BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRẠI SAO MAI HUYỆN CỦ CHI TH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRẠI SAO MAI HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên : TRƯƠNG THANH NHÂN
Niên khóa : 2003 – 2008
Tháng 6/2009
Trang 2KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA ĐÀN BÒ SỮA TẠI TRẠI SAO MAI HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tác giả
TRƯƠNG THANH NHÂN
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng
Bác sỹ ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn
ThS CHÂU CHÂU HOÀNG
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Kính dâng cha mẹ
Người đã tận tụy, động viên và hy sinh suốt đời cho con có ngày hôm nay
Thành kính ghi ơn
ThS Châu Châu Hoàng
Đã hết lòng hướng dẫn, dìu dắt và truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Chân thành cảm ơn
Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y cùng toàn thể quý Thầy Cô đã tận tụy giảng dạy tôi trong thời gian học tại trường
Chân thành cảm tạ
Ban Giám Đốc Trung Tâm Quản Lý và Kiểm Định Giống Cây Trồng Vật Nuôi, Ban lãnh đạo cùng toàn thể anh chị em công nhân trại bò sữa Sao Mai đã quan tâm giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp
Cảm ơn
Tập thể lớp TC03TYVL đã chia sẻ cùng tôi những khó khăn, vui buồn trong học tập cũng như trong đời sống hàng ngày Các bạn đã hết lòng giúp đỡ, hỗ trợ tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2009
Sinh viên
Trương Thanh Nhân
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Khóa luận: “Khảo sát khả năng sản xuất của đàn bò sữa tại trại Sao Mai huyện
Củ Chi Tp HCM”, được thực hiện từ ngày 11 tháng 11 năm 2008 đến ngày 11 tháng 3 năm 2009 trên đàn bò sinh sản thuộc các nhóm giống lai HF
Kết quả cho thấy:
1 Trọng lượng bò thuộc các nhóm giống F1, F2, F3, F4 biến thiên từ 441,7- 473,7 kg,
cho thấy trọng lượng có xu hướng tăng khi tỷ lệ máu HF tăng
2 Tuổi phối giống lần đầu muộn nhất là nhóm bò F3 với 551,5 ngày (18,3 tháng) và
sớm nhất là nhóm bò F2 với 506,6 ngày (16,9 tháng)
3 Tuổi đẻ lứa đầu cao nhất ở nhóm bò F3 với 857,4 ngày (28,5 tháng), thấp nhất là
nhóm bò F2 với 809,0 ngày (26,9 tháng)
4 Hệ số phối bình quân của các nhóm giống là 2,2 lần và có xu hướng tăng theo tỷ lệ
máu HF, với nhóm bò F4 có hệ số phối cao nhất là 2,7 lần
5 Thời gian phối lại sau khi sinh cao nhất ở nhóm F1 với 167,2 ngày, nhỏ nhất là
nhóm bò F3 với 105,9 ngày, có xu hướng rút ngắn khi tỷ lệ máu HF tăng
6 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ cao nhất ở nhóm bò F2 với 482,9 ngày, ngắn nhất là
nhóm bò F1 với 450,2 ngày
7 Sản lượng sữa bình quân ngày cao nhất ở nhóm bò F1 với 17kg/con/ngày, thấp nhất
là nhóm bò F2, F3 với 14,2 kg/con/ngày
8 Sản lượng sữa toàn chu kỳ ở các nhóm bò cao nhất là nhóm F2 với 4.552 kg/con, kế
đến là nhóm bò F3 với 4.539 kg/con và thấp nhất là nhóm bò F1 chỉ đạt 4125 kg/con
9 Tiêu tốn vật chất khô để sản xuất một kg sữa cao nhất là nhóm F2 với 948,2 g/kg
