Trong đó có 2 giống dê Boer và Saanen là 2 giống chuyên thịt và chuyên sữa của thế giới, hiện đã được Trung Tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây tiến hành nuôi dưỡng thích nghi, nhân thuần t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA DÊ LAI F2(3/4Bo1/4Bt)
NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU, THỰC NGHIỆM
& NHÂN GIỐNG DÊ, CỪU NINH THUẬN
HỌ VÀ TÊN SINH VIÊN : VÕ VĂN CHƯƠNG
NIÊN KHÓA : 2004 – 2009
Năm 2009
Trang 2KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA DÊ LAI F 2 (3/4Bo1/4Bt)
NUÔI TẠI TRẠM NGHIÊN CỨU, THỰC NGHIỆM
& NHÂN GIỐNG DÊ, CỪU NINH THUẬN
Tháng 09/2009
Trang 3Trân trọng và biết ơn
PGS.TS Lê Đăng Đảnh, PGS.TS Đinh Văn Bình, thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này
Chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm-TP.Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiêm khoa chăn nuôi thu y, cùng toàn thể quý thầy cô khoa chăn nuôi thú y, đã tận tình dạy bảo, truyền đạt kiến thức quý báo cho chúng em trong suốt thời gian học tập và thực tập
Ban giám đốc, các anh – chị công nhân Trạm Nghiên Cứu Thực Nghiêm & Nhân Giống Dê Cừu Ninh Thuận đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Anh Trịnh Xuân Thanh, chú Nguyễn Trường Thọ, bác Nguyễn Đình Hòa đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian thực tập
Tất cả các bạn lớp thú y 30 đã cùng tôi học tập trong những năm tháng ở giảng đường trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và đóng góp những ý kiến giúp tôi hoàn thành tốt bài luận văn
Trang 4Tóm tắt luận văn
-Đề tài được tiến hành từ ngày 05 tháng 2 năm 2009 đến 25 tháng 7 năm 2009 tại trạm Nghiên Cứu Thực Nghiệm &
Nhân Giống Dê Cừu Ninh Thuận
-Nội dung luận văn là: “ Đánh giá khả năng sản xuất của dê lai 3/4 máu Boer, 1/4 máu Bách thảo nuôi tại Trạm Nghiên Cứu, Thực Ngiệm & Nhân Giống Dê Cừu Ninh Thuận”
-Đề tài được thực hiện trên 134 con dê lai (3/4Bo1/4Bt) trong giai đoạn từ sơ sinh đến 9 tháng tuổi
Các nội dung thực hiên:
- So sánh một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của dê lai (3/4Bo1/4Bt) với dê lai (1/2Bo1/2Bt)
+khối lượng dê đực lai (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực lai(1/2Bo1/2Bt) qua các giai đoạn sơ sinh, 3 , 6, 9 tháng tuổi tương ứng lần lượt là: 3,2; 16,07; 23,22; 30,71kg
+ Cường độ sinh trưởng tuyệt đối của dê lai (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê lai
(1/2Bo1/2Bt) qua các giai đoạn tuổi từ sơ sinh – 3 tháng; 6 - 9 tháng và thấp hơn ở giai đoạn 3 - 6 tháng tuổi tương ứng lần lượt là: 139,76; 72,68; 82,90 (g/con/ngày) và 134,27; 77,76; 77,73 (g/con/ngày)
iii +kích thước một số chiều đo cơ bản của dê lai (3/4Bo1/4Bt) so với dê lai
(1/2Bo1/2Bt) qua các tháng tuổi:3; 6; 9
Trang 5* chiều đo vòng ngực của dê đực & cái lai(3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực & cái lai (1/2Bo1/2Bt) tương ứng là:52,71; 64,24; 70,17cm & 52,19; 62,77; 70,73cm và 51,17; 61,89; 69,67cm & 51,27; 61,06; 69,53cm
* chiều đo cao vai của dê đực & cái lai(3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực & cái lai (1/2Bo1/2Bt) tương ứng là: 51,42; 62,82; 74,11cm & 50,85; 61,24; 69,73cm và 49,22; 60,11; 67,72cm & 49,35; 59,91; 68,18cm
* chiều đo dài thân chéo của dê đực & cái lai(3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực & cái lai (1/2Bo1/2Bt) tương ứng là :61,17; 71,72; 78,94 & 60,51; 70,66; 77,92cm và 59,56; 69,33; 77,06cm & 59,94; 69,41; 76,39cm
- Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản và sức sống của dê lai (3/4Bo1/4Bt) *sức sống của đàn dê lai (3/4Bo1/4Bt) từ giai đoạn sơ sinh – 6 tháng
tuổi
+sau 24h: 92,03 % +sau 3 tháng: 93,65 % +sau 6 tháng: 95,83 %
*Khả năng sinh sản của giống dê lai (3/4Bo1/4Bt)
+khoảng cách lứa đẻ: 362,58 ngày
+thời gian mang thai:148,76 ngày +số con sơ sinh/ lứa :1,46 con
Trang 6MỤC LỤC
Trang CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3
2.1 GIỚI THIỆU ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TRẠM NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM & NHÂN GIỐNG DÊ CỪU NINH THUẬN 3
2.1.1 Giới Thiệu 3
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 3
2.1.3 Điều kiện xã hội 3
2.1.4 Chức năng và nhiệm vụ 4
2.2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI DÊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4
2.2.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới 4
2.2.2 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam 6
2.2.3 Vài nét về dê Bách Thảo 8
2.2.4 Vài nét về dê Boer và con lai 9
2.3 CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG VẤN ĐỀ NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC DÊ 10
2.3.1 Đặc điểm hệ tiêu hóa 10
2.3.2 Một số đặc tính của dê 11
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ SINH TRƯỞNG 13
2.4.1 Khái niệm về sự sinh trưởng 13
2.4.2 Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng 14
2.4.3 Qui luật sinh trưởng và phát dục của gia súc 15
2.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của gia súc 17
2.5 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA GIA SÚC 18
CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 20
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20
3.2.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của dê lai (3/4Bo1/4Bt) 20
3.2.2 Đánh giá khả năng sinh sản của đàn dê 20
3.2.3 Tình hình bệnh tật và phương pháp điều trị đàn dê lai(3/4Bo1/4Bt) 20
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 21
Trang 73.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 22
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN DÊ LAI (3/4Bo1/4Bt) 23
4.1.1 Khối lượng dê lai qua các tháng tuổi 23
4.1.2 Cường độ sinh trưởng của dê lai (3/4Bo1/4Bt) qua các giai đoạn tuổi 28
4.1.3 Kích thước một số chiều đo của dê lai qua các tháng tuổi 30
4.2 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN VÀ SỨC SỐNG CỦA DÊ LAI (3/4Bo1/4Bt) 34
4.2.1 Sức sống đàn dê lai (3/4Bo1/4Bt) từ giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng 34
4.2.2 Đặc điểm sinh sản dê cái lai (3/4Bo1/4Bt) 36
4.2.2.1 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 36
4.2.2.2 Số con sơ sinh/lứa 36
4.2.2.3 Thời gian mang thai 37
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 KẾT LUẬN 40
