh đã tận tình hướng dẫn suốt thời gian tôi làm luận văn Những ý kiến đóng góp quý báu của Cô đã giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô

Tác giả luận văn

Phạm Thị Hồng Chuyên

Trang 5

5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 1

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 3

6 Ý Nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ……… 4

7 Bố cục luận văn 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP VÀ ĐIỀU TRA XỬ LÝ VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP 6

1.1 Khái quát về chống bán phá giá .6

1.1.1 Khái niệm về chống bán phá giá 6

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp chống bán phá giá .7

1.2 Khái quát về chống trợ cấp 8

1.2.1 Khái niệm về chống trợ cấp 8

1.2.2 Đặc điểm của các biện pháp chống trợ cấp 9

1.2.2.1 Yếu tố đóng góp tài chính 9

1.2.2.2 Yếu tố lợi ích 10

1.2.2.3 Yếu tố riêng biệt 11

1.3 Ý nghĩa vai trò của việc chống bán phá giá và chống trợ cấp 12

1.3.1 Ý nghĩa, vai trò của việc chống bán phá giá .12

1.3.2 Ý nghĩa, vai trò của chống trợ cấp 13

1.4 Khái niệm, nội dung về thủ tục điều tra, xỷ lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cập 14

Trang 6

6

1.4.1 Khái niệm pháp luật về thủ tục điều tra xỷ lý vụ việc chống bán phá giá

và chống trợ cấp 14

1.4.2 Nội dung về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp 16

1.5 Sự phát triển của pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp 21

1.5.1 Sự phát triển của pháp luật chống bán phá giá 21

1.5.2 Sự phát triển của pháp luật chống trợ cấp 24

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA XỬ LÝ VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP 27

2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục điều tra các vụ việc chống bán phá giá 27 2.1.1 Các biện pháp chống bán phá giá 27

2.1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá 27

2.1.3 Thẩm quyền điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá 28

2.1.4 Thủ tục điều tra xử lý và các quy định về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá 30

2.2.Thực trạng pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống trợ cấp 37 2.2.1 Các biện pháp chống trợ cấp 37

2.2.2 Điều kiện áp dụng biện pháp chống trợ cấp 37

2.2.3 Thẩm quyền điều tra xử lý các vụ việc chống trợ cấp 37

2.2.4 Thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống trợ cấp 37

2.3 Đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp ở Việt Nam 44 2.4 Một số ví dụ về điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp51

Trang 7

7

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ HIỆU QUẢ

THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA XỬ LÝ CÁC VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP Ở VIỆT NAM 55 3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá 553.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp 553.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá 553.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống trợ cấp 633.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp .643.3.1 Xây dựng hệ thống các cơ quan thực thi các lệnh chống bán phá giá.64 3.3.2 Thực hiện áp dụng đúng các chế tài 64KẾT LUẬN 66TÀI LIỆU THAM KHẢO ………67

Trang 8

8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Giải nghĩa

Bộ Công Thương

Bộ trưởng Bộ Công Thương Chính phủ

Cục Phòng vệ thương mại Doanh nghiệp

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại

Bộ Thương mại Hoa Kỳ Nghị định

Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế

Cục quản lý Thương mại Quốc tế Hiệp định về trợ cấp và thuế đối kháng Sản phẩm thông thường

Pháp luật chống bán phá giá Quyết định

Thủ tục hành chính

Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ

Tổ chức Thương mại thế giới Xuất khẩu

Trang 9

9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Sau hơn 10 năm gia nhập WTO, Thị trường Việt Nam đã có một khoảng thời gian nhất định để kiểm chứng những tác động của tự do hoá thương mại đem lại Bên cạnh việc hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam được hưởng ưu đãi thương mại khi xuất khẩu sang thị trường các nước thành viên khác của WTO thì đó là khó khăn cạnh tranh với hàng hoá nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, do các ưu thế về giá thành nguyên liệu đầu vào và giá lao động cạnh tranh, hàng hoá Việt Nam thường bị các nước nhập khẩu điều tra áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại mà điển hình là chống bán phá giá và một

số vụ việc chống trợ cấp Trong khi Việt Nam có mức nhập siêu hàng năm khá lớn, hàng hoá nước ngoài tràn ngập thị trường nội địa, có một số ngành đã chiếm thị phần áp đảo so với doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, thực tế với số lượng và diễn biến vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đã diễn ra có thể thấy các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu và các nhà sản xuất nội địa thường biết rất ít về thủ tục kiện tụng và những việc họ phải làm Với kiến thức hạn chế và quyền lợi của mình thì họ khó có thể biết cách để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình trước các đối thủ cạnh tranh khác trong chính sân nhà của họ

Nghiên cứu về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp theo pháp luật Việt Nam đặt ra nhiều vấn dề phức tạp cả lý luận và thực tiễn do Luật Quản lý ngoại thương được xây dựng từ nhu cầu gia nhập WTO mà không từ nhu cầu trong thực tế

Vì vậy, với mong muốn tìm hiểu sâu hơn về những vấn đề pháp lý về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu tại

Việt Nam, tôi đã quyết định chọn đề tài: "Thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu luận

văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trang 10

10

Từ khi chuẩn bị cho quá trình đàm phán gia nhập WTO và thực hiện chính sách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cho đến nay, đã có nhiều quan tâm nghiên cứu về pháp luật của WTO về chống bán phá giá và chống trợ cấp Nổi bật nhất trong số các sách chuyên khảo về vấn đề này là công trình của tác giả

Đoàn Văn Trường, bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu (1998), Nguyễn Hữu Khải, Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế (2007), Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ động ứng phó với những vụ kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế (2007)

Trong số các công trình nghiên cứu ở quy mô nhỏ hơn có các bài báo của

các tác giả Bùi Thanh Hải, Thuế chống bán phá giá, trợ cấp trong thương mại quốc tế, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, Đoàn Văn Trường, Những biện pháp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá ở nước ngoài (Tạp chí nghiên cứu kinh tế, 2002), Hoàng Phước Hiệp, Tìm hiểu Pháp luật về chống bán phá giá của Tổ chức thương mại thế giới và Hoa Kỳ (Tạp chí luật học, 2003), Vũ Kim Dũng, bán phá giá và giải pháp chống bán phá giá (Tạp chí hoạt động khoa học, 2003), Nguyễn Thanh Hà, Xung quanh việc hàng xuất khẩu Việt Nam bị kiện chống bán phá giá (Tạp chí tài chính, 2004), Lê Huy Trọng, Thuế chống bán phá giá, kinh nghiệm của một số nước Châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

(Tạp chí nghiên cứu tài chính kế toán, 2004)

Có thể nhận xét một cách khái quát về tình hình nghiên cứu trong nước là phần lớn các công trình nghiên cứu về chống bán phá giá và chống trợ cấp thường chú trọng vào việc giới thiệu pháp luật thực định của các nước và WTO

về chống bán phá giá Khía cạnh về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam chưa được đề cập nhiều, cũng chưa

được phân tích một cách khoa học Đặc biệt, ở trình độ luận văn Thạc sỹ chưa có công trình nào kết hợp nghiên cứu cả khía cạnh lý luận và thực tiễn của Pháp

luật về Thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam từ đó liên hệ tới các vấn đề thực tiễn của Việt Nam