sữa và thấp nhất là nhóm F4 với 905,5 g/kg sữa
10 Tiêu tốn năng lượng trao đổi để sản xuất 1kg sữa cao nhất là nhóm bò F4 với
2202,4 kcal/kg sữa và thấp nhất là nhóm bò F3 với 2124,9 kcal/kg sữa
11 Tiêu tốn đạm thô để sản xuất 1kg sữa cao nhất là nhóm F4 với 153,2 g/kg sữa và
thấp nhất là nhóm bò F2 với 146,0 g/kg sữa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ ix
DANH SÁCH CÁC HÌNH x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích – yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Sơ lược về các giống bò chuyên dụng sữa và bò lai Holstein Friesian (HF) sản xuất sữa 3
2.1.1 Bò HF 3
2.1.2 Bò Jersey 3
2.1.3 Bò nâu Thụy Sĩ (Brown Swiss) 4
2.1.4 Bò lai F1 (1/2 HF) 4
2.1.5 Bò lai F2 (3/4 HF) 5
2.1.6 Bò lai F3 (7/8 HF) 5
2.1.7 Bò lai F4 (15/16 HF) 6
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và sản lượng sữa 7
2.2.1 Giống 7
2.2.2 Dinh dưỡng 7
2.2.3 Tuổi và tầm vóc cơ thể 8
2.2.4 Giai đoạn trong chu kỳ cho sữa, sự mang thai, thời gian khô sữa 8
Trang 62.2.6 Kỹ thuật vắt sữa 9
2.2.7 Sự tách bê 9
2.2.8 Nhiệt độ môi trường 9
2.2.9 Bệnh tật 9
2.3 Tổng quan về địa bàn khảo sát 10
2.3.1 Sơ lược về huyện Củ Chi 10
2.3.1.1 Vị trí địa lý 10
2.3.1.2 Khí hậu 10
2.3.1.3 Thủy văn 11
2.3.2 Vài nét về tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Củ Chi 11
2.3.3 Đặc điểm của trại Sao Mai 12
2.3.3.1 Phương thức chăn nuôi 13
2.3.3.2 Thức ăn 13
2.3.3.3 Đặc điểm chuồng trại 14
2.3.3.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 14
2.3.3.5 Nuôi dưỡng và chăm sóc bê 15
2.3.3.6 Khai thác và tiêu thụ sữa 16
2.3.3.7 Công tác thú y 16
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 17
3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát 17
3.1.1 Thời gian 17
3.1.2 Địa điểm 17
3.2 Phương pháp khảo sát 17
3.2.1 Đối tượng và dụng cụ khảo sát 17
3.2.2 Phương pháp khảo sát 17
3.2.2.1 Phương pháp trực tiếp 17
3.2.2.2 Phương pháp gián tiếp 17
3.3 Nội dung và chỉ tiêu khảo sát 17
3.3.1 Trọng lượng bò cái sinh sản (kg) 17
3.3.2 Các chỉ tiêu sinh sản 18
Trang 73.3.4 Tiêu tốn thức ăn/1 kg sữa 18
3.3.5 Tình hình bệnh 19
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 19
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Trọng lượng bò cái sinh sản 20
4.2 Khả năng sinh sản 21
4.2.1 Tuổi phối giống lần đầu 21
4.2.2 Tuổi đẻ lứa đầu 23
4.2.3 Hệ số phối 24
4.2.4 Thời gian phối lại sau khi sinh 26
4.2.5 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 28
4.2.6 Tỷ lệ đực- cái của bê 29
4.3 Các chỉ tiêu về năng suất sữa 30
4.3.1 Sản lượng sữa bình quân/ngày theo nhóm giống 30
4.3.2 Sản lượng sữa toàn chu kỳ 32
4.4 Tiêu tốn thức ăn để sản xuất một kg sữa 33
4.4.1 Tiêu tốn vật chất khô để sản xuất một kg sữa (g/kg sữa) 33
4.4.2 Tiêu tốn năng lượng trao để sản xuất 1 kg sữa 35
4.4.3 Tiêu tốn đạm thô để sản xuất 1kg sữa 36
4.5 Tình hình bệnh 37
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
5.1 Kết luận 38
5.2 Đề nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
PHỤ LỤC 41
