1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC CỦA HEO HẬU BỊ CÁI THUỘC CÁC NHÓM GIỐNG HIỆN CÓ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI HEO PHÚ SƠN – TRẠI HEO PHÚ SƠN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI

93 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 542,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC CỦA HEO HẬU BỊ CÁI THUỘC CÁC NHÓM GIỐNG HIỆN C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC CỦA HEO HẬU BỊ CÁI THUỘC CÁC NHÓM GIỐNG HIỆN CÓ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN

NUÔI HEO PHÚ SƠN – TRẠI HEO PHÚ SƠN

HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI

Họvà tên sinh viên : VŨ CHUNG CHÍNH

Lớp : DH05CN Niên khóa : 2005-2009

Trang 2

KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT DỤC CỦA HEO HẬU BỊ CÁI THUỘC CÁC NHÓM GIỐNG HIỆN CÓ TẠI CÔNG

TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI HEO PHÚ SƠN – TRẠI HEO PHÚ SƠN

HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI

Tác giả

VŨ CHUNG CHÍNH

Khóa luận được đệ đáp ứng yêu cầu cấp bằng kỹ sư ngành Chăn Nuôi

Giáo viên hướng dẫn:

TS TRẦN VĂN CHÍNH

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Thành kính dâng lên cha mẹ

Người đã sinh thành dưỡng dục để con có được ngày như hôm nay

Cảm ơn

Tất cả các bạn bè trong và ngoài lớp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Vũ Chung Chính

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài được thực hiện từ ngày 6/2/2009 đến ngày 20/5/2009 tại trại heo Phú Sơn Với mục đích đánh giá sự sinh trưởng và phát dục của heo hậu bị cái thuộc các nhóm giống Yorshire, Landrace, Duroc, Landrace x Yorshire, Yorshire x Landrace, giai đoạn từ 90 – 180 ngày tuổi hiện có tại trại

Số heo khảo sát được theo dõi nhiều đợt chuyển heo từ 90 ngày tuổi đến 180 ngày tuổi để nuôi giai đoạn hậu bị, vào lúc 90 ngày tuổi là 168 con và lúc 180 ngày tuổi là 133 con thuộc 5 nhóm giống Yorkshire, Landrace, Duroc, Landrace x Yorkshire, Yorkshire x Landrace

Kết quả cho thấy một số chỉ tiêu về sinh trưởng như sau:

Trọng lượng sống lúc 180 ngày tuổi của nhóm heo Yorkshire (89,13 kg), Landrace (88,89 kg), Duroc (89,12 kg), Landrace x Yorkshire (90,08 kg), Yorkshire x Landrace (89,56 kg)

Tăng trọng ngày giai đoạn 90 – 180 ngày tuổi của nhóm heo Yorkshire (591,67 g/con/ngày), Landrace (615,69 g/con/ngày), Duroc (607,6 g/con/ngày), Landrace x Yorkshire (649,1g/con/ngày), Yorkshire x Landrace (640,94 g/con/ngày)

Hệ số chuyển biến thức ăn ở giai đoạn khảo sát 90 – 180 ngày tuổi của nhóm heo Yorkshire (3,28 kg), Landrace (3,43 kg), Duroc (3,68 kg), Landrace x Yorkshire (3,53 kg), Yorkshire x Landrace (3,37 kg)

Dày mỡ lưng hiệu chỉnh về trọng lượng 90 kg, Yorkshire (9,62 mm), Landrace (9,10 mm), Duroc (9 mm), Landrace x Yorkshire (9,03mmm), Yorkshire x Landrace (8,88 mm)

Tuổi động dục lần đầu, của heo Yorkshire (222,4 ngày), Landrace (228,78 ngày), Duroc (226 ngày), Landrace x Yorkshire (252,3 ngày), Yorkshire x Landrace (253,1 ngày)

Tuổi phối giống lần đầu, của heo Yorkshire (257,3 ngày), Landrace (268,59 ngày), Duroc (251,94 ngày), Landrace x Yorshire (280,74 ngày), Yorkshire x Landrace (252 ngày)

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

TRANG TỰA i

LỜI CẢM TẠ ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH SÁCH CÁC BẢNG viii

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ ix

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1

1.2.1 Mục đích 1

1.2.2.Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI PHÚ SƠN 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Quá trình hình thành và hoạt động phát triển của công ty .3

2.1.3 Nhiệm vụ của công ty 4

2.1.4 Cơ cấu đàn 4

2.1.5 Cơ cấu quản lý tổ chức Công ty 5

2.1.6 Đặc điểm nguồn gốc giống và sự hình thành đàn 5

2.1.7 Quản lý và chăm sóc heo hậu bị 7

2.1.8 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 7

2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 9

2.2.1 Heo hậu bị của trại được chọn lọc qua 5 thời điểm 9

2.2.2 Sinh trưởng và phát dục 10

Trang 6

3.3 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 17

3.4 CHỈ TIÊU KHẢO SÁT 18

3.4.1 Trọng lượng sống 18

3.4.2 Tăng trọng ngày 18

3.4.3 Dài thân thẳng 18

3.4.4 Vòng ngực 18

3.4.5 Vòng ống 18

3.4.6 Chỉ số to xương 18

3.4.7 Chỉ số tròn mình 18

3.4.8 Dày mỡ lưng hiệu chỉnh về trọng lượng 90 kg 19

3.4.9 Hệ số chuyển biến thức ăn 19

3.4.10 Tuổi lên giống lần đầu 19

3.4.11 Tuổi phối giống lần đầu 19

3.4.12 Tỉ lệ nuôi sống 19

3.4.13 Tỉ lệ heo bị bệnh 19

3.4.14 Chỉ số chọn lọc 19

3.4.15 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 20

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21

4.1 TRỌNG LƯỢNG SỐNG 21

4.2 TĂNG TRỌNG NGÀY 25

4.3 DÀI THÂN THẲNG 27

4.4 VÒNG NGỰC 31

4.5 VÒNG ỐNG 35

4.6 CHỈ SỐ TRÒN MÌNH 39

4.7 CHỈ SỐ TO XƯƠNG 41

4.8 HỆ SỐ CHUYỂN BIẾN THỨC ĂN 43

4.9 DÀY MỠ LƯNG Ở 150 NGÀY TUỔI 44

4.10 DÀY MỠ LƯNG HIỆU CHỈNH VỀ 90 Kg 45

4.11 TỈ LỆ NUÔI SỐNG 47

4.12 TỈ LỆ HEO BỊ TIÊU CHẢY 48

Trang 7

4.14.TUỔI LÊN GIỐNG LẦN ĐẦU 52

4.15 TUỔI PHỐI GIỐNG LẦN ĐẦU 53

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 KẾT LUẬN 55

5.2 ĐỀ NGHỊ 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

PHỤ LỤC 59

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DD: Heo Duroc thuần

LL: Heo Landrace thuần

YY: Heo Yorshire thuần

LY: Heo lai cha là Landrace, mẹ là Yorshire

YL: Heo lai cha là Yorshire, mẹ là Landrace

SD: Độ lệch chuẩn

X : Trung bình

SD: Độ lệch tiêu chuẩn (Standard deviation)