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 11

11

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu sâu hơn về Thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam Chống bán phá giá, trợ cấp, chống trợ cấp một đề tài không mới đối với các nước phát triển nhưng rất mới mẻ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam chúng ta Sự hiểu biết chưa sâu sắc đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam luôn mắc phải và luôn phải thiệt hại rất lớn tự việc bán phá giá, chống trợ cấp và bị kiện Mục đích của đề tài là giúp nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân hiểu và thực hiện các thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam, áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam để kiện bên vi phạm các điệu kiện đó, hay nói đúng hơn là dùng nó để bảo vệ đòi lại quyền lợi cho mình

Để thực hiện mục đích trên, luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, đặc điểm và nội dung pháp luật thực định về các thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam

- Đề xuất các kiến nghị thực tiễn nhằm hoàn thiện pháp luật về các thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp theo Pháp luật Việt Nam, tạo sự phát triển bền vững và lâu dài cho các doanh nghiệp trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành

về thủ tục điều tra, xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

Chính vì tập trung nghiên cứu về các quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục nên luận văn sẽ tập trung vào những quy định pháp luật việt nam về thủ tục là chính, bên cạnh đó luận văn cũng sẽ đề cập đến một vài quy định của pháp luật quốc tế để cho thấy sự giống và khác nhau giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế Ngoài ra, trong luận văn còn đề cập đến thực tiễn kinh nghiệm mà Việt Nam đã nhận được được khi tiến hành các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam Phương pháp tổng hợp phân tích là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong hầu hết các chương của luận án khi tổng hợp phân tích các quy định tương ứng của pháp luật Việt Nam, điều chỉnh các lĩnh vực của thủ tục điều tra, xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp Tương tự, phương pháp kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn cũng được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận án

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Làm rõ được cơ sở lý luận của Pháp luật về thủ tục điều tra, xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam cũng như quá trình và xu

hướng phát triển của nó

- Cung cấp những kiến thức cập nhật về nội dung và bản chất của thủ tục điều tra, xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam

- Phân tích đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và việc thực thi

Pháp luật về thủ tục điều tra, xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp của Việt Nam từ góc độ kinh nghiệm của thủ tục điều tra, xử lý các vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp trong WTO

- Phân tích và đưa ra những kiến nghị để Việt Nam hội nhập một cách chủ động và có hiệu quả hơn vào WTO trong lĩnh vực chống bán phá giá và chống trợ cấp

7 Bố cục luận văn

Luận văn bao gồm 3 chương;

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chống bán phá giá, chống trợ cấp và điều tra xử

lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

Trang 13

13

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp ở Việt Nam

Trang 14

14

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ, CHỐNG TRỢ CẤP VÀ ĐIỀU TRA XỬ LÝ VỤ VIỆC CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP 1.1 Khái quát về chống bán phá giá

1.1.1 Khái niệm chống bán phá giá

Theo Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (ADA) đã định nghĩa " , một sản phảm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một số nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước này sang một nước khác thấp hơn giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dừng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường"

Theo định nghĩa trên, bán giá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán ở một nước khác với mức giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó khi được bán ở thị trường trong nước Quan niệm về bán phá giá này vừa phản ánh được sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế vừa phản ánh được bản chất phi kinh tế của hành vi bán phá giá trong thương mại quốc tế Để xác định hành vi bán phá giá hàng hóa phải xác định được giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa đó Sau đó, so sánh hai mức giá này với nhau để xác định biên

độ bán phá giá

Điều VI Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 (GATT) cho phép các nước áp dụng các biện ngăn chặn nhưng với điều kiện không được phân biệt đối xử giữa các đối tác thương mại Thường thì các biện pháp chống bán phá giá là biện pháp tính thêm một phần thuế bổ sung đối với một hàng hóa cụ thể từ một nước xuất khẩu để đưa giá của hàng hóa đó tiến dần đến "giá trị thông thường" hoặc loại bỏ thiệt hại đối với ngành công nghiệp nội địa của nước nhập khẩu Các biện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng nếu như việc bán phá giá gây thiệt hại cho ngành công nghiệp của nước nhập khẩu Do đó, trước hết cần phải tiến hành

Trang 15

15

một cuộc điều tra chi tiết theo các quy định cụ thể Cuộc điều tra phải đánh giá tất

cả các nhân tố kinh tế liên quan đến tình trạng của ngành Nếu cuộc điều tra cho thấy việc bán phá giá diễn ra và ngành công nghiệp nội địa bị thiệt hại thì công ty xuất khẩu có thể thỏa thuận để tăng mức giá tới một mức nhất định nhàm tránh thuế chống bán phá giá

Như vậy có thể nói chống bán phá giá là tổng hợp những biện pháp cách thức nhằm chống lại các hành vi bán phá giá vào thị trường của một nước hay vùng lãnh thổ Khi các hành vi bán phá giá thực hiện gây thiệt hại cho các nước nhập khấu thì tất yếu sẽ có các biện pháp mà nước nhập khẩu đặt ra nhằm ngăn cản sự vi phạm đó Trong rất nhiều cách thức đó thì việc áp dụng các quy định pháp luật luôn

là biện pháp được đặt ra và rất hiệu quả, đặc biệt là các biện pháp thuế quan luôn là chế tài thường áp dụng đối với các mặt hàng được cho là bán phá giá Nhìn chung,

để đảm bảo nền sản xuất trong nước phát triển bền vững các nước luôn tìm cách thức nhất định nhằm chống bán phá giá và việc hình thành các cam kết đa phương

là hướng ưu tiên lựa chọn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới ngày nay

1.1.2 Đặc điểm của các biện pháp chống bán phá giá

Xuất phát từ quan điểm cho rằng hành vi bán phá giá, ở một mức độ nghiêm trọng nhất định là hành vi thương mại không công bằng, luật lệ của GATT trước đây và WTO hiện nay đều cho phép các quốc gia áp dụng biện pháp có tính trả đũa,

tự vệ thương mại Trong các biện pháp hạn chế thương mại như áp dụng hạn ngạch, hạn chế số lượng, tăng thuế, các biện pháp hạn chế có tính kỹ thuật, phi thuế quan khác, để chống lại hành vi bán phá giá, các quốc gia chỉ có quyền áp dụng biện pháp tăng thuế nhập khẩu Nói cách khác, quốc gia bị thiệt hại chỉ có thể áp dụng thuế bổ sung (thuế chống bán phá giá) đối với hàng hóa nhập khẩu bị xác định là bán phá giá Các biện pháp hạn chế số lượng hay các biện pháp hạn chế phi thuế quan khác không được coi là hợp pháp Quyền áp dụng thuế bán phá giá của quốc gia bị thiệt hại thực chất là quyền có tính ngoại lệ đối với hai nguyên tắc trong thương mại đa biên:

Trang 16

16

Thứ nhất, đó là ngoại lệ đối với nguyên tắc Đối xử tối huệ quốc (MFN)

Thuế chống bán phá giá chỉ áp dụng đối với hàng hóa cụ thể của quốc gia xuất khẩu

cụ thể, đã bị xác định là đối tượng của hành vi bán phá giá;