5.2 ĐỀ NGHỊ 40
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1a Khối lượng dê lai (1/2Bo1/2Bt);(3/4Bo1/4Bt) qua các tháng tuổi 23
Bảng 1b khối lượng dê đực và dê cái lai (1/2Bo1/2Bt), (3/4Bo1/4B) qua các tháng tuổi 25
Bảng 2 Cường độ sinh trưởng tuyệt đối và trương đối của dê lai (1/2Bo1/2Bt), (3/4Bo1/4Bt) từ sơ sinh đến 9 tháng tuổi 28
Bảng 3a Kích thước chiều đo vòng ngực qua các tháng tuổi 31
Bảng 3b Kích thước chiều đo cao vai qua các tháng tuổi 32
Bảng 3c Kích thước chiều đo dài thân chéo qua các tháng tuổi 33
Bảng 4 Tỷ lệ sống của đàn dê (3/4 Bo1/4Bt) trong giai đoạn sơ sinh đến 6 tháng tuổi 33
Bảng 5 Một số chỉ tiêu sinh sản của dê (3/4Bo1/4Bt) 35
Bảng 6 Tình hình bệnh tật của dê lai F2(3/4Boer;1/4Bt) trong giai đoạn sơ sinh đến 12 tháng tuổi 37
Trang 9DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 1a Khối lượng con đực các nhóm dê qua các giai đoạn tuổi… 27
Biểu đồ 1b Khối lượng con cái các nhóm dê qua các giai đoạn tuổi……27
Biểu đồ 2 Cường độ sinh trưởng tuyệt đối của các nhóm dê qua các giai đoạn tuổi……… 30
DANH SÁCH HÌNH ẢNH Hình 1 Dê đực thuần ………38
Hình 2 Dê cái F 1 (1/2Bo1/2Bt) 38
Hình 3 Dê cái F 2 (3/4Bo1/4Bt) 39
Hình 4 Dê con F 2 (3/4Bo1/4Bt) 39
Trang 10Dê là loài gia súc nhai lại, chúng nhanh nhẹn, dẻo dai, sinh trưởng và phát triển tốt Đặc biệt chúng chịu được kham khổ và tận dụng được nhiều nguồn thức ăn tự nhiên sẵn có, nên không cạnh tranh lương thực với con người và cần rất ít công lao động nhưng vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi Dê không ăn các thức
ăn thừa, bẩn hay lên men thối rữa Dê có thể nuôi với nhiều phương thức khác nhau như: chăn nuôi quảng canh, chăn nuôi bán thâm canh và chăn nuôi thâm canh
Tuy vậy chăn nuôi dê ở nước ta phần nhiều vẫn là chăn nuôi nhỏ lẻ, số lượng ít Đàn dê của nước ta chủ yếu là dê cho thịt và kiêm dụng thịt sữa bao gồm các giống dê như: dê Cỏ, dê Bách Thảo, dê lai Bách Thảo X Cỏ,…) năng suất không cao
Để phát triển ngành chăn nuôi dê, Nhà Nước đã cho nhập một số giống dê ngoại có năng suất cao, phẩm chất tốt Trong đó có 2 giống dê Boer và Saanen là 2 giống chuyên thịt và chuyên sữa của thế giới, hiện đã được Trung Tâm Nghiên cứu Dê
và Thỏ Sơn Tây tiến hành nuôi dưỡng thích nghi, nhân thuần tăng đàn và nghiên cứu lai tạo giữa dê đực Boer, đực Saanen với một số giống dê của Việt Nam, sau đó kết hợp với các hộ dân trong tỉnh Ninh Thuận để nhân rộng mô hình lai tạo trên để tạo ra một nhóm giống dê mới có năng suất cao và chất lượng tốt phục vụ thị trường và phù hợp điều kiện chăn nuôi của địa phương
Được sự đồng ý của Bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa – Khoa Chăn Nuôi – Thú Y – Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM và Trung Tâm Nghiên Cứu, Thực Nghiệm
& Nhân Giống Dê, Cừu Ninh Thuận Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Đăng Đảnh
và PGS.TS Đinh Văn Bình, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “ Khảo sát
Trang 11khả năng sản xuất của dê lai 3/4 máu Boer1/4 máu Bách Thảo nuôi tại Trạm Nghiên Cứu, Thực Ngiệm & Nhân Giống Dê, Cừu Ninh Thuận”
Đây là một nhánh trong đề tài Nghiên cứu của PGS.TS Đinh Văn Bình:
“Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống dê lai sữa, thịt phù hợp với điều kiện Việt Nam”
Trang 12Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 GIỚI THIỆU, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, XÃ HỘI, CHỨC NĂNG, NHIỆM
VỤ CỦA TRẠM NGHIÊN CỨU, THỰC NGHIỆM VÀ NHÂN GIỐNG DÊ, CỪU NINH THUẬN
2.1.1 Giới thiệu
Trạm Nghiên Cứu, Thực Nghiệm và Nhân Giống Dê, Cừu Ninh Thuận được
thành lập năm 2006, đến đầu năm 2009 mới bắt đầu đi vào hoạt động Tổng diện tích của trạm là 73ha, trong đó có 70ha dành cho khu chăn nuôi, 2ha là khu hành chính, 1ha còn lại được bố trí để cấp nhà ở cán bộ công nhân viên Trong 70ha của khu chăn nuôi gồm có: 14ha trồng ha cỏ, 51ha là bãi chăn thả tự nhiên, 5ha còn lại là khu chuồng trại và nhà kho dùng để dự trữ thức ăn
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Trạm nghiên cứu, thực nghiệm và nhân giống dê, cừu Ninh Thuận là một đơn vị trực thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Dê và Thỏ Sơn Tây (Hà Nội), thuộc Viện Chăn Nuôi Quốc Gia Trạm nằm trên địa bàn Xã Lợi Hải – huyện Thuận Bắc – tỉnh Ninh Thuận, cách thành phố Phan Rang – Tháp Chàm về hướng Nam khoảng 24km và cách thành phố Nha Trang khoảng 100km về hướng Bắc; phía Tây và Đông đều giáp núi
Khí hậu
Do nằm trong vùng khô hạn của tỉnh Ninh Thuận, nên Trạm Nghiên Cứu, Thực Nghiệm và Nhân Giống Dê, Cừu Ninh Thuận có kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng là khô nóng, gió nhiều, độ bốc hơi nước mạnh từ 670 - 1.287mm/năm Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.100 đến 1.200 mm Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 37oC Khí hậu hàng năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng
9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 8 năm sau
2.1.3 Điều kiện xã hội
Trang 13Với vị trị địa lý như trên, Trạm Nghiên Cứu, Thực Nghiệm và Nhân Giống Dê, Cừu Ninh Thuận còn chịu sự tác động của phong tục tập quán, sinh hoạt và chăn nuôi của dân cư nơi đây – nơi tiếp giáp với 3 thành phố du lịch nổi tiếng của cả nước (Phan Thiết, Nha Trang , Đà Lạt), có hệ thống Quốc Lộ 1A chạy ngang qua nối liền 3 thành phố Phan Thiết – Phan Rang – Nha Trang và Tỉnh lộ 27 nối Phan Rang – Đà Lạt Do
đó rất thuận lợi cho việc tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm trao đổi con giống
và thị trường tiêu thụ sản phẩm Từ đó góp phần mở rộng các kết quả nghiên cứu của trạm cũng như các mô hình chăn nuôi kết hợp với hệ thống nông trại bền vững tại tỉnh Ninh Thuận và các tỉnh lân cận
2.1.4 Chức năng và nhiệm vụ
- Nghiên cứu, nhân thuần, chọn lọc, lai tạo nhằm nâng cao các giống dê, cừu
- Nuôi giữ đàn dê, cừu giống gốc bảo tồn quỹ gen và cung cấp con giống dê và cừu cho sản xuất
- Nghiên cứu và phát triển tập đoàn cây thức ăn, chế biến nguồn thức ăn sẵn có tại địa phương nuôi dê và cừu, tập huấn và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi dê, cừu gắn với nông trại bền vững
- Hợp tác nghiên cứu khoa học với các tổ chức quốc tế, các nước trên thế giới, cơ quan khoa học, các trường đại học trong phát triển chăn nuôi dê, cừu
