TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHÍM TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI... Tìm hiểu về sự phát triển của nhím tại một số hộ chăn nuôi Khóa luận tìm hiểu về mô hình chăn nuôi nhím, sự sinh trưởng và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHÍM
TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI
Ngành : Thú y Khoá : 2004 -2009 Lớp : DH04TY Sinh viên thực hiện : Vũ Ngọc Yến
Tháng 08/2009
Trang 2TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHÍM
TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ts Dương Duy Đồng, cảm ơn Thầy đã khơi dậy trong em niềm đam mê nghiên cứu, đã tận tình chỉ dạy và truyền đạt những kiến thức quý báu, cũng như tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài, em thường xuyên nhận được sự động viên, tạo điều kiện thuận lợi từ Ths Nguyễn Văn Hiệp ở Trại Thực Nghiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm, em xin cảm ơn Thầy
Em xin chân thành cảm ơn:
• PGS.Ts Dương Thanh Liêm đã chỉ dẫn cho em nhiều kiến thức quý báu
để em thực hiện tốt khóa luận
• Ts Lê Hữu Khương đã đóng góp nhiều ý kiến thiết thực và luôn hỗ trợ, ủng hộ em rất nhiều trong quá trình thực hiện khóa luận
• Các thầy cô khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP HCM đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
• Các nhà chăn nuôi nhím tại các trại khảo sát ở khu vực miền Đông Nam
Bộ như: ông Phạm Ngọc Tuân - trại nhím Tuân Hòa, ông Nguyễn Văn Đào - trại Hai Đào, ông Lê Văn Hinh - trại Lan Dũng, chị Trần Thị Hường - trại Miền Đông, ông Lương Minh Hòa - trại Minh Hòa, đã dành cho tôi rất nhiều thời gian và hướng dẫn kinh nghiệm, kỹ thuật nuôi nhím khi tôi đến thăm trại
• Xin gửi lời cám ơn đến các bạn bè đã luôn chia sẻ, động viên tôi suốt quá trình học tập, đặc biệt là các bạn ở Trại Thực Nghiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm
Cuối cùng, con xin cảm ơn tất cả mọi người trong gia đình đã luôn tin tưởng và ủng hộ con, đồng thời đã xem và có ý kiến góp ý về khóa luận giúp con
TP.HCM, tháng 08 năm 2007 Sinh viên
Vũ Ngọc Yến
Trang 4TÓM TẮT
Vũ Ngọc Yến, tháng 9/ 2008 Tìm hiểu về sự phát triển của nhím tại một số hộ chăn nuôi
Khóa luận tìm hiểu về mô hình chăn nuôi nhím, sự sinh trưởng và phát triển của nhím trên cơ sở khảo sát tại một số hộ chăn nuôi và tại Trại Thực Nghiệm Khoa CNTY Nhím khảo sát là nhím giống, chủ yếu được mua từ các hộ nuôi nhím lâu năm Nguồn thức ăn cho nhím rất phong phú, gồm các loại rau, củ, quả, thường được mua từ chợ nông sản Nguồn nước sử dụng để vệ sinh nhím chủ yếu là nước giếng và chưa qua xử lý
Cấu trúc chuồng nuôi đa số xây bằng xi măng kết hợp với lưới sắt hoặc song sắt, mật độ nuôi trung bình 2 con/ô chuồng
Những hộ chăn nuôi khảo sát đều không sử dụng thuốc sát trùng
Trọng lượng nhím sơ sinh khoảng 230 – 455 g Tỷ lệ nhím sống sau cai sữa cao: tại trại nuôi thực nghiệm là 50%, tại các hộ chăn nuôi là 95 – 98 % Nhím con chết thường do tai nạn: bị con khác cắn, đánh nhau với con cùng bầy Thường cai sữa khi nhím được 2 tháng tuổi Trọng lượng cai sữa đạt 2300g/ con
Nhím con 1 – 3 tháng tuổi tăng trọng nhanh nhất: 840 – 1200g/ con/ tháng Nhím tăng trọng nhanh giai đoạn 3 – 8 tháng tuổi: khoảng 970g/ tháng Giai đoạn 8 - 18 tháng tuổi nhím tăng trọng chậm lại: khoảng 268g/ tháng Sau 18 tháng tuổi hầu như nhím không còn tăng trọng Nhím sau khi nuôi khảo sát thì đạt từ 7,6 kg đến 11 kg/ con Phần lớn nhím giao phối lần đầu khoảng 8 – 10 tháng tuổi Nhím đực thành thục khi được 12 tháng tuổi Sự động dục diễn ra rải rác quanh năm Nhím cái có thể sinh sản 2 lứa/1 năm, mỗi lứa đẻ từ 1 - 4 con Thời gian mang thai từ 100 – 120 ngày Nhím ít bị bệnh, đa số là bị thương do đánh nhau, bị ký sinh ngoài da do môi trường