Thứ hai, áp dụng thuế bán phá giá cũng là ngoại lệ đối với nguyên tắc tôn

trọng các cam kết về cắt giảm thuế Quốc gia bị thiệt hại không có nghĩa vụ tôn trọng giữ nguyên mức thuế đã cam kết đối với các hàng hóa nhập khẩu là đối tượng của hành vi bán phá giá bị cấm

Việc xác định mức thuế chống bán phá giá phải dựa trên trên biên độ phá giá của

sản phẩm có liên quan Biên độ phá giá chính là sự chênh lệch về giá giữa giá xuất khẩu đang xem xét với giá thông thường của sản phẩm tại thị trường nội địa, hoặc giá xuất khẩu sang nước thứ ba, hoặc giá cấu thành của sản phẩm Về bản chất, thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung, đánh vào hàng nhập khẩu nhằm triệt tiêu tác dụng hay ngăn ngừa việc bán phá giá đối với sản phẩm đó (điều VI.2 của GATT) Mục đích cuối cùng của thuế chống bán phá giá là tạo dựng lại thế cạnh tranh cân bằng giữa sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu, bảo vệ thị trường nội địa chống lại các hành vi cạnh tranh quốc tế không lành mạnh Cũng chính vì mục đích này mà việc áp dụng mức thuế chống bán phá giá được yêu cầu là không vượt quá biên độ bán phá giá, nhằm tránh tình trạng lạm dụng thuế chống bán phá giá làm công cụ bảo hộ bất hợp pháp thị trường nội địa

1.2 Khái quát về chống trợ cấp

1.2.1 Khái niệm về chống trợ cấp

Thuật ngữ trợ cấp có thể có rất nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo các tiếp cận Dưới góc độ kinh tế, có quan niệm cho rằng trợ cấp là "lợi ích dành cho một doanh nghiệp hoặc một sản phẩm thông qua hành động của Chính phủ" Trong khuôn khổ WTO, lần đầu tiên định nghĩa chính thức về trợ cấp được đưa ra tại Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) Theo quy định tại Điều 1 Hiệp định này, để được coi là trợ cấp thì một biện pháp phải đồng thời thỏa mãn hai điều kiện sau: (1) là khoản đóng góp về tài chính do Chính phủ hoặc một tổ chức nhà nước cung cấp; hoặc là một khoản hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá; (2) phải mang lại

Trang 17

17

lợi ích cho đối tượng nhận sự đóng góp tài chính, hỗ trợ thu nhập hoặc hỗ trợ giá

đó

Chống trợ cấp là một trong những biện pháp phòng vệ thương mại Trong

thương mại quốc tế, “biện pháp phòng vệ thương mại” là cụm từ chung để chỉ nhóm các biện pháp được sử dụng với mục tiêu bảo vệ sản xuất nội địa trước hàng hóa

nhập khẩu từ nước ngoài, bao gồm: Biện pháp chống bán phá giá, Biện pháp chống

trợ cấp và biện pháp tự vệ Biện pháp chống trợ cấp có tác dụng phòng vệ chống lại hiện tượng hàng hóa nước ngoài nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu; Biện pháp chống trợ cấp thường gồm 2 biện pháp:

- Áp dụng thuế chống trợ cấp

- Chấp nhận cam kết của tổ chức, cá nhân hoặc của Chính phủ nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất, xuất khẩu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tự nguyện chấm dứt trợ cấp, giảm mức trợ cấp, cam kết điều chỉnh giá xuất khẩu hoặc

+ Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay);

+ Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng);

+ Mua hoặc cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); + Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm

Ba hình thức đầu tiên là “đóng góp tài chính” trực tiếp từ Chính phủ còn hình thức cuối cùng là “đóng góp tài chính gián tiếp” từ Chính phủ Một vài ví dụ về “đóng

Trang 18

18

góp tài chính” của Chính phủ như: Chính phủ cung cấp một khoản hỗ trợ có trị giá 10% giá trị FOB của mỗi sản phẩm xuất khẩu; Chính phủ miễn thuế cho phần thu nhập từ việc bán hàng xuất khẩu của doanh nghiệp; Chính phủ lệnh cho các ngân hàng thương mại tư nhân phải cung cấp tín dụng cho xuất khẩu với mức lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường

1.2.2.2 Yếu tố lợi ích

Sự đóng góp tài chính đó phải mang lại một lợi ích cho người nhận Theo quy định của WTO, nếu chỉ Chính phủ nước xuất khẩu quy định hoặc triển khai các hình thức trợ cấp cho doanh nghiệp thì chưa đủ để nói rằng có tồn tại một biện pháp trợ cấp có thể đối kháng Cần thiết phải chứng minh rằng các doanh nghiệp nhận được một lợi ích nhất định từ hình thức trợ cấp đó.Lợi ích mà doanh nghiệp nhận được từ một khoản hỗ trợ của Chính phủ được xác định là mức chênh lệch (theo hướng có lợi cho doanh nghiệp) giữa việc thực hiện giao dịch liên quan trong điều kiện thương mại bình thường (không có chương trình trợ cấp) và việc thực hiện giao dịch đó trong điều kiện có chương trình trợ cấp, ví dụ:

+ Nếu trợ cấp mua cổ phần: Lợi ích tồn tại nếu việc chuyển đổi được thực hiện theo cách mà các nhà đầu tư tư nhân thông thường sẽ không làm;

+ Nếu trợ cấp khoản vay: Lợi ích tồn tại nếu lãi suất hay chi phí để được vay thấp hơn mức thông thường trên thị trường;

+ Nếu trợ cấp bằng khoản đảm bảo cho vay: Lợi ích tồn tại nếu chi phí để có được một khoản vay với sự bảo đảm của chính phủ thấp hơn chi phí cho khoản vay thương mại tương tự nhưng không có bảo đảm của chính phủ;

+ Nếu trợ cấp bằng việc Chính phủ cung cấp hoặc mua hàng hóa hoặc dịch vụ: Lợi ích tồn tại nếu khoản tiền thanh toán cho chính phủ khi chính phủ cung cấp hàng/dịch vụ thấp hơn bình thường hoặc khoản tiền chính phủ thanh toán khi mua hàng/dịch vụ cao hơn bình thường;

+ Nếu trợ cấp bằng việc miễn, giảm thuế: Khoản lợi ích được xác định là phần thuế được miễn hoặc giảm (vì vậy, nếu nhà sản xuất không phải chịu loại thuế

Trang 19

1.2.2.3 Yếu tố riêng biệt

Sự đóng góp tài chính đó phải được thực hiện cho một doanh nghiệp, một nhóm doanh nghiệp hoặc một ngành, một khu vực cụ thể chứ không phải là trợ cấp chung cho tất cả các đối tượng

Một khoản trợ cấp của Chính phủ nước xuất khẩu mang lại lợi ích cho doanh nghiệp sẽ không bị khiếu kiện nếu nó là khoản trợ cấp chung cho tất cả các đối tượng nếu đáp ứng đủ các điều kiện khách quan mà Chính phủ nước xuất khẩu đưa

ra Chính vì vậy, tính “riêng biệt” của khoản trợ cấp là một trong những tiêu chí quan trọng và đây cũng là yếu tố gây nhiều tranh cãi trong các vụ điều tra chống trợ cấp Trong thực tế điều tra, bên điều tra thường xem xét vấn đề này trước khi xem xét tiêu chí “lợi ích” bởi nếu khoản trợ cấp không phải là riêng biệt thì bên điều tra

có thể đi đến kết luận “không có trợ cấp” luôn mà không phải mất công cho việc tính toán rất phức tạp về mức “lợi ích”

