1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc hiện nay

116 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 259,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là một khái niệm mới xuất hiện ở Đông Á, cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp của Nhật vào các nước ASEAN (đặc biệt là Thailand, Malaysia và Indonesia) giữa thập kỷ 80. Thuật ngữ này chỉ được sử dụng phổ biến ở Đông Á từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Ở Việt Nam, đây là một thuật ngữ còn khá mới mẻ và không nhiều người biết rõ về nó. Tuy nhiên, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam và được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam. Đó cũng là giải pháp hữu hiệu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống xã hội… Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam còn khá mới mẻ, trong khi nhu cầu về nguyên phụ liệu phục vụ trong nước ngày càng tăng cao, nhất là trong xu hướng cạnh tranh ngày càng lớn của thị trường. Đặc biệt, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đã đặt các doanh nghiệp phụ trợ của ta trước nhiều khó khăn trong việc tìm hướng đi thích hợp để phát triển. Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp trong nước và liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài (chủ yếu thông qua thu hút FDI) để phát triển lĩnh vực mới mẻ này là tất yếu khách quan. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, việc xây dựng một nền tảng kinh tế vững chắc, trong đó có sự phát triển của công nghiệp là vấn đề mang tầm chiến lược. Công nghiệp hỗ trợ chính là một trong những nền tảng của sự phát triển ấy. Những khó khăn, thuận lợi của Việt Nam để phát triển công nghiệp hỗ trợ hiện nay đã đặt ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi sự liên kết kinh tế hiệu quả giữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Trong đó, liên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài (chủ yếu thông qua vốn FDI) đã đóng góp nhiều cơ hội thuận lợi cho ngành công nghiệp hỗ trợ nước ta phát triển. Tái lập năm 1997, Vĩnh Phúc được đánh giá là tỉnh có nền kinh tế phát triển năng động và có năng lực cạnh tranh khá so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Trong xu thế phát triển chung của cả nước, Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực Đông Bắc bộ đã đề cao tầm quan trọng của việc phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng yếu, trong đó có công nghiệp hỗ trợ. Vĩnh Phúc là một tỉnh có lợi thế về vị trí địa lý, về mọi tiềm năng cho phát triển các ngành công nghiệp. Hiện nay, trên địa bàn của tỉnh đã hình thành nhiều khu công nghiệp lớn như: KCN Khai Quang, Bình Xuyên, Phúc Yên, Bá Hiến… Nhiều nhà máy, xí nghiệp của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài với quy mô lớn, nhỏ và vừa… hoạt động có hiệu quả như: Tập đoàn Prime, Honda, Toyota, Nissin, Piagio, giày da Vĩnh Phúc, … Phần lớn trong số đó hiện đang tiến hành sản xuất các thiết bị phụ trợ và là các doanh nghiệp liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài. Trong hướng đi trước mắt, Vĩnh Phúc xác định công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò hết sức quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, để phát triển được ngành công nghiệp còn khá mới mẻ này, đòi hỏi phải có sự liên kết chặt chẽ, hiệu quả giữa các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam trên địa bàn tỉnh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Điều đó đồng nghĩa với việc Vĩnh Phúc phải đề ra được những giải pháp hữu hiệu để giải quyết những vướng mắc cho phát triển ngành kinh tế đang ngày càng “nóng” này trên địa bàn tỉnh. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” là hết sức cần thiết.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là một khái niệm mới xuất hiện ở Đông Á,cùng với trào lưu đầu tư trực tiếp của Nhật vào các nước ASEAN (đặc biệt làThailand, Malaysia và Indonesia) giữa thập kỷ 80 Thuật ngữ này chỉ được sửdụng phổ biến ở Đông Á từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX

Ở Việt Nam, đây là một thuật ngữ còn khá mới mẻ và không nhiềungười biết rõ về nó Tuy nhiên, phát triển ngành công nghiệp phụ trợ là mộttrong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam và được kỳvọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam Đó cũng làgiải pháp hữu hiệu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia,góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống xã hội…

Công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam còn khá mới mẻ, trong khi nhu cầu vềnguyên phụ liệu phục vụ trong nước ngày càng tăng cao, nhất là trong xuhướng cạnh tranh ngày càng lớn của thị trường Đặc biệt, xu hướng hội nhậpkinh tế quốc tế hiện nay đã đặt các doanh nghiệp phụ trợ của ta trước nhiềukhó khăn trong việc tìm hướng đi thích hợp để phát triển Liên kết kinh tếgiữa các doanh nghiệp trong nước và liên kết với các doanh nghiệp nướcngoài (chủ yếu thông qua thu hút FDI) để phát triển lĩnh vực mới mẻ này làtất yếu khách quan

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, việcxây dựng một nền tảng kinh tế vững chắc, trong đó có sự phát triển của côngnghiệp là vấn đề mang tầm chiến lược Công nghiệp hỗ trợ chính là một trongnhững nền tảng của sự phát triển ấy

Những khó khăn, thuận lợi của Việt Nam để phát triển công nghiệp hỗtrợ hiện nay đã đặt ra yêu cầu cấp bách, đòi hỏi sự liên kết kinh tế hiệu quảgiữa các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài Trong đó,

Trang 2

liên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài (chủ yếu thông qua vốnFDI) đã đóng góp nhiều cơ hội thuận lợi cho ngành công nghiệp hỗ trợ nước

ta phát triển

Tái lập năm 1997, Vĩnh Phúc được đánh giá là tỉnh có nền kinh tế pháttriển năng động và có năng lực cạnh tranh khá so với các tỉnh, thành phố kháctrong cả nước Trong xu thế phát triển chung của cả nước, Vĩnh Phúc là mộttrong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực Đông Bắc bộ đã

đề cao tầm quan trọng của việc phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế trọngyếu, trong đó có công nghiệp hỗ trợ

Vĩnh Phúc là một tỉnh có lợi thế về vị trí địa lý, về mọi tiềm năng chophát triển các ngành công nghiệp Hiện nay, trên địa bàn của tỉnh đã hìnhthành nhiều khu công nghiệp lớn như: KCN Khai Quang, Bình Xuyên, PhúcYên, Bá Hiến… Nhiều nhà máy, xí nghiệp của các tập đoàn kinh tế, cácdoanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài với quy mô lớn,nhỏ và vừa… hoạt động có hiệu quả như: Tập đoàn Prime, Honda, Toyota,Nissin, Piagio, giày da Vĩnh Phúc, … Phần lớn trong số đó hiện đang tiếnhành sản xuất các thiết bị phụ trợ và là các doanh nghiệp liên kết kinh tế vớidoanh nghiệp nước ngoài

Trong hướng đi trước mắt, Vĩnh Phúc xác định công nghiệp hỗ trợ đóngvai trò hết sức quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tuy nhiên, đểphát triển được ngành công nghiệp còn khá mới mẻ này, đòi hỏi phải có sự liênkết chặt chẽ, hiệu quả giữa các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhâncủa Việt Nam trên địa bàn tỉnh với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài Điều đó đồng nghĩa với việc Vĩnh Phúc phải đề ra được những giảipháp hữu hiệu để giải quyết những vướng mắc cho phát triển ngành kinh tế

đang ngày càng “nóng” này trên địa bàn tỉnh Do vậy, việc nghiên cứu đề tài:

“Liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” là hết sức cần thiết.

Trang 3

2 Tình hình nghiên cứu.

Liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp

hỗ trợ là vấn đề đang được nhiều người quan tâm Trên cả nước đã có rấtnhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố có nội dungliên quan đến những vấn đề này như:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS TSVũ Sỹ Tuân (2008)

đã phân tích vai trò, tác động của doanh nghiệp vừa và nhỏ với việc phát triển

CNHT của Việt Nam.

- Nhận định của TS Đỗ Hương Lan và Ths Nguyễn Tường Anh(2009) trong Kỷ yếu Hội thảo phát triển CNHT – Kinh nghiệm của Nhật Bản

và một số nước Châu Á tại Hà Nội về Phát triển CNHT ở Việt Nam từ bài

học kinh nghiệm của các nước trong khu vực.

- Luận án tiến sỹ kinh tế của TS Nguyễn Thị Thìn (2011), đề cập đếntác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với việc nâng cao năng lực cạnhtranh của nền kinh tế Việt Nam

- Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Giang Nam – Đại học Ngoại

thương về Mối quan hệ giữa phát triển CNHT và thu hút FDI ở Việt Nam.

Tác giả đã nêu lên mối quan hệ hai chiều giữa phát triển CNHT và thu hútFDI ở Việt Nam Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm đem lại hiệu quả caotrong thu hút FDI cho phát triển CNHT, đồng thời tăng cường liên kết kinh tếtrong và ngoài nước để hỗ trợ nhân lực, thúc đẩy CNHT phát triển

- Tác phẩm Đông Á đổi mới công nghệ để tham gia vào mạng lưới sản

xuất toàn cầu (2007) của PGS.TS Trần Văn Tùng đã phân tích chi tiết về sự

phát triển của các nước Đông Á trong công nghiệp hóa, đặc biệt nhấn mạnhđến quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của các quốc gia nàythông qua việc liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài

Trang 4

- Tác phẩm Mạng lưới sản xuất toàn cầu và sự tham gia của các ngành

công nghiệp Việt Nam do TS Cù Chí Lợi, Viện Nghiên cứu Châu Mỹ làm

chủ biên đã đề cập đến sự phát triển của các mạng sản xuất toàn cầu và vai tròcủa nó đối với tiến trình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển; đồngthời nêu ra khả năng liên kết mạng khu vực và toàn cầu của công nghiệp ViệtNam trong tiến trình hội nhập quốc tế

- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Phương Thảo (2008), trường

Đại học Ngoại thương về Phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm tăng cường thu

hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam.