dơ, dinh dưỡng không đầy đủ Khảo sát nhím nuôi thấy có giun ký sinh trong ruột
Trang 5MỤC LỤC
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các bảng, biểu đồ viii
Danh sách các hình xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – yêu cầu 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Sơ lược về phân loại 3
2.2 Mô tả loài nhím ở Việt Nam 7
2.2.1 Giống nhím đuôi chổi châu Á – Atherurus macrourus 7
2.2.2 Giống nhím bờm Mã Lai – Hystrix brachyura……… 9
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 166
3.1 Thời gian và địa điểm 166
3.2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 166
3.3 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng nhím tại Trại Thực Nghiệm Khoa CNTY .177
3.3.1 Chuồng trại 177
3.3.2 Thức ăn 177
3.3.3 Chăm sóc – Quản lý 187
3.4 Các chỉ tiêu khảo sát và phương pháp theo dõi 188
3.5 Cách điều tra khảo sát tại các hộ chăn nuôi 199
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 2020
4.1 Chọn giống 2020
Trang 64.1.1 Chọn nhím giống tại trại thực nghiệm khoa CNTY 2020
4.1.2 Tổng quát về tình hình nuôi nhím tại một số hộ chăn nuôi 221
4.2 Chuồng nuôi – Cơ cấu đàn 233
4.2.1 Chuồng nuôi tại trại thực nghiệm khoa CNTY 233
4.2.2 Một số kiểu chuồng nuôi nhím khác tại các hộ chăn nuôi 255
4.3 Thức ăn 288
4.3.1 Thức ăn nuôi nhím để khảo sát tại trại thực nghiệm khoa CNTY 288
4.3.2 Thức ăn tại một số hộ chăn nuôi 30
4.4 Tuổi thành thục – Biểu hiện giao phối – Sự sinh sản của nhím theo dõi tại trại thực nghiệm khoa CNTY 32
4.4.1 Tuổi phối lần đầu 32
4.4.2 Sự giao phối……….33
4.4.3 Sự mang thai………34
4.4.4 Sự chăm sóc nhím con……….35
4.5 Nhím con từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi 36
4.5.1 Trọng lượng nhím sơ sinh 36
4.5.2 Thời gian cai sữa 36
4.5.3 Tăng trọng bình quân từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi 37
4.6 Các trường hợp bệnh 37
4.7 Chăm sóc – Quản lý 39
4.8 Hiệu quả kinh tế 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42
5.1 KẾT LUẬN 42
5.1.1 Hình thức chăn nuôi 42
5.1.2 Công tác giống 42
5.1.3 Thức ăn 42
5.1.4 Thị trường nhím giống 422
5.1.5 Khả năng thích nghi 43
5.2 ĐỀ NGHỊ 43
5.2.1 Chuồng trại 43
5.2.2 Thức ăn 43
Trang 75.2.3 Các vấn đề cần nghiên cứu 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45 PHỤ LỤC 47
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của một số loại củ quả 12
Bảng 2.2: Hàm lượng các axít amin trong thức ăn .13
Bảng 4.1:Chuồng trại tại các hộ chăn nuôi điều tra 137
Bảng 4.2: Những loại thức ăn được sử dụng tại các hộ chăn nuôi 30
Bảng 4.3: Trọng lượng nhím nuôi khảo sát từ ngày 02/03/2008 đến ngày 04/06/2009 .31
Bảng 4.4: Ghi nhận một số bệnh của nhím trong thời gian nuôi 38
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: Tăng trọng của nhím qua các giai đoạn nuôi 32
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1: Atherurus macrourus (Ginn Choe, 2006; và Phùng Mỹ Trung, 2002) 7
Hình 2.2: Nhím bờm Mã Lai – Hystrix brachyura (Michigan Sience Art) 9
Hình 2.3: Cấu trúc xương đầu và răng hàm nhím (Phil Myers, 2009) 10
Hình 2.4: Các dạng lông nhím 10
Hình 2.5: Một số sản phẩm từ lông nhím 144
Hình 2.6: Dạ dày nhím phơi khô 155
Hình 3.1: Chuồng nuôi nhím Trại Thực Nghiệm 177
Hình 4.1: Nhím mới mua về nuôi tại Trại Thực Nghiệm (02/03/2008) 221
Hình 4.2: Lưới sắt và nền chuồng bị nhím phá hư 255
Hình 4.3: Chuồng nuôi nhím của anh Nguyễn Văn Đào – trại nhím Hai Đào 255
Hình 4.4: Chuồng nuôi nhím của ông Phạm Ngọc Tuân – trại nhím Tuân Hòa 266
Hình 4.5: Chuồng nuôi nhím của chị Trần Thị Hường – trại nhím Miền Đông 266