CV: Hệ số biến dị (Coefficient of variation)

DF: Độ tự do (Dergree of Freedom)

SV: Nguồn gốc biến thiên (Sum of Square)

SS: Tổng bình phương (Sum of Square)

MS: Trung bình bình phương (Mean of Square)

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn heo 4

Bảng 2.2 Nguồn gốc giống Yorkshire 6

Bảng 2.3 Nguồn gốc giống Landrace 6

Bảng 2.4 Nguồn gốc giống Duroc 7

Bảng 2.5 Quy trình tiêm phòng 9

Bảng 2.6 Hệ số di truyền một số tính trạng 12

Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của các lọai thức ăn .17

Bảng 4.1 Trọng lượng sống 24

Bảng 4.2 Tăng trọng ngày 26

Bảng 4.3 Dài thân thẳng 30

Bảng 4.4 Vòng ngực 34

Bảng 4.5 Vòng ống 38

Bảng 4.6 Chỉ số tròn mình 40

Bảng 4.7 Chỉ số to xương 42

Bảng 4.8 Hệ số chuyển biến thức ăn 44

Bảng 4.9 Dày mỡ lưng ở 150 ngày tuổi 45

Bảng 4.10 Dày mỡ lưng hiệu chỉnh về trọng lượng 90 kg 46

Bảng 4.11 Tỉ lệ nuôi sống 47

Bảng 4.12 Tỉ lệ heo bị tiêu chảy 48

Bảng 4.13 Chỉ số chọn lọc 50

Bảng 4.14 Tuổi lên giống lần đầu 52

Bảng 4.15 Tuổi phối giống lần đầu 54

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 4.1 Trọng lượng sống lúc 180 ngày tuổi 24

Biểu đồ 4.2 Tăng trọng ngày lúc 90 - 180 ngày tuổi 27

Biểu đồ 4.3 Dài thân thẳng lúc 180 ngày tuổi 31

Biểu đồ 4.4 Vòng ngực lúc 180 ngày tuổi 35

Biểu đồ 4.5 Vòng ống lúc 180 ngày tuổi 38

Biểu đồ 4.6 Chỉ số tròn mình lúc 180 ngày tuổi 40

Biểu đồ 4.7 Chỉ số to xương lúc 180 ngày tuổi 42

Biểu đồ 4.8 Hệ số chuyển biến thức ăn giai đoạn 90 – 180 ngày tuổi 44

Biểu đồ 4.9 Dày mỡ lưng ở 150 ngày tuổi 45

Biểu đồ 4.10 Dày mỡ lưng hiệu chỉnh về trọng lượng 90 kg 46

Biểu đồ 4.11 Tỉ lệ nuôi sống 47

Biểu đồ 4.12 Tỉ lệ heo bị tiêu chảy 49

Biểu đồ 4.13 Chỉ số chọn lọc 50

Biểu đồ 4.14 Tuổi lên giống lần đầu 53

Biểu đồ 4.15 Tuổi phối giống lần đầu 54

Trang 11

có đạt chất lượng tốt hay không

Cũng vì thế trong chăn nuôi heo chúng ta cần phải thường xuyên thực hiện việc chọn lọc những nái hậu bị tốt để phục vụ cho việc thay đàn, cải thiện khả năng sinh sản của đàn nái trong tương lai, và khả năng cho thịt của heo thương phẩm

Xuất phát từ những vấn đề nói trên cùng với nguyện vọng và sự phân công của Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm, Bộ môn Di Truyền Giống với sự giúp đỡ tận tình của TS Trần Văn Chính chúng tôi thực hiện đề tài “ Khảo sát một số chỉ tiêu sinh trưởng và phát dục của heo hậu thuộc các nhóm giống hiện có tại Công

Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Heo Phú Sơn – Trại Heo Phú Sơn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai”

Trang 12

1.2.2.Yêu cầu

Thu thập thực tế môt số chỉ tiêu về sinh trưởng và ngoại hình thể chất của từng

cá thể heo hậu bị cái

Chọn được các cá thể nái tốt về ngoại hình thể chất và tăng trọng tuyệt đối, độ dày mỡ lưng thông qua chỉ số chọn lọc

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHĂN NUÔI PHÚ SƠN

2.1.1 Vị trí địa lý

Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn nằm trên địa bàn ấp Phú Sơn, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Cách quốc lộ 1A khoảng 2 km về phía bắc Công ty đựơc xây dựng trên sườn đồi dốc theo hướng Bắc Nam có độ dốc < 300, đây

là vùng đồi trọc, đất bạc màu, không sình lún nên dễ dàng cho việc thoát nước

Nguồn nước sử dụng cho trại là từ những giếng khoan do có cấu tạo thổ nhưỡng đặc biệt nên nguồn nước khá phong phú, nước trong mát ít phèn, không mùi tanh hôi, lưu lượng rất lớn và đạt vệ sinh nên được sử dụng tốt cho hoạt động của công ty

2.1.2 Quá trình hình thành và hoạt động phát triển của công ty

Công ty được thành lập vào tháng 3/1976 theo quyết định số 41/UBT của UBND tỉnh Đồng Nai trên cơ sở tiếp nhận trại heo tư nhân KYCANNOMO Khi mới thnàh lập, Công ty có tên là Quốc doanh chăn nuôi Phú Sơn, đơn vị hạch toán độc lập thuộc Ty Nông Nghiệp Đồng Nai

Năm 1984, Quốc doanh chăn nuôi Phú Sơn được sát nhập vào Công ty chăn nuôi Đồng Nai, trở thành đơn vị hạch toán độc lập và đổi tên thành Xí Nghiệp Chăn Nuôi Phú Sơn

Tháng 12/1994, Xí Nghiệp Chăn Nuôi Phú Sơn tiếp quản Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Long Thành

Tháng 2/1997 Xí Nghiệp tiếp nhận thêm Trại Chăn Nuôi Heo Đông Phương Tháng 8/2000 Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú Sơn được Chủ Tịch nước trao tặng “Đơn vị anh hung lao động trong thời kì đổi mới” đây là phần thưởng vinh dự và

Trang 14

Ngày 17/6/2005 Xí Nghiệp Chăn Nuôi Heo Phú Sơn đổi tên thành Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn

2.1.3 Nhiệm vụ của công ty

Xây dựng đàn heo giống thuần hạt nhân (ông, bà) và đàn giống căn bản (cha, mẹ) của ba giống heo Landrace, Yorkshire và Duroc để sản xuất các giống heo thương phẩm lai 3 máu chất lượng cao với công thức lai:

D x (Y x L) hoặc D x (L x Y)

Công ty không ngừng nâng cao chất lượng đàn giống bằng cách chọn lọc và lai tạo với các giống Landrace, Yorkshire và Duroc cải tiến được nhập về từ các nước như: Pháp, Thái Lan (1992), Mỹ (1995), Thái Lan (1997), Úc (2003) và Mỹ (7/2007)

Do đó, heo thương phẩm của công ty luôn có chất lựơng tốt

Cung cấp đực và cái hậu bị, heo giống và heo thịt thương phẩm cho người chăn nuôi trong tỉnh và các tỉnh lân cận