Nhìn chung, các công trình khoa học, các bài viết, các tác phẩm nêutrên đã đề cập khá sâu sắc về các hoạt động của ngành công nghiệp hỗ trợ ởViệt Nam, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ vềliên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một là, khái quát hóa những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận và thực

tiễn về ngành công nghiệp hỗ trợ

- Hai là, phân tích thực trạng ngành công nghiệp hỗ trợ và hoạt động

liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợtrên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua

Trang 5

- Ba là, đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh liên kết kinh tế với doanh

nghiệp nước ngoài để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnhVĩnh Phúc trong giai đoạn từ nay đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu sự liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với doanhnghiệp nội địa để phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là trên địa bàn tỉnh Vĩnh

Phúc

- Về thời gian: chủ yếu là từ năm 2005 đến 2013, có tham khảo số liệu

của giai đoạn trước đó để so sánh

- Về nội dung: tập trung nghiên cứu hoạt động của ngành công nghiệp hỗ

trợ và hoạt động liên kết kinh tế với các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI) để phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước và thựchiện quán triệt quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước củaĐảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về liên kết với doanh nghiệp nước ngoài, về ngànhcông nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam và ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng kết hợpcác phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp duy vật lịch sử và duy vật biện chứng

- Phương pháp khái quát hóa

Trang 6

- Phương pháp phân tích – tổng hợp

- Phương pháp thống kê – so sánh

- Phương pháp mô hình hóa

- Phương pháp logic lịch sử

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học

6 Ý nghĩa của luận văn

- Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ngành công

nghiệp hỗ trợ

- Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của ngành công

nghiệp hỗ trợ và sự liên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài để pháttriển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

- Ba là, đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh liên kết kinh tế với doanh

nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở khoa học về liên kết với doanh nghiệp nước ngoài

để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

- Chương 2: Thực trạng liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài

để phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

- Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước

ngoài để phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LIÊN KẾT VỚI DOANH NGHIỆP

NƯỚC NGOÀI ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

1.1 Khái quát chung về ngành công nghiệp hỗ trợ

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công nghiệp hỗ trợ

1.1.1.1 Khái niệm

Trước hết là khái niệm công nghiệp hỗ trợ của một số nước trên thế giới:

Thuật ngữ công nghiệp hỗ trợ (CNHT – supporting industry) đã được

sử dụng rất rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước côngnghiệp phát triển, nhưng khái niệm về CNHT vẫn chưa có sự thống nhất

Thuật ngữ CNHT được cho là có nguồn gốc từ Nhật Bản, sau này được

du nhập và sử dụng rộng rãi vào các nước châu Âu, châu Mỹ Tài liệu chính

thức sử dụng thuật ngữ này là “Sách trắng về Hợp tác kinh tế” năm 1985 của

Bộ Công nghiệp và Thương mại quốc tế Nhật Bản (MITI) đã chính thức đưa

ra khái niệm CNHT, theo đó, CNHT được dùng để chỉ các doanh nghiệp nhỏ

và vừa (SMEs) có đóng góp trong việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ởcác nước châu Á trong trung và dài hạn hay các SMEs sản xuất linh phụ kiện.MITI đã đưa ra khái niệm CNHT với mục đích chính là nhằm thúc đẩy quátrình công nghiệp hóa và phát triển các SMEs ở các nước ASEAN, đặc biệt làASEAN 4 Sau đó, năm 1993, trong khuôn khổ Kế hoạch phát triển châu Ámới (New AID plan), Nhật Bản đã giới thiệu thuật ngữ CNHT tới các nướcchâu Á, lúc đó, CNHT được định nghĩa là các ngành công nghiệp cung cấpnhững gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hóa cơ bảncho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử) Địnhnghĩa này đã mở rộng phạm vi của ngành CNHT, từ các SMEs thành cácngành công nghiệp sản xuất hàng hóa trung gian và hàng hóa tư bản, tránh

Trang 8

việc đồng nhất CNHT với SMEs như ở một số nước châu Âu và châu Mỹ.Hơn nữa, phạm vi của CNHT đã tính tới cả nguyên liệu thô và nó cũng liênquan nhiều hơn tới sản xuất theo kiểu lắp ráp, nhấn mạnh vào các ngành côngnghiệp lắp ráp chính: ô tô, điện và điện tử

Ngoài ra, trên thế giới còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CNHT,mỗi khái niệm ở tùy từng nước lại có sự chênh lệch tương đối trong phạm vitừng ngành CNHT Mỗi khái niệm được đưa ra đều nhằm mục đích đảm bảo

sự tương thích giữa định nghĩa đó với mục tiêu của chính sách của mỗi quốcgia Các giáo sư trường Đại học Waseda, Nhật Bản cho rằng CNHT là kháiniệm để chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việcsản xuất các thành phẩm chính, cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng,sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, … và cũng có thể bao gồm cảnhững sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế

Khái niệm do giáo sư Michael E.Porter của Đại học Havard đưa ra vàonăm 1990 về “Công nghiệp liên quan và hỗ trợ”, cho rằng CNHT thườngđược đánh giá là một trong 4 yếu tố tạo nên lợi thế so sánh của một quốc gia.CNHT tạo ra lợi thế cho các ngành công nghiệp về sau bởi chúng cung cấpnhiều loại đầu vào rất quan trọng nhằm tạo ra sự đổi mới trong sản xuất và tạo

ra những thuận lợi cho việc quốc tế hóa sản phẩm

Bộ năng lượng Mỹ thì cho rằng CNHT là những ngành công nghiệpcung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản phẩm trước khichúng được đưa ra thị trường

Thuật ngữ “công nghiệp phụ thuộc” được sử dụng rộng rãi tại Ấn Độ từđầu những năm 1950 Thuật ngữ này được định nghĩa trong Luật (Phát triển

và Điều chỉnh) Công nghiệp năm 1951 là “hoạt động trong lĩnh vực côngnghiệp có liên quan đến hoặc có dự định liên quan đến việc chế tạo hoặc sản

Trang 9

xuất linh kiện, phụ tùng, cụm linh kiện, công cụ hoặc hàng hóa trung gian,hoặc cung cấp dịch vụ,…”

Còn ở Thái Lan, CNHT được hiểu là Các doanh nghiệp sản xuất linhphụ kiện được sử dụng trong các công đoạn lắp ráp cuối cùng của các ngànhcông nghiệp sản xuất ô tô, máy móc và điện tử

Như vậy, rất nhiều định nghĩa về CNHT đã được đưa ra trên thế giới.Mặc dù có sự khác nhau tương đối trong phạm vi ngành nhưng các khái niệm

về CNHT đều có nhấn mạnh tầm quan trọng của ngành CNHT – một ngànhsản xuất đầu vào cho thành phẩm Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam hiệnnay khó có thể áp dụng bất kỳ khái niệm sẵn có nào về CNHT của nước ngoài

vì sự khác biệt về điều kiện kinh tế cũng như trình độ phát triển Việt Namcần phải lựa chọn cho mình một định nghĩa phù hợp nhất với điều kiện kinh tế

xã hội hiện nay

Khái niệm công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam:

Ở Việt Nam, thuật ngữ CNHT được chính thức sử dụng khá muộn, từnăm 2003 khi chúng ta đang chuẩn bị tiến tới kí kết “Sáng kiến chung ViệtNam – Nhật Bản” giai đoạn I (2003 – 2005)

Trước đây, trong thời kỳ kinh tế tập trung, mặc dù ngành CNHT cũng

có một vai trò hết sức quan trọng trong chính sách phát triển công nghiệpnặng của Việt Nam, nhưng Việt Nam lại không chú ý tới khái niệm CNHT vìlúc này các linh phụ kiện dùng cho các sản phẩm cuối cùng của ngành côngnghiệp nặng (như máy nông nghiệp, xe đạp, ô tô, …) đều được sản xuất trongcùng một doanh nghiệp theo cơ cấu tích hợp chiều dọc Tới khi thuật ngữCNHT được giới thiệu rộng rãi ở các nước châu Á tại các cuộc họp của Tổchức Năng suất châu Á (APO – Asian Productivity Organization) và Diễn đànhợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) thì Việt Nam lại đang

Trang 10

loay hoay trong giai đoạn đầu của quá trình Đổi mới, cho nên một lần nữaViệt Nam lại không dành sự quan tâm thích đáng cho ngành công nghiệp này.

Đến giữa những năm 1990, khi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăngnhanh, đặc biệt là trong các ngành sản xuất lắp ráp, các nhà đầu tư nước ngoài

đã vấp phải vấn đề rất lớn về nguồn cung cấp các sản phẩm đầu vào cho họ.Chính vì thế, các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật Bản

đã nêu vấn đề này tới Chính phủ Việt Nam và đề nghị Chính phủ có nhữngbiện pháp thích hợp để phát triển CNHT, giải quyết vấn đề cho các nhà sảnxuất lắp ráp Chính vì vậy, “Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản” đã đượcchính thức ký kết vào tháng 4 năm 2003, theo Bản kế hoạch hành động triểnkhai sáng kiến chung đã được thông qua sau đó gồm 44 hạng mục lớn, hạngmục đầu tiên chính là nhằm phát triển CNHT ở Việt Nam

Theo Quyết định số 12/2011/QĐ-Ttg, ngày 22/2/2011 của Thủ tướng,

CNHT được hiểu: “Là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng

linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”.

Công nghiệp hỗ trợ là một khái niệm rộng, có tính chất tương đối Cáckhái niệm có thể khác nhau, tuy nhiên phần lớn các khái niệm đều hàm chứacác điểm chung như sau:

Thứ nhất, đó là việc cung ứng các linh phụ kiện cho mục đích sản xuất

sản phẩm cuối cùng

Thứ hai, các ngành CNHT bao gồm các công đoạn chủ yếu để sản xuất

các linh kiện kim loại, nhựa và cao su, điện và điện tử, nhằm phục vụ cácngành công nghiệp lắp ráp và chế tạo

Thứ ba, việc cung ứng này chủ yếu được đáp ứng bởi hệ thống doanh

nghiệp nhỏ và vừa có trình độ công nghệ cao, tạo ra những sản phẩm có độ

Trang 11

chính xác lớn, thực hiện các cam kết hợp đồng với khách hàng một cáchchuẩn mực.

Thứ tư, khách hàng cuối cùng của các ngành CNHT là nhà lắp ráp Do

vậy, thị trường của CNHT không rộng như sản xuất sản phẩm cho người tiêudùng cuối cùng

1.1.1.2.Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ

Một là, CNHT có hiệu quả tăng dần theo quy mô Có nghĩa là nếu có

một sự gia tăng đầu vào theo tỷ lệ nào đó sẽ dẫn đến sự gia tăng đầu ra (sảnlượng) với tỷ lệ cao hơn Các ngành CNHT như: tạo khuôn mẫu, gia công kimloại, ép nhựa… cần nhiều vốn để đầu tư vào máy móc đắt tiền Hơn nữa,những máy móc này lại không thể chia nhỏ được (tức là không thể mua từngphần máy móc được) Một khi đã đầu tư lắp đặt hệ thống máy móc thì chi phívốn cho nhà máy sẽ vẫn luôn ở một mức cố định cho dù hệ thống này đượcvận hành liên tục 24 giờ/ ngày và 365 ngày/ năm, hay chỉ vận hành trong mộtkhoảng thời gian nhất định Do vậy, chi phí vốn đơn vị sẽ tỷ lệ nghịch vớilượng sản phẩm đầu ra Vì vậy, CNHT là một ngành có hiệu quả tăng dầntheo quy mô, và để một doanh nghiệp hỗ trợ có thể tồn tại thì sản xuất phảiđạt đến một mức sản lượng nhất định

Hai là, lao động làm việc trong ngành CNHT thường đòi hỏi chuyên môn cao hơn trong công nghiệp lắp ráp Nếu như các doanh nghiệp lắp ráp sử

dụng nhiều nhân công không đòi hỏi trình độ cao để lắp ráp các bộ phận, thìlao động ở các doanh nghiệp CNHT phần lớn đòi hỏi có trình độ cao hơn,thường là các nhà vận hành máy móc, kiểm soát viên về chất lượng sản phẩm,các kỹ thuật viên và các kỹ sư Vì máy móc trong CNHT phức tạp hơn nhiều

và các chi tiết, phụ kiện càng tinh xảo, phức tạp thì máy móc đòi hỏi côngnghệ càng phải hiện đại, và người vận hành càng cần phải có trình độ để cókhả năng vận hành Đây là một điểm khó khăn cho các nước đang phát triển

Trang 12

Các nước này không thể có đủ lao động có trình độ để đáp ứng cho các doanhnghiệp hỗ trợ.