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HF : Holstein Friesian
TSTK : Tham số thống kê
CV : hệ số biến động (Coefficiency of variation)
SD : Độ lệch chuẩn (Standard deviation)
X : Trung bình
BQ : Bình quân
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Kế hoạch phát triển đàn bò sữa huyện Củ Chi 12
Bảng 2.2: Cơ cấu đàn và cơ cấu giống của trại 12
Bảng 4.1: Trọng lượng của các nhóm giống bò sữa 20
Bảng 4.2: Trọng lượng (kg) của các nhóm giống bò sữa theo một số tác giả 21
Bảng 4.3: Tuổi phối giống lần đầu 22
Bảng 4.4: Tuổi phối giống lần đầu (ngày) của các giống bò sữa theo một số tác giả 23
Bảng 4.5: Tuổi đẻ lứa đầu 23
Bảng 4.6: Hệ số phối 24
Bảng 4.7: Kết quả hệ số phối (lần) của các nhóm giống bò sữa theo một số tác giả 25
Bảng 4.8: Thời gian phối lại sau khi sinh 26
Bảng 4.9: Thời gian phối lại sau khi sinh (ngày) của các nhóm giống bò sữa theo một số tác giả 27
Bảng 4.10: Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 28
Bảng 4.11: Khoảng cách giữa hai lứa đẻ (ngày) của các nhóm giống bò sữa theo một số tác giả 29
Bảng 4.12: Tỷ lệ đực- cái của bê sinh ra 30
Bảng 4.13: Sản lượng sữa bình quân ngày theo nhóm giống 31
Bảng 4.14: Sản lượng sữa toàn chu kỳ của các nhóm giống 32
Bảng 4.15: Sản lượng sữa toàn chu kỳ của các nhóm giống bò sữa lai theo một số tác giả 33 Bảng 4.16: Tiêu tốn vật chất khô tổng thể để sản xuất một kg sữa (g/kg sữa) 34
Bảng 4.17: Tiêu tốn năng lượng trao đổi tổng thể để sản xuất một kg sữa 35
Bảng 4.18: Tiêu tốn đạm thô của các nhóm giống 36
Bảng 4.19: Các bệnh ghi nhận được trên đàn bò của trại 37
Trang 10
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Trọng lượng của từng nhóm bò sữa 20
Biểu đồ 4.2: Tuổi phối giống lần đầu 22
Biểu đồ 4.3: Tuổi đẻ lứa đầu 24
Biểu đồ 4.4: Hệ số phối 25
Biểu đồ 4.5: Thời gian phối lại sau khi sinh 26
Biểu đồ 4.6: Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 28
Biểu đồ 4.7: Sản lượng sữa bình quân/ngày 31
Biểu đồ 4.8: Sản lượng sữa toàn chu kỳ 32
Biểu đồ 4.9: Tiêu tốn vật chất khô 34
Biểu đồ 4.10: Tiêu tốn năng lượng trao đổi tổng thể 35
Biểu đồ 4.11: Tiêu tốn đạm thô tổng thể 36
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Bò lai F1 (1/2 HF) 4
Hình 2.2: Bò lai F2 (3/4 HF) 5
Hình 2.3: Bò lai F3 (7/8 HF) 6
Hình 2.4: Bò lai F4 (15/16 HF) 7
Hình 2.5: Cỏ voi và cỏ VA 06 13
Hình 2.6: Chuồng nuôi bò cạn sữa, mang thai và bò đang vắt sữa 14
Hình 2.7: Tắm bò trước khi vắt sữa và xô đựng sữa 15
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Song song với nhịp độ phát triển của đất nước, quá trình đô thị hóa phát triển nhanh chóng ở các vùng ven làm cho diện tích đất nông nghiệp nói chung và diện tích đất chăn nuôi nói riêng ngày càng bị thu hẹp, bình quân hàng năm mất đi khoảng 800-1000ha đất nông nghiệp Đất sản xuất lúa chiếm đa số nhưng kém hiệu quả, cộng với việc ô nhiễm môi trường, tạo áp lực ngày càng cao cho vùng nông thôn ngoại thành Trước tình hình đó việc đẩy mạnh đầu tư vào những ngành nông nghiệp mũi nhọn hiệu quả cao, tạo những bước đột phá làm thay đổi và tạo đà tăng tốc phát triển
