TÀI LIỆU BD ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 1. Thiết kế bài giảng (soạn giáo án) 1.1. Mục đích, yêu cầu của việc soạn giáo án Giờ dạy – học trên lớp hiện nay được xác định là thành công chỉ khi nào giờ học đó phát huy được tính năng động, chủ động, tích cực của người học. Người học phải được hoạt động. Giờ học không nhồi nhét kiến thức. Giờ học phải cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ và hình thành ở học sinh cách học. Muốn vậy, giáo viên (GV) phải xây dựng chiến lược dạy học, con đường tất yếu phải là thiết kế hoạt động của thầy và trò trên lớp. Các hoạt động phải được tính toán kỹ, sự hoạch định, trù liệu của GVcàng chu đáo bao nhiêu thì khả năng thành công của giờ dạy càng cao bấy nhiêu. Như vậy, mục đích của việc soạn giáo án là nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy – học trên lớp; thực hiện tốt mục tiêu bài học. Một giáo án tốt phải thể hiện được các yêu cầu: Thể hiện được đầy đủ nội dung bài học và giúp đảm bảo trật tự khoa học của thông tin, đưa ra kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ và các phương tiện hỗ trợ cần thiết theo yêu cầu. Việc cung cấp thông tin theo một trật tự khoa học sẽ giúp học sinh (HS) hiểu và nhớ những thông tin đó một cách khoa học; Giúp người thầy quản lí thời gian dành cho mỗi đơn vị bài học được tốt hơn; Vạch ra rõ ràng đơn vị bài học cần được chú trọng – phần trọng tâm mà học sinh bắt buộc phải biết – từ đó người thầy sẽ dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh khung thời gian, tăng giảm nội dung giảng dạy đề phòng các trường hợp cháy giáo án, thừa thời gian…; Lựa chọn được phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với nội dung, tính chất của bài học và đối tượng học; Chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kỹ năng, gắn với thực tiễn cuộc sống. 1.2. Các bước thiết kế một giáo án Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình. Bước này được đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án. Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói khác đó là thước đo kết quả quá trình dạy học. Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những kiến thức, kỹ năng; phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì). Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của bài học; xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở học sinh; xác định trình tự logic của bài học. Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trong SGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác. Trước hết nên đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học. Mỗi GV không chỉ có kỹ năng tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc mà cần có kỹ năng định hướng cách chọn, đọc tư liệu cho học sinh. GV nên chọn những tư liệu đã qua thẩm định, được đông đảo các nhà chuyên môn và GV tin cậy. Việc đọc SGK, tài liệu phục vụ cho việc soạn giáo án có thể chia thành 3 cấp độ sau: đọc lướt để tìm nội dung chính xác định những kiến thức, kỹ năng cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; đọc để tìm những thông tin quan tâm: các mạch, sự bố cục, trình bày các mạch kiến thức, kỹ năng và dụng ý của tác giả; đọc để phát hiện và phân tích, đánh giá các chi tiết trong từng mạch kiến thức, kỹ năng. Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm vi, mức độ kiến thức, kỹ năng của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực của học sinh và điều kiện dạy học. Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đi chưa tới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng. Nếu nắm vững nội dung bài học, GV sẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bài giảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch kiến thức, kỹ năng của SGK, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá, vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong bài một cách thích hợp. Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm: xác định những kiến thức, kỹ năng mà HS đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết. Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu học sinh để lựa chọn phương pháp, phương tiện, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp. Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của học sinh. Nói cách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của học sinh, được xuất phát từ : những kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã có một cách chắc chắn, vững bền; những kiến thức, kỹ năng mà học sinh chưa có hoặc có thể quên; những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của các em. Bước này chỉ là sự dự kiến; nhưng trong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV đã lúng túng trước những ý kiến không đồng nhất của học sinh với những biểu hiện rất đa dạng. Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thời gian để xem qua bài soạn của học sinh trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên để có thể dự kiến trước khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức cũng như phát huy tích cực vốn kiến thức, kỹ năng đã có của các em. Bước 4: Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo. Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học, GV phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tác động đến tư tưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho học sinh. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy học đồng loạt với những nhiệm vụ học tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới năng lực học tập của từng đối tượng học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học sẽ chú trọng cải tiến thực tiễn này, phát huy thế mạnh tổng hợp của các phương pháp, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá nhằm tăng cường sự tích cực học tập của các đối tượng học sinh trong giờ học. Bước 5: Thiết kế giáo án. Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của học sinh. 1.3. Cấu trúc giáo án Ngày soạn:.............. Tiết:................... (TÊN BÀI).... I. MỤC TIÊU 1. Kiến thức 2. Kỹ năng 3. Thái độ (giá trị) 4. Định hướng hình thành năng lực II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 1. Chuẩn bị của giáo viên Thiết bị dạy học: (VD: Máy chiếu, …) Học liệu: (VD: Bài tập tình huống….) 2. Chuẩn bị của học sinh Chuẩn bị các nội dung liên quan đến bài học theo sự hướng dẫn của giáo viên như chuẩn bị tài liệu, TBDH .. Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu,... III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP Phương án 1: HOẠT ĐỘNG 1: Khởi động 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ 3. Bài mới (Giới thiệu) HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành kiến thức HOẠT ĐỘNG 3: Luyện tập HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng HOẠT ĐỘNG 5: Tìm tòi và mở rộng Dặn dò, hướng dẫn học sinh học tập ở nhà Phương án 2. 1. Ổn định lớp 2. Kiểm tra bài cũ (nếu có) 3. Tiến trình bài học HOẠT ĐỘNG 1. (Tên hoạt động, dự kiến thời gian) (1) Mục tiêu (2) Phương phápKĩ thuật (3) Hình thức tổ chức hoạt động (4) Phương tiện dạy học HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG CHÍNH Bước 1. Giao nhiệm vụ GV: HS: Bước 2. Thực hiện nhiệm vụ HS: GV Bước 3. Thảo luận, trao đổi, báo cáo GV HS Trình bày Bước 4. Phương án KTĐG Điểu chỉnh:
Trang 1TÀI LIỆU BD ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS
1 Thiết kế bài giảng (soạn giáo án)
1.1 Mục đích, yêu cầu của việc soạn giáo án
Giờ dạy – học trên lớp hiện nay được xác định là thành công chỉ khi nào giờhọc đó phát huy được tính năng động, chủ động, tích cực của người học Người họcphải được hoạt động Giờ học không nhồi nhét kiến thức Giờ học phải cung cấpkiến thức, rèn luyện kỹ năng, giáo dục thái độ và hình thành ở học sinh cách học.Muốn vậy, giáo viên (GV) phải xây dựng chiến lược dạy học, con đường tất yếuphải là thiết kế hoạt động của thầy và trò trên lớp Các hoạt động phải được tínhtoán kỹ, sự hoạch định, trù liệu của GVcàng chu đáo bao nhiêu thì khả năng thànhcông của giờ dạy càng cao bấy nhiêu Như vậy, mục đích của việc soạn giáo án lànhằm nâng cao chất lượng giờ dạy – học trên lớp; thực hiện tốt mục tiêu bài học
Một giáo án tốt phải thể hiện được các yêu cầu:
- Thể hiện được đầy đủ nội dung bài học và giúp đảm bảo trật tự khoa họccủa thông tin, đưa ra kĩ năng học tập được sử dụng trong giờ và các phương tiện hỗtrợ cần thiết theo yêu cầu Việc cung cấp thông tin theo một trật tự khoa học sẽ giúphọc sinh (HS) hiểu và nhớ những thông tin đó một cách khoa học;
- Giúp người thầy quản lí thời gian dành cho mỗi đơn vị bài học được tốthơn;
- Vạch ra rõ ràng đơn vị bài học cần được chú trọng – phần trọng tâm mà họcsinh bắt buộc phải biết – từ đó người thầy sẽ dễ dàng hơn trong việc điều chỉnhkhung thời gian, tăng giảm nội dung giảng dạy đề phòng các trường hợp cháy giáo
án, thừa thời gian…;
- Lựa chọn được phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với nội dung,tính chất của bài học và đối tượng học;
- Chú trọng kết hợp học với hành, nâng cao tri thức với rèn luyện các kỹnăng, gắn với thực tiễn cuộc sống
1.2 Các bước thiết kế một giáo án
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng
và yêu cầu về thái độ trong chương trình Bước này được đặt ra bởi việc xác địnhmục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không thểthiếu của mỗi giáo án Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầucần đạt của giờ học; hay nói khác đó là thước đo kết quả quá trình dạy học Nó giúp
GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng nhữngkiến thức, kỹ năng; phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bàihọc gì)
Trang 2- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác, đầy
đủ những nội dung của bài học; xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bảncần hình thành và phát triển ở học sinh; xác định trình tự logic của bài học
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trongSGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác Trước hết nên đọc kĩ nộidung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nộidung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học.Mỗi GV không chỉ có kỹ năng tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc mà cần có kỹnăng định hướng cách chọn, đọc tư liệu cho học sinh GV nên chọn những tư liệu
đã qua thẩm định, được đông đảo các nhà chuyên môn và GV tin cậy Việc đọcSGK, tài liệu phục vụ cho việc soạn giáo án có thể chia thành 3 cấp độ sau: đọclướt để tìm nội dung chính xác định những kiến thức, kỹ năng cơ bản, trọng tâmmức độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; đọc để tìm những thông tin quan tâm: cácmạch, sự bố cục, trình bày các mạch kiến thức, kỹ năng và dụng ý của tác giả; đọcđể phát hiện và phân tích, đánh giá các chi tiết trong từng mạch kiến thức, kỹ năng
Thực ra khâu khó nhất trong đọc SGK và các tư liệu là đúc kết được phạm
vi, mức độ kiến thức, kỹ năng của từng bài học sao cho phù hợp với năng lực củahọc sinh và điều kiện dạy học Trong thực tế dạy học, nhiều khi chúng ta thường đichưa tới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về kiến thức, kỹ năng Nếu nắm vữngnội dung bài học, GV sẽ phác họa những nội dung và trình tự nội dung của bàigiảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch kiến thức, kỹ năngcủa SGK, xây dựng một hệ thống câu hỏi, bài tập giúp HS nhận thức, khám phá,vận dụng các kiến thức, kỹ năng trong bài một cách thích hợp
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm:
xác định những kiến thức, kỹ năng mà HS đã có và cần có; dự kiến những khókhăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới phươngpháp dạy học, GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểuhọc sinh để lựa chọn phương pháp, phương tiện, các hình thức tổ chức dạy học vàđánh giá cho phù hợp Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phảilường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của học sinh Nóicách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của họcsinh, được xuất phát từ : những kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã có một cáchchắc chắn, vững bền; những kiến thức, kỹ năng mà học sinh chưa có hoặc có thểquên; những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của các em Bướcnày chỉ là sự dự kiến; nhưng trong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiếntrước, GV đã lúng túng trước những ý kiến không đồng nhất của học sinh vớinhững biểu hiện rất đa dạng Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thờigian để xem qua bài soạn của học sinh trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giáthường xuyên để có thể dự kiến trước khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thứccũng như phát huy tích cực vốn kiến thức, kỹ năng đã có của các em
Trang 3- Bước 4: Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ
chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủđộng, sáng tạo
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới phươngpháp dạy học, GV phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vậndụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn;tác động đến tư tưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập chohọc sinh Trong thực tiễn dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy học đồngloạt với những nhiệm vụ học tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới năng lực họctập của từng đối tượng học sinh Đổi mới phương pháp dạy học sẽ chú trọng cảitiến thực tiễn này, phát huy thế mạnh tổng hợp của các phương pháp, phương tiệndạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá nhằm tăng cường sự tíchcực học tập của các đối tượng học sinh trong giờ học
- Bước 5: Thiết kế giáo án.
Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án - thiết kế nội dung, nhiệmvụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy củaGVvà hoạt động học tập của học sinh
1.3 Cấu trúc giáo án
II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1 Chuẩn bị của giáo viên
- Thiết bị dạy học: (VD: Máy chiếu, …)
- Học liệu: (VD: Bài tập tình huống….)
2 Chuẩn bị của học sinh
- Chuẩn bị các nội dung liên quan đến bài học theo sự hướng dẫn của giáoviên như chuẩn bị tài liệu, TBDH
- Sưu tầm tranh ảnh, tư liệu,
III TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
Phương án 1:
Trang 4* HOẠT ĐỘNG 1: Khởi động
1 Ổn định lớp
2 Kiểm tra bài cũ
3 Bài mới (Giới thiệu)
*HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành kiến thức
*HOẠT ĐỘNG 3: Luyện tập
* HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng
* HOẠT ĐỘNG 5: Tìm tòi và mở rộng
* Dặn dò, hướng dẫn học sinh học tập ở nhà
(4) Phương tiện dạy học
Bước 1 Giao nhiệm vụ
Trang 5Điểu chỉnh:
Các hoạt động khác được lặp lại như cấu trúc của hoạt động trên
HOẠT ĐỘNG 2 (Tên hoạt động, dự kiến thời gian)
(1) Mục tiêu
(2) Phương pháp/Kĩ thuật
(3) Hình thức tổ chức hoạt động
(4) Phương tiện dạy học
Bước 1 Giao nhiệm vụ
Trang 6Các tài liệu liên quan đến bài học như tài liệu phát tay, phiếu học tập, thông tin phản hồi, các câu hỏi kiểm tra đánh giá, các slide để trình chiếu, phần mềm hỗ trợ
-1.4 Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung
- Mục tiêu bài học: + Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ; + Cácmục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hoá được
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học: + GVchuẩn bị các thiết
bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất ), các phương tiện dạy học (máychiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector ) và tài liệu dạy học cần thiết; +Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùnghọc tập cần thiết)
- Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạtđộng dạy- học cụ thể Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ: + Tên hoạt động ; + Mục tiêucủa hoạt động; + Cách tiến hành hoạt động; + Thời lượng để thực hiện hoạt động; +Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động; những tìnhhuống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết; những saisót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phùhợp;
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếptục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bịcho việc học bài mới
- Tổng kết bài là công việc mà học sinh phải thực hiện, mặc dù đây là hoạt
động hướng dẫn của giáo viên Những ý chủ chốt, những liên hệ cốt yếu, những sựkiện cơ bản, những nguyên tắc và quan điểm nền tảng, những khái niệm hoặc giá trị
có tính công cụ cần được nhắc đến dưới những hình thức cô đọng, rút gọn, đặc biệt
là những sơ đồ, mô hình, công thức hoặc các tài liệu trực quan Nội dung cốt lõicủa bài cần được phát biểu lại trong những liên hệ và cấu trúc hệ thống có quan hệlogic với khái niệm tổng thể và được biểu hiện rõ vị trí trong mạng khái niệm, hoặctrong quan niệm toàn vẹn
- Hướng dẫn học tập: Việc hướng dẫn học tập không đơn giản là giao bài tậphoặc nhiệm vụ học tập về nhà Điều chủ yếu nhất của khâu này là gợi ý đọc thêm,luyện tập bổ sung, khuyến khích tìm kiếm tư liệu và chỉ dẫn thư mục bổ ích, nêulên những giả thuyết hoặc luận điểm có tính vấn đề để động viên người học suynghĩ tiếp tục trong quá trình học tập sau bài học Những ý được gợi lên nói chungnên có liên hệ với bài học sau, hoặc có ý nghĩa hỗ trợ ghi nhớ, kích thích tư duyphê phán, khuyến khích tư duy độc lập, tạo cảm xúc và bồi dưỡng tình cảm, nâng
Trang 71.5 Các bước của quy trình soạn bài giảng điện tử e-learning.
Các bước của quy trình soạn bài giảng điện tử e-learning
1) Xác định mục đích, yêu cầu của bài giảng
2) Lựa chọn những kiến thức cơ bản, trọng tâm, có tính khái quát và chắt lọc cao đểsắp xếp chúng vào các slide:
3) Thu thập nguồn tài liệu liên quan đến nội dung, xây dựng kho tư liệu
4) Xây dựng kịch bản cho bài giảng của giáo án điện tử
5) Lựa chọn ngôn ngữ, các phần mềm trình diễn để xây dựng bài giảng điện tử elearning
6) Soạn bài giảng và đóng gói
1.6 Các bước thực hiện giờ dạy học (triển khai giáo án khi lên lớp).
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau:
a Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
- Kiểm tra tình hình nắm vững bài học cũ và những KT, KN đã học có liên quan đến bài mới
- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết)
Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới
b Tổ chức dạy và học bài mới
- GV giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu bài học; tạo động cơ học tập cho HS
- GV tổ chức, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng PPDH phù hợp
c Luyện tập, củng cố
GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác nhau
d Đánh giá
- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập và
tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn
- GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học
e Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
- GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài tập, thực hành, thínghiệm, )
- GV hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới
Trang 82 Phương pháp dạy học tích cực
2.1 một số vấn đề chung của phương pháp dạy học tích cực
2.1.1 Thế nào là tính tích cực học tập?
a Tính tích cực học tập là gì?
Tính tích cực học tập - về thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trưng ở
khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri
thức
b Tính tích cực nhận thức do đâu mà có?
Tính tích cực nhận thức liên quan trước hết với động cơ học tập
- Động cơ đúng tạo ra hứng thú
- Hứng thú là tiền đề của tự giác
- Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực
c Tính tích cực nhận thức có tác dụng như thế nào?
- Tính tích cực nhận thức sản sinh nếp tư duy độc lập
- Suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo
- Ngược lại, phong cách học tập tích cực độc lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác,hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập
d Những dấu hiệu nào biểu hiện tính tích cực nhận thức?