Ba là, ngành CNHT mang tính chuyên môn hóa sâu và hợp tác rộng rãi.

Một doanh nghiệp hỗ trợ không thể ôm đồm thực hiện tất cả các khâutrong quá trình sản xuất từ sản xuất nguyên vật liệu, máy móc, công cụ đếnlắp ráp bán thành phẩm và thành phẩm, hay làm nhiều loại sản phẩm cùngmột lúc Thông thường, một doanh nghiệp hỗ trợ chỉ tập trung chuyên mônhóa vào một khâu mà mình có khả năng làm tốt nhất Và cùng với quá trìnhphân công lao đọng ngày càng sâu sắc, các doanh nghiệp sản xuất các sảnphẩm hỗ trợ không chỉ chuyên môn hóa theo từng sản phẩm mà còn theo từngchi tiết, từng bộ phận của sản phẩm Việc chuyên môn hóa giúp nâng caonăng suất, giảm giá thành và cũng giúp ích cho việc đầu tư máy móc, côngnghệ hiện đại, áp dụng các dây chuyền sản xuất Chuyên môn hóa sâu là cơ sởdẫn tới nhu cầu phải có sự hợp tác rộng răi giữa các xí nghiệp để tạo ra sảnphẩm cuối cùng Các linh kiện, phụ kiện để có thể tích hợp được với nhau thìcần phải tuân theo những quy chuẩn chất lượng chung Các cơ sở sản xuấtphải có mối quan hệ với nhau về mặt kỹ thuật và công nghệ

Bốn là, các doanh nghiệp hỗ trợ thường là các công ty nhỏ và vừa

Các công ty nhỏ và vừa (SMEs) có khả năng chuyên môn hóa cao Cáccông ty này chỉ có thể đủ vốn để đầu tư chuyên môn hóa sản xuất một loại sảnphẩm hoặc một vài loại chi tiết nhất định, chứ không đủ tiềm lực để sản xuấtnhiều sản phẩm hay chi tiết cùng một lúc Trên thế giới, các ngành côngnghiệp hỗ trợ thường được tiến hành tại các công ty nhỏ và vừa Sự hoạt độngcủa các SMEs này luôn gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của cáchãng lớn và có mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế, kỹ thuật với các hãng lớn Khicác mối liên hệ này trở nên thường xuyên và ổn định chúng trở thành vệ tinhcủa các hãng lớn

Trang 13

Năm là, các khách hàng của ngành CNHT có thể ở trong và ngoài nước Bên cạnh việc cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp trong nước, đối

với các nước có ngành CNHT phát triển, sản phẩm của ngành nay có thể xuấtkhẩu sang các nước khác, cung cấp cho các công ty lắp ráp hay mạng lưới các

xí nghiệp chi nhánh của các TNCs nằm ở nước ngoài Để thực hiện điều này,các sản phẩm phải đảm bảo được tiêu chuẩn xuất khẩu, đáp ứng các yêu cầucủa nhà lắp ráp nước ngoài

1.1.1.3 Vai trò của CNHT trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mọi sự chuyểnđổi của một nền kinh tế phần lớn phụ thuộc vào sự phát triển của công nghiệp

và khoa học công nghệ Do đó, sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ cũngđóng góp vào quá trình phát triển đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa Vai trò của ngành CNHT thể hiện rõ ở một số khíacạnh sau:

Một là, công nghiệp hỗ trợ phát triển giúp tăng cường thu hút vốn FDI

Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, CNHT phát triển là một trongnhững tiêu chí lựa chọn môi trường đầu tư tiềm năng Gần đây, chi phí nhâncông rẻ không còn là lợi thế lớn của các nước tiếp nhận đầu tư, mà chínhCNHT phát triển mới là điều hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Theo điềutra của JETRO tiến hành tại các cơ sở lắp ráp cơ khí của các nhà đầu tư NhậtBản ở Đông Nam Á, chi phí linh kiện, phụ tùng chiếm đến 70 – 90% giáthành sản phẩm, chi phí nhân công chỉ chiếm khoảng 10% Chính vì thế, dùmột nước có ưu thế về lao động nhưng CNHT không phát triển thì môi trườngđầu tư cũng trở nên kém hấp dẫn Phát triển CNHT là điều kiện để thu hútnguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

Trang 14

Hơn nữa, CNHT phát triển thu hút được nhiều vốn FDI cũng giúp nướcnhận đầu tư phát triển công nghệ, kỹ năng quản lý cũng như đào tạo nhân lựcbởi vì ngoài nguồn vốn tư bản, nhà đầu tư cũng tiến hành chuyển giao côngnghệ hiện đại và kỹ năng lao động và quản lý chuyên nghiệp sang các nướctiếp nhận đầu tư Như vậy, CNHT phát triển sẽ góp phần quan trọng trong đổimới sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm của một quốc gia.Việc phát triển CNHT dẫn tới thu hút nhiều vốn FDI sẽ dẫn tới sự phát triểntoàn diện trong nền kinh tế của một quốc gia.

Hai là, công nghiệp hỗ trợ phát triển đẩy mạnh quá trình chuyên môn hóa và ứng dụng công nghệ hiện đại trong sản xuất

Thực tiễn ở các nước công nghiệp hiện đại đã cho thấy, chuyên mônhóa giúp tận dụng tối đa lợi thế so sánh của doanh nghiệp, quốc gia, từ đóthúc đẩy nền công nghiệp ngày càng phát triển theo hướng có lợi Khi doanhnghiệp phải thực hiện tất cả các công đoạn trong quá trình sản xuất, nguồn lực

sẽ bị chia nhỏ, từ đó không có điều kiện phát huy khả năng nổi trội nhất củamình, hiệu quả sản xuất sẽ bị giảm sút Phát triển CNHT giúp các doanhnghiệp không phải thực hiện tất cả các khâu từ sản xuất nguyên vật liệu, máymóc, công cụ, lắp ráp… Với sự phát triển của CNHT, các doanh nghiệp chỉcần tập trung chuyên môn hóa vào một khâu mà mình có khả năng làm tốtnhất và từ đó sẽ đầu tư tiền của, công sức nâng cao hiệu quả, chất lượng củasản phẩm mình làm ra

Hơn nữa, với sự phát triển của các doanh nghiệp chuyên sản xuất linhkiện, phụ tùng, tư liệu sản xuất đầu vào,… các doanh nghiệp lắp ráp, chế tạosản phẩm cuối cùng sẽ không phải lo sản xuất hay nhập khẩu các sản phẩmđầu vào Các doanh nghiệp hỗ trợ sẽ tập trung nghiên cứu, thiết kế để sản xuất

ra các sản phẩm đầu vào ngày càng đạt các tiêu chuẩn chất lượng tốt hơn,năng suất hơn đáp ứng cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp Quá trình tạo

Trang 15

ra thành phẩm nhờ đó nhanh hơn, sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn, hiệu quảkinh tế nhờ đó cũng tăng lên Việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất

sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm hỗ trợ cũng như sản phẩm cuốicùng tại một quốc gia

Ba là, công nghiệp hỗ trợ phát triển tạo công ăn việc làm và cải thiện

cơ cấu lao động theo hướng tích cực:

Các quốc gia có nền CNHT kém phát triển thường là những nước cónguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng lao động thấp Vì thế mà các doanhnghiệp trong nước vẫn phải nhập khẩu các sản phẩm CNHT để tiến hành sảnxuất và xã hội thì vẫn tồn tại một số lượng lớn lao động không có công ănviệc làm CNHT phát triển có vai trò tạo thêm việc làm cho người lao độngtrong lĩnh vực công nghiệp CNHT phát triển khiến nhu cầu tuyển dụng củacác doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng tăng cao, những người lao động ởcác làng quê muốn có công ăn việc làm phải tham gia các lớp học nghề, cáctrường trung cấp hay cao đẳng, đại học để bắt kịp với nhu cầu tuyển dụng củacác doanh nghiệp Với mức bao phủ rộng các ngành công nghiệp, số lượngviệc làm mà CNHT tạo ra sẽ là không nhỏ Môi trường đầu tư sẽ trở nên hấpdẫn hơn nhờ CNHT phát triển, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cũngmuốn tuyển dụng thêm lao động phổ thông trong nước để giảm chi phí nhâncông CNHT càng phát triển đòi hỏi chất lượng lao động cũng phải ngày mộtnâng cao để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của nhà sản xuất Một bộ phận cácdoanh nghiệp sẽ thực hiện chủ trương đào tạo tay nghề cho nhân công đểnâng cao chất lượng sản phẩm Cơ cấu lao động nhờ đó ngày càng phát triểntheo hướng tích cực

Bốn là, ông nghiệp hỗ trợ giúp phát triển ngành công nghiệp nội địa

CNHT đáp ứng được nhu cầu sản phẩm đầu vào chất lượng cho cácngành công nghiệp sản xuất lắp ráp sẽ giúp phát triển ngành công nghiệp nội

Trang 16

địa nói chung Có thể thấy, việc phát triển ngành CNHT trong nước sẽ tạo đàcho các ngành công nghiệp khác phát triển do có sự chuyên môn hóa trongkhâu cung cấp nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện phục vụ sản xuất Hơn nữa,các sản phẩm cuối cùng được giảm giá thành do việc cung cấp nguyên vậtliệu trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn Mặt khác, chất lượng sản phẩmcũng ngày một nâng cao phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng một khingành CNHT được chú trọng phát triển.

Để minh họa cho vai trò này chúng ta có thể nhìn vào lịch sử phát triểnkinh tế của Nhật Bản Trong giai đoạn phát triển thần kì của mình, Nhật Bản

đã xây dựng cơ cấu kinh tế “hai tầng”, chú trọng ngay từ đầu khâu cung ứngnguyên vật liệu đầu vào, đây chính là nền tảng của việc hình thành nền CNHTsau này Thời kỳ này Nhật Bản đã thành lập các doanh nghiệp vệ tinh vừa vànhỏ trong nước có khả năng cung cấp và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn nhữngsản phẩm cấp thấp hơn hoặc những sản phẩm sơ chế,… để có thể tạo ra thếchủ động trong sản xuất của các doanh nghiệp này

Năm là, công nghiệp hỗ trợ phát triển tạo tiền đề cho phát triển bền vững

CNHT là một mắt xích quan trọng, không thể thiếu trong hệ thống sảnxuất hiện đại Một hệ thống sản xuất hiện đại bao gồm nhiều quá trình: sảnxuất nguyên vật liệu, máy móc, công cụ, các bộ phận, quá trình lắp ráp bánthành phẩm và thành phẩm,… Trong đó, CNHT thực hiện công đoạn sản xuấtcác bộ phận công cụ, máy móc chất lượng cao hỗ trợ trực tiếp quá trình lắpráp, sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Như vậy, CNHT phát triển mới tạo nênđược sự bền vững trong hệ thống sản xuất mà nếu không phát triển CNHT thìnền công nghiệp của một quốc gia sẽ mãi chỉ là gia công, lắp ráp đơn thuần,phải phụ thuộc nguyên liệu đầu vào nhập khẩu từ nước ngoài, khi đó giá trịgia tăng cho sản phẩm cuối cùng không cao, thu nhập thực tế của người lao

Trang 17

động thấp, không tương xứng với công sức lao động bỏ ra CNHT cũng giúpcho các ngành công nghiệp chủ đạo sẽ chủ động trong quá trình sản xuất,nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm của mình, từ đó thúc đẩy quátrình phát triển kinh tế đất nước Đây chính là cơ sở cho sự phát triển bềnvững trong tương lai.