2.2 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI DÊ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
Hiện nay dê đang được nuôi phổ biến ở khắp năm Châu từ vung cực phía bắc thuộc bán đảo Xcandinavi đến Châu Phi nhiệt đới và cả các đảo hẻo lánh ở Châu Đại Dương Ở đâu có người thì ở đó hiện nay hoặc trước đây đã có nuôi dê
2.2.1 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới
Trong một thời gian dài vai trò chăn nuôi dê trong nền kinh tế của các nước đang phát triển không được đánh giá đầy đủ Sự đóng góp tích cực của con dê đối với đời sống của người dân, những gia đình khó khăn về các nguồn lực cũng thường bị bỏ qua Có nhiều nguyên nhân cho vấn đề này, trước hết, dê thường khó đếm được chính xác và vì thế số lượng đầu dê thường không được thống kê đầy đủ Mặt khác, dê sống cũng như các sản phẩm của chúng ít khi tham gia vào thị trường chính thống và không phải chịu thuế, nên sự đóng góp trong nền kinh tế quốc dân thường không được ghi
Trang 14chép đầy đủ Hơn nữa, những người nuôi dê là những người dân nghèo bị lép vế về cả mặt kinh tế và xã hội, hậu quả là các chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách phát triển cũng như các nhà khoa học đều coi nhẹ con dê
Tuy nhiên, gần đây nhận thức về vai trò con dê đã có sự thay đổi và tiềm năng của nó bắt đầu được khai thác tích cực hơn Tuy còn có nhiều qua điểm khác nhau về chủ trương phát triển nhưng chăn nuôi dê đang ngày càng được chú trọng hơn và có những đóng góp lớn vào việc phát triển kinh tế của người dân nghèo Đặc biệt là các vùng mà bò sữa, lợn lai không phù hợp thì con dê được coi là con vật có thể giúp cho
người nông dân tăng thêm thu nhập, xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu
Bảng 1: số lượng dê trên toàn thế giới và khu vực từ năm 2001 – 2006
(đơn vị tính: nghìn con)
Toàn thế giới 737.175 764.040 765.511 768.621 770.111 778.221Các nước triển 30.998 31.490 31.650 31.680 32.450 33.350 Các nước đang phát triển 706.177 717.850 732.861 734.769 737.661 742.861Châu Á 464.344 474.180 487.588 487.598 490.278 493.549
Châu Phi 217.614 219.399 219.736 220.108 220.256 221.767Châu Mỹ La Tinh &
Caribe
34.804 36.497 36.712 36.798 36.818 36.911
Số lượng dê trên toàn thế giới tăng dần qua các năm gần đây Trong năm 2006 toàn thế giới có khoảng 778 triệu con dê, trong đó đàn dê tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển (742 triệu con, chiếm 95,86%) và được nuôi nhiều ở châu Á (493 triệu con, chiếm 63,78%), tiếp theo là châu Phi (223 triệu con, chiếm 28,74%) Châu Mỹ và Caribe có số lượng dê đứng thứ 3 (37 triệu con, chiếm 4,8%) Ở châu Á, nước nuôi dê nhiều nhất là Trung Quốc (173 triệu con), sau đó là Ấn Độ (125 triệu con) và Pakistan (53 triệu con)
Chăn nuôi dê tập trung ở các nước đang phát triển, nhưng chủ yếu ở khu vực nông hộ qui mô nhỏ, ở những vùng khô cằn, nông dân nghèo Ở những nước phát triển, chăn nuôi dê có quy mô đàn lớn hơn và chăn nuôi theo phương thức thâm canh
Trang 15với mục đích lấy sữa làm pho mát hoặc chuyên lấy thịt cho tiêu dùng trong nước hay xuất khẩu Ngoài ra, chăn nuôi dê trên thế giới cũng đã cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm về lông và da
Để hội tụ các nhà khoa học nghiên cứu và tổ chức trao đổi, học tập giúp đỡ lẫn nhau đẩy mạnh phát triển chăn nuôi dê trên toàn thế giới Hội chăn nuôi dê thế giới (International Goat Asociation) đã được thành lập từ năm 1976, khu vực châu Á cũng thành lập tổ chức chăn nuôi gia súc nhỏ nhai lại (Small Ruminant Production Systems Network for Aisa), với mục đích góp phần đẩy mạnh trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển chăn nuôi dê, cừu trong khu vực
2.2.2 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam
Theo số liệu của cục chăn nuôi, năm 2008 tổng đàn dê cả nước có 1,85 triệu con tăng khoảng 5 - 6%, sản lượng thịt đạt 11,6 nghìn tấn tăng trên 14% so với năm
2007
Năm 2006 cả nước có 1.457.637 con dê, trong đó 66.888 con phân bố ở đồng bằng sông Hồng, 336.576 con phân bố ở Đông Bắc, 179.339 con phân bố ở Tây Bắc, 218.602 con phân bố ở Bắc Trung Bộ, 74.988 con phân bố ở Duyên hải Nam Trung
Bộ, 118.161 con phân bố ở Tây Nguyên, 260.775 con phân bố ở Đông Nam Bộ và 202.308 con phân bố ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Nghề chăn nuôi dê ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có Dê chủ yếu vẫn được chăn thả quảng canh, thiếu sự đầu tư, quan tâm thích đáng tới công tác giống, thức ăn cũng như vệ sinh phòng, chữa bệnh Nhiều đàn
dê Cỏ có biểu hiện thoái hóa giống rõ rệt do giao phối cận huyết kéo dài, để khắc phục tình trạng đó nên thay đổi đực giống giữa các đàn dê
Thức ăn và quản lý đàn dê phụ thuộc vào điều kiện khu vực bãi chăn thả Ở những tỉnh miền núi phía Bắc, dê chủ yếu được chăn thả theo phương thức quảng canh Ban ngày dê thường chăn thả tự nhiên trên các triền đồi núi hoặc trong các cánh rừng, ban đêm dê thường được nhốt tại chuồng và được bổ sung thêm muối ăn (Đinh Văn Bình, G.Douglas, 2000) Một số hộ ở vùng Trung Du và khu vực ven đô nuôi dê theo phương thức chăn thả kết hợp bổ sung thêm thức ăn, nước uống tại chuồng cho
dê Quy mô đàn dê ở các tỉnh miền Bắc trung bình từ 5 – 7 con, riêng khu vực miền núi có diện tích chăn thả rộng nên nhiều hộ nuôi từ 30 – 50 con hoặc nhiều hơn
Trang 16Ở miền Trung, Ninh Thuận là những tỉnh có nghề chăn nuôi dê phát triển do có diện tích chăn thả rộng và việc tiêu thụ sản phẩm thuận lợi Cùng với giống dê Cỏ, giống dê Bách Thảo được nuôi tương đối phổ biến Dê và cừu chiếm vị trí thứ ba sau lợn và bò, nhiều hộ nuôi từ 100 – 300 con dê hoặc cừu (Lê Đình Cường, 1997)
Các tỉnh phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Nai chăn nuôi dê với quy mô đàn nhỏ hơn, bình quân từ 10 – 20 con/đàn (Đậu Văn Hải, Cao Xuân Thìn, 2001)
Đặng Xuân Biên (1993), cho rằng số lượng dê nuôi ở nước ta còn quá ít so với các vật nuôi khác Dê Cỏ Việt Nam tăng trọng chậm, tầm vóc nhỏ, phương thức chăn nuôi cổ truyền, quảng canh nên năng suất sinh sản, sinh trưởng kém, tỷ lệ nuôi sống thấp nên tốc độ tăng đàn chậm Số lượng dê nuôi ở nước ta từ năm 1993 đến 2003 đã tăng lên gấp hai lần, từ 353.000 con lên 780.354 con Bên cạnh đó, giống dê cũng được đa dạng và nâng cao Nước ta đã nhập ba giống dê kiêm dụng sữa thịt từ Ấn Độ (năm 1994), hai giống dê chuyên sữa, một giống dê chuyên thịt từ Mỹ (năm 2002) Hơn nữa Nhà Nước có chính sách phát triển chăn nuôi dê qua “Dự án giống dê Quốc gia” nên chăn nuôi dê ở nước ta những năm gần đây đã có những bước tiến bộ vượt bậc