Cung cấp tinh heo thuần đáp ứng nhu cầu gieo tinh nhân tạo cho người chăn nuôi trong khu vực.Đến nay công ty đã và đang cải tạo, xây dựng chuồng trại theo mô hình chăn nuôi hiện đại nhằm tạo ra được sự thích nghi cũng như tiểu khí hậu tốt nhất cho từng loại heo

2.1.4 Cơ cấu đàn

Bảng 2.1 Cơ cấu đàn heo

Số lượng Loại heo

Trang 15

2.1.5 Cơ cấu quản lý tổ chức Công ty

GG: Giống gốc

TP: Thương phẩm

2.1.6 Đặc điểm nguồn gốc giống và sự hình thành đàn

Nguồn gốc giống tại Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn khá phong phú, ngoài những giống thuần Landrace, Yorkshire và Duroc, Công ty còn tiến hành lai tạo ra những con nái lai hai nhóm máu có thành tích sinh sản cao Bên cạnh đó Công ty còn

Giám Đốc

Phó Giám Đốc

P Kế toán

thống kê

P Kỹ thuật

P Kế hoạch kinh doanh

P Quản lý chất lượng

Tổ nái sinh cai sữa

GG

Tổ nái bầu

GG

Tổ hậu

bị nhỏ

GG

Tổ sản xuất tinh

Tổ chế biến thức

ăn

Tổ bảo

vệ

Trang 16

• Giống Yorkshire

Đặc điểm: Có thân hình chữ nhật, lưng phẳng, thân dài từ 165 – 185cm, màu sắc lông trắng tuyền, dòng Yorkshire từ Úc có mông vai rất nở, có một vài đốm đen ở gốc tai Mõm dài vừa phải, bốn chân cao đi lại vững chắc, tăng trọng nhanh, chất lượng thịt tốt Trọng lượng trưởng thành đạt từ 220 đến 280kg

Nguồn gốc và sự hình thành từ nái nền của trại kết hợp việc nhập và chọn từ nhiều tại cả các trại trong nước và ngoài nước được trình bày ở bảng 2.2 như sau

Bảng 2.2 Nguồn gốc giống Yorkshire

Số lượng (con) Thời gian Nguồn gốc

Trang 17

• Giống Duroc

Đặc điểm: Đây là giống có thân hình vững chắc, lông có màu từ nâu đỏ đến nâu sẫm Bốn chân to khoẻ, cao đi lại vững vàng, tai to ngắn, ½ phía đầu tai gập về phía trước Đầu to, mõm thẳng và dài vừa phải, đầu mũi và bốn chân có màu đen, mắt lanh lợi, bộ phận sinh dục lộ rõ, lưng cong Giống Duroc lai tạo tại trại mông vai rất nở, nạc cao Trọng lượng trưởng thành từ 180 đến 250 kg Duroc được sử dụng để làm đực cuối trong công thức lai 3 máu của trại Đàn heo Duroc tại trại được nhập và chọn từ nhiều tại các trại trong và ngoài nước, số lượng được trình bày ở bảng 2.4 như sau:

Bảng 2.4 Nguồn gốc giống Duroc

Số lượng (con) Thời gian Nguồn gốc

2.1.7 Quản lý và chăm sóc heo hậu bị

Công nhân mỗi sáng cho ăn và quan sát những biểu hiện bệnh lý của Heo kiểm soát đàn heo báo lên trưởng trại số heo bệnh và heo tử Ngày cho ăn một lần và heo được ăn tự do, tắm rửa cho heo ngày một lần vào giữa buổi sáng Mỗi tổ đều có một kĩ thuật làm nhiệm vụ thú y, theo dõi bệnh và tiêm trích thuốc

Trang 18

Vào thứ tư phun thuốc sát trùng Bioxid vào đàn heo và xung quanh các dãy chuồng Ngoài ra trong chuồng còn có hồ nước và hệ thống nước làm mát, để heo nóng có thể xuống tắm Tuy nhiên đây là biện pháp có cả mặt lợi và mặt hại Vì để hồ nước sẽ làm heo bị lạnh và dễ gây ra các bệnh về đường hô hấp, đặc biệt là với các heo

có sức đề kháng yếu Vì vậy biện pháp này chỉ thực hiện khi heo đã lớn Và sau mỗi chiều trước khi ra về công nhân sẽ sả hồ nước, kéo rèm che cho heo

Sau mỗi lần chuyển heo, chuồng sẽ được rửa sạch sẽ, để khô phun NaOH 2% một lần Rửa lại bằng nước sạch, để khô, tạt nước vôi 20% để khô sau 3 đến 5 ngày có thể nhận heo tiếp tục lứa sau

Tất cả công nhân viên, sinh viên thực tập và khách tham quan đều được trang bị

đồ bảo hộ đi qua hố sát trùng trước khi vào làm việc và tham quan

Trang 19

Quy trình tiêm phòng dịch bệnh của trại

Bảng 2.5 Quy trình tiêm phòng

Loại bệnh tiêm phòng Loại heo Thời gian

tiêm Dịch tả Giả dại

Lở mồm long móng Parvovirus

Trang 20

- Chọn heo cai sữa: Tiến hành cân trọng lượng, heo đạt 5 kg trở lên, và không bệnh tật mới được chọn

- Chọn heo lúc 55 – 60 ngày tuổi: Trọng lượng 15 kg trở lên ngoại hình tốt chân cứng cáp khoẻ mạnh, bộ phận sinh dục phát triển rõ ràng

- Chọn ở 150 ngày tuổi: Căn cứ vào trọng lượng sống 75 kg trở lên, sự sinh trưởng và phát dục, tiêu tốn thức ăn và các chỉ tiêu liên quan đến phẩm chất thịt như dày mỡ lưng, dày cơ lưng, bộ phận sinh dục phát triển rõ ràng, phải có từ 12 vú trở lên, chân cẳng khoẻ mạnh, không mắc bệnh truyền nhiễm

- - Chọn heo 240 ngày tuổi: Đây là giai đoạn quyết định chọn lọc cuối cùng heo phải có sự sinh trưởng và các chỉ tiêu liên quan đến khả năng sinh sản tốt mới được chọn

2.2.2 Sinh trưởng và phát dục

Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình xảy ra trong mỗi cá thể từ lúc hợp tử cho đến khi sinh ra, trưởng thành, già cỗi và chết mà sự phát triển của mỗi cá thể có được một phần do di truyền một phần do ngoại cảnh Khi chúng ta hiểu được sự sinh trưởng và phát dục chúng ta mới có thể tạo cho chúng một môi trường thích hợp để chúng có thể phát huy hết khả năng di truyền có sẵn của mình và từ đó dần dần cải thiện được tính trạng thông quan chọn lọc

Sự sinh trưởng: là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá,

là sự gia tăng về số lượng và các chiều của tế bào của các loại mô khác nhau, trong cơ thể thú, quá trình này làm gia tăng khối lượng của các bộ phận (cơ quan) và toàn bộ cơ thể thú dựa trên cơ sở di truyền của bản thân thú dưới tác động của môi trường Trong quá trình này không sinh ra các tế bào mới và các chức năng mới (Phạn Trong Nghĩa, 2003)