1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ

1.1.2.1 Quy mô cầu của thị trường.

Thực tế đã phản ánh rằng, so với ngành công nghiệp lắp ráp đòi hỏi laođộng số lượng lớn thì ngành CNHT lại yêu cầu vốn lớn, máy móc kỹ thuậthiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao Đặc điểm của CNHT là loại hìnhcông nghiệp có hiệu quả tăng dần theo quy mô Để giảm thiểu chi phí trênmột đơn vị sản phẩm, các doanh nghiệp phải tăng quy mô và công suất hoạtđộng Sản phẩm của CNHT là các sản phẩm máy móc, linh kiện, phụ tùngkhó có thể được làm thủ công Các chi tiết càng tinh xảo, phức tạp và chi phícàng cao thì sau khi đã đầu tư, doanh nghiệp càng sản xuất nhiều, tỉ lệ giữachi phí cố định trên một sản phẩm càng giảm xuống, và điều này mang lạihiệu quả, giúp mau chóng bù đắp được chi phí đầu tư ban đầu Đây chính là lý

do tại sao các nhà sản xuất linh, phụ kiện cần được đảm bảo dung lượng thịtrường phải đủ lớn (hoặc dung lượng thị trường sẽ lớn trong tương lai gần)trước khi họ quyết định đầu tư vào Nếu một quy mô cầu đủ lớn, sẽ là nhân tốthuận lợi giúp phát triển CNHT Đây là một thách thức đối với doanh nghiệpvừa và nhỏ ở Việt Nam Do khan hiếm về vốn nên không được đảm bảo đầu

ra, doanh nghiệp không thể mạnh dạn bỏ ra số tiền lớn để đầu tư mạo hiểm

Trường hợp dung lượng thị trường trong nước hạn hẹp, nhưng lại có thểtìm kiếm được thị trường xuất khẩu, thì CNHT vẫn có thể phát triển Đối vớicác nhà cung cấp linh kiện, điều này có thể tiến hành trực tiếp thông qua việc

Trang 18

xuất khẩu linh kiện hoặc tiến hành gián tiếp thông qua việc cung cấp linh kiệncho các nhà lắp ráp nội địa có khả năng xuất khẩu các sản phẩm cuối cùng.

1.1.2.2 Kênh thông tin của ngành CNHT.

Trên bất cứ thị trường nào cũng xảy ra tình trạng thông tin bất cân xứng,Đặc biệt trong ngành CNHT, việc chia sẻ và nắm bắt thông tin giữa các nhàcung cấp sản phẩm CNHT và các doanh nghiệp lắp ráp chính là yếu tố quyếtđịnh Kênh thông tin tốt có thể giúp các nhà lắp ráp và các doanh nghiệp hỗ trợ

có thể tìm đến nhau Doanh nghiệp hỗ trợ biết được các nhà lắp ráp đang cónhu cầu gì, số lượng sản phẩm là bao nhiêu, chất lượng như thế nào và cácdoanh nghiệp lắp ráp có thể biết được doanh nghiệp cung cấp mà họ có thể hợptác đang ở đâu Và kênh thông tin cũng giúp cho các doanh nghiệp tiếp cậnđược với các nguồn vốn để có thể mua sắm máy móc và trang thiết bị doanhnghiệp Tình trạng thiếu thông tin sẽ cản trở giao dịch giữa nhà sản xuất CNHT

và doanh nghiệp lắp ráp, nhất là doanh nghiệp FDI, khi họ phải tiêu tốn nhiềuthời gian và tiền bạc vào việc tìm kiếm các nhà cung ứng nội địa, các nhà lắpráp FDI sẽ không muốn đầu tư vào quốc gia đó Như vậy, CNHT sẽ không cóđiều kiện phát triển Trường hợp ngược lại, khi các nhà cung cấp nội địa muốncung ứng cho các nhà lắp ráp nhưng do chủ yếu là các doanh nghiệp vừa vànhỏ nên mức độ tiếp cận thông tin còn hạn chế, dẫn đến cung không gặp đượccầu, tất yếu ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành CNHT

Bên cạnh đó, kênh thông tin giữa Chính phủ và cộng đồng doanhnghiệp được thực hiện một cách hiệu quả sẽ tạo điều kiện tốt cho việc hoạchđịnh chính sách dành cho CNHT, cũng như sự phối kết hợp giữa các bộ ngànhliên quan Quá trình hoạch định chính sách cần có sự tham gia của nhữngcông ty đóng vai trò chủ chốt, đặc biệt là các công ty tư nhân và các doanhnghiệp FDI Nếu không có các kênh thông tin hiệu quả để trao đổi thông tin

và các mối quan tâm giữa cộng đồng doanh nghiệp và các nhà hoạch định

Trang 19

chính sách thì chính sách được hoạch định sẽ không hiệu quả, thiết thực vàkhó có thể thúc đẩy sự phát triển của ngành CNHT.

1.1.2.3 Sự tương đồng về năng lực công nghệ trong liên kết.

Hiện nay, sự chênh lệch về tiêu chuẩn, chất lượng giữa nhà cung cấpnội địa và doanh nghiệp lắp ráp là một yếu tố cản trở sự phát triển củaCNHT Trong khi các doanh nghiệp cung cấp phàn nàn về việc các nhà lắpráp đòi hỏi và yêu cầu quá khắt khe vê tiêu chuẩn cũng như chất lượng củasản phẩm thì các nhà lắp ráp lại cho rằng các sản phẩm của doanh nghiệptrong nước có chất lượng thấp, không thể sử dụng trong quá trình lắp ráp, dẫnđến tình huống nhà lắp ráp phải tìm đến nguồn cung ứng từ nước ngoài, tuygiá thành đắt nhưng tiêu chuẩn lại hoàn toàn phù hợp Còn doanh nghiệp sảnxuất trong nước thì không có nguồn tiêu thụ nên càng không dám đầu tư vàomáy móc hiện đại để có thể sản xuất được những sản phẩm có chất lượng cao

Vì thế, ngành CNHT trong nước không có điều kiện để phát triển Việc xâydựng những tiêu chuẩn công nghiệp, các trung tâm kiểm định chất lượng làrất cần thiết vì nó giúp các doanh nghiệp hỗ trợ có thể biết được vị trí chấtlượng sản phẩm của mình đang đứng ở đâu, có được định hướng trong pháttriển và đầu tư hay không Các nhà lắp ráp cũng có thể dễ dàng hơn trong việcmua sắm các sản phẩm hỗ trợ, kiểm tra chất lượng sản phẩm và lựa chọn nhàcung cấp

1.1.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực.

Ngành CNHT là ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao Cónhận định rằng: nguồn nhân lực còn là yếu tố quan trọng hơn cả máy móchiện đại Vì bất kỳ quốc gia nào cũng có thể sở hữu dây chuyền máy móccông nghệ hiện đại, nếu chỉ dựa vào chúng th́ hoàn toàn không thể tạo ra đượckhả năng cạnh tranh quốc tế Sự thành công hay thất bại của nền CNHT củamột quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ chuyên gia, kỹ sư và những

Trang 20

người trực tiếp vận hành máy móc, phụ thuộc vào những phát minh, khả năngsáng tạo và những cải tiến không ngừng của nguồn lực này.

1.1.2.5 Quan hệ liên kết toàn cầu và ảnh hưởng của các tập đoàn xuyên quốc gia.

Mạng lưới phân công lao động ngày càng chặt chẽ khiến cho khái niệmngành công nghiệp của một nước đang mờ dần và bị thay thế bởi khái niệmngành công nghiệp của khu vực và cao hơn là châu lục Mạng lưới phân cônglao động không chỉ bó hẹp trong một nước, mà đã mở rộng ra trên cả khu vựchay toàn cầu Các nước đang hợp tác với nhau trên mọi lĩnh vực, trong đó cólĩnh vực công nghiệp Điều này ảnh hưởng đến mỗi quốc gia trong việc quyếtđịnh mức độ đầu tư vào các ngành CNHT trong nước mình Việc đầu tư phảiphù hợp không những với tình hình trong nước mà còn với thế giới, với cácliên kết mà quốc gia đó tham gia

Các tập đoàn xuyên quốc gia có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triểnkinh tế quốc tế Với nguồn lực to lớn về tài chính, khoa học công nghệ, cáctập đoàn này có mạng lưới sản xuất và phân phối rộng với chiến lược pháttriển và thương hiệu thống nhất, các bộ phận trong mạng lưới đó được chuyênmôn hóa hợp lý nhằm khai thác lợi thế mỗi quốc gia và mỗi khu vực Chiếnlược, chính sách đầu tư của các tập đoàn xuyên quốc gia vào một nước sẽ cónhiều ảnh hưởng đến ngành CNHT của nước đó

1.1.2.6 Chính sách của Chính phủ

Để phát triển ngành CNHT thì mối quan hệ hai chiều giữa nhà cungcấp và doanh nghiệp lắp ráp là rất quan trọng, nhưng thực tế mối quan hệ nàychưa thực sự rõ ràng lắm: doanh nghiệp lắp ráp chưa tin tưởng ở nhà cungcấp, nếu có hỗ trợ cũng chỉ là gửi chuyên gia đào tạo tại chỗ, gửi bản vẽkhuôn mẫu… nên ngành CNHT rất cần sự giúp đỡ từ phía Nhà nước

Trang 21

Nhà nước có các định hướng về sự phát triển công nghiệp hỗ trợ Địnhhướng của Nhà nước sẽ quyết định các bước đi và tương lai của ngànhCNHT Khi ngành CNHT còn chưa phát triển, thì vai trò chính sách củaChính phủ lại càng quan trọng Các chính sách sẽ đóng vai trò như những cúhích cho các doanh nghiệp, cùng doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn về vốn,lao động, thông tin, từ đó đưa công nghiệp hỗ trợ phát triển Các chính sách

hỗ trợ phát triển khu vực CNHT bao gồm: chính sách nội địa hóa, chính sáchđầu tư và phát triển CNHT, chính sách thuế đánh vào nhập khẩu và khâu sảnxuất các sản phẩm hỗ trợ, mức độ đầu tư của Nhà nước vào nghiên cứu khoahọc và công nghệ ở khu vực CNHT

Trên cơ sở các nhân tố ảnh hưởng nêu trên cho thấy: để phát triểnCNHT cần phải đảm bảo các điều kiện tiên quyết sau:

Thứ nhất, phải đảm bảo các điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghiệp

như: cơ cấu công nghiệp hợp lý; các hoạt động công nghiệp cơ bản phát triển;năng lực sản xuất và tham gia phân công lao động quốc tế tốt

Thứ hai, phải đảm bảo điều kiện về thị trường bao gồm: nhu cầu thị

trường linh phụ kiện; khả năng liên kết;

1.2 Liên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam.

1.2.1 Sự cần thiết của việc liên kết kinh tế và nội dung của liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

1.2.1.1 Sự cần thiết của việc liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp là một nhu cầu của quá trình sảnxuất kinh doanh nhằm bảo đảm kinh doanh của doanh nghiệp đạt lợi nhuậncao nhất Liên kết kinh tế là quan hệ kinh tế có sự chặt chẽ, rõ ràng, dựa trên

Trang 22

sự phân công và hợp tác trong sản xuất kinh doanh bao gồm những phâncông, hợp tác trực tiếp (nội bộ công ty) và những phân công, hợp tác gián tiếpgiữa các công ty.