Tính tích cực nhận thức thể hiện ở những dấu hiệu sau:
- Hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên
- Bổ sung các câu trả lời của bạn
- Thích phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra
- Hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ
- Chủ động vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới
- Tập trung chú ý vào vấn đề đang học
- Kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản trước những tình huống khó khăn…
e Các cấp độ thể hiện tính tích cực nhận thức?
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề, tìm cách giải quyết khác nhau về một vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu
2.1.2 Phương pháp dạy học tích cực
Trang 9PPDH tích cực là một thuật ngữ để chỉ những phương pháp giáo dục, dạyhọc theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái
nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực
a PPDH tích cực có làm giảm sút vai trò của giáo viên không?
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhậnthức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứkhông phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy
Để dạy học theo phương pháp tích cực thì GVphải nỗ lực nhiều so với dạytheo phương pháp thụ động
b Phát huy tính tích cực nhận thức của HS dễ hay khó?
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học,nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy
- HS đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng GVchưa đáp ứng được
- GVhăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưng không thành công vì HS chưathích ứng, vẫn quen với lối học tập thụ động
c Để Tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, GVcần lưu ý điều gì?
- GVphải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho HSphương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấp lên cao
- Có sự hợp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với
hoạt động học thì mới thành công Như vậy, việc dùng thuật ngữ "Dạy và học tích cực" để phân biệt với "Dạy và học thụ động"
e PPDH truyền thống và PPDH tích cực khác nhau như thế nào?
1) Tập trung vào hoạt động của HS
2) GVtruyền đạt kiến thức đã chuẩn bị
sẵn
2) GVhướng dẫn các hoạt động của HS
3) HS lắng nghe lời giảng của giáo
viên, ghi chép và học thuộc
3) HS chủ động chiếm lĩnh tri thức, kỹnăng dưới sự hướng dẫn của thầy
4) GVhuy động vốn hiểu biết của
mình để giúp HS tiếp thu bài
4) GV huy động vốn kiến thức và kinhnghiệm của HS để xây dựng bài
5) Quan hệ học tập: Thầy chủ động –
trò bị động
5) Quan hệ học tập: Chủ đạo của thầy tạo
sự chủ động, tự tin ở trò
Trang 106) Khống chế sự tranh luận vì sợ cháy
8) Yêu cầu HS nghe và ghi đầy đủ 8) Nghe và ghi theo nhu cầu
9) SGK là pháp lệnh, lời thầy là chân lí,
kiểm tra, thi cử phải đúng như thế
9) SGK chỉ là phương tiện, lời thầy chỉ làgợi ý, kiểm tra, thi cử linh hoạt, gắn vớithực tiễn
10) HS không có cơ hội bày tỏ nguyện
vọng, tham gia tranh luận
11) …
10) HS có cơ hội bày tỏ nguyện vọng vàtham gia tranh luận
11) …
2.1.3 Đặc trưng của các PPDH tích cực
a Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS
Trong PPDH tích cực, người học - đối tượng của hoạt động "dạy", đồng thời làchủ thể của hoạt động "học":
- Được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GVtổ chức và chỉ đạo, thôngqua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ
- Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quansát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình
- Được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
Dạy theo cách này thì GVkhông chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động (dạy cách học)
b Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
- Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HSkhông chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạyhọc
- Sự bùng nổ thông tin, khoa học, kỹ thuật khiến chúng ta không thể nhồi nhétvào đầu óc HS khối lượng kiến thức ngày càng nhiều mà đòi hỏi phải quan tâm dạycho HS PP học
- Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Vì vậy, ngàynay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, tạo ra sựchuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động: tự học ở nhà sau bài lên lớp;
tự học trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên
c Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường.Hình thức dạy học phổ biến là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 người
Trang 11Dạy học hợp tác có tác dụng:
- Làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn
- Làm mất đi hiện tượng ỷ lại;
- Tính cách, năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn
- Phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ
d Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thựctrạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận địnhthực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
- Dạy học truyền thống, GVgiữ độc quyền đánh giá HS
- Dạy học tích cực, GVphải hướng dẫn HS phát triển kỹ năng tự đánh giá vàđánh gia lẫn nhau để tự điều chỉnh cách học
2.2 Một số phương pháp dạy học tích cực
2.2.1 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
a Cấu trúc bài học
Cấu trúc một bài học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề thường baogồm các bước sau:
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra:
+ Đề xuất cách giải quyết;
+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
Trang 12- Mức 1: GV đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề HS thực hiện cách giảiquyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên GV đánh giá kết quả làm việc của HS.
- Mức 2: GV nêu vấn đề, gợi ý để HS tìm ra cách giải quyết vấn đề HS thựchiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của GV khi cần GV và HS cùng đánhgiá
- Mức 3: GV cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề HS phát hiện vàxác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp HS thựchiện cách giải quyết vấn đề GV và HS cùng đánh giá
- Mức 4: HS tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặccộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết HS giải quyết vấn đề, tự đánh giá chấtlượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của GV khi kết thúc
Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm đượctri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tíchcực, sáng tạo, chuẩn bị năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời
và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
1.2.2 Phương pháp hoạt động nhóm (cùng tham gia)
a Khái niệm
Hoạt động nhóm là phương pháp tổ chức hoạt động học của HS bằng cách
chia lớp học thành từng nhóm Tuỳ mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, cácnhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thayđổi trong từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệmvụ khác nhau
b Các cách chia nhóm
- Theo số điểm danh
- Theo màu sắc
- Theo tên loài hoa
- Theo mùa trong năm
- Theo biểu tượng
- Theo hình ghép
- Theo sở thích
- Theo tháng sinh
- Theo trình độ, giới tính
- Chia ngẫu nhiên
c Một số đặc điểm của tổ chức hoạt động nhóm
- Trong nhóm mỗi người được phân công một phần việc;
Trang 13- Mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vàingười hiểu biết và năng động hơn
- Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trongkhông khí thi đua với các nhóm khác
- Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cảlớp
- Nhóm cử ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày mộtphần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp
d Cách tiến hành
1/ Làm việc chung cả lớp:
+ Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
+ Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
+ Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm
2/ Làm việc theo nhóm:
+ Phân công trong nhóm
+ Cá nhân làm việc độc lập rồi trao đổi hoặc tổ chức thảo luận trong nhóm + Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
3/ Tổng kết trước lớp:
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
+ Thảo luận chung
+ GV tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trongbài
e Ưu điểm của PP tổ chức hoạt động nhóm
- Giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bảnthân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới
- Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau
g Hạn chế của PP tổ chức hoạt động nhóm
- Đòi hỏi không gian lớp học phải rộng
- Đòi hỏi thời gian nhiều
- GVphải biết tổ chức hợp lý, HS quen với phương pháp này thì mới có kết quả
h Yêu cầu
- Tư duy tích cực của HS phải được phát huy
- Phải rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động
Trang 14- Tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạtđộng nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH và hoạt động nhóm càngnhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới
1.2.3 Phương pháp đóng vai
a Khái niệm
Đóng vài là phương pháp tổ chức cho HS thực hành một số cách ứng xử nào
đó trong một tình huống giả định
b Ưu điểm
- HS được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trongmôi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn
- Gây hứng thú và chú ý cho HS
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của HS
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của HS theo chuẩn mực hành vi đạo đức
+ Vì sao em lại ứng xử như vậy?
+ Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử? Khi nhận được cáchứng xử (đúng hoặc sai)
- Lớp thảo luận, nhận xét: Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phùhợp? Chưa phù hợp ở điểm nào? Vì sao?
- GV kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống
d Yêu cầu
- Tình huống nên để mở, không cho trước “Kịch bản”, lời thoại
- Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai
- Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề
- Nên khích lệ cả những HS nhút nhát tham gia
- Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai
1.2.4 Phương pháp động não
Trang 15- GV nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.
- Khích lệ HS phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
- Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ to, không loạitrừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp
- Phân loại ý kiến
- Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý
1.2.5 Phương pháp trò chơi
a Khái niệm
Trò chơi là phương pháp tổ chức hoạt động trò chơi cho HS để giải quyết mộthoặc một số nội dung bài học Phương pháp trò chơi thu hút được nhiều HS vàohọc tập, tạo sự chú ý cho tất cả HS, có khả năng gây hứng thú và lây lan hứng thúhọc tập đến mọi HS
b Cách tiến hành
- Nêu yêu cầu, ý nghĩa, tác dụng
- Phổ biến luật chơi, cách tính điểm, khen thưởng,…
- Quán triệt tinh thần, thái độ
- Tổ chức, phân công
- Tiến hành hoạt động chơi
- Công bố kết quả, nhận xét, đánh giá, khen thưởng
c Các phương pháp trò chơi
1/ Trò chơi ghép hình: lựa chọn các mảnh ghép để hoàn thành một hình nào
đó mà việc lựa chọn phải dựa vào sự trả lời các câu hỏi
2/ Trò chơi mở mảnh ghép: Mỗi nhóm hoàn thành một nhiệm vụ tìm hiểuvấn đề nào đó của bài học thì mảnh ghép lựa chọn được mở ra
3/ Trò chơi ô chữ: để đoán được các chữ trong các ô hàng nganh, các độichơi phải giải quyết các câu hỏi tương ứng
4/ Trò chơi xanh - đỏ: mỗi đội được phát hai lá cờ: xanh và đỏ Các đội chơilựa chọn các phương án trả lời cho các câu hỏi đúng - sai để đem về số cờ đỏ nhiềunhất (đúng) và số cờ xanh ít nhất (sai)
Trang 165/ Trò chơi truyền điện: các thành viên trong từng đội chơi phải đảm bảo nhanhnhạy để chuyển tiếp các phương án trả lời cho người của phe mình trong thời gian quiđịnh để đóng góp nhiều nhất vào một nội dung nào đó, hoặc hoàn thành một nội dung nào
đó
6/ Trò chơi giải mật mã: các đội xây dựng phương án để tìm ra chỗ sai củamột vấn đề và lí giải nó
1.2.6 Phương pháp dạy học dự án.
Dạy học dự án là một phương pháp, một hình thức dạy học quan trọng đểthực hiện quan điểm dạy học hướng vào người học, quan điểm dạy học hướng vàohoạt động và quan điểm dạy học tích hợp
Trong chương trình phổ thông, dạy học dự án được xây dựng thông quachương trình “dạy học tương lai” (Intel teach to the future) Các thông tin cụ thểđược trình bày trên trang web: http://www.dayhoctuonglai.edu.vn/
Từ đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp
dự án (Project method) và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạyhọc hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống
Phương pháp dạy học dự án được hiểu là một phương pháp hay hình thức dạyhọc, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có sự kết hợp giữa lýthuyết và thực tiễn, thực hành Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tựlực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việcthực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện
a Đặc điểm của dạy học dự án
+ Định hướng vào học sinh
- Chú ý đến hứng thú của người học, tính tự lực cao: học sinh được trực tiếp
tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân,khuyến khích tính tích cực, tự lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học.Giảng viên đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ
- Người học được cộng tác làm việc, lựa chọn nhiệm vụ phù hợp: Các dự án
được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác và phân công công việc giữa các thànhviên trong nhóm, rèn luyện tính sẵn sàng và kĩ năng cộng tác làm việc giữa cácthành viên tham gia, giữa giảng viên và học sinh cũng như các lực lượng xã hộitham gia vào dự án
+ Định hướng vào thực tiễn
- Gắn liền với hoàn cảnh: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống của thực tiễn
nghề nghiệp, đời sống xã hội, phù hợp trình độ người học
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án gắn việc học tập trong nhà trường
với thực tiễn đời sống xã hội, địa phương, gắn với môi trường, mang lại tác động xãhội tích cực
Trang 17- Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành: Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở
rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thựctiễn của người học
- Dự án mang nội dung tích hợp: Kết hợp tri thức của nhiều môn học hay
lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp
+ Định hướng vào sản phẩm
Các sản phẩm được tạo ra, không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết,
mà còn tạo ra sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sảnphẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu
b Các giai đoạn của dạy học dự án
Giai đoạn 1: Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án
Giảng viên và sinh viên cùng đề xuất, cũng có thể do người học đề xuất
Giai đoạn 2: Xác định đề cương, kế hoạch thực hiện
Cần xác định công việc cần làm, thời gian dự kiến, dự kiến vật liệu, kinh phí,phương pháp tiến hành và phân công cho mỗi thành viên trong nhóm
Giai đoạn 3: Thực hiện dự án, chú ý đến sản phẩm
Thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, nhữnghoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức lý thuyết, các phương
án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó, sản phẩmcủa dự án và thông tin mới được tạo ra
Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm
Kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn…
và được giới thiệu công bố Sản phẩm có thể là vật chất được tạo ra hoặc hành độngphi vật chất
Giai đoạn 5: Đánh giá dự án
Giảng viên và sinh viên đánh giá quá trình thực hiện kết quả cũng như kinhnghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếptheo Kết quả dự án có thể được đánh giá từ bên ngoài
Việc phân chia các giai đoạn trên chỉ có tính tương đối Trong thực tế chúng cóthể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau Việc tự kiểm tra, điều chỉnh cần được thực hiện trongtất cả giai đoạn của dự án, phù hợp cấu trúc, nhiệm vụ của từng dự án khác nhau
c Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học dự án
+ Ưu điểm
- Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội,giúp việc học tập trong nhà trường giống hơn với việc học tập trong thế giới thật,cùng một nội dung nhưng theo những cách khác nhau
- Kích thích động cơ, hứng thú học tập, phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm
Trang 18- Phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, thúcđẩy suy nghĩ sâu hơn khi gặp các vần đề khác nhau.
- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc của người học
- Phát triển năng lực đánh giá
Trong đào tạo đại học, dạy học dự án là hình thức quan trọng để thực hiện phươngthức đào tạo theo hướng kết hợp giữa học tập và nghiên cứu khoa học
2.2.7 Phương pháp “Bàn tay nặn bột”
a Khái quát về phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Phương pháp dạy học "Bàn tay nặn bột" (BTNB), tiếng Pháp là La main à lapâte - viết tắt là LAMAP; tiếng Anh là Hands-on, là phương pháp dạy học khoa họcdựa trên cơ sở của sự tìm tòi - nghiên cứu, áp dụng cho việc dạy học các môn khoahọc tự nhiên Phương pháp này được khởi xướng bởi Giáo sư Georges Charpak(Giải Nobel Vật lý năm 1992) Theo phương pháp BTNB, dưới sự giúp đỡ của giáoviên, chính học sinh tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sốngthông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra để từ đóhình thành kiến thức cho mình
Đứng trước một sự vật hiện tượng, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giảthuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành thực nghiệm nghiên cứu để kiểmchứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích,tổng hợp kiến thức
Mục tiêu của phương pháp BTNB là tạo nên tính tò mò, ham muốn khámphá và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học,phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông quangôn ngữ nói và viết cho học sinh
b Các nguyên tắc cơ bản của phương pháp BTNB
Trang 19Dưới đây là 10 nguyên tắc cơ bản của phương pháp BTNB được đề xuất bởi ViệnHàn lâm Khoa học và Bộ Giáo dục Quốc gia Pháp
Nguyên tắc về tiến trình sư phạm
1/ Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó
2/ Trong quá trình tìm hiểu, học sinh lập luận, bảo vệ ý kiến của mình, đưa ra tập thể thảo luận những ý nghĩ và những kết luận cá nhân, từ đó có những hiểu biết mà nếu chỉ có những hoạt động, thao tác riêng lẻ không đủ tạo nên
3/ Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình
sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn
4/ Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập
5/ Học sinh bắt buộc có mỗi em một quyển vở thí nghiệm do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của chính các em
6/ Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần của học sinh các khái niệm khoa học và
kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói
Những đối tượng tham gia
7/ Các gia đình và/hoặc khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học
8/ Ở địa phương, các đối tác khoa học (Trường Đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu,…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình
9/ Ở địa phương, các viện đào tạo giáo viên (Trường cao đẳng sư phạm, đại học sư phạm) giúp các giáo viên kinh nghiệm và phương pháp giảng dạy
10/ Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách
c Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”
+ Cơ sở sư phạm của tiến trình dạy học
Phương pháp BTNB đề xuất một tiến trình sư phạm ưu tiên xây dựng nhữngtri thức (hiểu biết, kiến thức) bằng khai thác, thực nghiệm và thảo luận
Trang 20Đó là sự thực hành khoa học bằng hành động, hỏi đáp, tìm tòi, thực nghiệm,xây dựng tập thể chứ không phải phát biểu lại các kiến thức có sẵn xuất phát từ sựghi nhớ thuần túy
Học sinh tự mình thực hiện các thí nghiệm, các suy nghĩ và thảo luận để hiểuđược các kiến thức cho chính mình
Các buổi học ở lớp được tổ chức xung quanh các chủ đề theo hướng tiếntrình có thể đồng thời giúp học sinh tiếp thu được kiến thức, hiểu được phươngpháp tiến hành và rèn luyện được ngôn ngữ viết và nói Một thời lượng đủ cần thiếtcho phép nắm bắt, tái tạo và tiếp thu một cách bền vững nội dung kiến thức
+ Các bước của tiến trình dạy học
Căn cứ vào các cơ sở trên, ta có thể làm rõ tiến trình sư phạm của phươngpháp dạy học BTNB theo 5 bước cụ thể sau đây Để tiện theo dõi các bước của tiếntrình, chúng tôi xin trình bày tiến trình kèm theo một ví dụ cụ thể, kết hợp phân tích
và trình bày về lý luận để làm rõ các bước của tiến trình Chúng ta giả sử dùngphương pháp Bàn BTNB để dạy kiến thức "Cấu tạo bên trong của hạt"
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề
Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viênchủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phảingắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằm lồng ghépcâu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câuhỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiết phải cótình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề (tùy vào từng kiến thức
và từng trường hợp cụ thể)
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học (hay môdun kiến thức mà học sinh sẽđược học) Câu hỏi nêu vấn đề cần đảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâuthuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinhnhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinh trước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáoviên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng (trả lời cóhoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêucầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học của giáo viên càng dễ thực hiện thành công
Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu
Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng của phươngpháp BTNB Bước này khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức banđầu của mình trước khi được học kiến thức Hình thành biểu tượng ban đầu, giáoviên có thể yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cũ đã học có liên quan đến kiến thứcmới của bài học Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, giáo viên cóthể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói (thôngqua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Xem thêmphần trình bày về Biểu tượng ban đầu để rõ hơn phần lý luận của Biểu tượng banđầu