Một khoản trợ cấp được xem là “riêng biệt” nếu là trợ cấp dành cho một nhóm đối tượng riêng biệt

+ Trên thực tế chỉ có một số lượng doanh nghiệp nhất định nhận được trợ cấp;

+ Trên thực tế chỉ có một số loại doanh nghiệp nhất định nhận được trợ cấp; + Trên thực tế một phần cơ bản của chương trình trợ cấp chỉ dành cho một số doanh nghiệp nhất định;

+ Khả năng tùy ý trong việc quyết định có cho hưởng trợ cấp hay không dẫn tới việc chỉ một/một số doanh nghiệp hay một ngành được hưởng trợ cấp

Trên thực tế, việc xác định khi nào số lượng đối tượng hưởng lợi bị xem là

“hạn chế” không đơn giản, ví dụ:

Trang 20

20

Nếu lĩnh vực sản xuất được hưởng trợ cấp có quy mô quá nhỏ so với nền kinh tế nước xuất khẩu thì chương trình trợ cấp có thể bị xem là riêng biệt dù tất cả các doanh nghiệp trong lĩnh vực đó đều có thể tiếp cận khoản trợ cấp;

Nếu có nhiều lĩnh vực sản xuất (nhiều lĩnh vực) được nhận trợ cấp nhưng giữa chúng không có gì tương tự nhau trừ thực tế tất cả đều được nhận trợ cấp thì rất có thể chương trình trợ cấp đó bị xem là riêng biệt

Trong các hình thức trợ cấp, trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa được coi là đương nhiên “mang tính riêng biệt” mà không cần phải chứng minh rằng chúng chỉ hướng đến một doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp hay một ngành Đây là các trợ cấp mà theo quy định hoặc trên thực tế mang lại tác động tích cực cho việc xuất khẩu (a subsidy that “contigent on export performance”) hoặc cho việc sử dụng hàng nội địa thay thế cho hàng xuất khẩu (a subsidy that

“contigent on the use of domestic goods over imported goods”) Cứ được xác định

là trợ cấp xuất khẩu hay trợ cấp ưu tiên sử dụng hàng nội địa thì xem như trợ cấp đó

là “riêng biệt”.Trên thực tế, việc xác định thế nào là một trợ cấp xuất khẩu hay ưu tiên sử dụng hàng nội địa không dễ dàng (dù Phụ lục I Hiệp định về trợ cấp và biện pháp chống trợ cấp của WTO đã đưa ra một danh sách minh họa các loại trợ cấp xuất khẩu):

1.3 Ý nghĩa vai trò của việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

1.3.1 Ý nghĩa vai trò của việc chống bán phá giá

Chống bán phá giá có ý nghĩa kinh tế, xã hội hết sức to lớn đối với đất nước trong thời kỳ hội nhập, từ việc chống bán phá giá cho thấy sức bảo về nền sản xuất trong nước thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với các thành phần kinh doanh cũng như nhu cầu việc làm của người lao động, chống bán phá giá là biện pháp tự

vệ hữu hiệu đối với các nước có nền sản xuất nhỏ và kinh tế chưa phát triển, chống bán phá giá tạo ra cơ hội kinh doanh bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhở, các nghành sản xuất của một nước cá thể bị triệt tiêu ngay trên sân nhà của mình khi việc bán phá giá này sảy ra thường xuyên và không có biện pháp ngăn chặn Chống bán phá giá tạo ra cơ hội có việc làm cho người lao động rộng mở hơn,

Trang 21

21

thực hiện tốt việc chống bán phá giá sẽ tạo ra được uy tín trên thế giới là địa chỉ hấp dẫn của các nhà đầu tư, chống bán phá giá có vai trò thúc đẩy sản xuất thúc đẩy sự sáng tạo của các thành phần kinh doanh ngày càng đa dạng

Việc chống bán phá giá là một nhu cầu cần thiết để bảo vệ các ngànhsản xuất cũng như bảo vệ giá thành của các mặt hàng tránh sự định giá thiếu căn cứ thống nhất, chống bán phá giá bảo vệ nền kinh tế đất nước trong thời kỳ khi mà nền sản xuất của các nước đêu pháp triển và chất lượng ngày càng tăng, đặc biệt một số nươc trong thời ký công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại chú trọng phát triển nền kinh tế xuất khẩu là chính, việc bán phá giá tất yếu sẽ xảy ra và ngày càng thường xuyên hơn các biện pháp chống bán phá giá sẽ mang lại lợi ích cho nước nhập khẩu Việc chống bán phá giá hiện nay được các nước phát triển áp dụng rất triệt để, trong khi

đó thì các nước đang phát triển lại tỏ ra rất lúng túng trong việc xử lý các hành vi bán phá giá vào quốc gia mình mà lý do chủ yếu là thiếu cơ sở pháp lý Nhìn chung, việc chống bán phá giá mang ý nghĩa rất lớn, là động lực và vai trò quan trọng đế thúc đẩy sản xuất trong nước

1.3.2 Ý nghĩa vai trò của chống trợ cấp

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng cho thấy trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng trong các chương trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển, và trong sự chuyển dịch từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh

tế thị trường Những nước kém phát triển và những nước đang phát triển có Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người ít hơn 1000 USD sẽ được miễn khỏi những quy tắc về trợ cấp xuất khẩu bị cấm và hưởng miễn trừ đối với trợ cấp

bị cấm trong một khoảng thời gian nhất định Đối với các nước đang phát triển khác, việc cấm trợ cấp xuất khẩu sẽ có hiều lực trong 8 năm kể từ ngày hiệp định WTO có hiệu lực và những nước này được hưởng sự miễn trừ đối với trợ cấp bị cấm trong một khoảng thời gian nhất định (khoảng thời gian này sẽ ngắn hơn thời gian của các nước kém phát triển hơn) Việc điều tra đối kháng đối với một sản phẩm xuất xứ từ một nước thành viên đang phát triển sẽ chấm dứt nếu tổng lượng trợ cấp không vượt quá 2% (và xuất xứ từ một số nước đang phát triển là 3%) tính

Trang 22

22

trên trị giá sản phẩm, hoặc nếu khối lượng hàng nhập khẩu được trợ cấp chiếm ít hơn 4% tổng lượng sản phẩm tương tự nhập khẩu của quốc gia nhập khẩu Đối với những nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, trợ cấp bị cấm sẽ không bị tính trong vòng 7 năm kể từ ngày hiệp định này có hiệu lực

1.4 Khái niệm, nội dung về thủ tục điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

1.4.1 Khái niệm pháp luật về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

1.4.1.1 Khái niệm vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp

- Vụ việc chống bán phá giá là việc chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài đối với ngành sản xuất nội địa

nước nhập khẩu

“Vụ kiện” chống bán phá giá là gì? Đây thực chất là một quy trình Kiện -

Điều tra - Kết luận - Áp dụng biện pháp chống bán phá giá (nếu có) mà nước

nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá nhập khẩu từ một nước nhất định khi

có những nghi ngờ rằng loại hàng hoá đó bị bán phá giá vào nước nhập khẩu gây

thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu.