bộ mặt nông thôn ngoại thành
Nhu cầu xã hội về chăn nuôi lại càng tăng theo mức sống của người dân, đòi hỏi các nhà chăn nuôi phải không ngừng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế Trong đó, chăn nuôi bò sữa là một trong những ngành đem lại lợi nhuận cao cho nhà chăn nuôi, do sữa là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cũng như góp phần phát triển ngành công nghiệp chế biến
ở nước ta hiện nay đang phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu ngoại nhập
Tuy nhiên, hiện nay chăn nuôi bò sữa còn gặp nhiều khó khăn như: giống, thức
ăn, chuồng trại, quy trình phòng bệnh… Trong đó, ảnh hưởng của sinh sản lên khả năng cho sữa đàn bò đang là vướng mắc của nhiều nhà chăn nuôi Vì vậy, việc tìm hiểu khả năng sinh sản và sức sản xuất của bò là điều cần thiết nhằm định hướng phát triển ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự chấp thuận của bộ môn Chăn Nuôi Chuyên Khoa- Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, cùng sự hướng dẫn của ThS Châu Châu Hoàng và sự hỗ trợ giúp đỡ của Trung Tâm Quản Lý và Kiểm Định Giống Cây Trồng Vật Nuôi thuộc Sở Nông Nghiệp và Phát
Triển Nông Thôn Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo
sát khả năng sản xuất của đàn bò sữa tại trại Sao Mai huyện Củ Chi thành phố Hồ
Trang 13- Khả năng sản xuất sữa
- Tiêu tốn thức ăn/1kg sữa
- Một số bệnh thường gặp
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 Sơ lược về các giống bò chuyên dụng sữa và bò lai Holstein Friesian (HF) sản xuất sữa
2.1.1 Bò HF
Trên thế giới có rất nhiều giống bò sữa nhưng tốt nhất và phổ biến nhất vẫn là giống bò HF Bò có nguồn gốc từ Holstein Friesianland, Netherland (Hà Lan) nên thường được gọi là bò Hà Lan Đây là giống có khả năng thích nghi với nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới Mặc dù có nguồn gốc ôn đới nhưng đã được nuôi lai tạo thành những dòng có thể nuôi được ở các nước nhiệt đới Thông thường các nước đều phát triển giống bò HF tại nước mình và đặt tên riêng như Holstein Francaise (Holstein Pháp), Holstein American (Holstein Mỹ), Holstein Canada… Bò HF có màu lang trắng đen, tầm vóc lớn (trọng lượng bò cái trưởng thành từ 500-800kg) Dáng thanh hình nêm, có bầu vú phát triển, sinh sản tốt, tính tình hiền lành, khả năng sản xuất sữa rất cao, tại Pháp năng suất sữa trung bình khoảng 20 kg/con/ngày (6.000kg trong một chu kỳ sữa 300 ngày) có con đạt 9.000 kg một chu kỳ sữa, tỷ lệ bơ từ 3,2 – 3,7% Tại Việt Nam một số bò HF thuần được nuôi tại Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng nhiệt độ trung bình cả năm dưới 210C) có năng suất đạt 5.000 kg một chu kỳ sữa Riêng Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay có nhiều dòng tinh giống bò HF đã và đang được sử dụng, nguồn nhập từ các nước như Canada, Pháp, Mỹ, Cuba…
2.1.2 Bò Jersey