Hình 4.6: Cho nhím ăn 29
Hình 4.7: Thức ăn dùng nuôi nhím 31
Hình 4.8: Biểu hiện động dục của nhím 33
Hình 4.9: Sự giao phối của nhím 36
Hình 4.10: Tư thế nhím cái trong giao phối 34
Hình 4.11: Nhím mang thai ……… 34
Hình 4.12: Nhím con sơ sinh đang bú mẹ 35
Hình 4.13: Kiểm tra răng và cơ quan sinh dục của nhím đực sơ sinh 36
Hình 4.14: Bệnh đục giác mạc và nhiễm ký sinh trùng trên nhím 38
Hình 4.15: Nhím bị rụng lông thành mảng 39
Hình 4.16: Nhím bị dị tật bẩm sinh không có răng cửa trên và nhím bị viêm da 39
Hình 4.17: Nhím bị vết thương nhiễm trùng ở vai trước và chân sau 39
Hình 4.18: Lồng bắt nhím 40
Trang 11tự phát, nhỏ lẻ không kiểm soát được chất lượng, ảnh hưởng đến người chăn nuôi, người tiêu dùng
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, Bộ Môn Dinh Dưỡng, Trại Thực Nghiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y, dưới sự hướng dẫn của Ts Dương Duy Đồng, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài: “Tìm hiểu về sự phát triển của nhím tại một số hộ chăn nuôi” để
cung cấp những thông tin cơ bản về loài vật nuôi mới này
1.2 Mục đích – yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm ghi nhận sự sinh trưởng, phát triển; sự sinh sản; và các bệnh thường gặp ở loài nhím nuôi tại Trại Thực Nghiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm; tìm hiểu cách thức nuôi nhím tại nhiều hộ gia đình khác nhau; đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề nuôi nhím Qua đó đưa ra mô hình chăn nuôi nhím đạt chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả nghề nuôi nhím
Trang 121.2.2 Yêu cầu
Theo dõi và ghi nhận sự sinh trưởng, phát triển nhím từ sơ sinh đến trưởng thành;
sự sinh sản của nhím So sánh các phương pháp nuôi nhím tại một số hộ chăn nuôi
Trang 13Chương 2 TỔNG QUAN
2.1 Sơ lược về phân loại
Theo University of Michigan Museum of Zoology, trích dẫn từ Phil Myers và ctv, 2009 thì nhím được phân loại khoa học như sau:
Giới (Kingdom) : Animalia
• Erethizontidae (nhím lông Tân thế giới)
Giống Coendou: gồm các loài
- nhím Brasil, Coendou prehensilis - nhím gai hai màu, Coendou bicolor
- nhím Koopman, Coendou koopmani - nhím Rothschild, Coendou rothschildi Giống Sphiggurus: gồm các loài
- nhím lùn Bahia, Sphiggurus insidiosus - nhím cây Nam Mỹ, Sphiggurus
spinosus
Trang 14- nhím cây Mexico, Sphiggurus mexicanus - nhím lùn lông cam, Sphiggurus
villosus
- nhím lùn lông nâu, Sphiggurus vestitus - nhím lùn có sọc, Sphiggurus
ichillus
- nhím lùn lông mờ, Sphiggurus pruinosus
- nhím Roosmalen, Sphiggurus roosmalenorum
- nhím lùn lông đuôi đen, Sphiggurus melanurus
Giống Erethizon: nhím Bắc Mỹ, Erethizon dorsatum
Giống Chaetomys: nhím gai cứng, Chaetomys subspinosus
Giống Echinoprocta: nhím đuôi cụt, Echinoprocta rufescens
Trang 15• Hystricidae (nhím lông Cựu thế giới)
Giống Hystrix (nhím bờm): gồm các loài
- nhím châu Phi, Hystrix cristata - nhím Cape, Hystrix africaeaustralis
- nhím Himalaya, Hystrix pumila - nhím Ấn Độ, Hystrix indica
- nhím Mã Lai, Hystrix brachyura - nhím Sunda, Hystrix javanica
- nhím Sumatra, Hystrix sumatrae - nhím Borneo, Thecurus crassispinis
Trang 16Giống Thecurus (nhím đuôi chổi): gồm các loài
- nhím đuôi chổi châu Phi, Atherurus africanus
- nhím đuôi chổi châu Á, Atherurus macrourus
Giống Trichys (nhím đuôi dài), Trichys fasciculate
Nhím là loài thú thuộc Bộ gặm nhấm (Rodentia), có cấu tạo đặc trưng là bộ lông
sắc nhọn bao xung quanh cơ thể, hàm răng với 2 đôi răng cửa to và dài ra liên tục
trong quá trình sống Những loài nhím thuộc họ Erethizontidae nói chung nhỏ hơn nhiều so với những loài thuộc họ Hystricidae, các lông của chúng thường không cứng