Để thúc đẩy ngành chăn nuôi dê phát triển, Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn và các tổ chức nước ngoài đã đầu tư nhiều dự án như: FAO/TCP/VIE 6613 (Thành lập Trung Tâm Nghiên Cứu Dê Và Thỏ Sơn Tây năm 1991, Nghiên cứu đồng
bộ về giống dê, thức ăn, công tác lai tạo và phát triển chăn nuôi dê cho cả nước, Dự án
“Cải thiện đời sống cho nông dân nghèo bằng cách phát triển sản xuất sữa dê dựa trên nguồn thức ăn sẵn có của địa phương”, Dự án IFAD – TAG 443 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển các biện pháp tổng hợp phòng trị ký sinh trùng ở các nước Đông Nam Á”, Chương trình giống dê Quốc gia 2000 – 2010, Dự án SAREC: Nghiên cứu
sử dụng các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên để phát triển chăn nuôi…) Nhiều cuộc hội thảo về phát triển chăn nuôi dê đã được tổ chức, nhằm đánh giá tình hình chăn nuôi dê, tiềm năng phát triển chăn nuôi dê và tạo ra những giải pháp thúc đẩy phát triển chăn nuôi dê ở nước ta như: Hội thảo nghiên cứu phát triển chăn nuôi dê ở Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 11 năm 1992 của IDR và IAS, …
Trang 172.2.3 Vài nét về dê Bách Thảo
Dê Bách Thảo là giống dê kiêm dụng thịt – sữa, theo nghiên cứu của Đinh Văn Bình và cộng sự (1994) so sánh cấu trúc gen cho thấy dê Bách Thảo có nguồn gốc từ một số giống dê của Ấn Độ, được tạp giao với dê Cỏ hoặc có thể là những thế hệ con cháu của một số giống dê Ấn Độ và một số nước quanh khu vực
Trước đây dê Bách Thảo được nuôi nhiều ở Ninh Thuận và một số tỉnh phía Nam nước ta Đầu những năm 1990 dê Bách Thảo được đưa ra nuôi nhiều ở Trung Tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây sau đó phát triển rộng ra các tỉnh phía Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đến nay được nuôi ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước với số lượng cuối năm 2004 là 150.000 con
Dê Bách Thảo phần lớn có màu lông đen, có 2 sọc trắng dọc theo mặt, tai, 4 bàn chân, dưới bụng có đốm trắng; một số có màu đen tuyền hoặc lang trắng đen không có quy luật Dê Bách Thảo có đầu thô và dài, đa số có sừng nhỏ và dài, có hướng ngã về phía sau, sang hai bên và ít xoắn vặn, sống mũi hơi rô, tai to rủ xuống, miệng rộng, phần lớn không có râu cằm Con cái có cổ thanh chắc, mông và bụng nở nang, bầu vú hình bát úp, núm vú dài 4 - 6 cm Lông dê Bách Thảo ngắn và mượt Con đực có lông thô, dài hơn con cái và thường có bờm lông dài ở sau gáy chạy dọc xuống sống lưng Trưởng thành con đực nặng 60 - 70 kg, cao 87,40 cm; con cái nặng 38 - 45 kg, cao 66,80 cm
Dê Bách Thảo có khă năng sinh sản tốt, thành thục về tính khoảng 6 - 7 tháng tuổi và bước vào sinh sản sớm khoảng 12 - 13 tháng tuổi Dê Bách Thảo mắn đẻ, trung bình đẻ 1,7 - 2,09 con sơ sinh/lứa, khoảng cách lứa đẻ ngắn từ 230 - 250 ngày
2.2.4 Vài nét về dê Boer
Dê Boer đã được phát triển ở châu Phi từ đầu những năm 1900 để lấy thịt Dê Boer hầu như là giống dê bản sứ của bộ tộc Namaqua bushmen và bộ tộc Bantu, lai với một vài giống dê Ấn Độ và của châu Âu Dê Boer là một giống dê chuyên thịt nổi tiếng với các đặc tính tốt như sự sinh trưởng nhanh, phẩm chất thịt thơm ngon Ở mỹ
có nhiều loại dê Boer khác nhau, đó là kết quả của quá trình tạp giao, thoái hóa về giống Tháng 2 năm 2002 nhà nước ta đã nhập từ mỹ về giống dê Boer để cải tạo đàn
dê nội
Trang 18Màu lông của dê Boer đặc trưng bởi toàn thân lông màu trắng tuyền, riêng vùng đầu và cổ lông màu nâu vàng, có lẫn cả màu đen Giữa tráng thường có mãnh lông màu trắng
Toàn thân hình chữ nhật, đầu to vừa, hai tai to, dài, rủ thẳng xuống phía dưới, trán rộng và phẳng, cổ to và tròn, sừng uốn cong lên về phía trên và hướng về sau, ngực sâu và rộng, mông nở và tròn, bụng to tròn nhưng không sệ Bốn chân thấp, chắc chắn Đuôi thường uốn ngược lên phía trên về phía trước Cơ quan sinh dục phát sớm triển
Đực và cái trưởng thành có đặc điểm ngoại hình khác nhau rõ rệt Dê đực to con, đầu thô và to, sừng dài và nhọn, râu dài và rậm hơn dê cái Từ đỉnh chỏm đến cổ của dê đực có bờm, đây là đám lông rất dài và rẻ sang hai bên Dê đực có hai hòn cà
to, nổi rỏ và tính tình hung hăng Con cái hiền hơn, không có bờm, bầu vú to và có từ
cừ, lá tràm tai tượng … Sở dĩ như vậy là vì cũng là loài dạ dày bốn túi gồm: Dạ cỏ, dạ
tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế Trong đó dạ cỏ chiếm 80% khối lượng toàn bộ dạ dày ở dê trưởng thành, cũng có vai trò lên men thức ăn như dạ cỏ của trâu bò Nhưng khu hệ sinh vật, trong dạ cỏ của dê phong phú và đa dạng hơn và có nhiều chủng vi khuẩn có khả năng trung hoà độc tố trong thức ăn Như vậy tiêu hoá ở dạ cỏ càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong sự sinh sống của dê
Người ta đã tính toán được rằng có khoảng 50% vật chất khô của khẩu phần được tiêu hoá ở dạ cỏ Trong dạ cỏ độ pH khoảng 6,5 - 7,4; nhiệt độ khoảng 38-41oC
và độ ẩm khoảng 80-90% cùng với điều kiện yếm khí và nhu động yếu Đó là môi trường thuận lợi cho khu hệ sinh vật gồm vi khuẩn, nấm, và protozoa tồn tại, phát triển
và hoạt động Chúng phân giải các chất dinh dưỡng của thức ăn và tổng hợp nên protein của vi sinh vật, đây là loại protein cao cấp đối với sự dinh dưỡng và phát triển của dê
Trang 19Riêng ở dê con thì khác, sau khi sinh dê con chỉ bú mẹ hay uống sữa chúng chưa có khả năng tiêu hoá thức ăn thô sơ Khi con uống sữa, sữa chảy qua rãnh thực quản xuống thẳng dạ múi khế, sữa được tiêu hoá ở đây ruột non giống như dạ dày đơn Với dê con sữa đầy cũng rất quang trọng vì trong sữ đầu không có dầy đủ chất dinh dưỡng với hàm lượng cao hơn bình thường, đặc biệt nhất là trong sữa đầu có nhiều kháng thể Tuy nhiên hàm lượng kháng thể và khả năng hấp thụ chúng càng giảm rất nhanh theo thơi gian vì vậy sau khi đẻ 30 phút đến 1 giờ, bằng mọi cách phải cho dê con được uống sữa dầu từ bầu vú khoẻ mạnh Sau khi sinh vài ngày dê con tập ăn thức