Sự phát dục: là sự thay đổi về chất, có sự sinh ra các loại tế bào mới hay cơ quan mới, có sự thay đổi về tuyến nội tiết và đưa đến sự hoàn chỉnh các chức năng của

bộ phận của cơ thể trên cơ sở di truyền sẵn có của cơ thể thú và điều kiện ngoại cảnh (Phạm Trọng Nghĩa, 2003)

Sinh trưởng và phát dục là hai quá trình có mối quan hệ mật thiết với nhau Chúng là hai mặt của một quá trình phát triển của cơ thể Sự sinh trưởng và phát dục liên hệ với dạng động thái, với cơ sở vật chất của nó là sự gia tăng khối lượng, tăng thể

Trang 21

triển được Nhưng sinh trưởng và phát dục chỉ là tương đối cũng nhờ sự tương đối này

đã giúp cho cơ thể dễ dàng thích nghi với sự thay đổi môi trường và điều kiện môi trường và nhờ vậy không thay đổi hoạt động của toàn cơ thể Cường độ của hai quá trình không đều nhau ở mỗi giai đoạn phát triển mà có lúc cả hai quá trình đều mạnh,

có lúc sinh trưởng mạnh hơn phát dục, có lúc phát dục mạnh hơn sinh trưởng và có lúc

cả hai quá trình đều có cường độ yếu Nhưng hai quá trình này không tách rời nhau mà trái lại hỗ trợ cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhau

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát dục

- Yếu tố di truyền

Với sự phát triển mạnh mẽ của di truyền học, con người đã ngày càng đi sâu vào

cơ sở của di truyền, vào từng đơn vị của tính trạng nhằm tạo ra những ưu việt trong di truyền góp phần đắc lực cho công tác chọn lọc những giống mới Nhờ đó con người dễ dàng nhận ra sự khác biệt rất lớn về sự tăng trọng, khả năng chuyển biến thức ăn, khả năng sinh sản và chất lượng thịt xẻ giữa các giống heo đã được cải tiến di truyền so với các giống heo chưa được cải tiến

Trong chăn nuôi người ta quan niệm chọn giống để sinh sản, nâng cao chất lượng đàn giống Tiến hành chọn lọc là quyết định những cá thể nào không được sinh sản, những cá thể nào phải đóng góp tối đa cho thế hệ sau

Khi chọn giống về các tính trạng sản xuất của gia súc chính là việc ta chọn lọc các tính trạng số lượng Sự tuyển chọn này rất phức tạp bởi biến dị của tính trạng số lượng phụ thuộc vào điều kiện môi trường nhiều hơn so với các tính trạng chất lượng

Xác định khả năng di truyền giống là xác định những gen tích luỹ mà con gia súc

đó có thể truyền lại cho đời sau Các tính trạng có thể liên quan với nhau, việc chọn lọc sẽ làm tăng tần số các gen mong muốn và giảm dần tần số các gen không mong muốn vì mục đích kinh tế nên các tính trạng đựơc chọn phải có lợi cho kinh tế

Công tác giống: là sự can thiệp của con người vào quá trình chọn lọc, giữ lại thú tốt cho sinh sản, đã nâng cao được khả năng sản xuất của thú được chọn

Thông thường để đánh giá khả năng di truyền về một tính trạng nào đó người ta dựa

Trang 22

Hệ số tiêu tốn thức ăn Tăng trọng

Tuổi động dục lần đầu Dày mỡ lưng

+ Loài: mỗi loài có sự sinh trưởng và phát dục khác nhau loài gà có thời gian sinh trưởng ngắn hơn loài heo và loài bò có thời gian sinh trưởng chậm hơn loài heo

+ Giống: giữa các giống khác nhau thì sự sinh trưởng và phát dục cũng khác nhau Thông qua di truyền, các cá thể đời sau được thừa hưởng các gen quy định về khả năng sinh trưởng của bố mẹ Vì vậy qua các thế hệ các giống khác nhau đều giữ đựơc các đặc điểm của mình

Bằng công tác chọn giống qua nhiều năm con người đã chọn lọc và tạo dựng được, những dòng chuyên biệt trong mỗi giống và tất nhiên sự sinh trưởng phát dục của các giống dòng khác nhau cũng khác nhau

Với những cải thiện di truyền, ngày nay đã có một số giống heo tốt về tăng trọng, hệ

số chuyển biến thức ăn và phẩm chất quầy thịt Do đó có những khác biệt giữa dòng, giống heo về khả năng phát triển thịt nạc một số giống heo nổi tiếng như Yorkshire của Anh, Landrace của Đan Mạch, Duroc của Mỹ và Pietrain của Bỉ đã rất được ưa chuộng

+ Dòng: trong mỗi giống lại có nhiều dòng heo như dòng heo chuyên thịt, dòng heo chuyên sinh sản Mỗi dòng có những đặc điểm khác biệt về sinh trưởng và phát dục + Gia đình: các cá thể trong gia đình được thừa hưởng những đặc tính di truyền chung

Trang 23

+ Cá thể: trong cùng một giống, giữa các cá thể khác nhau có sự sinh trưởng và phát dục khác nhau một phần là do biến dị di truyền, trong quá trình hình thành giao tử, các

cá thể khác nhau có kiểu gen khác nhau nên có một số cá thể có khả năng sinh trưởng tốt, điều này có ý nghĩa trong việc chọn lọc Vì vậy dựa vào đó đó con người chọn lọc

để giữ lại những cá thể tốt, có khả năng sinh trưởng cao

+ Giới tính: sự khác nhau về giới tính cũng mang lại khác biệt trong sự sinh trưởng và phát dục của thú Nhiều những nghiên cứu để chứng minh cho sự khác biệt này Ở giai đoạn trước 45 kg trọng lượng sự khác nhau về tăng trọng các giới tính không đáng kể Sau khi đạt trên 45 kg, cùng lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày, heo đực nguyên có tăng trọng cao nhất, kế đến là heo cái và thấp nhất là heo đực thiến Ngược lại heo đực thiến lại tích nhiều mỡ, kế đến là heo cái và thấp nhất là heo đực nguyên (English và cộng sự, 1988) Theo Whittemore (1988) trọng lượng xuất chuồng và lượng thức ăn tiêu thụ như nhau, heo đực có tỉ lệ nạc trên thịt xẻ là

+ Gen: hiện tượng đa gen và đa hiệu của gen cũng làm cho những phần của cơ thể phát triển không giống nhau trong quá trình sinh trưởng và phát dục Touchberry, 1951 (Được trích bởi Trần Đình Miên, 1980) cho rằng hệ thống gen ảnh hưởng đặc biệt đến xương thì tác động vào cao vai, dài thân, sâu ngực và trọng lượng nhưng không ảnh hưởng đặc biệt đến vòng ngực và vòng bụng Nhóm gen ảnh hưởng đến cơ thì tác động vào sâu ngực, vòng bụng và cả trọng lượng