Để có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá, Hiệp định ADP yêu cầu nước nhập khẩu hàng hóa phải tiến hành điều tra Hoạt động điều tra này nhằm mục

đích xác định “có sự tồn tại việc bán phá giá không cũng như xác định mức độ và hậu quả của trường hợp bị nghi ngờ là bán phá giá” (điều 5.1 Hiệp định ADP)

- Vụ việc chống trợ cấp xảy ra khi khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa do họ sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự của ngành sản xuất trong nước; Khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hóa (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 pháp lện h 22/2004/PL-UBTVQH11 về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam) và của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp

Trang 23

23

dụng biện pháp chống trợ cấp phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa tương tự của các nhà sản xuất trong nước

“Vụ kiện” chống trợ cấp là gì? Đây thực chất là một quy trình Kiện - Điều

tra - Kết luận - Áp dụng biện pháp chống trợ cấp (còn gọi là biện pháp đối kháng)

mà nước nhập khẩu tiến hành đối với một loại hàng hoá nhập khẩu từ một nước nhất định khi có những nghi ngờ rằng hàng hoá được trợ cấp (trừ trợ cấp đèn xanh)

và gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu

Mặc dù thường được gọi là “vụ kiện” (theo cách gọi ở Việt Nam), đây không

phải thủ tục tố tụng tại Toà án mà là một thủ tục hành chính và do cơ quan hành

chính nước nhập khẩu thực hiện Thủ tục này nhằm giải quyết một tranh chấp

thương mại giữa một bên là ngành sản xuất nội địa và một bên là các nhà sản xuất,

xuất khẩu nước ngoài; nó không liên quan đến quan hệ cấp chính phủ giữa hai

nước xuất khẩu và nhập khẩu

Vì trình tự, thủ tục và các vấn đề liên quan được thực hiện gần giống như trình tự tố

tụng xử lý một vụ kiện tại toà nên thủ tục này còn được xem là “thủ tục bán tư

pháp” Ngoài ra, khi kết thúc vụ kiện, nếu không đồng ý với quyết định cuối cùng

của cơ quan hành chính, các bên có thể kiện ra Toà án (lúc này, vụ việc xử lý tại toà

Trang 24

24

quả giữa việc bán phá giá hàng nhập khẩu và thiệt hại mà ngành sản xuất trong nước phải gánh chịu (điều 5.2 Hiệp định ADP) [7, tr.198-199] Ngoài ra, để đảm bảo việc điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá được ủng hộ bởi số lớn các nhà sản xuất nội địa,

1.4.2 Nội dung về thủ tục điều tra xử lý vụ việc chống bán phá giá và chống trợ cấp

- Các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp:

(1) Áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp

(2) Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cấu các biện pháp chống bán phá giá và cam kết của tổ chức hoặc cá nhân, chính phủ nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất, xuất khẩu với cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việt Nam về việc tự nguyện chấm dứt trợ cấp, cam kết điều chỉnh giá xuất khẩu hoặc áp dụng các biện pháp thích hợp khác

- Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá gía, chống trợ cấp:

(1) Đối với chống bán phá giá: Hàng hóa bị bán vào Việt Nam và biên độ bán phá giá phải được xác định cụ thể; Việc bán phá giá hàng hóa là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

(2) Đối với Chống trợ cấp: Hàng hóa nhập khẩu phải xác định có trợ cấp; Hàng hóa được xác định có trợ cấp là nguyên nhân gây ra hoặc đe dọa thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

- Thẩm quyền điều tra, xử lý vu việc chống bán phá giá, chống trợ cấp:

Cục phòng vệ thương mại là cơ quan trực thuộc Bộ Công thương chủ trì với các cơ quan liên quan tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp

- Quy trình điều tra, xử lý vu việc chống bán phá giá, chống trợ cấp

Được tiến hành theo 13 bước cơ bản:

Bước 1: Doanh nghiệp nộp hồ sơ đến Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương

Trang 25

25

Bước 2: Cục kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ Trường hợp hồ sơ không đầy đủ, hợp pháp, Cục thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp đề hoàn chỉnh hồ sơ;

Bước 3: Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp pháp, Cục tiếp nhận và thụ lý hồ sơ; Bước 4: Thẩm định hồ sơ;

Bước 5: Quyết định điều tra vụ việc chống bán phá giá; Chống trợ cấp

Bước 6: Thông báo quyết định điều tra vụ việc chống bán phá giá; Chống trợ cấp Bước 7: Tổ chức tham vấn;

Bước 8: Kết luận sơ bộ;

Bước 9: Quyết định áp thuế chống bán phá giá, Chống trợ cấp tạm thời;

Bước 10: Áp dụng biện pháp cam kết;

Bước 11: Kết luận cuối cùng;

Bước 12: Quyết định về việc áp dụng thuế chống bán phá giá; Chống trợ cấp

Bước 13: Khiếu nại quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, Chống trợ cấp

Cách thức nộp hồ sơ:

- Nộp trực tiếp;

- Qua fax hoặc qua đường bưu điện;

Các quyền cơ bản của các bên liên quan trong điều tra chống bán phá giá :

Quyền được thông báo và được giải thích về các quyết định của cơ quan có thẩm quyền:

Các quyết định phải được thông báo bao gồm:

- quyết định bắt đầu điều tra;

- kết luận/quyết định sơ bộ;

- kết luận/quyết định cuối cùng

Thông báo phải đi kèm với những thông tin liên quan và những lý do ban hành quyết định Các nội dung tối thiểu của các thông báo này được nêu cụ thể trong ADA và mức độ chi tiết của chúng tăng dần cùng với tiến trình của cuộc điều tra

Quyền được tiếp cận thông tin, quyền được bảo mật thông tin

Trang 26

Các quyền tố tụng cơ bản khác:

- Quyền được thông báo về các thông tin mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;

- Quyền được cung cấp các bằng chứng bằng văn bản, quyền được trực tiếp trình bày chứng cứ, lập luận (tại các phiên điều trần, gặp gỡ các bên);

- Quyền được bố trí phiên điều trần;

- Quyền được thông báo trước về các chứng cứ cơ bản mà cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng làm căn cứ ban hành quyết định cuối cùng;

- Quyền được yêu cầu được tính biên độ phá giá riêng

Các điều kiện đối với Đơn yêu cầu điều tra chống bán phá giá (Đơn kiện) :

Để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành vụ điều tra chống bán phá giá, ngành sản xuất nội địa liên quan phải nộp Đơn yêu cầu Đơn yêu cầu phải đáp ứng những điều kiện liên quan đến các thông tin trong Đơn và các bằng chứng kèm theo, bao gồm:

- Thông tin xác định danh tính của chủ thể nộp đơn, các mô tả về số lượng và giá trị sản phẩm do chủ thể nộp đơn sản xuất ra

Nếu đơn được nộp nhân danh ngành sản xuất trong nước thì phải nêu rõ tên của tất cả các nhà sản xuất nội địa sản xuất ra sản phẩm thông thường (SPTT) được biết đến (hoặc tên các hiệp hội các nhà sản xuất SPTT trong nước), mô tả về số lượng và giá trị SPTT do các chủ thể đó sản xuất ra;