ăn khô sạch sẽ, đảm bảo chất lượng để giúp dê con tập ăn dễ dàng và an toàn Đến 2-3 tuần dê con đã tiêu hoá được một lượng thức ăn thô xanh và hệ vi sinh vật ở dạ cỏ cũng dần dần được hình thành Đến khi cai sữa thường là từ 3-4 tháng tuổi, dạ cỏ đã khá hoàn chỉnh Tuy nhiên để đảm bảo cho sự sinh trưởng, phát triển của dê con và sự hoàn thiện của dạ cỏ thì cần phải cung cấp nhiều loại thức ăn phong phú, đa dạng, với
số lượng hợp lý và chất lượng tốt; cân đối giữa thức ăn tinh và khô, giữa năng lượng
và protein cũng như các chất khác, khoáng và vitamin của khẩu phần Cũng với chế độ chăm sóc chu đáo và hợp lý để nâng cao tỷ lệ nuôi số dê con
2.3.2 Một số tập tính của dê
Tập tính ăn và uống
Tập tính ăn và uống của dê khác với nhiều loại vật nuôi khác Với cấu tạo đôi môi mỏng và linh hoạt thi dê con ngoài khả năng gặm cỏ giống như trâu bò, chúng rất phù hợp và thích thú với việc bứt, chọn lựa các loại lá cây lùm bụi và cây thân gỗ hạt dài, hay cả việc gặm cỏ như cây thông bạch đàn… Khác với cừu, dê thích tìm kiếm các loại cây hoà thảo có hương vị khác nhau mọc thưa thớt, do vậy có khả năng xâm nhập sâu vào vùng xa mạc Dê có khả năng đứng trên hai chân sau để tận dụng nguồn
Trang 20lá cây cao hơn đầu ở vùng rừng cây lấy gỗ hay rừng cây lúp súp, đây là một lợi thế so với cừu Tác giả cũng cho biết dê thích được chăn thả trên những vùng đất rộng và thoáng, mặc dù có thể ăn được nhiều loại thức ăn xong chúng rất nhanh chán và đặc biệt có tính cá thể trong ăn uống Những thức ăn được các thể này chấp nhận nhưng cá thể khác không thích, ngoài ra chúng từ chối thức ăn bẩn do động vật khác gây ra Dê
ưa thích khẩu phần ăn phong phú về chủng loại cây cỏ Dê cũng là loài ưa thích gậm nhấm lá cây, cây cỏ, chồi, mầm Ở mọi đồng cỏ và các mùa khác nhau lượng thức ăn thuộc loài gậm nhấm như chồi, mầm, vỏ và quả cây luôn chiếm 50% lượng thức ăn, tuy nhiên khi điều kiện gậm nhấm bị hạn chế chúng sẵn sàn gậm cỏ Mùa vụ và độ lớn của đàn có ảnh hưởng đến lượng thu nhận thức ăn tự nhiên của dê chăn thả Lượng thức ăn thu nhận thì khác nhau giữa các giống dê, loại dê và hướng sử dụng Các giống
dê nhiệt đới có thể thu nhận lượng vật chất khô thức ăn khoảng, 8-4,7% khối lượng cơ thể, trong đó các giống dê thịt có DMI (vật chất khô thức ăn thu nhận) là 1,8-3,8% thể trọng, thấp hơn các giống dê sữa (2-4,7)
Tính hiếu động
Dê là loài ưa chạy nhảy, hiếu động, phàm ăn và luôn đi tìm thức ăn mới Chúng
có khả năng leo trèo rất tốt, với sự nhanh nhẹn và khéo léo, chúng có thể di chuyển dễ dàng và kiếm ăn trên cả những mỏm đá cheo leo
Dê chọi nhau rất hăng, không phải dê đực mà thậm chí cả con cái cũng vậy Chúng dùng đầu và sừng húc nhau, húc vào mặt, vào đầu đối thủ Dê thích húc nhau như vậy có thể do tính hung hăng, thích gây sự, do nô đùa, tranh dành thức ăn hay con
dê cái Đôi khi chỉ do buồn sừng hay vì một lý do nào đó mà chúng tự nhiên chuẩn bị
tư thế: toàn thân trụ vào hai chân sau, thu gọn hai chân trước lấy đà, cúi đầu lao thẳng vào đối thủ, có khi chỉ là mô đất hay một gốc cây
Khi gặp nguy hiểm thường hoảng sợ trước vật lạ nhưng đôi khi lại rất hăng hái
và liều mạng Nhiều người cho rằng dê là con vật ương bướng, tuy nhiên người ta cũng phải công nhận là chúng khôn ngoan, chúng có thể nhớ tên và chỗ ở mà người ta đặt cho chúng Chúng cũng dễ gần gũi với người chủ, người chăm sóc quen thuộc Do vậy chúng mới nhận ra, mừng rỡ kêu ầm lên khi thấy chủ từ đằng xa
Trang 21 Tính bầy đàn
Dê thường sống tập trung thành từng đàn, trong đó mỗi con có một vị trí xã hội
của nó và cách thử sức phổ biến nhất vẫn là chọi nhau Con ở vị trí xã hội thấp thường
phải phục tùng và trong sinh hoạt phải nhường cho những con có vị trí xã hội cao hơn
Trong đàn dê có một con dê đầu đàn và đàn dê di chuyển theo con dê này Dê tỏ ra
thích thú và yên tâm hơn khi được đứng trong đàn của mình Chúng cũng thích được
chơi hay ngủ nghỉ trên những mô đất hay tảng đá nhô cao trên mặt đất
Dê thường ngủ nhiều lần trong ngày, có khi chúng vẫn còn nhai lại khi đang
ngủ Với thính giác và khứu giác rất phát triển nên dê rất ngạy cảm với tiếng động dù
rất nhỏ Chúng thường bị đánh thức ngay và khe khẽ kêu như để thông báo cho nhau
biết
Một đặc điểm rất khác biệt với các loài vật khác là dê thường chịu đựng và giấu
bệnh Một con dê ốm vẫn cố gắng đi theo bầy đàn cho đến khi kiệt sức và ngã quỵ Do
vậy, người nuôi dê phải luôn quan sát, theo dõi đà dê để sớm nhận thấy những con dê
có dấu hiệu không bình thường về sức khoẻ Người ta có thể dựa vào kinh nghiệm như
sau để phân biệt dê ốm và dê khoẻ:
- Nhanh nhẹn, tỉnh táo, di
chuyển, bình thường, chịu khó
kiếm ăn và ăn ngon miệng
- Nhai lại, ợ hơi và dạ cỏ vẫn
nhu động bình thường
- Lông mượt và bóng, thân nhiệt
bình thường
- Niêm mạc miệng, mắt, hậu
môn có màu hồng tươi; gương
mũ khô ráo
- Phân bình thường cứng, dạng
viên rời
- Chậm chạp, mệt mỏi hay nằm đứng yên Không chịu tranh giành thức ăn, giảm ăn hoặc bỏ ăn
- Ngừng nhai lại, không ợ hơi, nhu động
dạ cỏ yếu dần hay mất hẳn
- Lông xù, xơ xác, da khô cứng và ẩm ướt, thân nhiệt cao (tai thường nóng hoặc lạnh hơn bình thường)
- Niêm mặc miệng, mắt, hậu môn không
có màu hồng tươi Màu tím thẫm hay tím tái, gương mũi ẩm ướt
- Phân nhão, lỏng, nát, đôi khi lẫn máu niêm mạc; mùi tanh, thối khắm
Trang 22 Tính thích đùa giỡn
Dê sống ở vùng núi, thích chơi leo núi cao Mỗi con dê đê cố leo lên cao hơn địch thủ Chúng húc đầu, cụng trán và có khi dùng cả móng để dọa nhau Một hiện tượng thú vị là nếu một con dê giành được thắng lợi, chiếm được chổ cao nhất, thì con các con khác liền bỏ trò chơi đó chuyển sang trò chơi khác, hoặc khi không bảo vệ được ngôi bá chủ nữa thì con bá chủ lại lao từ đỉnh cao thống trị xuống dưới và chan hòa với đám bạn bè
Dê thích chơi trò kéo co người ta nhìn thấy dê nghịch một đoạn thân cây sắn dây dài khoảng nửa mét dùng làm “dây thừng”,một con ngậm chặt dây sắn và vung vẩy trước mặt một con khác Con này liền chạy lại và ngậm một đầu của dây, và sau
đó bắt đầu một cuộc kéo co
Những bầy dê nuôi thả trong rừng thích đùa trên những vách đá cheo leo dựng đứng, và những cú nhảy liều mạng đôi khi dẫn đến tai nạn
Dê còn có trò chơi tự đùa giỡn, người ta nhận thấy nhiều con không có nguyên