60% cao, heo cái là 58% và heo đực thiến là 56%

- Yếu tố ngoại cảnh

+ Yếu tố dinh dưỡng

Khi heo đã đạt được những khả năng di truyên tốt, yếu tố để giúp cá thể phát huy những tiềm năng di truyền đó chính là yêu tố dinh dưỡng một trong những yếu tố hàng đầu trong chăn nuôi Đã có nhiều nghiên cứu khẳng định rằng ở những mức độ dinh dưỡng khác nhau thì sự sinh trưởng và phát dục sẽ khác nhau Các khẩu phần thích hợp cho từng giai đoạn phát triển sẽ làm cho khả năng sinh trưởng và phát dục tốt hơn

Trang 24

+ Yếu tố chăm sóc quản lý

Sự dịu dàng: heo thường quen với sự tiếp xúc thường xuyên gần gũi và nhẹ nhàng của người chăm sóc và chúng cũng ít bị ảnh hưởng trước những tác động gây đau đớn hay di chuyển dãy chuồng nếu có được sự dịu dàng của người chăm sóc Những tác động gây đau đớn hay thô bạo dễ gây ra stress cho heo và có nhiều khả năng cản trở tốc độ tăng trọng của heo

+ Sự nhốt chung: Cần nhốt chung các heo vào một chuồng hoàn toàn mới cùng một lúc, không nên bổ sung một số heo mới vào ô chuồng đã ổn định để tránh sự đánh nhau, gây thương tích hay giảm sức đề kháng ảnh hưởng gián tiếp đến mức độ tăng trọng của heo thịt

+ Nhiệt độ: ở một mức trọng lượng nhất định, heo cần một nhiệt độ thích hợp nhất định cho quá trình biến dưỡng mới đạt đựơc hiệu quả tốt cho tăng trọng Nhiệt độ cao làm cho heo mau mệt mỏi, ăn ít nhưng tiêu hao năng lượng nhiều Nhiệt độ thấp cùng

ẩm độ cao dinh dưỡng hạn chế sẽ làm sức đề kháng heo giảm và dễ bị nhiễm các loại bênh

+ Ẩm độ: độ ẩm tương đối cao làm trở ngại cho việc khuếch tán hơi nước trên bề mặt da, và làm ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, hao năng lượng, thú mất cảm giác ăn ngon và cũng là điều kiện tốt cho các vi sinh vật gây bệnh Ẩm độ thấp tiêu hao nước

ở cơ thể, trao đổi chất bị trở ngại, heo chậm lớn

Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000) thì cần duy trì ẩm độ tương đối ở

50 – 70 % để hạn chế sự phát triển của vi khuẩn (dẫn liệu của Lưu Bá Diệp, 2004) Theo Nguyễn Hoa Lý (1998) nhiệt độ chuẩn cho heo một tuần tuổi là 300C, ẩm độ thích hợp là 70 – 75 % và theo bảng phân loại của Vũ Tự Lập (dẫn liệu của Mai Ngọc Phượng, 2003)

Khi ẩm độ < 50 %: không khí rất khô

Khi ẩm độ từ 50 – 70 %: không khí khô

Khi ẩm độ 90 %: không khí ẩm

+ Độ thông thoáng: các loại khí CO2, H2S, NH3, từ hơi thơ, phân nước tiểu là những khí độc Nồng độ cao có thê làm thú chết, nồng độ thấp hơn cũng có thể làm hạn chế sự sinh hoạt, giảm sức kháng bệnh thú chậm lớn sinh kém

Trang 25

+ Ánh sáng: nên tận dụng ánh sáng mặt trời để quan sát và quản lý đàn heo mặt khác, trong ánh sáng có tia tử ngoại giúp tăng cường hấp thu Canxi, có tính năng diệt khuẩn

+ Bệnh tật: bệnh tật cũng có khả năng tác động lớn đến khả năng sinh trưởng và phát dục của đàn heo Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng tuỳ vào loại Vì vậy cần phải có biện pháp phòng và trị đúng mức để đảm bảo năng xuất

Trang 26

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT

- Thời gian: đề tài được thực hiện từ ngày 15/2/2009 đến 15/6/2009

- Địa điểm: tại Công Ty Cổ Phần Chăn Nuôi Phú Sơn thuộc ấp Phú Sơn xã Bắc Sơn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT

Là heo hậu bị từ 180 ngày tuổi thuộc 5 nhóm giống như sau:

Heo thuần Duroc ký hiệu là DD

Heo thuần Landrace ký hiệu là LL

Heo thuần Yorkshire ký hiệu là YY

Heo lai Landrace x Yorkshire ký hiệu là LY

Heo lai Yorkshire x Landrace ký hiệu là YL

Gồm nhiều đợt với các độ tuổi khác nhau Số lượng heo khảo sát ở các giai đoạn được trình bày ở bảng 3.1 sau:

Bảng 3.1 Số heo khảo sát qua các giai đoạn

Nhóm giống khảo sát (con) Ngày tuổi

Tổng cộng

Trang 27

- Trong đó mỗi nhóm giống có 20 heo được khảo sát thông suốt từ đầu lúc 90 ngày tuổi đến lúc kết thúc 180 ngày tuổi để theo dõi các chỉ tiêu như hệ số chuyển biến thức ăn, tỉ lệ nuôi sống, tỉ lệ tiêu chảy

- ĐIỀU KIỆN CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG ĐÀN HEO KHẢO SÁT

+ Chuồng trại: được xây dựng thành từng dãy chuồng bao gồm 4 dãy:

HB1, HB2, HB3, HB4, HB5 Mái lợp bằng tôn kẽm, nền chuồng bằng xi măng với độ dốc thích hợp cho sự thoát nước và tắm rửa, có hệ thống nước uống tự động, nguồn nước là nguồn nước riêng của trại đã được khử trùng

+ Dinh dưỡng

Thức ăn hỗn hợp cho heo được tổng hợp và phối trộn tại xưởng chế biến của công ty Heo hậu bị được giao nuôi sẽ được cho ăn 3 loại cám căn cứ theo độ tuổi phát triển của heo gồm các loại cám sau Từ 90 – 120 ngày tuổi cho ăn cám 6B, từ 120 –

150 ngày tuổi ăn cám 7A, từ 150 ngày tuổi đến khi chuyển giao lên chờ lên giống và phối lần đầu ăn cám 7A1

Bảng 2.5 Thành phần dinh dưỡng của các lọai thức ăn

Thành phần dinh dưỡng Loại

thức ăn NLTD

(kcal/kg)

Protein (%) Lysin

Methionin + Cystin Threonin Ca (%) P(%)

NaCl (%)

Trang 28

- Dụng cụ khảo sát: lồng cân, thước dây, thước gậy, máy đo độ dày mỡ lưng hiệu Renco của Mỹ

3.4 CHỈ TIÊU KHẢO SÁT

3.4.1 Trọng lượng sống

Trọng lượng sống được cân đo trực tiếp từng cá thể tại lông cân của trại được đặt ở khu vực nuôi hậu bị, heo được cân ở 4 thời điểm theo dõi là 90, 120, 150, và 180 ngày tuổi

3.4.2 Tăng trọng ngày

Được tính theo công thức:

Tăng trọng ngày = P1-P0/ t1-t0

Trong đó :