cáp, mọc đơn lẻ chứ không mọc thành cụm và chúng leo trèo cây rất tốt, dùng nhiều
thời gian sống trên cây Còn những loài nhím trong họ Hystricidae gần như chỉ sống
trên mặt đất, tương đối to lớn hơn, và các lông mọc thành cụm Cả 4 chi đều mập và ngắn Chi trước và sau đều có 5 ngón, kích thước ngón chân cái thì nhỏ hơn, móng chân ngắn Nhím thuộc nhóm đi bằng gan (lòng) bàn chân Bộ lông của họ nhím
Hystricidae thay đổi đáng kể theo loài
Ví dụ: trên giống Trychis, lông ngắn, dẹt Ngược lại, trên giống Hystrix thì lông dài
đến 20cm nhưng bên trong lại rỗng Lông nhím phân thành những đoạn trắng và đen,
Trang 17lông phân bố dày hơn ở phần mông, lưng, đuôi, chúng phát ra âm thanh lách tách khá lớn mỗi khi lắc đuôi, đây cũng là cách cảnh báo kẻ thù Một cách tự vệ khác của nhím
là tấn công bằng lưng, đi lùi về phía kẻ thù Họ Hystricidae được cho là tách ra từ cận
bộ Hystricognathi từ 30 triệu năm về trước, sớm hơn nhiều so với họ Erethizontidae
(Phil Myers, Museum of Zoology, University of Michigan, 2001)
2.2 Mô tả loài nhím ở Việt Nam
Căn cứ vào sự phân bố thì loài nhím sinh sống ở Việt Nam là loài Atherurus
macrourus (Linnaeus, 1758), thuộc giống nhím đuôi chổi (hay còn gọi là con đon) và
loài Hystrix brachyura (Linnaeus, 1758), thuộc giống nhím bờm Các loài thuộc họ
này có kích cỡ trung bình, bên ngoài có bộ lông có gai và trâm nhọn cứng Thức ăn của chúng là thực vật, rễ cây, các loại côn trùng nhỏ
2.2.1 Giống nhím đuôi chổi châu Á – Atherurus macrourus
Nhím đuôi chổi Châu Á (còn gọi là đon) là loài thú nhỏ trong họ Histricidae
Hình 2.1: Atherurus macrourus (Ginn Choe, 2006; và Phùng Mỹ Trung, 2002)
Sự phân bố
Xuất hiện ở khá nhiều ở khu vực Đông Nam Á như Cambodia, Indonesia, Lào, Malaysia, Đông Ấn Độ, Trung Nam Trung Quốc, Đảo Sumatra, Myanma, Thái Lan, Việt Nam (Nguồn: chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng Châu Á - Asian Regional Centre for Biodiversity Conservation, 2004)
Hình dạng
Trọng lượng: 1 – 5 Kg Chiều dài cơ thể: 36,5 – 60 cm, dài đuôi 13,9 – 22,8cm
Bề ngoài hơi giống chuột và khá mảnh khảnh Màu sắc của lông từ nâu đen đến
nâu xám Atherurus macrourus sở hữu những đôi chân chắc, khỏe Đôi tai tròn và nhỏ,
mắt nhỏ Trên đỉnh của lông có màu trắng Phần lông ngắn ở mặt bụng có màu trắng đục đến nâu nhạt Những lông nhọn trên lưng thì dẹt, giống lưỡi dao và có rãnh Lông
Trang 18dài nhất nằm ở phần giữa lưng có thể dài 10 cm Ở phần thấp của lưng, những lông tròn và đặc sẽ nằm rải rác Sau đó là đuôi có một túm lông màu trắng, chúng xếp dày đặc giống vảy cá và tạo ra âm thanh khi lắc Hành động này cũng là cách cảnh báo kẻ thù Đây là loài nhanh nhẹn, có thể chạy, leo trèo và bơi nhanh Chân trước và chân sau đều có 5 ngón
Đặc điểm để phân biệt Atherurus macrourus với loài Hystrix brachyura là:
Atherurus macrourus nhỏ con hơn, có lông gai trâm thô, thưa, ngắn (7 – 10cm) và dẹp;
không tròn và dài như loài nhím Hystrix brachyuran
Tập tính, sinh thái
Ban ngày chúng nghỉ ngơi trong hang đất, đá hoặc giữa các rễ cây, ụ mối, dưới
bóng mát của cây Atherurus macrourus có thể sống ở độ cao 3000m so với mặt nước
biển, chủ yếu tập trung ở rừng trên núi đá vôi hay nơi có nhiều đá lộ đầu, ở trong các hang, hốc đá tự nhiên Thích đào hang ở tầng đất mềm, nơi nhiều cây như khu trồng trọt, rừng và ở gần nguồn nước
Đây là loài ăn thực vật, thỉnh thoảng chúng cũng ăn côn trùng hay xác chết Ban ngày hợp thành nhóm ẩn nấp trong gốc cây, ban đêm đi kiếm ăn riêng lẻ, có thể đi xa
15 km mỗi đêm để kiếm ăn (Gould và ctv, 1998; Grzimek và ctv, 2003)
Atherurus macrourus sống thành đàn từ 4 đến 8 thành viên, trong đàn thường có