Trang 21Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm
Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của học sinh, giáoviên giúp học sinh đề xuất các câu hỏi từ những sự khác biệt đó Chú ý xoáy sâuvào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học (hay mô đunkiến thức)
Một số chú ý khi lựa chọn biểu tượng ban đầu:
- Không chọn hoàn toàn các biểu tượng ban đầu đúng với câu hỏi
Không lựa chọn hoàn toàn các biểu tượng ban đầu sai so với câu hỏi
- Nên lựa chọn các biểu tượng vừa đúng vừa sai, chỉ cần chọn một biểu tượng banđầu đúng với câu hỏi (nếu có), vì đa số các biểu tượng ban đầu đều sai so với kiếnthức vì học sinh chưa được học kiến thức
- Tuyệt đối không có bình luận hay nhận xét gì về tính đúng sai của các ý kiến banđầu (biểu tượng ban đầu) của học sinh
- Khi viết (đối với biểu tượng ban đầu bằng lời), vẽ hay gắn hình vẽ của học sinh(đối với các biểu tượng ban đầu biểu diễn bằng hình vẽ) lên bảng, giáo viên nênchọn một vị trí thích hợp, dễ nhìn và đảm bảo không ảnh hưởng đến các phần ghichép khác Giữ nguyên các biểu tượng ban đầu này để đối chiếu và so sánh sau khihình thành kiến thức cho học sinh ở bước 5 của tiến trình phương pháp
Lưu ý khi so sánh, phân nhóm biểu tượng ban đầu của học sinh:
- Phân nhóm biểu tượng ban đầu chỉ mang tính tương đối
- Không nên đi quá sâu vào chi tiết vì càng chi tiết thì càng mất thời gian và cácbiểu tượng ban đầu của học sinh nếu không nhìn nhau để viết (hay vẽ) chắc chắn sẽ
có những chi tiết khác nhau
- Giáo viên nên gợi ý, định hướng cho học sinh thấy những điểm khác biệt giữa các
ý kiến liên quan đến các kiến thức chuẩn bị học
- Giáo viên, tùy tình hình thực tế ý kiến phát biểu, nhận xét của học sinh để quyếtđịnh phân nhóm biểu tượng ban đầu
Đôi khi có những đặc điểm khác biệt rõ rệt nhưng lại không liên quan đến kiến thứcbài học được học sinh nêu ra thì giáo viên nên khéo léo giải thích cho học sinh ýkiến đó rất thú vị nhưng trong khuôn khổ kiến thức của lớp mà các em đang họcchưa đề cập đến vấn đề đó bằng cách đại loại như: "Ý kiến của em K rất thú vịnhưng trong chương trình học ở lớp 4 của chúng ta chưa đề cập tới Các em sẽđược tìm hiểu ở các bậc học cao hơn (hay các lớp sau)" Nói như vậy nhưng giáoviên cũng nên ghi chú lên bảng để khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến và khôngquên đánh dấu đây là câu hỏi tạm thời chưa xét đến ở bài học này
Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu:
- Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh, đề nghị các em
đề xuất thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó Các
Trang 22câu hỏi có thể là: "Theo các em làm thế nào để chúng ta tìm câu trả lời cho các câuhỏi nói trên?"; "Bây giờ các em hãy suy nghĩ để tìm phương án giải quyết các câuhỏi mà lớp mình đặt ra!"…
- Tùy theo kiến thức hay vấn đề đặt ra trong câu hỏi mà học sinh có thể đề xuất cácphương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu Các phương án thí nghiệm mà học sinh
đề xuất có thể rất phức tạp và không thể thực hiện được nhưng giáo viên cũngkhông nên nhận xét tiêu cực để tránh làm học sinh ngại phát biểu Nếu ý kiến gâycười cho cả lớp, giáo viên cần điềm tĩnh giải thích cho cả lớp hiểu cần tôn trọng vàlắng nghe ý kiến của người khác
- Nếu ý kiến của học sinh nêu lên có ý đúng nhưng ngôn từ chưa chuẩn xác hoặcdiễn đạt chưa rõ thì giáo viên nên gợi ý và từng bước giúp học sinh hoàn thiện diễnđạt Giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinh khác chỉnh sửa cho rõ ý Đây làmột vấn đề quan trọng trong việc rèn luyện ngôn ngữ cho học sinh
- Trường hợp học sinh đưa ra ngay thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu đúng nhưng vẫncòn nhiều phương án khác khả thi thì giáo viên nên tiếp tục hỏi các học sinh khácđể làm phong phú phương án tìm câu trả lời Giáo viên có thể nhận xét trực tiếpnhưng yêu cầu các học sinh khác cho ý kiến về phương pháp mà học sinh đó nêu rathì tốt hơn Phương pháp BTNB khuyến khích học sinh tự đánh giá ý kiến của nhauhơn là của giáo viên nhận xét
- Sau khi học sinh đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, giáo viên nêunhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn.Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứuthích hợp, giáo viên có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà họcsinh chưa nghĩ ra
- Lưu ý rằng phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây được hiểu là cácphương án để tìm ra câu trả lời Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành -thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu… (xem them phần Các phương pháp thí nghiệm -tìm tòi nghiên cứu)
Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu
Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáoviên khéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để học sinh tiến hành Ưu tiên thựchiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hành thínghiệm trên vật thật có thể làm cho mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ.Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thật trước, sau
đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to nhữngđặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật (xem thêm phần Phương pháp quansát)
Bước 5: Kết luận, hợp thức hóa kiến thức
Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, các câu trả lời dần dầnđược giải quyết, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc
Trang 23chưa chuẩn xác một cách khoa học Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệthống lại để học sinh ghi vào vở coi như là kiến thức của bài học Trước khi kếtluận chung, giáo viên nên yêu cầu một vài ý kiến của học sinh cho kết luận sau khithực hiện thí nghiệm (rút ra kiến thức của bài học) Giáo viên khắc sâu kiến thứccho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu(biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức Như vậy từ những quan niệm banđầu sai lệch, sau quá trình thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, chính học sinh tự pháthiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt.Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổimột cách chủ động Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâukiến thức
Nếu có điều kiện, giáo viên có thể in sẵn tờ rời tóm tắt kiến thức của bài họcđể phát cho học sinh dán vào vở thí nghiệm hoặc tập hợp thành một tập riêng đểtránh mất thời gian ghi chép Vấn đề này hữu ích cho học sinh các lớp nhỏ tuổi (lớp
1, 2, 3) Đối với các lớp 4,5 thì giáo viên nên tập làm quen cho các em tự ghi chép,chỉ in tờ rời nếu kiến thức phức tạp và dài
2.3 một số kĩ thuật dạy học
Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong cáctình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học
Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần của PPDH
Ví dụ, trong phương pháp thảo luận nhóm có các kĩ thuật dạy học như: kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật các mảnh ghép
2.3.1 Kĩ thuật chia nhóm
Khi tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm, giáo viên nên sử dụng nhiềucách chia nhóm khác nhau để gây hứng thú cho học sinh, đồng thời tạo cơ hội chocác em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác nhau trong lớp Dưới đây là một
+ Yêu cầu các học sinh có cùng một số điểm danh hoặc cùng một màu, cùngmột loài hoa, cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm
- Chia nhóm theo hình ghép:
+ Giáo viên cắt một số bức hình ra thành 3,4,5… mảnh khác nhau, tùy theo sốhọc sinh muốn có là 3,4,5… học sinh trong mỗi nhóm Lưu ý là số bức hình cầntương ứng với số nhóm mà giáo viên muốn có
Trang 24+ Học sinh bốc ngẫu nhiên mỗi em một mảnh cắt.
+ Học sinh phải tìm các bạn có các mảnh cắt phù hợp để ghép lại một tấmhình hoàn chỉnh
+ Những học sinh có mảnh cắt của cùng một bức hình sẽ tạo thành một nhóm
- Chia nhóm theo sở thích: giáo viên có thể chia học sinh thành các nhóm có
cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện một công việc yêu thích hoặc biểuđạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức phù hợp với sở trường của các
em (nhóm họa sĩ, nhóm nhà thơ, nhóm hùng biện…)
- Chia nhóm theo tháng sinh: các học sinh có cùng tháng sinh sẽ làm thành
một nhóm Ngoài ra còn có nhiều cách chia nhóm khác như: nhóm cùng trình độ,nhóm hỗn hợp, nhóm theo giới tính…
2.3.2 Kĩ thuật giao nhiệm vụ
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể và rõ ràng:
+ Giao nhiệm vụ cho cá nhân, nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì?
+ Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách trình bày đánh giá sản phẩm như thế nào?
- Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ học sinh, thời gian,
không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị
2.3.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi
- Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên thường phải sửdụng câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức,
kỹ năng mới, để đánh giá kết quả học tập của học sinh Học sinh cũng phải sử dụngcác câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và các học sinh khác về những nội dungbài học chưa sáng tỏ
Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa giáo viên học sinh và học sinh - học sinh Kỹ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham giacủa học sinh càng nhiều, học sinh sẽ học tập tích cực hơn
- Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
+ Kích thích, dẫn dắt học sinh suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiệncho học sinh tham gia vào quá trình dạy học
+ Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng của học sinh và sự quan tâm hứng thúcủa học sinh đối với nội dung học tập
Trang 25+ Thu thập mở rộng thông tin, kiến thức.
- Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
+ Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
+ Đúng lúc, đúng chỗ
+ Phù hợp với trình độ học sinh
+ Kích thích suy nghĩ của học sinh
+ Phù hợp với thời gian thực tế
+ Sắp xếp theo trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
+ Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích
+ Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
2.3.4 Kĩ thuật “Khăn trải bàn”
- Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 - 6 người Mỗi nhóm sẽ cómột tờ giấy A0 đặt trên bàn như là một chiếc khăn trải bàn
- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần quanh, tiếp tục chia phần xungquanh thành 4 hoặc 6 phần tùy theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người)
- Mỗi thành viên sẽ suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình (về một vấn đề
nào đó mà giáo viên yêu cầu) vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình Sau
đó thảo luận nhóm, tìm ra ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “ khăn trải bàn”.
2.3.5 Kĩ thuật “Phòng tranh”
Kĩ thuật này có thể sử dụng cho các hoạt động cá nhân hoặc hoạt động nhóm
- Giáo viên nêu câu hỏi cho cả lớp hoặc cho các nhóm
- Mỗi thành viên (hoạt động cá nhân) hoặc các nhóm (hoạt động nhóm) pháchọa về ý tưởng về cách giải quyết vấn đề trên một tờ bìa và treo lên tường xungquanh lớp học như một triễn lãm tranh
- Học sinh cả lớp đi xem “triễn lãm” và có thể có ý kiến bình luận hoặc bổ
sung
- Cuối cùng tất cả các phương án giải quyết được tập hợp lại và tìm phương ántối ưu
2.3.6 Kĩ thuật “Bể cá”
- Trong kĩ thuật này, một nhóm được đóng vai như một “bể cá” và được một
nhóm nhỏ khác quan sát Các thành viên trong “bể cá” sẽ thảo luận và tích cực đưa
ra các ý kiến về một chủ đề Nhóm nhỏ còn lại chỉ đóng vai trò quan sát hành vitrong nhóm