P1: trọng lượng ở cuối giai đoạn theo dõi

P0: trọng lượng ở đầu giai đoạn theo dõi

t1: ngày tuổi ở cuối giai đoạn theo dõi

t0: ngày tuổi ở đầu giai đoạn theo dõi

Được tính theo công thức

Chỉ số to xương(%)=(Vòng ống/dài thân)x100

3.4.7 Chỉ số tròn mình

Được tính theo công thức

Chỉ số tròn mình(%)=(Vòng ngực/dài thân)x100

Trang 29

3.4.8 Dày mỡ lưng hiệu chỉnh về trọng lượng 90 kg

Độ dày mỡ lưng được đo bằng máy siêu âm hiệu Renco của Mỹ, tại vị trí xương sườn cuối cách sống lưng 5-6cm ở vị trí P2 Đo ở hai thời điểm 150 ngày tuổi và 180 ngày tuổi, được hiệu chỉnh về trọng lượng 90 kg Theo công thức của Legates và Warwick (1990)

Công thức hiệu chỉnh:

DML90kg (mm)=DMLTT(mm) + (90 – TLKTTN (kg)[DMLTT/TLKTTN(kg) – TLBDTN (kg)]

Trong đó:

DML90kg: dày mỡ lưng lúc đạt trọng lượng 90 kg

DMLTT: dày mỡ lưng thực tế lúc kết thúc thí nghiệm

TLKTTN: trọng lượng kết thúc thí nghiệm

TLBDTN: trọng lượng bắt đầu thí nghiệm

3.4.9 Hệ số chuyển biến thức ăn (kg TĂ/kgTT) (HSCBTĂ)

Được tính theo công thức

HSCBTĂ= Tổng lượng thức ăn giai đoạn khảo sát/ Tổng tăng trọng giai đoạn khảo sát

3.4.10 Tuổi lên giống lần đầu

Được tính từ lúc heo nái sinh ra cho tới khi lên giống lần đầu

3.4.11 Tuổi phối giống lần đầu

Được tính từ khi heo nái sinh ra cho tới khi phối lần đầu

3.4.12 Tỉ lệ nuôi sống

Được tính theo công thức

Tỉ lệ nuôi sống (%)= (số heo sống/tổng số heo khảo sát đầu kì)x100

3.4.13 Tỉ lệ heo bị bệnh (%)

Bệnh được theo dõi là bệnh về tiêu chảy

Được tính theo công thức

Trang 30

Do điều kiện chuồng trại không cho phép theo dõi được chỉ số tiêu tốn thức ăn của từng cá thể/kg nên chỉ số chon lọc được tính theo công thức rút gọn như sau (trích dân bởi Đặng Quang Điện, 1994)

X2: dày mỡ lưng (mm) của cá thể ở trọng lượng hiệu chỉnh 90 kg

X 2: dày mỡ lưng (mm) của quần thể ở trọng lượng hiệu chỉnh 90 kg

3.4.15 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

Các số liệu được tổng kết theo từng nhóm heo, và đựơc xử lý bằng phần mềm Excel 2003 và Minitab 12.21 for Windows

Trang 31

Kết quả trọng lượng sống được trình bày ở bảng 4.1 và biểu đồ 4.1

- Ở 90 ngày tuổi trọng lượng sống trung bình chung của quần thể heo là 36,07

kg, cao nhất là nhóm YL (38,59 kg),và thấp nhất là nhóm DD (33,65 kg) Qua

xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt là rất có ý nghĩa

P < 0,001

Thời điểm này hai nhóm heo lai LY và YL có trọng lượng sống cao hơn so với

ba nhóm heo thuần DD, LL, YY kết quả này thể hiện sự thích nghi cũng như ưu thế lai của hai nhóm heo lai là tốt hơn những nhóm heo thuần

Theo báo cáo của Phạm Xuân Hạnh (2003) trọng lượng sống trung bình chung của quần thể ở 90 ngày tuổi là 39,10 kg, của Nguyễn Thị Mỹ Tranh (2004) là 57,5 kg

và Lê Thị Thanh Nhàn (2005) là 42,61 kg đều cao hơn kết quả của chúng tôi ghi nhận

là 36,07 kg

Xét riêng từng nhóm giống cho thấy như sau:

Kết quả khảo sát của chúng tôi ở nhóm giống DD ( 33,65 kg), YY (33,80 kg) và

LL (37,60 kg) đều thấp hơn so với báo cáo của Nguyễn Thông Thái (2008) ở nhóm heo YY (38,82 kg) và LL (37,03 kg) và Phạm Xuân Hạnh (2003) ở nhóm YY (39,95

Trang 32

nhóm heo YL là (37,78 kg) và LY là (37,62 kg) và Nguyễn Thị Trinh (2008) trên nhóm heo LY (26,47 kg), YL (26,78 kg)

- Ở 120 ngày tuổi trọng lượng sồng trung bình chung của quần thể heo là 44,16 kg cao nhất là YL (46,83 kg), thấp nhất là DD (40,37 kg) Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa P < 0,001

Thời điểm này hai nhóm heo lai LY và YL vẫn có trọng lượng sống cao hơn ba nhóm heo thuần DD, LL và YY

Trung bình chung của quần thể ở 120 ngày tuổi theo báo cáo của Phạm Xuân Hạnh (2003) là 56,58 kg, của Nguyễn Thị Mỹ Tranh (2004) là 57,5 kg và Lê Thị Thanh Nhàn (2005) là 67,74 kg đều cao hơn kết quả khảo sát của chúng tôi là 44,16 kg

Xét riêng trên từng nhóm giống cho thấy như sau:

Kết quả khảo sát của chúng tôi ở nhóm giống DD là (40,37 kg), YY là (41,2 kg)

và LL (45,11 kg), đều thấp hơn so với báo cáo của Nguyễn Thông Thái (2008) ở nhóm heo YY là (55,16 kg), LL là (54,67 kg) và Phạm Xuân Hạnh (2003) ở nhóm YY là (58,31 kg), nhóm LL là (54,68 kg) Nhưng cao hơn báo cáo của Nguyễn Thị Trinh (2008) nhóm DD là (40,61 kg), LL là (42,46 kg), YY là (42,72 kg)

Khảo sát trên nhóm heo lai kết quả của chúng tôi ở nhóm, YL (46,83kg), LY (46,33 kg).Thấp hơn kết quả của Nguyễn Thông Thái (2008) ở nhóm heo YL (56,27 kg) và LY (56,10 kg) và Phạm Xuân Hạnh (2003) ở nhóm YL (58,62 kg) và nhóm LY (54,51 kg), nhưng lại cao hơn kết quả của Nguyễn Thị Trinh (2008) nhóm heo LY là (43,46 kg), và YL là (43,69 kg)

- Ở 150 ngày tuổi: trọng lượng sống là 67,74 kg cao nhất là LY (76,90 kg) thấp nhất là DD (62,72 kg) Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa P < 0,001

Kết quả cho thấy sự khác biệt về trọng lượng sống giữa các nhóm giống vẫn thể hiện rõ trên hai nhóm heo lai YL, LY với trọng lượng sống cao hơn ba nhóm heo thuần DD, LL và YY Do sự thích nghi tốt về điều kiện ngoại cảnh của nhóm heo lai so với nhóm heo thuần