Bò Jersey có nguồn gốc từ đảo quốc Jersey của nước Anh Đây là giống bò nổi tiếng về hàm lượng bơ trong sữa cao (trung bình 4,5 – 5,4%) nên thường dùng để lai tạo với giống bò HF nhằm nâng cao tỷ lệ bơ trong sữa Bò Jersey là giống bò tương đối nhỏ con, khung xương nhỏ (trọng lượng bò cái từ 350-450 kg), thường có màu vàng nhạt đến hơi đậm, đặc điểm nhận dạng rõ nhất là sống mũi gãy, mắt to lộ Năng suất bò Jersey đạt khoảng 4.500-5.000 kg/chu kỳ sữa Đây là giống bò thích nghi rất
Trang 15tốt, đặc biệt là nơi có khí hậu nóng ẩm, vì vậy bò Jersey đã được sử dụng trong công thức lai tạo giống bò sữa ở nhiều nước nhiệt đới trên thế giới
2.1.3 Bò nâu Thụy Sĩ (Brown Swiss)
Bò nâu Thuỵ Sĩ có nguồn gốc từ vùng núi Alpes (Thụy Sĩ) Đây là giống bò tương đối lớn con (trọng lượng bò cái trưởng thành từ 550-600 kg) Bò có màu nâu nhạt đến xám và đặc biệt là màu da tai trong và quanh mũi thường có màu trắng Năng suất sữa khoảng 5.500-6.000 kg/chu kỳ sữa Đây cũng là giống bò sữa có khả năng thích nghi rất tốt với nhiều vùng khí hậu khác nhau
2.1.4 Bò lai F1 (1/2 HF)
Gieo tinh bò đực Holstein Friesian thuần cho bò cái nền lai Sind để tạo ra bò lai
có 1/2 máu bò Holstein Friesian và 1/2 máu bò lai Sind thường được gọi là bò lai F1
Bò lai F1 thường có màu đen tuyền, đôi khi đen xám, đen nâu Nếu có vết lang trắng thì rất nhỏ, thường ở dưới bụng, bốn chân, khấu đuôi và trên trán Đặc biệt tai hơi nhọn giống như bò lai Sind
Trang 16lai F1 nuôi tại Thành phố Hồ Chí Minh đạt sản lượng trên 4.000 kg/chu kỳ sữa (năng suất trung bình từ 14-15 kg/ngày)
2.1.5 Bò lai F2 (3/4 HF)
Bò cái F1 tiếp tục gieo tinh bò Holstein Friesian thuần để tạo ra bò có 3/4 máu Holstein và 1/4 máu bò lai Sind thường được gọi là bò F2 Bò F2 thường có màu lang trắng đen (màu trắng ít hơn) tai hơi tròn có khuynh hướng giống tai bò Holstein Friesian Bò cái có tầm vóc lớn (380-480 kg), bầu vú phát triển; nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt năng suất sữa cao hơn bò lai F1 Năng suất bình quân khoảng 10-12 kg/con/ngày (3.000-3.600 kg/chu kỳ sữa), có con đạt được 15 kg/ngày (4.500 kg/chu
kỳ sữa) Tại Thành phố Hồ Chí Minh một số bò lai F2 đạt sản lượng 5.000 kg/chu kỳ
Hình 2.2: Bò lai F2 (3/4 HF)
Điều kiện khí hậu nóng, ẩm (trên 300C) bò lai F2 tỏ ra sức chịu đựng kém hơn
bò lai F1 trong cùng điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
2.1.6 Bò lai F3 (7/8 HF)
Bò cái F2 tiếp tục được gieo tinh bò Holstein Friesian thuần để tạo ra bò lai có 7/8 máu giống bò Holstein Friesian và 1/8 giống bò lai Sind gọi là bò F3 Bò lai F3 thường có màu lang trắng đen, ngoại hình gần giống với bò HF thuần: màu trắng nhiều hơn
Trang 17Bò cái trưởng thành có tầm vóc lớn hơn (400-500 kg) so với bò lai F1 và F2, bầu vú phát triển Bò thích nghi kém hơn, nhưng nếu được nuôi dưỡng chăm sóc tốt thì vẫn cho năng suất cao Năng suất bình quân khoảng 13-14 kg/ngày (3.900-4.200 kg/chu kỳ)
Hình 2.3: Bò lai F3 (7/8 HF) 2.1.7 Bò lai F4 (15/16 HF)