một cặp trưởng thành, một vài con non đang phát triển Chúng có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác nhau từ rừng nguyên sinh đến các vùng đất canh tác
Đặc điểm sinh sản
Atherurus macrourus sinh sản 1 – 2 lứa mỗi năm, 1 – 2 con/lứa Mùa giao phối
hầu như quanh năm ở những vùng khí hậu thích hợp Thời gian con đực và cái trưởng thành sinh dục trung bình là 2 năm
Những lông nhọn trên lưng con cái thường gây khó khăn cho con đực khi giao phối, và con cái có thể tấn công bằng lưng về phía con đực
Con con sinh ra rất lanh lợi và mở mắt chỉ vài giờ sau khi được sinh Do con sơ sinh rất nhỏ (chiếm 3% trọng lượng cơ thể của mẹ) nên cần chăm sóc trong thời gian dài Cả bố và mẹ đều tham gia vào quá trình nuôi dưỡng và chăm sóc con (Storch and Parker, 1990) Thời gian cai sữa: trung bình khoảng 2 tháng Sau 1 -2 năm, con sinh ra
có thể sinh hoạt độc lập
Trang 19Tình trạng
Số lượng Atherurus macrourus ở Việt Nam còn tương đối nhiều Tuy nhiên cũng
cần phải có biện pháp bảo vệ loài này trong tự nhiên
Giá trị sử dụng
Đây là nguồn thực phẩm có giá trị cho đồng bào dân tộc, chúng có thể được săn bắt làm thịt Và là con mồi của các loài ăn thịt lớn khác như: hổ, báo, sói…Tuy nhiên
Atherurus macrourus cũng là loài gây một số tác hại cho sản phẩm nông lâm nghiệp vì
chúng đào bới các loại cây trồng như khoai mì, bắp, dứa, khoai tây… làm chết cây
2.2 Giống nhím bờm Mã Lai – Hystrix brachyura
Tên gọi: Nhím Đuôi Ngắn, nhím Bờm (dân tộc Kinh), Tô Mển (dân tộc Thái), Điền Dạy (dân tộc Dao), (Theo Lê Hiền Hào, 1973)
Hình 2.2: Nhím bờm Mã Lai – Hystrix brachyura (Michigan Sience Art)
Phân bố
Hystrix brachyura (Linnaeus, 1758) có ở Malaysia, Singapore, Nêpan, Ấn Độ,
Bhutan, Trung Quốc, Bangladesh, Myanma, Thái Lan, Lào, Cambodia, Việt Nam…
Cấu tạo xương đầu của Hystrix brachyura
Hystrix brachyura có cấu trúc của bộ gặm nhấm dạng nhím Ở xương đầu, lỗ dưới
hốc mắt chạy từ phần trước của hốc mắt tới mặt ngoài của mõm, kích thước rất lớn Thông qua lỗ hốc mắt, một phần của cơ nhai giữa phình to và chạy ngang trên mặt bên của mõm tới cung gò má Cơ nhai trên bắt nguồn từ rìa phía trước của xương gò má, còn cơ nhai bên trải rộng trên phần lớn chiều dài của xương gò má (Carleton M D và
G G Musser, 2005)
Công thức răng: I 1/1, C 0/0, PM 1/1, M 3/3 = 20, răng hàm có hình vương miện Nhím không có răng nanh
Trang 20Với I = răng cửa, C = răng nanh, PM = răng tiền hàm, M = răng hàm
Hình 2.3: Cấu trúc xương đầu và răng hàm nhím (Phil Myers, 2009)
Hình dạng
Trọng lượng trưởng thành: 10 – 30 kg Chiều dài cơ thể: 60 – 93 cm, trong đó chiều dài đuôi: 6,4 – 20 cm Là loài lớn nhất trong bộ gặm nhấm
Hystrix brachyura có đặc điểm riêng là những lông mảnh, dài trên phần đầu và
gáy tạo thành bờm Lông bờm dài 30-60mm, màu nâu sẫm Đầu to, mõm ngắn, tai và mắt đều nhỏ Hình dáng nặng nề, thân mình tròn Có nhiều ria ở phần đầu, quanh miệng Bộ lông thô cứng, ngắn, màu đen hoặc nâu sẫm bao phủ đầu, cổ, vai, chân và mặt dưới bụng Dọc trên lưng có những cọng lông cứng, nhọn, dài, mọc chĩa thẳng về phía sau (Nhím - Sinh Vật Rừng Việt Nam, 2002) Lông có những đoạn đen, trắng xen
kẽ nhau và dài khoảng 50 – 450 mm nhưng bên trong lại rỗng, thường dùng để tự vệ, mọc thành cụm Đuôi ngắn có những cọng lông mà đầu tận cùng phình ra thành hình cốc rỗng ruột, màu trắng, đuôi có thể phát ra âm thanh khi lắc Chân trước của Hyxtrix
có 5 ngón, ngón cái gần như bị thoái hóa Chân sau có 5 ngón và ngắn hơn chân trước Nhím di chuyển bằng lòng bàn chân (Nowak, 1991; Grzimek, 1990)
Hình 2.4: Các dạng lông nhím
Trang 21Tập tính, sinh thái
Nhím bờm Hystrix brachyura có khả năng thích nghi với nhiều môi trường khác