do nào mà cũng phóng như bay theo một đường tròn khá rộng, có khi một vòng cung, thường là chạy quanh một vật chuẩn nào đó, rồi bổng nhiên nó dừng lại đột ngột và không hiểu vì sao, con vật lại chạy nhanh như tên bắn, nhảy theo một phía.Tất cả nhũng vận động đó đều thực hiện bằng một kiểu phi nước đại, bằng những bước nhảy
có đặc trưng cho loài, cũng có lúc nó nhảy chụm cả bốn vó bật đi rất xa
2.4 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỰ SINH TRƯỞNG
2.4.1 Khái niệm về sự sinh trưởng
Đã có nhiều khái niệm về sự sinh trưởng nhưng về cơ bản sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất dinh dưỡng trong cơ thể để tăng thêm về chiều cao, dài, rộng và chiều sâu cũng như thể tích và khối lượng con vật hay của từng bộ phận (thay đổi về
số lượng).Sự phát dục là quá trình thay đổi, là sự tăng lên hoặc hoàn chỉnh thêm các tính chất, chức năng các bộ phận sinh sản trong cơ thể (sự thay đổi về chất)
Sinh trưởng là cơ thể sinh vật tăng lên về khối lượng, thể tích và các chiều dài, rộng và chiều cao, cơ thể sinh vật thực hiện những quá trình chuyển hóa trao đổi chất
cơ bản để tạo ra vật chất của tế bào sống
Trang 232.4.2 Phương pháp đánh giá khả năng sinh trưởng
Sự sinh trưởng là sự tích lũy các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ và khối lượng tích lũy các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gene điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) Vì vậy mà xét sự sinh trưởng xảy ra theo ba hướng: thay đổi kích thước, khối lượng, và thể tích Nhiều nghiên cứu chứng minh rằng sự phát triển của cơ thể động vật có tính giai đoạn Vì vậy người ta dùng phương pháp cân đo theo từng thời diểm để đánh giá Với những con dê thường cân, đo lúc sơ sinh 1, 2, 3, 4, 6, 9, 12
… tháng tuổi
Khi con vật trưởng thành kết hợp cân, đo và giám định, sau đó biểu diễn thành
đồ thị để đánh giá tốc độ sinh trưởng Đây là chỉ tiêu rất quan trọng và trong cùng điều kiện chăn nuôi những gia súc có tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ tiêu tốn ít thức ăn hơn cho 1kg thể trọng
- Tốc độ sinh trưởng tích lũy: là khối lượng, kích thước, thể tích của gia súc tích lũy được trong một thời gian Các thông số thu được qua các lần đo là biểu thị sinh trưởng tích lũy
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối: là khối lượng, kích thước cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian:
1 2
1 2
t t
V V A
Trang 24( 1 2) 0 , 5
1 2 (%)
x V V
V V B
+
−
= Trong đó:
V1: Khối lượng dê tại thời điểm t1 (kg)
V2: Khối lượng dê tại thời điểm t2 (kg)
A: Cường độ sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
B: Cường độ sinh trưởng trương đối (%)
Ngoài phương pháp cân thì việc đo kích thước các chiều để đánh giá sự phát triển của gia súc cũng là một nội dung quang trọng Đặc biệt là đánh giá con giống theo hướng sản xuất, bởi ngoại hình là hình dáng bên ngoài, có liên quan đến sức khỏe, cấu tạo, chức năng các bộ phận bên trong cơ thể cũng như khả năng sản xuất của gia súc Đánh giá con vật qua ngoại hình giai đoạn đầu tiên giúp ta hiểu hình thái, sức khỏe, sức sản xuất và hướng sản xuất nói chung của con vật Có 52 chiều đo trên toàn
cơ thể để đánh giá được một cách toàn diện Tùy theo yêu cầu khảo sát về tốc độ sinh trưởng phát dục của gia súc mà số lượng các chiều đo nhiều hay ít Để nhận xét khái quát về ngoại hình to hay nhỏ, cơ thể phát triển cân đối hay không chúng ta chỉ đo 3 chiều đo cơ bản: cao vai, dài thân chéo và vòng ngực:
- Cao vai: Từ mặt đất đến sau u vai (dùng thước gậy )
- Dài thân chéo: Từ phía trước của khớp bả vai cánh tay đến phía sau u ngồi (dùng thước gậy)
- Vòng ngực: Chu vi quanh vòng ngực tiếp giáp phía sau xương bả vai (thước
dây )
2.4.3 Quy luật sinh trưởng, phát dục của gia súc
Quá trình phát triển của cơ thể từ bào thai đến trưởng thành rồi già cỗi đều tuân theo những qui luật tự nhiên của sinh vật Nhiều tác giả đã nghiên cứu và rút ra những
tính chất riêng biệt của những tính trạng khác nhau Quá trình sinh trưởng, phát
triển có thể tóm tắt theo ba quy luật sau:
Quy luật sinh trưởng, phát triển không đều
Đây là một đặc điểm nổi bật trong sự sinh trưởng, phát triển của sinh vật Có bộ phận thời kỳ này phát triển nhanh, thời kỳ khác phát triển chậm
Trang 25Ở gia súc có móng, sự phát triển của bộ xương thể hiện rõ quy luật này: các xương ngoại vi như xương bả vai, cánh tay, bàn tay phát triển rất chậm so với các xương trục như xương sườn, xương ống trong giai đoạn ngoài thai, và ngược lại ở giai đoạn trong thai Vì đặc điểm này mà ngay sau khi đẻ ra chúng đã có khả năng đứng lên, đi lại được tuy nhiên chân còn yếu
Sự phát triển không đều còn thể hiện ở các cơ quan bộ phận (ở cả giai đoạn trong
và ngoài thai thì da và cơ đều phát triển mạnh, bộ phận sinh dục phát triển mạnh sau khi sinh ra) Và ở cả thành phần hóa học của cơ thể: khi con vật càng lờn thì hàm lượng nước càng giảm, lượng mỡ càng tăng lên
Quy luật sinh trưởng, phát triển theo giai đoạn
• Giai đoạn phát triển trong cơ thể mẹ
- Thời kỳ phôi: Từ khi trứng được thụ tinh, thành hợp tử bám chắc vào niêm mạc
tử cung, giai đoạn này hợp tử còn di động nên thai dễ bị tiêu biến dưới tác động vật lý Vì vậy người chăn nuôi chú ý không cho gia súc vận động mạnh khi vừa phối giống một vài ngày
- Thơi kỳ tiền thai: từ khi hợp tử bám chắc vào niêm mạc tử cung đến khi xuất hiện những nét đặc trưng về giải phẩu, sinh lý và trao đổi chất của các lá phôi Đây là giai đoạn phát dục rất mạnh nên phải cung cấp dầy đủ chất dinh dưỡng
từ các loại thức ăn chất lượng cao cho dê mẹ trong giai đoạn chữa đầu
- Thời kỳ thai nhi: là cuối của giai đoạn trong thai, khi thai sinh trưởng mạnh, 3/4 khối lượng thai sinh ra được hình thành trong giai đoạn này Vì vậy phải cung cấp đủ về cả số lượng và chất lượng thức ăn cho dê mẹ
• Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ
- Thời kỳ bú sữa: Từ khi gia súc được sinh ra đến khi cai sữa (dê thường 3 tháng tuổi) Đây là giai đoạn gia súc phải tiếp xúc với môi trường hoàn toàn mới khắc nghiệt hơn nhiều so với môi trường trong cơ thể mẹ Chúng cần có sức kháng bệnh thật tốt để chống chịu với sự thay đổi này, đồng thời với tốc độ sinh trưởng mạnh của cơ thể Trong khi dinh dưỡng thu được chủ yếu từ sữa mẹ Do vậy sau khi sinh 30 phút – 1giờ phải cho gia súc non bú ngay sữa đầu từ bầu vú khỏe mạnh Vì hàm lượng cũng như khả năng hấp thu kháng thể trong sữa đầu giảm rất nhanh theo thời gian Trong khi nhu cầu dinh dưỡng cho dê con ngày