- Thông tin mô tả đầy đủ về sản phẩm bị nghi là bán phá giá, tên của nước hoặc các nước xuất khẩu hoặc xuất xứ của những sản phẩm đó; danh tính của mỗi nhà xuất khẩu hoặc sản xuất nước ngoài được biết đến và danh sách các chủ thể nhập khẩu sản phẩm đó;

Trang 27

27

- Thông tin về giá thông thường (thông tin về giá bán SPTT tại thị trường nước xuất khẩu/ xuất xứ hoặc thông tin về giá bán của SPTT từ nước xuất khẩu/xuất

xứ sang nước thứ ba hoặc thông tin về trị giá tính toán)

- Thông tin về giá xuất khẩu (hoặc thông tin về giá bán của sản phẩm liên quan cho người mua độc lập đầu tiên trên lãnh thổ nước nhập khẩu)

- Thông tin về sự gia tăng số lượng sản phẩm nhập khẩu bị nghi là bán phá giá; ảnh hưởng của việc này đến giá của SPTT tại thị trường nội địa nước nhập khẩu; ảnh hưởng của việc này đối với ngành sản xuất nội địa (thể hiện qua các yếu

tố thể hiện tình trạng của ngành sản xuất nội địa)

Đơn yêu cầu phải bao gồm các bằng chứng xác thực về:

- Việc bán phá giá; và

- Thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước; và

- Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại nói trên;

hộ hoặc phản đối đơn kiện; và

+ Các nhà sản xuất ủng hộ đơn kiện phải có sản lượng sản phẩm tương tự chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng sản phẩm tương tự của toàn bộ ngành sản xuất trong nước

Ví dụ về điều kiện khởi kiện của ngành sản xuất nội địa nước xuất khẩu Giả sử ngành sản xuất mặt hàng A của nước B muốn kiện các nhà xuất khẩu Việt Nam vì đã bán mặt hàng A được trợ cấp vào nước B

Trang 28

28

Nếu ngành sản xuất mặt hàng A của nước B có tổng cộng 5 nhà sản xuất (NSX), trong đó:

- NSX 1 sản xuất ra 30% tổng sản lượng nội địa A của nước B;

- NSX 2 và 3 mỗi NSX sản xuất ra 15% tổng sản lượng A của B;

- NSX 4 và 5 mỗi NSX sản xuất ra 20% tổng sản lượng A của B

Nếu NSX 5 khởi kiện và các NSX 1, 2, 3 đều bày tỏ ý kiến về việc khởi kiện này, NSX 4 không có ý kiến gì thì:

- Nếu NSX 1 và 2 đều phản đối đơn kiện của NSX 5, chỉ NSX 3 ủng hộ

Đơn kiện sẽ bị bác do không đạt điều kiện (1) (vì tổng sản lượng do NSX 4 và 5 sản xuất ra không bằng tổng sản lượng do NSX 1 và 2 sản xuất ra);

- Nếu cả NSX 1, 2 và 3 đều phản đối đơn kiện của NSX 5: Đơn kiện sẽ bị bác do không đạt điều kiện (2) (vì tổng sản lượng của NSX 5 chưa đạt tới mức 25% tổng sản lượng mặt hàng A của nước B)

Xác định mức thuế chống trợ cấp cho từng nhà xuất khẩu:

- Về nguyên tắc, mức thuế chống trợ cấp được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài và không cao hơn biên độ trợ cấp xác định cho họ;

- Trường hợp các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài không được lựa chọn

để tham gia cuộc điều tra thì mức thuế chống trợ cấp áp dụng cho họ không cao hơn biên độ trợ cấp trung bình của tất cả các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài được lựa chọn điều tra

Thuế chống trợ cấp được áp dụng như thế nào?

- Về việc rà soát lại mức thuế: Sau khi áp thuế một thời gian (thường là theo từng năm) cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra lại để xem xét tăng, giảm mức thuế hoặc chấm dứt việc áp thuế đối kháng nếu có yêu cầu;

- Về thời hạn áp thuế: Việc áp thuế chống trợ cấp không được kéo dài quá 5 năm kể từ ngày có Quyết định áp thuế hoặc kể từ ngày tiến hành rà soát lại trừ khi

cơ quan có thẩm quyền thấy rằng việc chấm dứt áp thuế sẽ dẫn tới việc tái trợ cấp hoặc gây thiệt hại;

Trang 29

1.5 Sự phát triển của pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp

1.5.1 Sự phát triển của pháp luật chống bán phá giá

Thuật ngữ bán phá giá khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới lần đầu tiên được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam ở Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 04/1998/QH10 được Quốc hội Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 20-5-1998 Điều này cho phép

cơ quan nhà nước áp dụng thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu được trợ cấp và bán phá giá vào Việt Nam Tuy nhiên, Luật này chưa quy định hình thức thuế cụ thể áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá

Ba năm sau đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số TTg ngày 04/4/2001 về quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2001 - 2005, trong đó quy định việc xây dựng nguyên tắc áp dụng thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá trong năm 2001 Tuy nhiên, cho đến thời điểm đó, pháp luật Việt Nam chưa hình thành được một cơ chế pháp lý cụ thể và ổn định để phát hiện và xử

46/2001/QĐ-lý các hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Với 46/2001/QĐ-lý do đó, theo đề nghị của Bộ Tư pháp , ngày 27-9-2001, Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương) đã có tờ trình lên Chính phủ đề nghị đưa vào kế hoạch xây dựng pháp lệnh

về chống bán phá giá Trong Tờ trình, Bộ Thương mại nêu rõ: “Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là đang tích cực đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nên sẽ phải loại bỏ dần các hàng rào thuế quan trong những năm tới, chẳng hạn như hạn chế định lượng, giá tính thuế tối thiểu Đồng thời, thuế quan sẽ là công cụ bảo hộ chủ yếu cho sản xuất trong nước

Vì vậy, việc áp dụng thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá là một nhu cầu cấp thiết để tăng cường bảo hộ sản xuất trong nước

Trang 30

30

Sau ba năm soạn thảo, ngày 29/4/2004, Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành, đánh dấu sự ra đời của một lĩnh vực pháp luật mới - pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam

Thực ra trước đó, khái niệm “bán phá giá” và “chống bán phá giá”đã được quy định một cách khá cụ thể tại Pháp lệnh giá năm 2002 (Pháp lệnh 40/2002/PL-UBTVQH10) Tuy nhiên, khái niệm bán phá giá được quy định trong Pháp lệnh giá năm 2002 khác với khái niệm bán phá giá được quy định trong Pháp lệnh chống bán phá giá năm 2004 đồng thời, được đề cập ở đây Khoản 3, Điều 4, Pháp lệnh giá năm 2002 quy định: “Bán phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp

so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nước” Như vậy, khái niệm bán phá giá trong Pháp lệnh giá năm 2002 bao gồm cả hành vi kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước có bán hàng hóa hoặc dịch vụ tại thị trường Việt Nam với mức giá quá thấp so với mức giá thông thường Trong khi đó, khái niệm bán phá giá được quy định trong Pháp lệnh bán phá giá năm 2004 và được đề cập ở đây chỉ bao gồm hoạt động bán hàng hóa qua biên giới với mức giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm tương tự tại thị trường xuất khẩu