nhau, từ rừng nguyên sinh đến rừng suy thoái Nhím là loài hiền lành, khá nhút nhát,
có thính giác và khứu giác rất phát triển Chúng sống thành những nhóm gia đình, gồm một cặp trưởng thành, một vài nhím con cùng nhím đang phát triển
Ban ngày nhím ngủ trong các hang hốc tự đào, miệng hang có cây cỏ xum xuê,
có nhiều cửa ngách Ban đêm mới đi kiếm ăn, chúng thường đi theo lối mòn nên dễ
bị bẫy
Khi gặp kẻ thù nhím thể hiện động tác đe dọa bằng cách nghiến răng, dậm chân,
xù lông và rung đuôi tạo ra tiếng động “lách cách”, “lè xè” để dọa nạt kẻ thù và thông báo tín hiệu với những con cùng đàn để lẩn tránh Nếu không có kết quả thì chúng sẽ rút lui Tuy nhiên, nếu kẻ thù tiếp tục truy đuổi, chúng sẽ bỏ chạy nhanh, sau đó đột ngột dừng lại, làm cho kẻ thù bị lông đâm Qua nghiên cứu thấy rằng nhím lắc đuôi như vậy để thể hiện khả năng uy lực của mình trước kẻ thù (Nguồn: chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng Châu Á - Asian Regional Centre for Biodiversity Conservation, 2004)
Thức ăn
Thức ăn là yếu tố đầu tiên để nghiên cứu tập tính của phần lớn động vật Nhím có khả năng tiêu hóa chất xơ rất tốt và có nguồn thức ăn đa dạng Nhím ăn gần như hầu
hết các loài thực vật kể cả rễ cây, nhưng chúng thích nhất là phần hạt
Thức ăn gồm: rễ cây, măng, vỏ cây, quả chín rụng xuống đất, các loại thực vật và hoa màu, xương động vật, sừng hươu, hoẵng Ngoài ra, chúng cũng có thể ăn côn trùng, động vật nhỏ có xương sống và xác chết Chúng thường tha xương động vật hay sừng hươu, hoẵng vào hang gặm nhấm để lấy canxi và mài răng cửa cho ngắn bớt lại
và sắc hơn (Nowak, 1991)
Hiện chưa tìm thấy công trình nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của nhím qua các giai đoạn phát triển Việc này rất cần thiết vì giúp tăng hiệu quả kinh tế việc nuôi nhím
Trang 22Bảng 2.1: Thành phần dinh dưỡng của một số loại củ quả (theo Sổ tay thành phần
dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam, Nguyễn Văn Thưởng, 1992)
Hàm lượng các chất dinh dưỡng (g/kg)
Khoáng
Phốt pho
Trang 23Bảng 2.2: Hàm lượng các axít amin trong thức ăn
( theo Sổ tay thành phần dinh dưỡng thức ăn gia súc Việt Nam, Nguyễn Văn Thưởng,
Hystrix brachyura dễ sinh sản Con đực trưởng thành sau 12 tháng, con cái 12 -17
tháng tuổi Mỗi năm 1 con nhím cái đẻ khoảng 2 lứa Mùa sinh sản vào tháng 3 - 4 và
tháng 10 - 11 Khi lên giống, nhím cái sẽ tấn công những con đực nếu không quen biết,
Trang 24chỉ sau một khoảng thời gian làm quen, con cái mới cho phép con đực giao phối (Grzimek, 1990) Khi giao phối, nhím cái sẽ cong đuôi lên, con đực nhảy lên và để hai chân trước trên lưng con cái Nhím cái có hai hoặc ba cặp vú ở bên hông ngực Khi cho con bú nhím mẹ nằm úp bụng xuống đất
Thời gian mang thai: khoảng 100 - 112 ngày Mỗi lần đẻ khoảng 2 - 3 con Trọng lượng sơ sinh: 230 - 445g Nhím con sau khi sinh đã mở mắt, có răng cửa, cơ thể đã có đầy đủ lông, nhưng phần lông trên lưng nhỏ và mềm Cũng giống như các loài nhím khác, nhím con chiếm khoảng 3% trọng lượng cơ thể nhím mẹ Nhím con có thể tập đi kiếm ăn sau 1 tuần; sau 2 đến 3 tuần thì nhím con có thể ăn một số loại thức ăn rắn
(“AnAge entry for Hystrix brachyuran”, 2008)
và Angelici, 1992) Ngoài ra, một số cơ quan trong cơ thể Hystrix brachyura được
dùng làm thuốc chữa bệnh như dạ dày, lông, da… Bao tử nhím là loại dược liệu quí dùng để ngâm rượu thuốc chữa bệnh đau bao tử, kích thích ăn uống, tiêu hóa tốt Thị trường tiêu thụ thịt nhím và bao tử nhím rất phong phú và đa dạng, hiện còn rất khan hiếm (Đặng Tịnh, 2007)
Nhím được xem là loài phá hoại nông nghiệp vì trong tự nhiên chúng thường chui vào nương, rẫy của con người để ăn hoa màu như ngô, bí đỏ, sắn, lạc