Tiến trình toàn cầu hóa đánh thức toàn bộ các khu vực trên thế giới dù

đó là khu vực hẻo lánh, xa xôi nhất Tất cả các quốc gia, tất cả các doanhnghiệp đều cố gắng chen chân vào mắt xích của nền kinh tế, tham gia vàomạng sản xuất toàn cầu và chuỗi giá trị toàn cầu Liên kết kinh tế đã tồn tại từrất lâu trong nền kinh tế thế giới, nhưng tiến trình toàn cầu hóa và công nghệhóa làm thay đổi hoàn toàn phương thức liên kết giữa các công ty và các quốcgia – phương thức liên kết kinh tế theo cả chiều dọc và chiều ngang giữa cácdoanh nghiệp trong phạm vi một nước, giữa các doanh nghiệp nước ngoài vớidoanh nghiệp nội địa Đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp của các quốc giađang phát triển, đòi hỏi sự liên kết kinh tế trong các ngành công nghiệp cótrình độ công nghệ cao, chất lượng lao động đảm bảo, cơ chế chính sách hỗtrợ sự liên kết kinh tế đối với các doanh nghiệp trong và ngoài nước…, nhất làđối với các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp hỗ trợ

Vấn đề phải phát triển CNHT tại Việt Nam hiện nay đã trở thành yêucầu bức thiết bởi Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với các nước trongkhu vực để thu hút đầu tư nước ngoài, đối phó với sự tràn ngập của hàng hóaTrung Quốc, một số nước trong khu vực và áp lực từ hội nhập quốc tế

Như một vai trò của CNHT, Việt Nam cần phát triển CNHT để thu hútđầu tư nước ngoài Trong những năm 1980, luồng đầu tư nước ngoài từ cácMNCs ồ ạt đổ vào các nước đang phát triển vì ở đây có chi phí nhân công rẻ.Ngày nay, khi các MNCs lựa chọn địa điểm đầu tư, họ không chỉ xét đến lợithế về chi phí nhân công rẻ mà còn tính đến các lợi thế só sánh khác về đầuvào sản xuất như linh kiện, phụ tùng, dịch vụ sản xuất, những yếu tố giúp họ

có thể cạnh tranh được về giá và chất lượng Quá trình công nghiệp hóa - hiện

Trang 23

đại hóa đất nước, Việt Nam rất cần đến nguồn vốn đầu tư của các doanhnghiệp nước ngoài để phát triển nền kinh tế Do đó, phát triển CNHT, tạo môitrường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút các doanh nghiệp nước ngoài vào ViệtNam hiện nay là một yêu cầu bức thiết thiết.

CNHT phát triển cũng sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng hội nhập với kinh

tế quốc tế và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Áp lực toàn cầu hóa khôngcho phép bất kỳ nước nào bảo hộ công nghiệp của mình bằng các biện pháp phithuế hoặc chính sách bảo hộ Trong những năm gần đây, chúng ta đã chứngkiến sự hình thành các hệ thống kinh tế quy mô toàn cầu có liên kết chặt chẽ vàđược quản lý trên cơ sở từng ngày Nhiều doanh nghiệp có hoạt động và quan

hệ thương mại trên phạm vi quốc tế, và mọi hoạt động được phân chia giữa cácdoanh nghiệp trải rộng khắp thế giới Ngày nay, quá trình phát triển kinh tếkhông thể tách rời khỏi các hệ thống toàn cầu này CNHT sẽ giúp Việt Nam đadạng hóa sản phẩm thương mại, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và liên kếtchặt chẽ hơn với các doanh nghiệp nước ngoài và các MNCs

Sự liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài còn là một trong nhữnggiải pháp hiệu quả để nâng cao trình độ công nghệ, làm tăng năng lực liên kếtcủa các doanh nghiệp: Các sản phẩm hỗ trợ được cung cấp cho các doanhnghiệp lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh, do vậy đòi hỏi có tính tiêu chuẩn cao, chấtlượng sản phẩm tốt, độ bền, độ chính xác cao… Bên cạnh đó, việc sản xuất vàcung ứng cần phải tuân thủ những yêu cầu rất nghiêm ngặt về quy trình sảnxuất, quản lý chất lượng, quan hệ hợp tác và liên kết của doanh nghiệp lắp ráp

Do vậy, để tham gia chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗtrợ phải có năng lực liên kết công nghiệp và hợp tác tốt Để chế tạo các sảnphẩm đạt yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng, các doanh nghiệp dù quy

mô nhỏ nhưng vẫn đòi hỏi trình độ công nghệ và kỹ thuật cao

Trang 24

Như trên đã đề cập, CNHT là ngành quan trọng cho sự phát triển củakinh tế Việt Nam nói chung và của doanh nghiệp Việt nói riêng CNHT khôngphát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩmcuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu Dù những sản phẩmnày có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quánhiều, phí tổn chuyên chở, bảo hiểm sẽ làm tăng phí tổn đầu vào Đó là chưanói đến những rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu… Vì lý do này,công nghiệp hỗ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếusức cạnh tranh và phạm vi cũng giới hạn trong một số ít các ngành.

Chúng ta kỳ vọng nhận được đầy đủ từ tác động và sự lan tỏa tích cực

do nguồn vốn đầu tư nước ngoài mang lại: sẽ tiếp cận được kỹ năng quản lý,được chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy CNHT phát triển và những tácđộng lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thông qua sựliên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước,tạo thêm động lực cạnh tranh, tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiệnnguồn nhân lực, … đưa đất nước Việt Nam phát triển hơn

1.2.1.2 Nội dung của liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Các mối liên kết công nghiệp có vai trò rất lớn trong việc phát triểnCNHT và hướng tới phát triển công nghiệp bền vững Các mối liên kết côngnghiệp ở đây không chỉ là những liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất lắpráp với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ mà còn bao gồm cả mốiliên kết giữa những doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp nội địa trong

cả ngành sản xuất lắp ráp và CNHT Việc hình thành nên các mối liên kếtcàng dày đặc và chặt chẽ sẽ càng giúp Việt Nam nhanh chóng phát triển côngnghiệp, theo kịp các nước trong khu vực

Trang 25

Để khắc phục tình trạng khép kín, ngăn cách giữa doanh nghiệp trongnước và doanh nghiệp nước ngoài, Việt Nam cần phải thực hiện tốt một sốnội dung cơ bản nhằm hướng tới một mặt bằng kinh doanh bình đẳng

Kết quả của một cuộc điều tra mới đây cho thấy, hơn 70% doanhnghiệp vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu từnước ngoài Trong khi đó, một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốcthu hút được FDI nhiều và liên tục là vì CNHT trong nước của họ kết nối tốtvới các khu vực FDI, điều mà các nhà đầu tư rất cần vì họ có thể giảm đượcgiá thành phẩm

Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp 2005 có hiệu lực từ 1/7/2006 đã làmcho thể chế kinh tế thị trường của nước ta hoàn thiện hơn, phù hợp vớinguyên tắc của kinh tế thị trường, đồng thời nó đã khuyến khích mạnh mẽ đầu

tư của nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, Chính phủ cần tổ chức nhữngdiễn đàn đối thoại để ba bên: doanh nghiệp nội địa – doanh nghiệp vốn đầu tưnước ngoài – Chính phủ cùng thảo luận và đưa ra những mục tiêu, lĩnh vực

cụ thể nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn

Chính phủ đưa ra các biện pháp nâng cao năng lực và hiệu quả hoạtđộng của các Hiệp hội nghề nghiệp liên quan đến các sản phẩm hỗ trợ để tạocầu nối giữa các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa với các hãng chính (các nhà lắpráp FDI) và giữa doanh nghiệp hỗ trợ nội địa với các doanh nghiệp nướcngoài, đảm nhận được vai trò của người xúc tiến đầu tư với năng lực bảo lãnhtốt đối với các khoản tín dụng trong và ngoài nước cho việc đầu tư phát triểnkhối các doanh nghiệp hỗ trợ nội địa

Đa dạng hoá trong hợp tác, liên doanh liên kết với các nhà đầu tư nướcngoài vào Việt Nam để cung ứng các linh kiện, sản phẩm hỗ trợ Đối với các

dự án sản xuất điện tử, tin học thì để cho ra đời một sản phẩm hoàn chỉnh thìcần tới hàng trăm linh kiện khác nhau và xu thế chung của thế giới là sự phân

Trang 26

công lao động quốc tế ngày càng chi tiết Ví dụ một máy tính hiệu IBMnhưng ổ cứng lại là Seagate, màn hình Samsung, main của Intel, thậm chítừng con ốc cần các nhà sản xuất chuyên nghiệp Vì vậy chỉ có đa dạng hoáliên doanh liên kết, hợp tác đầu tư thì các DN Việt Nam mới là một mắt xíchtrong mạng sản xuất toàn cầu Từ trước đến nay, chúng ta mới quan tâm đếnliên doanh thông qua việc góp vốn đầu tư, gia công sản phẩm đơn giản thì đãđến lúc chúng ta phải coi trọng liên doanh, liên kết dưới dạng đối tác chiếnlược, DN vệ tinh, chuyển nhượng bản quyền, thương hiệu

Tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất lắp ráp vàdoanh nghiệp sản xuất sản phẩm hỗ trợ Đẩy mạnh tổ chức những cuộc triểnlãm như Triển lãm Công nghiệp Phụ trợ Việt Nam - Nhật Bản qua các lần,hay Triển lãm quốc tế lần thứ 9 về máy móc công nghiệp dệt may và nguyênphụ liệu, phụ kiện ngành dệt may (VTG 2009), … nhằm thúc đẩy sự pháttriển của các ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam

Tóm lại, nội dung cơ bản trước mắt cũng như lâu dài của CNHT là liênkết kinh tế sâu rộng với doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời nâng cao chấtlượng, hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNHTtrong nước để phát triển mạnh mẽ các nhóm ngành CNHT gia công, chế biến

và lắp ráp…

1.2.2 Tình hình liên kết kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay.

1.2.2.1 Thực trạng liên kết trong các doanh nghiệp ở Việt Nam

Thứ nhất là, liên kết trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Khối DN có vốn đầu tư nước ngoài phổ biến hình thức liên kết ngang,với mục đích chủ yếu là tìm kiếm khả năng tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩmthông qua việc gia công các linh kiện, phụ kiện bởi các DN trong nước Đaphần các liên kết này là để sản xuất các linh kiện, phụ kiện đơn giản Các DN

Trang 27

trong nước chưa tạo được liên kết lâu dài với các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài, do chưa đáp ứng được yêu cầu về kỹ thuật công nghệ cũng nhưcác yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm.

Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam (2006), Fujitsu ViệtNam, doanh nghiệp FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng năm khoảng nửa tỷUSD, hiện vẫn phải nhập khẩu 100% linh kiện phụ tùng và nguyên vật liệu từnước ngoài; Panasonic, Sanyo chỉ mua được thùng các tông, xốp chèn từ cácdoanh nghiệp Việt Nam; Công ty Canon, mặc dù đã đầu tư gần 300 triệu USDxây dựng các nhà máy in rất lớn ở Hà Nội và Bắc Ninh, cũng chỉ tìm được 1nhà cung cấp linh kiện Việt Nam, còn hơn 30 nhà cung cấp phụ tùng khác là100% vốn FDI

Thứ hai là, liên kết giữa các doanh nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp Việt Nam.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, việc liên kết giữa cácdoanh nghiệp nước ngoài và DN Việt Nam trong công nghiệp ở Việt Nam làcon đường vẫn còn đóng kín hai chiều

Từ phía nhà đầu tư nước ngoài, vì các doanh nghiệp của Việt Nam cònquá yếu, nên họ rất khó tin tưởng để có thể liên kết, lại thiếu vắng các đơn vịtrung gian đứng ra làm môi giới để củng cố niềm tin này Từ phía các doanhnghiệp Việt Nam, do các sản phẩm làm ra chủ yếu là bán thành phẩm nên khichưa có thị trường, họ chưa thể mạnh dạn đầu tư, phát triển để có thể liên kếtvới các DN nước ngoài

Tuy nhiên, theo điều tra của Tổ chức Xúc tiến thương mại nước ngoàicủa Nhật Bản (JETRO) năm 2005, hơn 70% DN Nhật Bản tại Việt Nam chobiết họ có kế hoạch tăng tỷ lệ nội địa hóa linh phụ kiện Rất ít DN trong số đó

có kế hoạch nhập khẩu linh kiện từ Trung Quốc, mặc dù ASEAN là đối thủquan trọng của Việt Nam với hơn 60% DN Nhật quan tâm

Trang 28

Theo kết quả khảo sát được JETRO thông báo đến Bộ Kế hoạch và Đầu

tư năm 2014, có tới 66% doanh nghiệp Nhật Bản mong muốn tiếp tục mởrộng hoạt động ở Việt Nam và coi Việt Nam là địa điểm đầu tư quan trọng

Về rủi ro trong môi trường đầu tư, theo các doanh nghiệp Nhật, Việt

Nam đứng vị trí thứ 3 trong số 15 quốc gia về “Hệ thống pháp luật chưa hoàn

thiện, vận hành không minh bạch” Hơn một nửa số doanh nghiệp tham gia

khảo sát phàn nàn về “sự phức tạp về cơ chế”, “chi phí nhân công tăng cao”

nhưng ghi nhận rằng thủ tục hành chính đã được cải thiện và cơ sở hạ tầngđược cải thiện đáng kể Mặc dù vậy, một bất cập tồn tại đã nhiều năm nay tiếptục được các nhà đầu tư Nhật phiền lòng, đó là khả năng cung ứng nguyên vậtliệu, linh kiện của thị trường nội địa Tỉ lệ nội địa hóa của Việt Nam là 33,2%,tăng 1% so với năm 2013; cao hơn Philippines (28,4%) nhưng thấp hơn nhiều

so với Trung Quốc (66%), Thái Lan (55%)…

Hình 1.1: Tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm hỗ trợ của một số nước

trong khu vực ASEAN (Nguồn: JETRO, 2014)

Trên thực tế, việc liên kết kinh tế với doanh nghiệp nước ngoài để pháttriển CNHT ở Việt Nam còn nhiều vấn đề lớn cần phải quan tâm giải quyết:

Sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nướcngoài còn gặp nhiều khó khăn cho cả hai phía:

Trang 29

Đối với các doanh nghiệp trong nước: mặc dù có lợi thế là chủ nhà, có

điều kiện tìm kiếm các nguyên liệu cho sản xuất tại chỗ; được pháp luật nhànước bảo hộ về môi trường kinh doanh, sản xuất, tận dụng được nguồn laođộng dồi dào trong nước, nhưng khó khăn lớn nhất cũng xuất phát từ chínhnhững lợi thế đang có: các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, hạn chế vềvốn, khoa học và công nghệ, trình độ tổ chức quản lý; bên cạnh đó, nguồn lựclao động tuy dồi dào nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp, không đủ đápứng yêu cầu về ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại Do vậy, các doanhnghiệp trong nước phần lớn mới chỉ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất các sảnphẩm có giá trị gia tăng thấp, chưa đảm bảo được các ngành sản xuất các sảnphẩm công nghiệp hỗ trợ có tính chính xác cao, chất lượng đạt yêu cầu chocác ngành sản xuất sản phẩm cuối cùng

Từ những khó khăn đó, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phụ trợtrong nước luôn mong muốn đón nhận các nguồn vốn hỗ trợ như: vốn hỗ trợcủa Chính phủ, vốn hỗ trợ từ phía các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (liênkết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài hoặc doanhnghiệp 100% vốn FDI) Song, thực tế còn nhiều bất cập: chính sách ưu tiêncủa Chính phủ cho phát triển CNHT chưa thực sự thỏa đáng, chưa tạo đượcđộng lực thúc đẩy các doanh nghiệp CNHT trong nước hoạt động có hiệuquả; những hạn chế của doanh nghiệp trong nước đã trở thành rào cản đối vớiviệc trở thành đối tác của các doanh nghiệp

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài: khi đầu tư vào Việt Nam họ cũng

có những lợi thế nhất định về vốn, khoa học và công nghệ, năng lực tổ chứcquản lý Bên cạnh đó, họ có thể tiết kiệm đáng kể trong việc thu hút lao độnggiá rẻ, khai thác được các nguồn cung cấp nguyên, nhiên vật liệu tại chỗ, giảmchi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh,…

Trang 30

Tuy nhiên, khi đầu tư vào CNHT ở Việt Nam, do thiếu ngành côngnghiệp hỗ trợ nên các nhà sản xuất đến từ nhiều nước khác đang đầu tư tạiViệt Nam cũng gặp những khó khăn nhất định.

Hiện nay, khả năng đáp ứng linh phụ kiện của doanh nghiệp Việt Namcho các doanh nghiệp sản xuất trong và ngoài nước mới chỉ đạt 15-25% Vìvậy, phải phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, khiến sản xuất nhiềukhi còn bị động, chi phí sản xuất cao, nhất là các ngành như: dệt may, da giày,

cơ khí chế tạo, máy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất ô tô…

Chỉ vì công nghiệp hỗ trợ yếu kém, hàng năm một nguồn ngoại tệkhổng lồ lên tới vài chục tỷ USD vẫn tiếp tục chảy ra nước ngoài Trong khi

đó, ngược lại các doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp tục chịu cảnh quay quắt vìđói vốn

Tóm lại, những yếu kém của công nghiệp hỗ trợ Việt Nam hiện naybiểu hiện ở một số mặt sau:

Một là, thiếu các doanh tnghiệp cung cấp linh phụ kiện, khả năng đáp

ứng của các DN hỗ trợ còn rất hạn chế, nhất là các linh phụ kiện đòi hỏi tínhchính xác cao Với số lượng các nhà cung cấp khiêm tốn như hiện nay srấtkhó để các nhà sản xuất lớn đầu tư tại Việt Nam có thể yên tâm rằng nguồncung ứng linh phụ kiện có thể đáp ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng Việckhông chuyên môn hóa được trong sản xuất là điểm yếu trong giai đoạn hiệnnay và sẽ giảm năng suất theo quy mô

Hai là, trong một giai đoạn dài bảo hộ nhưng tỷ lệ nội địa hóa của các

nhà sản xuất nước ngoài tại Việt Nam chỉ khoảng 20-30%, trong khi tỷ lệ này

ở Thái Lan và Malaysia là trên 45%

Ba là, sự tham gia sản xuất linh kiện của DN trong nước chỉ ở mức

giản đơn và giá trị gia tăng thấp Hầu hết các DN mới chỉ tham gia ở khâu rất

Trang 31

giản đơn trong chuỗi sản xuất sản phẩm như bao bì, phụ kiện có giá trị thấp,không đòi hỏi kỹ thuật cao.

Bốn là, sức cạnh tranh của sản phẩm hỗ trợ trong nước so với linh phụ

kiện nhập khẩu còn yếu do năng suất thấp, giá thành cao, chất lượng không ổnđịnh, thời hạn giao hàng không đảm bảo nên khó tham gia vào mạng sản xuấtcủa các TNCs

Năm là, những ngành công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao lại là

những ngành chủ yếu như: lắp ráp, gia công do nguyên phụ liệu chủ yếuphải nhập khẩu

Sáu là, đối với những mặt hàng thay thế nhập khẩu (ô tô), dung lượng thị

trường vẫn nhỏ bé do tập trung vào quá trình nhiều mặt hàng, chủng loại trongkhi năng lực vẫn còn hạn chế dẫn tới không đảm bảo quy mô, công suất sảnxuất hiệu quả để công nghiệp hỗ trợ và ngành công nghiệp cùng phát triển

Bảy là, sự thiếu phối hợp, liên kết giữa các nhà sản xuất chính với các

nhà sản xuất phụ trợ Một mặt, do khoảng cách về công nghệ, trình độ kỹ thuậtcũng như tính chuyên nghiệp giữa các nhà sản xuất trong nước và các DN cóvốn nước ngoài nên khó liên kết mặc dù cả hai bên đều mong muốn hợp tác

Hiện nay, quá trình tìm kiếm quan hệ hợp tác, liên kết giữa các doanhnghiệp ở Việt Nam rất khó khăn Đây là lĩnh vực thiếu quá nhiều thông tin từ

Trang 32

thiết bị gia dụng phản ánh rằng họ không thể tìm được các linh phụ kiện cógiá trị cao ở thị trường nội địa Những điều này cho thấy, mặc dù tỷ lệ nội địahóa đã tăng nhanh ở một số ngành và DN lắp ráp sản xuất như ngành xe máy(khoảng 75%), điện tử (từ 20-40% tùy thuộc vào từng nhà sản xuất)… nhưngviệc nội địa hóa mới chỉ tập trung ở những linh phụ kiện có giá trị thấp.