Hơn một năm sau khi Pháp lệnh chống bán phá giá được ban hành, ngày 7-2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Cũng trong năm đó, Quốc hội Việt Nam khóa XI cũng ban hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005, trong đó quy định hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngoài thuế nhập khẩu và các loại thuế khác có thể bị đánh thuế chống bán phá giá theo quy định của pháp luật Việt Nam (Điều 1) Cho đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp các hoạt động chống bán phá giá tại Việt Nam bao gồm:

11 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005 (Luật số 45/2005/QH11);

Trang 31

- Nghị định số 04/2006/NĐ-CP ngày 09-01-2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức Hội đồng xử

- Quyết định số 32/QĐ-QLCT ngày 15-5-2008 của Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh Bộ Công Thương về việc ban hành Mẫu hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá

Như tiêu đề của các văn bản quy phạm pháp luật trên đây cho thấy, pháp luật nội dung về chống bán phá giá của Việt Nam chủ yếu tập trung trong hai văn bản là Pháp lệnh chống bán phá giá và Nghị định số 90/2005/ND-CP ngày 11-7-2005 của Chính phủ Các văn bản quy phạm pháp luật khác đều hoặc chỉ quy định mang tính ghi nhận về thuế chống bán phá giá (Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2005) hoặc quy định về các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực chống bán phá giá (Nghị định số 04/2006/NĐ-Cp và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP) hay các vấn đề liên quan tới thủ tục kiện và áp thuế chống bán phá giá (Thông tư số 106/2005/TT-BTC, Quyết định số 32/QĐ-QLCT)

Như được chỉ rõ trong Tờ tường trình ngày 27-9-2001 của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) đề xuất Pháp lệnh chống bán phá giá, nhu cầu chính và trực tiếp của việc ban hành Pháp lệnh này khi đó là phục vụ quá trình Việt Nam đang thực hiện những nỗ lực gia nhập WTO Theo đó, hệ thống pháp luật của Việt

Trang 32

32

Nam nói chung và pháp luật về chống bán phá giá nói riêng cần phải phù hợp với luật lệ tương ứng của WTO Trên tinh thần đó, các chế định đã được xây dựng với nội dung khá bám sát các quy định của ADA năm 1994 và “Luật Mẫu” về chống bán phá giá của WTO Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 bao gồm 29 điều được chia thành 6 chương, điều chỉnh những vấn

đề lớn của chống bán phá giá ở Việt Nam như nguyên tắc xác định bán phá giá, các biện pháp chống bán phá giá, điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, áp dụng biện pháp chống bán phá giá, rà soát việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, khiếu nại và xử lý vi phạm Nghị định số 90/2005/NĐ-CP gồm 5 chương, 44 điều quy định cụ thể hóa Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 về các vấn đề như cơ quan chống bán phá giá, người tham gia quá trình giải quyết vụ việcchống bán phá giá, điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá, thủ tục chi tiết áp dụng các biện pháp chống bán phá giá

1.5.2 Sự phát triển của pháp luật chống trợ cấp

Trong xu hướng toàn cầu hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, các rào cản thương mại dần được dỡ bỏ theo lộ trình phù hợp với cam kết của Tổ chức Thương mại quốc tế WTO Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích do toàn cầu hóa thương mại mang lại, các nước thành viên của WTO cũng phải đối mặt với nhiều thách thức và một trong số đó là sự giao thương với lượng hàng hóa nhập khẩu tăng quá mức gây ảnh hưởng cho các nhà sản xuất trong nước Do vậy, để đảm bảo giúp cho ngành sản xuất trong nước không bị thiệt hại từ việc nhập khẩu quá mức này, các biện pháp tự vệ được quy định trong Hiệp định Tự vệ của WTO được xem như

là một công cụ hữu hiệu bên cạnh các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp

và thuế đối kháng của hệ thống phòng vệ thương mại (“Trade Remedies”)

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng ra đời dựa trên Hiệp định về Giải thích và Áp dụng Điều khoản VI, XVI và XXIII đã được thảo luận trước đó tại Vòng đàm phán Tokyo Hiệp định này quy định định nghĩa về trợ cấp và đưa ra khái niệm về trợ cấp “riêng biệt” - trong hầu hết các trường hợp, là trợ cấp áp dụng riêng đối với một doanh nghiệp, một ngành, một nhóm doanh nghiệp hoặc nhóm

Trang 33

Về mặt nguyên tắc, các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được

áp dụng để xử lý vấn đề cạnh tranh không lành mạnh trong nhập khẩu hàng hoá Biện pháp chống bán phá giá được áp dụng nhằm chống lại những hành vi bán hàng với giá thấp hơn giá thành sản phẩm nhằm kiểm soát toàn bộ thị trường sau đó dần loại bỏ các đối thủ cạnh tranh Còn biện pháp chống trợ cấp lại được áp dụng để loại

bỏ những tác động tiêu cực lên ngành sản xuất trong nước do chính sách trợ cấp từ chính phủ của nước xuất khẩu gây ra Không giống như hai biện pháp trên, biện pháp tự vệ được xem như là công cụ để bảo vệ thị trường trong nước trong những trường hợp khẩn cấp mà ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại do việc nhập khẩu hàng hoá quá mức gây nên

Về bản chất, các biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp đều có mục đích là đưa cạnh tranh trở lại vị thế cân bằng trong khi đó biện pháp tự vệ lại có mục đích hạn chế cạnh tranh trong điều kiện đặc biệt và chỉ mang tính chất tạm thời

để cho ngành sản xuất trong nước có thể tồn tại, cạnh tranh sẽ không bị thủ tiêu và quan hệ thương mại được duy trì bền vững Mục đích của biện pháp tự vệ là tạo ra một thị trường ít thu hút hơn đối với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài, nhằm bảo

hộ thị trường trong nước trước sự nhập khẩu hàng hóa quá mức, không thể lường trước được vào thị trường Việt Nam gây bất lợi cho các nhà sản xuất trong nước Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh về việc chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam năm 2004 và Nghị định 89/2005/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam

Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2006/NĐ-CP về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ

Trang 34

34

Về thực tiễn trong áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại, Việt Nam đã

04 lần áp dụng các biện pháp trong đó có 03 vụ việc quyết định áp dụng biện pháp

tự vệ/04 vụ việc có điều tra (kính nổi, dầu thực vật, phôi và thép dài), 01 vụ việc quyết định chống bán giá phá/02 vụ việc có điều tra (mặt hàng tôn mạ, tôn lạnh)

Trang 35

35

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ THỦ TỤC ĐIỀU TRA XỬ LÝ VỤ VIỆC CHỐNG

BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG TRỢ CẤP

2.1 Thực trạng pháp luật về thủ tục điều tra các vụ việc chống bán phá giá

2.1.1 Các biện pháp chống bán phá giá

- Áp dụng thuế chống bán phá giá

Là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường, do cơ quan

có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu Đây là loại thuế nhằm chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra

- Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, xuất khẩu hàng hóa bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá với cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam hoặc với các nhà sản xuất trong nước nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp chống bán phá giá của Việt Nam đồng ý

2.1.2 Điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá

- Về điều kiện áp dụng các biện pháp chống bán phá giá: hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá nếu như cơ quan chống bán phá giá của Việt Nam chứng minh được rằng: (1) Hàng hóa đó có bán phá giá khi nhập khẩu Việt Nam; (2) Có thiệt hại vật chất dưới hình thức thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước của Việt Nam; và (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán giá hàng hóa nhập khẩu và thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất trong nước Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn xác định một nguyên tắc chung là việc áp dụng biện pháp chông bán phá giá không gây được thiệt hại đến lợi ích kinh tế- xã hội trong nước