Hình 2.5: Một số sản phẩm từ lông nhím
Trang 25Dạ dày nhím và các bộ phận khác được sử dụng trong Đông Y
Thường người ta săn bắt nhím để ăn thịt Mùa săn bắt gần như quanh năm, ngoài thịt dùng để ăn, người ta thu lấy lớp màng bao phủ dạ dày và gan, phơi hay sấy khô để làm thuốc Theo Đỗ Tất Lợi (1982), ta sao dạ dày nhím với cát hay sao với hoạt thạch cho nở phồng lên rồi sắc thuốc hoặc tán bột mà uống
Công dụng và liều dùng: Theo tài liệu cổ, dạ dày nhím có vị đắng, ngọt, tính bình (Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân thì vị ngọt, tính hàn, không độc) Vào hai kinh vị và đại tràng Có tác dụng lương huyết (mát máu), giải độc, làm hết đau, trĩ lậu ra huyết Dùng chữa những trường hợp trĩ lòi dom chảy máu, di mộng tinh, nôn mửa, lỵ ra máu
Đơn thuốc có dạ dày nhím: dạ dày nhím sao phồng (với hoạt thạch rồi rây bỏ hoạt thạch) 3 - 6g, hoa hòe 10g, thêm 100ml nước sắc kỹ rồi dùng nước sắc hoa hòe này chiêu dạ dày nhím đã sao và tán bột Liều trên chia làm 3 lần uống trong ngày Tác dụng trị bệnh trĩ
Hình 2.6: Dạ dày nhím phơi khô
Trang 26Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm
• Trại nhím ông Thân Quang Vịnh, phường Linh Trung, quận Thủ Đức
• Trại nhím Hai Đào, Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
• Trại nhím Miền Đông, Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
• Trại nhím Tuân Hòa, Củ Chi, TP HCM
• Trại nhím Minh Hòa, Bình Chánh, TP HCM
• Trại nhím Lan Dũng, Vĩnh Cửu, Đồng Nai
3.2 Đối tượng và nội dung nghiên cứu
• Nhím Hystrix brachyura từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi
• Nhím Hystrix brachyura từ 3 tháng tuổi đến sinh sản và sau sinh sản
Việc khảo sát được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Khoa CNTY trường Đại Học Nông Lâm TP HCM và một số hộ chăn nuôi nhím tại tỉnh Bình Phước, tỉnh Đồng Nai
và tại TP HCM
Tại Trại Thực Nghiệm Khoa CNTY trường Đại Học Nông Lâm TP HCM: theo
dõi, ghi chép về sự sinh trưởng, phát triển, sinh sản, bệnh tật của 4 cặp nhím thuộc các
độ tuổi khác nhau Ghi nhận cách chăm sóc và nuôi dưỡng nhím Đánh giá hiệu quả kinh tế
Tại các hộ chăn nuôi: thực hiện các chuyến đi khảo sát tại các hộ chăn nuôi Lập phiếu điều tra hộ chăn nuôi về một số chỉ tiêu khảo sát Quan sát, chụp hình nhím, các
Trang 27loại thức ăn và chuồng trại Tìm hiểu thông tin về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, sự sinh trưởng, phát triển của nhím nuôi qua phỏng vấn Tình hình con giống, dịch bệnh và các khó khăn (nếu có) của người chăn nuôi
3.3 Điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng nhím tại Trại Thực Nghiệm Khoa CNTY 3.3.1 Chuồng trại
Hình 3.1: Chuồng nuôi nhím Trại Thực Nghiệm
Khoa CNTY trường Đại Học Nông Lâm Nhím được nuôi trong chuồng lợp mái tôn có tấm cách nhiệt, nền xi măng, xung quanh xây gạch cao 30cm rồi rào lưới B40 phía trên Diện tích 1 ô chuồng là 1,5m * 1m, chiều cao 1m Có tất cả 2 dãy chuồng, mỗi dãy 5 ô chuồng, ở giữa có chừa lối đi 0,8m Nền chuồng hơi dốc, có 2 nơi thoát nước
Toàn bộ khu chuồng nằm trong hệ thống chuồng trại của trại thực nghiệm khoa CNTY, nằm ở hướng Tây Nam, thoáng mát song có chút nắng vào đầu buổi chiều Xung quanh khu vực nuôi có bạt cuốn che phủ nên nhím không bị mưa tạt Tuy vậy, chuồng nuôi nhím thiếu yên tĩnh do nhiều hoạt động xung quanh
Trong mỗi ô chuồng nuôi 1 cặp nhím tương ứng với các lứa tuổi: 3 tháng, 4 tháng, 6 tháng, 8 tháng tuổi Cách bố trí chuồng rất thoáng mát, dễ quan sát nhím từ bên ngoài
3.3.2 Thức ăn
Thức ăn sử dụng để nuôi nhím rất phong phú, mua từ Chợ Đầu Mối Nông Sản Tam Bình như bí đỏ, bí xanh, bầu, khoai lang, cà rốt, củ cải trắng, su su, su hào, cà