Nói đến liên kết giữa các công ty xuyên quốc gia (TNCs) với các doanh nghiệp nội địa về phát triển CNHT.

Theo kết quả khảo sát của các nhà nghiên cứu về thực trạng mối quan

hệ giữa các DN trong nước và các DN đầu tư nước ngoài (các TNCs) chothấy, năm 2009, chưa tới 30% các TNCs có liên kết với các doanh nghiệp nộiđịa trong việc gia công linh kiện; chỉ 21,4% là mua đứt bán đoạn các linh kiệnđầu vào Các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào khâu gia công sản phẩmhoàn chỉnh có vẻ khả quan hơn

Do không tìm được các nhà cung cấp linh phụ kiện, nguyên liệu đầuvào từ các DN nội địa, các TNCs phải sử dụng hai nguồn cung cấp chính lànhập khẩu và từ các doanh nghiệp nước ngoài khác Vì vậy, mối liên kết chủyếu mà các TNCs tại Việt Nam đang thực hiện đó là nhập khẩu từ bên ngoài,

tự sản xuất và thu hút các vệ tinh khác tới đầu tư và cung cấp nguyên phụ liệucho họ Canon có thể coi là ví dụ điển hình trong trường hợp này

Sau khi Canon vào Việt Nam, năm 2001 đã có tới 21 nhà cung cấpnước ngoài (hầu hết là công ty của Nhật Bản) đã theo Canon đầu tư vào ViệtNam như: Parker Processing, Volex Cable Assembly, Sumitomo Coil Centre,Santomas… hình thành nên cụm công nghiệp điện tử tại Khu Công nghiệpThăng Long Đến năm 2007, đã có 40 doanh nghiệp cung cấp tới đầu tư tạiđây, trong số đó chỉ có duy nhất 1 DN của Việt Nam là Dragon LogisticsCo.,Ltd (về mảng dịch vụ hành chính), số còn lại phần lớn đến từ Nhật Bản vàmột vài công ty của Malaysia và Singapore

Trang 33

Do mối liên kết yếu kém giữa các TNCs và các DN trong nước, tácđộng về mặt công nghệ, trình độ quản lý, tay nghề của lao động mà cácTNCs tạo ra đối với các DN nội địa cũng không đạt kết quả cao Việcchuyển giao công nghệ giữa các TNCs với các DN trong nước không phải dễdàng, bởi nó phải xuất phát từ cả hai phía Đó là khi hai doanh nghiệp cóhợp tác làm ăn thực sự chặt chẽ, ổn định lâu dài và tiềm lực (vốn, trình độlao động, thị trường) của doanh nghiệp tiếp nhận chuyển giao công nghệ đòihỏi phải đủ mạnh.

Nguyên nhân của mối liên kết yếu kém giữa các TNCs và doanh nghiệp nội địa.

Một là, do lĩnh vực đầu tư và định hướng thị trường của các TNCs.

Kinh nghiệm phát triển của một số nước cho thấy, các TNCs đầu tư vàocác nước đang phát triển chủ yếu do hai nhân tố quan trọng đó là chi phí đầuvào rẻ (lao động…) và các ưu đãi trong nước (bảo hộ, thuế,…) Điều này kháchính xác đối với xu hướng đầu tư của các TNCs vào ngành công nghiệp chếbiến, đó là nhóm ngành định hướng xuất khẩu thâm dụng lao động như dệtmay, giày da, điện tử và nhóm ngành thay thế nhập khẩu do được bảo hộ như

ô tô, xe máy

Tổng quan nghiên cứu và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đặc điểmngành nghề và lĩnh vực đầu tư của các TNCs có ảnh hưởng khá lớn tới sựphát triển các DN nội địa Theo kết quả điều tra của các nhà kinh tế, hình thứchoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài dưới dạng gia công sản phẩmcuối cùng chỉ chiếm 42,37% tổng số doanh nghiệp Còn lại, hầu hết các công

ty có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nhằm bán linh phụ kiện chochính các TNCs và gia công các linh phụ kiện cho các công ty thành viênhoặc cho các doanh nghiệp FDI khác Chính vì vậy, bước đầu các TNCs đãtạo ra hiệu ứng lôi kéo các doanh nghiệp nước ngoài khác thay vì có tác động

Trang 34

lan tỏa tới các DN nội địa Lý do chính của kết quả này một phần do côngnghiệp hỗ trợ trong nước kém phát triển, nhưng mặt khác, do môi trường ưuđãi đầu tư cũng như cạnh tranh thu hút giữa các tỉnh của Việt Nam nên đã thuhút các doanh nghiệp này vào và tạo ra các cụm, nhóm ngành sản xuất riêngcủa các công ty nước ngoài Điều này có thể tốt về mặt thu hút vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài nhưng về dài hạn, các DN nội địa có thể bị lấn át quámức và rất khó có thể gia nhập vào chuỗi sản xuất của các TNCs dạng này.

Hình 1.2 Hình thức hoạt động cung ứng của các TNCs

tại Việt Nam năm 2009

Gi a công l i nh kiện Bán l i nh kiện

Gi a công và bán

l i nh kiện

Hình 1.2: Hình thức hoạt động cung ứng của các TNCs tại

Việt Nam năm 2009

(Nguồn: TS Cù Chí Lợi, 2010 - Mạng sản xuất toàn cầu và sự tham gia của

các ngành công nghiệp Việt Nam)

Mối liên kết giữa TNCs và DN nội địa phần nào bị ảnh hưởng bởi địnhhướng thị trường của các TNCs đóng tại Việt Nam, chủ yếu hướng tới cácnước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Mỹ,… Do đó, hầu hếtcác nguyên, phụ liệu nhập khẩu làm đầu vào cho sản xuất chủ yếu từ chínhcác thị trường mà họ xuất khẩu

Hai là, nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp trong nước

Năng lực yếu kém và sự thiếu chủ động của bản thân các doanh nghiệpnội địa cũng là nguyên nhân không thể kết nối được với các doanh nghiệpnước ngoài do các tiêu chuẩn khá khắt khe mà các doanh nghiệp này đặt ra

Trang 35

Bản thân các DN nước ngoài khi đầu tư vào bất kỳ một quốc gia nào cũng cómong muốn được hỗ trợ bởi nền công nghiệp hỗ trợ trong nước Khi đó, lựclượng doanh nghiệp trong nước, thông qua việc cung ứng các linh, phụ kiện,giúp doanh nghiệp nước ngoài giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh cho sảnphẩm Tuy nhiên, tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị của các doanh nghiệpViệt Nam nói chung chưa đạt yêu cầu phát triển, công nghệ hiện đại trong cácngành chiếm tỷ trọng thấp, phổ biến là công nghệ trung bình… Do đó, cáctiêu chuẩn chất lượng linh, phụ kiện của các doanh nghiệp nội địa khó đápứng được yêu cầu của các nhà sản xuất Lỗ hổng lớn giữa nhà đầu tư nướcngoài và doanh nghiệp trong nước hiện nay chính là chất lượng sản phẩm, giá

cả và thời gian giao hàng

Công nghiệp hỗ trợ có thể xem như cơ hội của các doanh nghiệp nhỏ vàvừa tham gia liên kết với các TNCs và trở nên lớn mạnh thông qua học hỏikinh nghiệm cũng như chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, những hạn chế vềnăng lực của khu vực tư nhân cũng là một nguyên nhân quan trọng kìm hãmmối liên kết này

Ba là, nguyên nhân từ phía Nhà nước.

Nguyên nhân thứ nhất là, chính sách của Nhà nước chưa đi vào thực tếnhằm thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ phát triển

Nguyên nhân thứ hai là, môi trường kinh doanh chưa thực sự tốt để cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa (DN tư nhân) phát triển CNHT

Nguyên nhân thứ ba là, chưa có trang web điện tử cung cấp thông tinliên quan về năng lực và khả năng của các doanh nghiệp phụ trợ Việt Nam

Các nhà đầu tư nước ngoài và DN trong nước đều thiếu thông tin về hệthống nhà cung cấp trong nước để tìm kiếm đối tác hay liên kết sản xuất Mặtkhác, việc thiếu thông tin sẽ không khuyến khích cá doanh nghiệp trong nước

Trang 36

tập trung vào lĩnh vực nào, nhu cầu và tiêu chuẩn chất lượng mà các nhà đầu

tư nước ngoài cần là như thế nào sẽ hạn chế đầu tư vào lĩnh vực phụ trợ

Thứ hai, liên kết sản xuất giữa các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước.

Thực trạng của nước ta cho thấy, trình độ công nghệ của các doanhnghiệp công nghiệp trong nước là tương đối lạc hậu và điều này sẽ có ảnhhưởng đến khả năng hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp, trong đó baogồm cả liên kết với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài

Theo kết quả điều tra của TS Cù Chí Lợi về cơ cấu tuổi đời và hiệuquả sử dụng máy móc thiết bị của các doanh nghiệp hiện sử dụng cho thấy: tỷ

lệ sử dụng máy móc thiết bị có tuổi đời trên 30 năm của khối DN nhà nước làkhoảng 27%, trong khi đó, khối DN tư nhân là 9% và các doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài chỉ có 3% Ngược lại, khối DN nước ngoài sử dụng tới 93%máy móc thiết bị mới (từ 1-5 tuổi), DN tư nhân là 77% và DN nhà nước là73% Những con số trên cho thấy sự chênh lệch về năng lực đầu vào của sảnxuất giữa các DN trong nước và DN nước ngoài Đó là một trong nhữngnguyên nhân chính ảnh hưởng đến khả năng hợp tác giữa các bên

Bảng 1.1 Cơ cấu tuổi đời và hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị của các

doanh nghiệp hiện sử dụng

(Nguồn: TS Cù Chí Lợi, 2010: Mạng sản xuất toàn cầu và sự tham gia của

các ngành công nghiệp Việt Nam)

Trang 37

1.3 Kinh nghiệm liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ và bài học rút ra cho Vĩnh Phúc.

1.3.1 Kinh nghiệm liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

1.3.1.1 Kinh nghiệm liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để phát triểncông nghiệp hỗ trợ ở một số nước Đông Á.

Hiện nay, CNHT phát triển chủ yếu ở khu vực Đông Á và Đông Nam

Á như một hình thức tổ chức công nghiệp đặc thù trong bối cảnh hội nhậprộng rãi và các quốc gia NICs đang chuyển dịch mạnh mẽ các cơ sở sản xuấtcủa mình đến thị trường tiêu thụ Ở khu vực Đông Nam Á đã định hình một

số trung tâm sản xuất lắp ráp công nghiệp lớn của khu vực trên cơ sở thu hútđầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan Như TháiLan là trung tâm sản xuất lắp ráp ô tô, xe máy, trang thiết bị, điện-điện tử-tinhọc-viễn thông; Philipine, Singapore là trung tâm phần mềm điện tử-tin học-viễn thông

Một loạt các biện pháp được tiến hành như: Thành lập các tổ chức đầungành để làm cầu nối giữa tư nhân và khu vực nhà nước, kết hợp các lợi íchgiữa các doanh nghiệp tư nhân với nhau, xây dựng chính sách phát triểnngành, xây dựng và quản lý việc thực hiện ngân sách và các dịch vụ dành chokhu vực kinh tế tư nhân Sự phát triển CNHT ở các quốc gia này đều đáng

để Việt Nam học hỏi kinh nghiệm

Thứ nhất là, xu hướng chuyên môn hóa theo chuỗi giá trị trong ngành

công nghiệp điện tử Nhật Bản.