Bò được lai giữa bò đực HF và bò mẹ F3, cũng tương tự như bò F3, bò F4 có ngoại hình có màu lông đen và trắng nhưng màu đen ít hơn bò F3, tỷ lệ 60% trắng 40% đen, có nhiều con trắng cả bốn chân, đuôi bụng và ức, đầu đen nếu có lang trắng thì chỉ một đám nhỏ, chùm lông ở đỉnh dài hơn bò F3, yếm gần như mất hoàn toàn, trọng lượng bò cái trưởng thành khoảng 420-550 kg, sản lượng sữa khoảng 4.000-4.500kg/chu kỳ (305 ngày)
Trang 18Hình 2.4: Bò lai F4 (15/16 HF) 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần và sản lượng sữa
Thành phần các chất trong sữa cũng như năng suất sữa chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố như di truyền, sinh lý, ngoại cảnh, dinh dưỡng và bệnh tật (Châu Châu Hoàng, 2000)
2.2.1 Giống
Có sự khác biệt rất rõ rệt giữa những giống khác nhau về sản lượng cũng như chất lượng sữa nhưng sự khác biệt giữa các cá thể trong cùng một giống lại lớn hơn, trong đó sự khác biệt rõ nhất là tỷ lệ mỡ sữa
2.2.2 Dinh dưỡng
Thức ăn chiếm 65% giá thành sản xuất Vì vậy khẩu phần ăn cân bằng và đầy
đủ dưỡng chất sẽ giúp phát huy hết tiềm năng di truyền của thú và phát huy tối đa năng suất còn không sẽ ngược lại, nghĩa là nếu khẩu phần ăn thiếu dưỡng chất thì năng suất
sẽ không cao
Khẩu phần dinh dưỡng thấp sẽ làm giảm hàm lượng mỡ sữa ở mức năng lượng thích hợp, sản lượng sữa tăng theo hàm lượng protein thô có thể tiêu hóa trong khẩu phần, protein sữa có thể hình thành từ nguồn nitơ phi protein trong khẩu phần như urea
và các amonium
Ngoài trường hợp thiếu ăn và kém dinh dưỡng, những thay đổi về dinh dưỡng
Trang 192.2.3 Tuổi và tầm vóc cơ thể
Bò có tầm vóc lớn hơn sẽ cho nhiều sữa hơn những giống bò nhỏ con Trong cùng giống, bò trưởng thành sản xuất nhiều sữa hơn bò đẻ lứa đầu do tầm vóc phát triển hơn, bầu vú cũng phát triển hơn qua mỗi lần mang thai Năng suất của sữa bò tăng dần và đạt đỉnh cao ở lứa thứ 3-4 rồi sau đó giảm dần
Nếu bò đẻ lứa đầu lúc 3 tuổi thì sẽ cho nhiều sữa hơn bò đẻ lứa đầu lúc 2 tuổi, tuy nhiên bò đẻ lứa đầu sớm thì lượng sữa cả đời có khả năng sẽ nhiều hơn
Tình trạng cơ thể lúc sinh có ảnh hưởng lớn với sức sản xuất sữa trong chu kỳ ngay sau đó Do phần lớn bò đều giảm 50-100 kg thể trọng trong vài tuần lễ đầu của chu kỳ sữa nên nếu bò có thể trạng tốt lúc sinh sẽ có nhiều năng lượng dự trữ trong giai đoạn quan trọng đầu chu kỳ sữa, giúp bò cho lượng sữa lúc cực đại cao hơn và duy trì lâu hơn Ngoài ra, bò có thể trạng tốt lúc sinh có khuynh hướng sản xuất sữa có hàm lượng mỡ sữa cao hơn
Khi tuổi bò tăng lên cũng như số lứa đẻ tăng lên thì chất béo trong sữa giảm dần, SNF (Solid Not Fat: chất khô không béo) cũng giảm dần (chủ yếu là giảm lactose) Tuy nhiên, sau lứa thứ 5 thì sự thay đổi rất ít
2.2.4 Giai đoạn trong chu kỳ cho sữa, sự mang thai, thời gian khô sữa
Thông thường, sự sản xuất sữa bắt đầu ở mức nhất định, tăng dần rồi đạt đến đỉnh cao sau 6-10 tuần rồi giảm dần, tốc độ giảm này quyết định độ dài thực tế của chu