Trang 28chua, rau mùng tơi, rau muống, chuối, giá đỗ, đậu phộng, bắp hạt, dưa hấu, dừa khô, xương bò…
Cách cho ăn: thức ăn được rửa sạch, phơi ráo nước, chia nhỏ, cân và rải trên nền xi măng trong chuồng cho nhím ăn Nhím ăn 1 ngày 3 bữa vào các thời điểm: 6 - 7h sáng, 16 - 17h chiều và 21 - 22h tối Mỗi bữa chỉ cho ăn 1 – 2 loại thức ăn, ngoài ra còn bổ sung thêm xương bò, gạch đỏ, đá liếm, và vỏ dừa khô cho nhím gặm để mài răng và bổ sung khoáng Không cho nhím uống nước
Lượng thức ăn:
Nhím từ 3 tháng đến 6 tháng tuổi: từ 400 – 550g/ngày
Nhím từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi: từ 600 – 800g/ngày
Nhím từ 12 tháng đến 17 tháng tuổi: từ 800 – 1200g/ngày
Nhím trên 17 tháng tuổi: 1500 – 1800g/ngày
Nhím đang phối giống: 1500g/ngày và bổ sung thêm 2 ngày 1 lần, mỗi lần 100g giá, 250g dừa khô, 150g đậu
Nhím mang thai, nuôi con: 2000g/ngày và bổ sung thêm 2 ngày 1 lần, mỗi lần 250g dừa khô, 250g đậu phộng
3.3.3 Chăm sóc – Quản lý
Vệ sinh chuồng trại: quét dọn phân, thức ăn thừa và chà rửa chuồng nuôi nhím hàng ngày vào khoảng 7h – 9h sáng bằng nước giếng Khi ra vào chuồng, người nuôi phải mang ủng, hạn chế cho khách tham quan ra vào chuồng
3.4 Các chỉ tiêu khảo sát và phương pháp theo dõi
3.4.1 Khả năng tăng trọng nhím từ 3 tháng tuổi trở lên
Cân trọng lượng nhím lúc bắt đầu nuôi (02/03/2008) và lúc kết thúc nuôi (05/06/2009), cân vào sáng sớm trước khi cho ăn
• Tăng trọng (kg) = trọng lượng cuối – trọng lượng đầu
• Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) = ( trọng lượng cuối – trọng lượng
đầu)/Tổng số ngày nuôi
3.4.2 Tuổi phối lần đầu
• Tuổi phối lần đầu được tính từ lúc nhím cái được sinh ra cho đến khi nhím cái phối lần đầu tiên
Trang 293.4.3 Tuổi đẻ lứa đầu
Phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: dinh dưỡng, chế độ chăm sóc, khí hậu, mùa sinh sản
• Tuổi đẻ lứa đầu là số ngày tuổi tính từ ngày nhím cái được sinh ra đến ngày nhím cái đó đẻ lứa đầu tiên
3.4.4 Trọng lượng bình quân nhím sơ sinh:
• TLBQNSS (Kg) = Tổng trọng lượng nhím sơ sinh theo dõi/Tổng số nhím sơ sinh theo dõi
3.4.5 Thời gian cai sữa
Là khoảng thời gian tính từ khi nhím con được sinh ra đến khi thôi bú sữa mẹ
3.4.6 Trọng lượng bình quân nhím cai sữa
• TLBQNCS (g)= Trọng lượng tổng số nhím cai sữa/Số nhím cai sữa
3.4.7 Khả năng tăng trọng nhím con
Tiến hành cân nhím con sơ sinh, sau đó cân mỗi tháng 1 lần Từ đó tính khả năng tăng trọng của nhím con như sau:
• Tăng trọng tuyệt đối (g/con/ngày) = (Tổng trọng lượng cuối tháng – Tổng
trọng lượng đầu tháng)/số ngày trong tháng
3.4.8 Hiệu quả kinh tế
Tính sơ bộ chi phí thức ăn, chuồng trại, con giống, thú y, công nhân…mà người chăn nuôi đầu tư khi nuôi nhím, và số lượng nhím con sinh ra, giá bán nhím xuất chuồng trong thời gian nuôi khảo sát, để từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế
3.5 Cách điều tra khảo sát tại các hộ chăn nuôi
3.5.1 Phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn những người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc nhím để tìm hiểu thông tin về: phương pháp chọn giống, về giá cả nhím; cách cho ăn, sự chăm sóc và quản lý nhím; sự sinh trưởng và phát triển của nhím; tình hình dịch bệnh và những khó khăn của người nuôi nhím…
Quan sát, chụp hình nhím nuôi tại các hộ gia đình, chuồng trại và thức ăn cho nhím
3.5.2 Phiếu điều tra chăn nuôi
Lập phiếu điều tra và để người chăn nuôi trả lời bằng cách điền vào phiếu nhằm tìm hiểu một vài thông tin chi tiết như: nguồn gốc nhím, mục đích chăn nuôi, khả năng tăng trọng, tuổi đẻ lứa đầu…Chi tiết về phiếu điều tra chăn nuôi được ghi trong phần phụ lục