Vào những năm 1990, thay vì sản xuất toàn bộ linh kiện cho hàng điện

tử, Nhật Bản đã chuyển hướng sang nhập khẩu phụ tùng Kể từ đó, các doanhnghiệp sản xuất hàng điện tử Nhật Bản tập trung chủ yếu vào khâu sản xuất,thiết kế và phân phối trong chuỗi giá trị hàng điện tử thế giới, đồng thời

Trang 38

chuyển việc sản xuất linh kiện, phụ tùng sang những nước đang và chậm pháttriển như Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, … Chính vì vậy, quan hệ giữa nhữngnhà sản xuất và nhà cung cấp ở Nhật Bản ngày càng trở nên khăng khít Cácnhà cung cấp Nhật Bản có xu hướng hội nhập theo chiều dọc một cách tươngđối Những nhà sản xuất hàng điện tử đã tăng cường đầu tư trực tiếp bằngviệc mở chi nhánh sản xuất linh kiện, phụ tùng ở nước ngoài, và từ đó cungcấp các hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính cho các nhà cung cấp nước ngoài.

Trong xu hướng quốc tế hóa, ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản pháttriển dựa trên sự chuyên môn hóa theo chuỗi giá trị: Thực hiện liên kết cáccông đoạn khác nhau trong chuỗi, tăng quy mô toàn cầu Việc quản trị chuỗitrong ngành điện tử Nhật Bản cũng cho thấy rõ ràng thuận lợi của các hãngtham gia Quản trị chuỗi là tiền đề cho các hãng điện tử có thể nắm bắt thôngtin về đặc điểm sản phẩm, giá cả, dự báo sản xuất và đối thủ cạnh tranh Cácsản phẩm với cấu trúc thiết kế hình khối như máy tính cá nhân chắc chắn làmcho năng suất kết cấu khối như máy tính các nhân chắc chắn làm cho dâychuyền tăng nhiều hơn thế ngay cả khi một khối riêng lẻ liên kết với mộtchuỗi các hoạt động ví dụ như việc liên kết giữa thiết kế, sản xuất và hoànthiện sản phẩm Một số công ty như Autodesk, Cadence và Mento Graphics

đã mạnh dạn tạo thêm các cơ hội mới cho đơn vị chuỗi giá trị bằng cách pháttriển và marketing những mẫu thiết kế công cụ tự động hóa

Nhật Bản là một trong số những quốc gia ít có tính biến đổi về laođộng, cơ sở hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên cũng không có gì nổi bật Nhữngthách thức của cạnh tranh đối với ngành công nghiệp điện tử của Nhật Bảnthực sự xảy ra vào cuối những năm 1990 Kể từ thời điểm này, các công tyđiện tử của Nhật Bản đã bắt đầu quan tâm đến tiêu chí chuỗi giá trị và do sựphát triển khác thường của hệ thống Internet đã dẫn đến nhu cầu khổng lồtrong việc truyền đạt thông tin dữ liệu và các thiết bị máy tính trong doanh

Trang 39

nghiệp có khả năng kết nối Internet Những công ty này chỉ tập trung vào việcsản xuất các linh kiện riêng lẻ, các thiết bị điện tử cá nhân và phát triển những

hệ thống máy tính thuộc quyền sở hữu của các doanh nghiệp có thể liên hệvới khách hàng thông qua đường truyền dữ liệu được thuê bí mật Điều nàykhiến cho các công ty điện tử ở Nhật Bản hoàn toàn không có bất cứ vai trònào trong sự phát triển chóng mặt của Internet, kết hợp với sự suy giảm liêntục của nguồn tài chính đã đưa ngành công nghiệp điện tử của Nhật Bản rơivào một thời kỳ khủng hoảng trầm trọng Những công ty điện tử có tiếng củaNhật Bản ngày càng hợp tác chặt chẽ trong việc thiết kế và sản xuất nhữngthiết bị cho cả hệ thống Năm 2001, sự cạnh tranh từ các công ty châu Mỹtrong mạng lưới sản xuất theo mô hình độc lập đã trở thành một phần tháchthức mà các công ty từ Nhật Bản phải đối mặt Các công ty như Samsung,

LG, và Hyundai đã sáp nhập với nhau một cách chặt chẽ Tương tự như cáccông ty Nhật Bản, các doanh nghiệp điện tử lớn của Hàn Quốc có xu hướngtheo đuổi chiến dịch “thiết bị, phụ tùng và sản phẩm”, họ sản xuất và bán thiết

bị, phụ tùng trên toàn thế giới Đến tận những năm 1990, các công ty NhậtBản đã theo đuổi chiến dịch “Đàn sếu bay”, chuyển giao công nghệ sản xuấtphụ tùng lạc hậu cho những công ty của Hàn Quốc và Đài Loan và tiếp tụcứng dụng những công nghệ mới hơn Vào năm 1999, các công ty đặc biệt làSamsung và LG bắt đầu thu hẹp khoảng cách trên thị trường phụ tùng điện tửvới những nhóm mặt hàng cụ thể như điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số,thẻ nhớ dung lượng lớn và màn hình siêu mỏng

Năm 2001, các công ty điện tử đã hòa với ngành công nghiệp điện tửtoàn cầu không chỉ bởi vì họ dẫn đầu trong lĩnh vực này mà bởi chúng lànhững nhà cung cấp thiết bị máy tính cá nhân và linh kiện chủ yếu của máytính Do đó việc đình trệ của việc tiêu dùng CNTT kéo theo tiếp cận bongbóng Internet sâu rộng đã ảnh hưởng đến công ty Nhật Bản và các công ty

Trang 40

khác tong ngành công nghệ Tuy nhiên, những thiệt hại do ảnh hưởng củacuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 2001 – 2002 đã gây nên những thua

lỗ lớn cho những công ty điện tử Nhật Bản

Những thành phần chính trên vi mạch như chất bán dẫn, các loại pinchất lượng cao, các con chip với bộ nhớ mới được sản xuất ở Nhật Bản Khâulắp ráp cuối cùng được tiến hành ở Nhật Bản được giới hạn bởi một mô hìnhtiến bộ nhưng khá đắt tiền Những sản phẩm kỹ thuật thấp thường được sảnxuất ơ nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc, hoặc bởi các chi nhánh hay nhàcung cấp Đài Loan Dù đã loại bỏ hết những gì lỗi thời, phi lợi nhuận, khôngliên quan đến kinh doanh và đẩy mạnh dây chuyền sản xuất thì chúng cũngchỉ tạo ra một sự tiến triển nhỏ bé trong quá trình sản xuất chuyên môn hóa.Việc tăng chuyên môn hóa, sự liên kết, thúc đẩy vai trò của các doanh nghiệpnước ngoài đã khiến cho giá cả của các nguyên liệu đầu vào Nhật Bản ở nướcngoài tăng lên Chính vì vậy mà các công ty còn lại cũng đang xem xét tới sựthay đổi đưa ra những giới hạn của họ ở ba khu vực: Hợp tác, sử dụng nguồnlực bên ngoài và dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông.1

Thứ hai là, kinh nghiệp từ việc phát triển cụm công nghiệp ô tô Quảng

Châu, Trung Quốc

Cụm công nghiệp ô tô Quảng Châu thu hút được ba hãng lắp ráp lớncủa Nhật Bản là Toyota, Honda và Nissan Các doanh nghiệp hỗ trợ choNissan nằm ở huyện Hoa Đô, doanh nghiệp hỗ trợ cho Honda nằm ở huyệnNam Sa, và doanh nghiệp hỗ trợ cho Honda nằm ở huyện Tăng Thành, QuảngChâu Ba huyện trở nên gần nhau hơn (1h đi từ huyện này sang huyện khác)khi tỉnh Quảng Đông xây dựng đường cao tốc vành đai thứ hai quanh thànhphố Quảng Châu Cơ sở hạ tầng phát triển đã giúp các doanh nghiệp hỗ trợphát triển, không chỉ bó hẹp ở việc cung cấp sản phẩm hỗ trợ cho riêng công

1 TS Nguyễn Hoàng Ánh, ThS Vũ Thị Hạnh (2009), Kinh nghiệm phát triển ngành công nghiệp điện tử Nhật Bản, Kỷ yếu Hội thảo, Hà Nội

Ngày đăng: 31/08/2018, 13:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Diễn đàn phát triển Việt Nam (2006), Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản
Tác giả: Diễn đàn phát triển Việt Nam
Năm: 2006
8. Kenichi Ohno (Chủ biên). (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” (Tập 1), Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF), Hà Nội. Có trên địa chỉ www.vdf.org.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tạiViệt Nam
Tác giả: Kenichi Ohno (Chủ biên)
Năm: 2007
10. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc - Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhiệm kỳ 1996-2000 và nhiệm vụ 5 năm (2001- 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh nhiệm kỳ 1996-2000 và nhiệm vụ 5 năm (2001- 2005)
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
16. Trần Quang Lâm, TS. An Như Hải (2006), Đầu tư của các TNCs tại Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư của các TNCs tạiViệt Nam
Tác giả: Trần Quang Lâm, TS. An Như Hải
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
20. Website của Tổng cục Thống kê Việt Nam http://www.gso.gov.vn Link
1. Ban Xúc tiến và Hỗ trợ đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc, Niên giám thống kê các năm 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013 Khác
2. Bộ Công thương Việt Nam (6/2008), Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ cho một số ngành công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn đến 2010, tầm nhìn 2020 Khác
3. Bộ Công nghiệp (2007), Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 Khác
4. Bộ Công thưowng (2008), Chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 Khác
5. Diễn đàn phát triển Việt Nam (2006), Hoạch định chính sách công nghiệp ở Thái Lan, Malaysia và Nhật Bản, bài học kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam Khác
7. Diễn đàn phát triển Việt Nam (2007), Xây dựng năng lực công nghệ nội sinh: Vai trò của chính phủ trong xây dựng công nghiệp phụ trợ Khác
9. Nguyễn Thị Xuân Thúy (2006), CNHT – Tổng quan về khái niệm và sự phát triển, Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF), Hà Nội Khác
11. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc - Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc 5 năm (2006-2011) Khác
12. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc- Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012 Khác
13. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc - Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2013 Khác
14. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc - Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014 Khác
15. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc - Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc năm 4 tháng đầu năm 2015 Khác
17. TS. Cù Chí Lợi (2011), Công nghiệp Việt Nam trong mạng sản xuất khu vực: Vị trí, triển vọng và kiến nghị chính sách; Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội Khác
18. Tổng cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2015 Khác
19. UBND tỉnh Vĩnh Phúc - Báo cáo tình hình triển khai các dự án đầu tư trong nước và nước ngoài năm 2014 trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w