kỳ Ở bò không mang thai sau khi đạt đến đỉnh cao, lượng sữa giảm rất từ từ (mỗi tháng giảm 5% so với tháng trước) Ở bò mang thai sản lượng sữa giảm nhanh sau tháng thứ 5 của thai kỳ Đến tháng thứ 8 của thai kỳ, lượng sữa sẽ giảm rõ rệt và cạn sữa Vì vậy nên cạn sữa trước khi bò sinh 60 ngày để bò hồi phục sức khỏe chuẩn bị cho chu kỳ sữa tiếp theo Bò có thời gian cạn sữa thích hợp sẽ cải thiện tình trạng cơ thể lúc sinh dẫn đến việc tăng sản lượng lẫn hàm lượng mỡ sữa trong 3 tháng đầu của chu kỳ sữa kế tiếp
Thời gian cạn sữa ngắn sẽ làm cho sản lượng thấp hơn trong chu kỳ tiếp nhưng nếu thời kỳ cạn sữa quá dài sẽ kéo dài khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và làm giảm sản lượng sữa cả đời
Trang 202.2.5 Sự động dục
Trong chu kỳ cho sữa sự động dục cơ thể làm giảm sản lượng sữa tạm thời và
bò cao sản có thể chậm động dục lại sau khi sinh
2.2.6 Kỹ thuật vắt sữa
Vắt sữa không đúng kỹ thuật có thể làm giảm sản lượng sữa Vắt sữa không kiệt thường chừa phần sữa có hàm lượng mỡ sữa cao trong bầu vú, do đó hàm lượng mỡ sữa của lần vắt đó bị giảm Khoảng cách giữa 2 lần vắt càng lâu thì sản lượng sữa càng cao nhưng hàm lượng mỡ sữa thấp, nếu vắt 2 lần/ngày thì khoảng cách giữa lần vắt tốt nhất là 12 giờ
2.2.8 Nhiệt độ môi trường
Bò đang cho sữa sinh nhiệt do sự lên men trong dạ cỏ gấp đôi so với bò không cho sữa nên dễ bị ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường, bò càng cao sản thì bị ảnh hưởng càng lớn, đặc biệt là trong giai đoạn đỉnh cao của chu kỳ sữa Tuy nhiên ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường đối với sản lượng và thành phần của sữa tùy thuộc vào giống bò: giống Zebu và một số giống ôn đới như Brown Swiss và Jersey thường chịu nóng tốt hơn những giống bò ôn đới khác
2.2.9 Bệnh tật
Bất cứ tình trạng bệnh tật nào cũng đều làm giảm sản lượng sữa
Các giống bò nuôi ở nước ta đều có nguồn gốc từ các vùng ôn đới, sức đề kháng và khả năng chống chịu với bệnh không cao Bò có tỷ lệ máu ngoại càng cao thì sức đề kháng càng giảm
Viêm vú, sốt sữa, xáo trộn tiêu hoá và các bệnh truyền nhiểm đều làm giảm sản lượng sữa trong thời gian bệnh và có thể ảnh hưởng đến sản lượng sữa trong cả đời
Nếu bò có tình trạng sức khoẻ kém trong giai đoạn đầu kỳ thì chu kỳ đỉnh cao
và lượng sữa toàn kỳ cũng giảm
Trang 21Sữa bò bị bệnh thường có hàm lượng Na và Cl cao hơn, thường có vị mặn và không được chấp nhận vì lý do cảm quan Sữa từ vú bị viêm cũng có hàm lượng Na,
Cl, Globulin và Albumin cao nhưng hàm lượng lactose, Kali và casein thấp
2.3 Tổng quan về địa bàn khảo sát
2.3.1 Sơ lược về huyện Củ Chi
2.3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Củ Chi nằm về phía tây bắc của thành phố Hồ Chí Minh, gồm 21 xã và
1 thị trấn với 43.450,2 ha diện tích tự nhiên, bằng 20,74% diện tích toàn thành phố
- Phía bắc giáp huyện Trảng Bàng – Tây Ninh
- Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Bến Cát – Bình Dương
- Phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đức Hòa – Long An
- Phía Nam giáp huyện Hóc Môn – Thành phố Hồ Chí Minh