Trang 26càng cần nhiều thì sản lượng sữa mẹ chỉ tăng và cao nhất ở một hai tháng đầu sau đó ổn định rồi giảm xuống Như vậy cần tập cho dê ăn thức ăn thô xanh từ sớm, ngay khi được 7 đến 10 ngày tuổi dê con đã tập nhấm nháp thức ăn, chúng
ta phải cung cấp thức ăn thô xanh, có chất lượng tốt dể tạo điều kiện cho sự phát triển của hệ vi sinh vật dạ cỏ của dê con Đồng thời phải bổ sung sữa ngoài hợp lý khi cần thiết
- Thời kỳ thành thục: Gia súc có tốc độ sinh trưởng nhanh cơ thể tăng lên cả về chiều ngang và chiều sâu
- Thời kỳ trưởng thành: Đến giai đoạn này, cơ thể con vật đã phát triển toàn diện, con vật có khả năng sinh sản và cho sản phẩm Nhưng dể nâng cao hiệu quả sử dụng gia súc thì chúng ta phải có chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc và khai thác hợp
lý
- Thời kỳ già cỗi: Giai đoạn này gia súc cho năng suất giảm dần rồi mất hẳn
Quy luật sinh trưởng phát triển theo chu kỳ
Tính chất không đều của nhịp độ phát triển rất phù hợp với sự hoạt động hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh, với sự đồng hóa, dị hóa có thời kỳ mạnh thời kỳ yếu của cơ thể biểu hiện rõ nhất của nhịp độ phát triển không đều là hiện tượng tăng trọng của cơ thể, có khi tốc độ tăng trọng rất nhanh nhưng có khi lại rất chậm Đó chính là
do sự oxy hóa khử trong trao đổi chất có giữ được đều hay không Ngoài ra chu kỳ sinh dục của con cái cũng là những biểu hiện về nhịp độ phát dục theo chu kỳ của gia súc
Tuy nhiên, sự thay đổi về điều kiện sống ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thần kinh của con vật, ảnh hưởng đến trao đổi chất, làm thay đổi cấu tạo từng mô cơ, từng bộ phận của cơ thể
2.4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của con vật
Do sự sinh trưởng xảy ra theo ba hướng, cả khối lượng, thể tích và kích thước của cơ thể đều có thể được đo lường, đó là các tính trạng số lượng Các tính trạng này (kiểu hình – P) chịu ảnh hưởng của kiểu di truyền (genotype – G) và ngoại cảnh (enviroment – E)
P = G + E
Trang 27 Nhân tố di truyền: P là đặc tính của sinh vật, nó được di truyền từ bố mẹ sang
con cháu những đặc tính mà tổ tiên và bố mẹ đã có Tính di truyền và sức sản xuất cao hay thấp, chuyên môn hóa hay kiêm dụng đều ảnh hưởng đến quá trình phát dục, nhất là những bộ phận ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
G = A + D + I Trong đó:
A: Là sự đóng góp của từng gen vào sự di truyền cộng gộp
D: Là sự tương tác giữa hai gen trong cùng một allen
I: Là sự tương tác của các gen không cùng allen trên cùng một nhiễm sắc thể, hiệu ứng tương tác
Nhân tố ngoại cảnh: là những nhân tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng trực
tiếp (hay gián tiếp) đến cơ thể gia súc vả ảnh hưởng đến sự phát triển của các
bộ phận trong cơ thể
Có hai loại điều kiện môi trường: môi trường ảnh hưởng đến tất cả các con vật (EG), đó là các yếu tố thiên nhiên ví như khí hậu thời tiết … và môi trường riêng ảnh hưởng đến con vật (ES), đây là yếu tố nuôi dưỡng, chăm sóc và cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn, lại do con người tác động vì vậy chúng ta phải tạo ra được môi trường sống phù hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của gia súc
Tóm lại, để dê sinh trưởng và phát triển theo mong muốn thì chúng ta phải tác động để cải tạo cả nhân tố di truyền và nhân tố ngoại cảnh Phải có giống và khả năng
di truyền tốt trong điều kiện tiểu khí hậu phù hợp và chế độ nuôi dưỡng chăm sóc hợp
lý
2.5 KHẢ NĂNG SẢN XUẤT THỊT VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA GIA SÚC
Để đánh giá khả năng sản xuất thịt của gia súc thì ngoài việc theo dõi về tốc độ, cường độ sinh trưởng và phát triển của gia súc ở các giai đoạn, người ta còn phải theo dõi sự thay đổi về khối lượng, chất lượng thịt, tiêu tốn thức ăn cho 1 đơn vị tăng trọng, khối lượng gia súc khi giết mổ và tỷ lệ thịt sẽ là những chỉ tiêu hết sức quan trọng Người ta còn có thể đánh giả phẩm chất thịt dựa vào màu sắc, độ mịn, độ nhão của thớ
cơ … Hay bằng cách phân tích đánh giá qua hàm lượng các chất dinh dưỡng trong thịt như protein, lipid, khoáng, thậm chí cả hàm lượng các loại acid amin
Trang 28Dựa vào tỷ lệ mỡ người ta phân loại thịt như sau:
- Nếu ≤ 12%: là gia súc non
- Nếu 12 – 14%: là loại thit được ưa chuộng
- Nếu 14 – 16%: là loại thịt trung bình
- Nếu > 16%: là loại thịt không được ưa chuộng
Độ mềm của thịt được xác định qua độ ngậm nước, ở Hungari, Pháp, Đức còn dùng chỉ số: Lượng cơ không tiêu hóa được = Oxiproline x 8 để đánh giá chất lượng thịt Chất lượng này tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, tuổi, tính biệt, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng … Như vậy việc nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố
và biện pháp tác động để nâng cao khả năng cho thịt có phẩm chất tốt của gia súc nói chung và dê thịt nói riêng là vấn đề hết sức cần thiết
Trang 29Chương3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu:
- 134 con dê Boer lai F2 trong giai đoạn tuổi từ sơ sinh –9 tháng tuổi
Thời gian: Từ tháng 02 đến tháng 07 năm 2009
Địa điểm: Tại Trạm Nghiên Cứu, Thực Nghiệm và Nhân Giống Dê, Cừu Ninh Thuận
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của dê lai (3/4Bo1/4Bt)
- Khối lượng dê sơ sinh
- Khối lượng tích luỹ của dê lai (3/4Bo1/4Bt) qua các tháng tuổi: sơ sinh, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng
- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và tương đối
- Kích thước một số chiều đo cơ bản
3.2.2 Đánh giá khả năng sinh sản của đàn dê
- Thời gian mang thai (ngày)
- khoảng cách lứa đẻ (ngày)
- số con / lứa đẻ (con)
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Sau khi chọn lọc dê cái lai F1 làm giống, tiếp tục dùng đực Boer phối lai cấp tiến tạo ra con lai F2 (3/4 máu Boer)
Trang 30
Hình Sơ đồ công thức lai
- Đàn dê con F2 sinh ra, được theo dõi đến 12 tháng tuổi
- Dê được đánh số, nuôi nhốt riêng biệt từng con, thả vận động ngày 2 lần Buổi sáng từ 7 giờ đến 10 giờ, buổi chiều từ 2 giờ đến 5 giờ