Trọng lượng sống ở 150 ngày tuổi theo báo cáo của Phạm Xuân Hạnh (2003) là 79,06 kg, của Nguyễn Thị Mỹ Tranh (2004) là 77,07 kg, Nguyễn Xuân Hoàng (2003)

Trang 33

là 89,7 kg, và Nguyễn Thông Thái (2008) là 77,44 kg, những kết quả trên, đều cho cao hơn kết quả chúng tôi ghi nhận là 67,74 kg

Xét riêng từng nhóm heo khảo sát:

Xét trên nhóm heo thuần, theo báo cáo của Nguyễn Thông Thái (2008), LL (76,19 kg), YY (77,02 kg), cao hơn so với chúng tôi ghi nhận Nhưng theo Nguyễn Thị Trinh (2008) nhóm DD (62,38 kg), LL (64,08 kg), YY (66,56 kg) lại cho kết quả phù hợp với chúng tôi khảo sát trên nhóm DD (62,72 kg), LL (66,07 kg), YY (65,03 kg)

Trên nhóm heo lai, báo cáo của Nguyễn Thông Thái (2008) ) trên nhóm LY (77,61 kg), YL (77,87 kg) cao hơn của chúng tôi khảo sát, nhưng theo báo cáo của Nguyễn Thị Trinh (2008) nhóm LY (62,80kg), YL (64,51 kg), thì thấp hơn kết quả của chúng tôi trên nhóm LY (76,90 kg), và YL (71,22 kg)

- Ở 180 ngày tuổi chúng tôi khảo sát được kết quả trung bình chung của quần thể là 89,34kg, cao nhất là LY (90,08 kg), thấp nhất là LL (88,89 kg) Qua xử lý thống

kê cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa P > 0,05

Với các kết quả trên cho thấy trọng lượng sống của heo có sự thay đổi rất khác nhau giữa các thời điểm việc tìm hiểu sự phát triển qua từng giai đoạn có ý nghĩa lớn trong công việc chăm sóc đàn heo Sự khác nhau giữa các nhóm giống là không cao Trong đó hai nhóm heo lai LY và YL luôn có trọng lượng sống cao hơn những nhóm heo thuần ở cùng thời điểm Điều này chứng tỏ hai nhóm heo lai đã có sự thích nghi cao hơn và thể hiện được ưu thế lai hơn so với bố mẹ chúng

Theo báo cáo của Trần Văn Chính (2003) trọng lượng sống trung bình ở 180 ngày tuổi là 88,05 kg, Nguyễn Thông Thái (2008) là 93,65 kg của Nguyễn Thị Trinh là 101,73 kg, đều cao hơn kết quả ghi nhận của chúng tôi là 89,34 kg

Xét riêng từng nhóm heo khảo sát

Trên nhóm heo thuần, theo báo cáo của Nguyễn Thông Thái (2008), LL (91,66 kg), YY (92,89 kg), Nguyễn Thị Trinh (2008) nhóm DD (92,78 kg), LL (94,69 kg), YY (99,63 kg), đều cao hơn chúng tôi đã ghi nhận

Trang 35

4.2 TĂNG TRỌNG NGÀY

Cùng độ tuổi và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, heo có tăng trọng ngày nhanh hơn sẽ có sự sinh trưởng và phát dục sớm hơn Vì vậy đây là một chỉ tiêu quan trọng

để đánh giá heo hậu bị

Chỉ tiêu tăng trọng ngày được tính toán trên 20 heo nuôi, nhóm giống được theo dõi thông suốt từ lúc 90 ngày tuổi đến 180 ngày tuổi Đến 120 ngày tuổi giống DD chết 1con, giống Landrace chết 3 con, nhóm giống Landrace x Yorkshire chết 1 con, nhóm giống Yorkshire x Landrace chết 1 con và sống đầy đủ cho đến 180 ngày tuổi kết thúc thực tập

Kết quả tăng trọng ngày được trình bày ở bảng 4.2 và biểu đồ 4.2

Nhìn nhận chung mức tăng trọng trung bình của đàn heo tại trại khá cao, cao nhất là hai nhóm heo lao LY và YL, như vậy cho thấy rằng hai nhóm heo lai có ưu thế lai và thích nghi tốt với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của trại Thấp nhất là nhóm heo YY có tăng trọng ngày thấp, do chưa thật thích nghi với điều kiện chăn nuôi thực

tế của trại

- Ở giai đoạn 90- 120 ngày tuổi: tăng trọng ngày trung bình chung của quần thể heo là 389,7 g/con/ngày, cao nhất là LL (509,8 g/con/ngày) thấp nhất là YL (322,8 g/con/ngày) Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa P < 0,05

Giai đoạn khảo sát này chúng tôi nhận thấy nhóm heo lai YL và LY luôn ở mức cao hơn ba nhóm heo thuần DD, YY và LL Giữa những nhóm thuần, thì nhóm heo YY có mức tăng trong cao hơn hai nhóm còn lại Kết quả trên thể hiện được mức độ thích nghi, của các nhóm giống với điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng ở trại

- Ở giai đoạn 120- 150 ngày tuổi: tăng trọng ngày trung bình của quần thể heo

là 815,6 g/con/ngày, cao nhất là DD (959,5 g/con/ngày) thấp nhất là LL (745,1 g/con/ngày) Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa P < 0,001

Ở giai đoạn này nhóm heo LL lại cho tăng trọng thấp hơn, so với giai đoạn trước Điều này cho thấy sự tăng trong của các nhóm heo là khác nhau qua từng giai

Trang 36

Tăng trọng ngày chung bình trung của quần thể ở giai đoạn 90 – 180 ngày là 620,8 g/con/ngày Cao nhất ở nhóm heo LY (649,1 g/con/ngày) và thấp nhất ở nhóm heo lai YY (591,67 g/con/ngày) Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt của các nhóm giống về chỉ tiêu tăng trọng ngày là có ý nghĩa về mặt thống kê với P < 0,05

Tăng trọng ngày của đàn heo khảo sát sắp xếp theo thứ tự như sau: YY (591,67g/con/ngày) < DD (607,6 g/con/ngày) < LL (615,69 g/con/ngày) < YL (640,94 g/con/ngày) < LY (649,1 g/con/ngày)

Với những kết quả trên chúng tôi nhận thấy sự tăng trọng trên ngày của các nhóm giống heo thường khác nhau qua từng giai đoạn, thể hiện ở việc nhóm heo nào

có sự tăng trọng cao ở giai đoạn trước thì giai đoạn sau lại cho tăng trọng trên ngày thấp hơn Nhìn chung qua từng giai đoạn thì nhóm heo lai vẫn cho tăng trọng trên ngày cao hơn những nhóm heo thuần Điều kiện chủ yếu là do ưu thế lai của chúng được thể hiện tốt hơn so với những thế hệ trước

Trang 37

607,6 615,69 649,1 640,94 591,67 620,8

0100200300400500600700

Kết quả chiều dài thân thẳng được trình bày ở bảng 4.3 và biểu đồ 4.3

- Ở 90 ngày tuổi chiều dài thân thẳng trung bình chung của quần thể heo là 83,72 cm cao nhất là LL (92,54 cm) thấp nhất là YY (78,47 cm)

Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa P < 0,001

Nhóm heo LL có chiều dài thân thẳng luôn cao, kết quả trên là về mặt di truyền,

và đặc điểm vốn có của nhóm heo LL, có chiều dài thân thẳng dài hơn các nhóm giống khác

Dài thân thẳng trung bình chung của nhóm heo nuôi ở 90 ngày tuổi qua khảo sát của Nguyễn Thông Thái (2008) là 85,6 cm, của Phạm Xuân Hạnh (2003) là 86,44

cm, và của Nguyễn Thị Mỹ Tranh (2004) là 84,4 cm, đều cao hơn so với kết quả khảo sát của chúng tôi là 83,72 cm, nhưng theo báo cáo của Nguyễn Thị Trinh (2008) là 71,94 cm lại thấp hơn ghi nhận của chúng tôi

Trang 38

Thị Mỹ Tranh nhóm LL (85,8 cm), YY (89,9 cm) và của Nguyễn Thông Thái LL

(86,16cm), YY (86,36cm) đều hơn so với ghi nhận của chúng tôi

Đối với những nhóm heo lai theo báo cáo của Phạn Xuân Hạnh (2003) nhóm heo YL (87,17 cm) và LY (86,13 cm) và của Nguyễn Thông Thái YL (85,46 cm), LY (85,38 cm) cao hơn kết quả của chúng tôi khảo sát, nhưng theo báo cáo của Nguyễn Thị Trinh (2008) YL (71,98 cm), LY (71,86 cm) lại thấp hơn kết quả khảo sát của chúng tôi là YL (85,22 cm), LY (85,09 cm)

- Ở 120 ngày tuổi chiều dài thân thẳng trung bình chung của quần thể heo là 87,51 cm cao nhất là (LL 91 cm) thấp nhất là DD (81 cm) Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt rất có ý nghĩa P < 0,001

Ở giai đoạn này về chiều dài thân thẳng cho thấy nhóm heo LL luôn cho chiều dài thân thẳng cao nhất, do đặc điểm di truyền của nhóm heo này là dài đòn hơn những nhóm giống khác

Dài thân thẳng trung bình chung của nhóm heo ở 120 ngày tuổi qua khảo sát của Phạm Xuân Hạnh (2003) là 98,93 cm, và của Nguyễn Thị Mỹ Tranh (2004) là 98

cm của Nguyễn Thông Thái (2008) là 97,77 cm, đều cao hơn so với chúng tôi ghi nhận

là (87,51 cm)

So sánh trên từng nhóm heo khảo sát chúng tôi nhận thấy như sau:

Ghi nhận của chúng tôi trên nhóm heo LL (91 cm), DD (81 cm) và YY (83,65 cm) so sánh với kết quả của Nguyễn Thị Mỹ Tranh trên nhóm LL (104 cm), YY (99,7cm) và của Nguyễn Thông Thái nhóm heo LL (98,35 cm), YY (97,04 cm) đều cho kết quả cao hơn so với chúng tôi, nhưng theo báo cáo của Nguyễn Thị Trinh (2008) trên nhóm heo DD (84,22 cm), LL(85,86cm), YY (85,28 cm), lại cho kết quả thấp hơn so với khảo sát của chúng tôi

Đối với những nhóm heo lai theo báo cáo của Phạn Xuân Hạnh (2003) nhóm heo YL (100,08 cm) và LY (98,07 cm) và của Nguyễn Thông Thái nhóm heo YL (97,45 cm), LY (98,24 cm) đều cao hơn so với kết quả của chúng tôi nhóm heo là YL (90,74), LY (90 cm)

- Ở 150 ngày tuổi chiều dài thân thẳng trung bình chung của quần thể heo là 99,25 cm cao nhất là YY (107,58 cm) thấp nhất là DD (92,84 cm) Qua xử lý thống kê

Trang 39

Ở giai đoạn này nhóm heo DD vẫn cho kết quả dài thân thẳng thấp nhất so với các nhóm giống khác, điều này thể hiện đặc tính ngắn đòn của heo DD

Dài thân thẳng trung bình chung của nhóm heo ở 150 ngày tuổi qua khảo sát của Phạm Xuân Hạnh (2003) là 110,31 cm, và của Nguyễn Thị Mỹ Tranh (2004) là 109,7 cm cho kết quả cao hơn so với chúng tôi, và của Nguyễn Thông Thái (2008) là 97,77 cm thì có kết quả thấp hơn so với của chúng tôi (99,25 cm)

So sánh trên từng nhóm heo khảo sát chúng tôi nhận thấy như sau:

Khảo sát của chúng tôi trên nhóm heo LL (97,85cm), DD (92,84cm) và YY (107,58 cm) so sánh với kết quả của Nguyễn Thị Mỹ Tranh nhóm LL (114,8 cm), YY (112,9 cm) và của Nguyễn Thông Thái LL (110,16 cm), YY (108,78 cm) đều cho kết quả cao so với chúng tôi khảo sát là DD (92,84 cm), LL (97,85 cm), YY (96,39 cm)

Đối với những nhóm heo lai theo báo cáo của Phạm Xuân Hạnh (2003) nhóm heo YL (110,85 cm) và LY (109,20 cm) và của Nguyễn Thông Thái YL (108,92 cm),

LY (108,92 cm) những kết quả trên đều cao so với kết quả chúng tôi ghi nhận là YL (107,58 cm), YL (104,83 cm)

Nhìn nhận chung sự khác biệt về chiều dài thân thẳng ở giai đoạn này giữa hai nhóm heo lai là không cao, và ở heo thuần thì LL vẫn cho chiều dài thân thẳng cao hơn

YY và DD

- Ở 180 ngày tuổi chiều dài thân thẳng trung bình chung của quần thể heo là 109,56 cm cao nhất là LY (113,62 cm) thấp nhất là YY (106,26 cm) Qua xử lý thống

kê cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa P > 0,05

Ở giai đoạn này chúng tôi nhận thấy nhóm heo lai có dài thân thẳng hơn với những nhóm heo thuần Điều này rút ra kết luận hai nhóm heo lai kết hợp được cả hai đặc tính của nhóm LL dài đòn và nhóm YY có chiều dài thân thẳng vừa phải, để tạo ra nhóm heo lai dài đòn

Dài thân thẳng trung bình chung của nhóm heo ở 180 ngày tuổi qua khảo sát của Phạm Xuân Hạnh (2003) là 120,49 cm, và của Nguyễn Thông Thái (2008) là

Trang 40

(119,40 cm) và của Nguyễn Thông Thái LL (117,19 cm), YY (115,86 cm) đều cho kết quả cao hơn so với chúng tôi ghi nhận

Đối với những nhóm heo lai theo báo cáo của Phạn Xuân Hạnh (2003) nhóm heo YL (121,49 cm) và LY (119,81 cm) và của Nguyễn Thông Thái YL (116,03 cm),

LY (116,43 cm) những báo cáo trên đều cao hơn so với kết quả của chúng tôi trên nhóm heo LY (113,62 cm), YL (112,65 cm)

Ngày đăng: 31/08/2018, 09:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w