- Về điều kiện xác định có bán phá giá hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam: Hàng hóa bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam nếu hàng hóa đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường Giá thông thường của hàng hóa nhập

Trang 36

36

khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường Nếu không có hàng hóa tương tự được bán trên thị trường của nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu hoặc có hàng hóa tương

tự được bán nhưng với khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa không đáng kể thì giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định bằng cách, lấy giá tương ứng của hàng hóa đó đang được bán ở nước thứ ba trong điều kiện thương mại thông thường hoặc mức giá do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tự xây dựng theo quy định của pháp luật

- Về việc xác định thiệt hại vật chất: pháp luật Việt Nam quy định thiệt hại vật chất gây ra cho ngành sản xuất trong nước của Việt Nam có thể được xác định dưới hai hình thức: Hình thức thứ nhất là, thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước Đây là tình trạng suy giảm đáng kể hoặc kìm hãm tăng trưởng về sản lượng, mức giá, mức tiêu thụ hàng hóa, lợi nhuận, tốc độ phát triển sản xuất, việc làm của người lao động, đầu tư và các chỉ tiêu khác của ngành sản xuất trong nước hoặc là tình trạng khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước Hình thức thứ hai là, đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc là tình trạng khó khăn cho việc hình thành một ngành sản xuất trong nước, tức

là khả năng trước mắt, rõ ràng và chứng minh được sẽ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

2.1.3 Thẩm quyền điều tra, xử lý vụ việc chống bán phá giá

Theo Điều 7 PLCPG, cơ quan có thẩm quyền điều tra và áp dụng biện pháp chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bao gồm: cơ quan điều tra chống bán phá giá; hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá; và Bộ Trưởng BCT

Cơ quan điều tra chống bán phá giá

Theo Điều 1, Quyết định 3752/QĐ–BCT ngày 02/10/2017 của Bộ Công Thương quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Phòng

về thương mại (PVTM), Cục PVTM là tổ chức thuộc Bộ Công thương thực hiện chức năng tham mưu, giúp bộ trưởng BCT quản lý nhà nước và tổ chức thực thi

Trang 37

37

pháp luật đối với lĩnh vực chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ; tổ chức quản

lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công thuộc lĩnh vực, phạm vị quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và phân cấp ủy quyền của Bộ trưởng Cục PVTM có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật

Như vậy, trong các cuộc điều tra chống bán phá giá, Cục PVTM đóng vai trò là cơ quan điều tra chống bán phá giá Nói cách khác trong quá trình giải quyết chống bán phá giá, Cục PVTM có thẩm quyền thụ lí, tổ chức diều tra việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam để đề xuất áp dụng các biện pháp chống bán phá giá theo quy định của pháp luật; kiến nghị BTBCT ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời, báo cáo kết quả điều tra lên hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá xem xét, trình BTBCT ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam;

và chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện, rà soát việc chấp hành các quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá

Khi tiến hành giải quyết vụ việc chống bán phá giá, thành viên Hội đồng xử

lí vụ việc chống bán phá giá có nhiệm vụ, quyền hạn là nghiên cứu, xem xét hồ sơ, các kết luận của cơ quan điều tra và các tài liệu khác trong bộ hồ sơ vụ việc chống bán phá giá do cơ quan điều tra chuyển; tham gia phiên họp của Hội đồng xử lí để thảo luận và bỏ phiếu về việc có hoặc không có bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dạo gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước và giữ bí mật thông tin được bảo mật theo quy định của pháp luật

Như vậy, theo pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, Cục PVTM là cơ quan có chức năng điều tra về hành vi bán phá giá, điều tra

về thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra và xác định nhân quả giữa hai nội dung điều tra trên và kết luận sơ bộ cũng như kết luận chính thức về các nội dung điều tra nói trên Còn Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá có chức năng xem xét các kết luận của cơ quan điều tra; sau khi thảo luận nguyên tắc đa số, sẽ quyết định về việc có hoặc không có bán phá giá hàng hóa vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây

Trang 38

38

ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; kiến nghị BTBCT ra quyết định

áp dụng thuế bán phá giá

Bộ trưởng Bộ Công thương

Theo PLCBPG, BTBCT là người chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện quản lí nhà nước về chống bán phá giá BTBCT có vai trò quan trọng trong toàn bộ tiến trình chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Dựa vào kết quả hoạt động của Cục PVTM và Hội đồng xử lí vụ việc, BTBCT sẽ có thẩm quyền ra quyết định điều tra, quyết định ra hạn điều tra, quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời, quyết định chấm dứt điều tra, quyết định chỉ điều tra, quyết định áp dụng biện pháp cam kết, quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá, quyết định việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá

2.1.4 Thủ tục điều tra xử lý và các quy định về thủ tục điều tra xử lý các vụ việc chống bán phá giá

Bước 1: Doanh nghiệp nộp hồ sơ đến Cục PVTM – Bộ Công Thương

Theo 2 cách: Nộp trực tiếp và qua fax hoặc qua đường bưu điện

- Mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hoá nhập khẩu trong thời hạn 12 tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

- Mô tả khối lượng, số lượng và trị giá của hàng hoá tương tự được sản xuất trong nước trong thời hạn 12 tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

Trang 39

39

- Thông tin về giá thông thường và giá xuất khẩu của hàng hoá được mô tả tại thời điểm nhập khẩu vào Việt Nam trong thời hạn 12 tháng trước khi nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

- Biên độ bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

- Thông tin, số liệu, chứng cứ về thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước do hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra;

- Tên, địa chỉ và thông tin cần thiết khác của tổ chức, cá nhân sản xuất và xuất khẩu hàng hoá vào Việt Nam bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

- Yêu cầu cụ thể về việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá, thời hạn áp dụng và mức độ áp dụng

Bước 2: Tiếp nhận, bổ sung hồ sơ khiếu nại

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ, nếu xét thấy hồ sơ yêu cầu

áp dụng biện pháp chống bán phá giá chưa đầy đủ nội dung nói trên, cơ quan điều tra thông báo cho tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ để bổ sung

Thời hạn để bổ sung hồ sơ do cơ quan điều tra quy định nhưng không được ít hơn 30 ngày, kể từ ngày tổ chức, cá nhân được yêu cầu bổ sung hồ sơ nhận được thông báo

Bước 3: Trường hợp hồ sơ đầy đủ và hợp pháp, Cục tiếp nhận và thụ lý hồ sơ Bước 4: Thẩm định hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá

- Trong thời hạn 45 ngày, tính từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Cơ quan điều tra chịu trách nhiệm thẩm định hồ sơ để trình Bộ trưởng

Bộ Công Thương xem xét ra quyết định điều tra

- Nội dung thẩm định hồ sơ bao gồm:

Xác định tư cách đại diện hợp pháp cho ngành sản xuất trong nước của tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ và xác định bằng chứng về việc bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước

Bước 5: Quyết định điều tra

Ngày đăng: 01/09/2018, 00:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w