- Dê được ăn cùng khẩu phần ăn, căn cứ vào khối lượng và khả năng sản xuất của từng cá thể để có tiêu chuẩn ăn khác nhau Dựa theo tiêu chuẩn ăn đã được nghiên cứu và áp dụng tại Trạm
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu dê lai (1/2Bo1/2Bt) được trạm nghiên cứu thực nghiêm và nhân giống
dê cừu Ninh Thuận cung cấp
Ở dê lai (3/4Bo1/4Bt) chúng tôi sử dụng các biện pháp thông thường như cân,
đo, đếm định kỳ hàng ngày, tuần, tháng; quan sát liên tục, lập biểu, qua sổ theo dõi
thành tích cá thể của trạm …
Về sinh trưởng
- Cân khối lượng lúc sơ sinh, 3, 6, 9 và 12 tháng tuổi Tiến hành cân khối lượng vào buổi sáng trước khi cho dê ăn Với con sơ sinh, sau khi đẻ dùng khăn khô mềm lau khô rồi cân
- Đo kích thước các chiều đo ở 3, 6, 9 và 12 tháng tuổi Tiến hành đo vào buổi sáng trước khi cho ăn Đo các chiều đo chính như sau:
+ Cao vai: Là khoảng cách từ mặt đất đến u vai (dùng thước gậy)
Trang 313.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu đã thu thập được xử lý bằng phần mềm MS Excel 2003 và Minitab 14
Trang 32Chương4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN
DÊ LAI (3/4Bo1/4Bt)
Được sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Lê Đăng Đảnh và PGS.TS Đinh Văn Bình chúng tôi đã sử dụng số liệu dê lai (1/2Bo1/2Bt) do trạm nghiên cứu thực nghiệm
& nhân giống dê cừu Ninh Thuận cung cấp, để tiến hành so sánh với kết quả dê lai (3/4Bo1/4Bt) mà chúng tôi thực hiện được
4.1.1 Khối lượng của dê lai qua các tháng tuổi
Khối lượng là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh trưởng và cho thịt của dê Để đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn dê chúng tôi tiến hành cân khối lượng của dê ở các độ tuổi: sơ sinh, 3, 6, 9 tháng tuổi, tiến hành so sánh với con dê lai
F1 (1/2 máu Boer1/2 máu Bách Thảo) Kết quả được trình bày ở bảng 1a
Bảng4.1a Khối lượng dê lai (1/2Bo1/2Bt); (3/4Bo1/4Bt) qua các tháng tuổi
Trang 33Khối lượng dê lai (1/2Bo1/2Bt) và (3/4Bo1/4Bt) qua 3, 6 và 9 tháng tuổi lần lượt tương ứng là: 14,0; 21,62; 29,10kg và 15,64; 22,04; 29,37kg Qua đây chúng tôi thấy khối lượng qua 3, 6 và 9 tháng tuổi của dê lai (3/4Bo1/4Bt) cao hơn khối lượng của dê lai (1/2Bo1/2Bt ) (P<0,05) Nghiên cứu về giống dê Bách Thảo, Đinh Văn Bình
và cộng sự (2001, 2005) cho biết khối lượng 3, 6 và 9 tháng tuổi lần lượt là: 9,90; 14,30; 19,80 Kết quả khảo sát về khối lượng dê lai (3/4Bo1/4Bt) của chúng tôi cao hơn nhiều so với dê Bách Thảo, điều này có thể giải thích như sau: dê lai (3/4Bo1/4Bt) thích nghi với điều kiện khí hậu cũng như điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc tại Trạm Nghiên Cứu, Thực Nghiệm & Nhân Giống Dê Cừu Ninh Thuận
Trang 34Trọng lượng sơ sinh của dê đực (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tương ứng là: 3,20 và 2,78kg (khác biệt rất có ý nghĩa, P<0,01)
Trọng lượng sơ sinh của dê cái (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê cái (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tuơng ứng là: 2,96 và 2,52kg ( khác biệt rất, rất có ý nghĩa, P<0,001)
Trọng lượng 3 tháng tuổi của dê đực (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tương ứng là:16,07 và 15,16kg (khác biệt có ý nghĩa, P<0,05)
Trọng lượng 3 tháng tuổi của dê cái (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê cái (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tuơng ứng là: 15,33 và 14,09kg ( khác biệt rất, rất có ý nghĩa, P<0,001)
Trang 35Trọng lượng 6 tháng tuổi của dê đực (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tương ứng là: 23,22 và 22,25kg (khác biệt không có ý nghĩa, P>0,05)
Trọng lượng 6 tháng tuổi của dê cái (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê cái (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tuơng ứng là: 21,46 và 21,38kg ( khác biệt không có ý nghĩa, P>0,05)
Trọng lượng 9 tháng tuổi của dê đực (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê đực (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tương ứng là: 30,71 và 29,48kg (khác biệt không có ý nghĩa, P>0,05)
Trọng lượng 9 tháng tuổi của dê cái (3/4Bo1/4Bt) cao hơn dê cái (1/2Bo1/2Bt) với khối lượng tuơng ứng là: 28,45 và 27,59kg ( khác biệt không có ý nghĩa, P>0,05)
Nhìn chung, từ bảng 3.1b chúng tôi nhận thấy khối lượng qua các tháng tuổi của dê đực cao hơn dê cái, kết quả này của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Tịnh Xuân Thanh, Đinh Văn Bình và cộng sự (2008), thực hiện trên dê lai (3/4Bo1/4Bt) So sánh với kết quả của Bùi Thị Cẩm Lệ (2004), thì trọng lượng trung bình của dê lai (3/4Bo1/4Bt) chúng tôi khảo sát thấp hơn dê Boer cùng lứa tuổi, cụ thể ở 3 và 6 tháng tuổi khối lượng dê đực và cái Boer tương ứng là:17,97kg; 16,45kg và 29,86; 26,87kg còn kết quả của chúng tôi tương ứng là: 16,07; 15,33kg và 23,22; 21,46kg Nếu so sánh với kết quả của Trịnh Xuân Thanh, Đinh Văn Bình và cộng sự (2008), thực hiện trên dê lai (3/4Bo1/4Bt) ở 3 và 6 tháng tuổi tương ứng với đực và cái lần lượt là: 13,70; 14,80kg và 20,70; 19,00kg thì kết quả của chúng tôi cao hơn nhiều Từ kết quả của Đinh Văn Bình (1995), thì thấy khối lượng trung bình của dê lai (3/4Bo1/4Bt) chúng tôi thực hiện luôn cao hơn dê Bách Thảo ở cùng độ tuổi,ví dụ ở 3 và 6 tháng tuổi khối lượng của con đực và con cái Bách Thảo là: 13,54; 11,51kg và 17,30; 20,60kg Còn so với dê cỏ thì khối lượng trung bình của dê lai (3/4Bo1/4Bt) của chúng tôi thực hiện ở 6 tháng tuổi gần tương đương với dê cỏ 24 tháng tuổi (con cái 21,10kg; con đực 23,50kg, theo Lê Văn Thông, Lê Văn Nghiệp và cộng sự, 1999)
Ở thời điểm dê lai (3/4Bo1/4Bt) được 9 tháng tuổi thì trọng lượng trung bình đạt 30,71kg ở con đực và 28,45kg ở con cái Kết quả này của chúng tôi cao hơn kết quả của Trịnh Xuân Thanh, Đinh Văn Bình và cộng sự (2008), với trọng lượng trung bình của dê lai (3/4 máu Boer) con đực và con cái lần lượt là: 27.80kg và 250kg
Trang 36Như vậy không chỉ có khối lượng sơ sinh cao mà cả khối lượng qua giai đoạn 3,
6, 9 tháng tuổi đều cao hơn so với giống dê kiêm dụng Bách Thảo và dê Cỏ, hai giống
dê được nuôi nhiều nhất ở nước ta kết quả đó cho thấy cơ sở đúng đắng của việc dùng
dê đực Boer để lai tạo ra các con lai tốt nhất
15.16
0 5 10
Biểu đồ 1a Khối lượng con đực các nhóm dê qua các giai đoạn tuổi
Biểu đồ 1b Khối lượng con cái các nhóm dê qua các giai đoạn tuổi