Thị trấn Củ Chi là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của huyện, cách trung tâm Thành phố 35km về phía Tây Bắc theo đường Xuyên Á
Vùng Tây Bắc mang sắc thái miền Đông Nam Bộ, địa hình cao, đồi gò, càng xuống phía Nam và Tây Nam địa hình chuyển sang gợn sóng rồi thoai thoải trước khi
đổ xuống vùng bưng trũng
Độ cao trung bình từ 8-10m, nơi cao nhất là xã An Nhơn Tây tới 22m, thấp nhất
là xã Bình Mỹ, Tân Thạnh Đông, Tân Thạnh Tây chỉ 0,5 đến 0,7m
Nhiệt độ tương đối ổn định, cao đều trong năm và ít thay đổi, trung bình năm khoảng 26,60C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,80C (tháng 4), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 24,80C (tháng 12) Tuy nhiên biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm chênh lệch khá lớn, vào mùa khô có trị số 8-100C
Trang 22Lượng mưa trung bình năm từ 1.300-1.770 mm, tăng dần lên phía Bắc theo chiều cao địa hình, mưa phân bó không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9; vào tháng 12, tháng 1 lượng mưa không đáng kể
Độ ẩm không khí trung bình hàng năm khá cao (79,5%) cao nhất vào tháng 7,
Nhìn chung hệ thống sông, kênh, rạch trực tiếp chi phối chế độ thủy văn của huyện và nét nổi bật của dòng chảy là sự xâm nhập của thủy triều
2.3.2 Vài nét về tình hình chăn nuôi trên địa bàn huyện Củ Chi
Trong giai đoạn 2006-2010, huyện Củ Chi đã có những bước chuyển mình theo tốc độ phát triển kinh tế của thành phố, dần đưa nền kinh tế của huyện đi vào ổn định
và đang trên đà khẳng định vị trí của mình ở các ngành nông nghiệp mũi nhọn Cụ thể ngành chăn nuôi bò sữa, Củ Chi đang dẫn đầu về số lượng lẫn chất lượng trong các huyện ngoại thành của thành phố Tính đến cuối năm 2006 tổng đàn có 11.061 con, tổng sản lượng sữa/năm là 57.517 tấn và định hướng đến năm 2010, tổng đàn sẽ là 40.193 con với tổng sản lượng sữa/năm là 120.588 tấn
Kế hoạch phát triển đàn bò sữa huyện Củ Chi được trình bày qua bảng 2.1
Trang 23Bảng 2.1: Kế hoạch phát triển đàn bò sữa huyện Củ Chi
4 Năng suất bình quân/chu kỳ Kg/con/chu kỳ 4.345 4.512 4.679 4.847 5.014
(Nguồn: Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Thành phố Hồ Chí Minh)
2.3.3 Đặc điểm của trại Sao Mai
Trại Sao Mai được xây dựng vào năm 1999, quy mô đàn 104 con (tính đến tháng 3/2009), nằm trên địa bàn thuộc ấp 3 xã Phước Vĩnh An huyện Củ Chi Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thị trấn huyện Củ Chi khoảng 5km, gần trạm thu mua sữa của công ty Dutch Lady và công ty Vinamilk nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển và tiêu thụ sữa
Bộ máy điều hành của trại cũng tương đối gọn nhẹ, bao gồm:
- Giám Đốc (chủ): là kỹ sư chăn nuôi, quản lý tình hình chung của trại
- Trưởng trại: quản lý tình hình thú y của trại
- Bộ phận kỹ thuật gieo tinh: thuê dẫn tinh viên ở ngoài
- Công nhân dao động từ 8-10 người, đảm nhận những công việc khác nhau
Nguồn nước sử dụng: từ nước giếng khoan
Cơ cấu đàn và cơ cấu giống của trại được trình bày qua bảng 2.2
Bảng 2.2: Cơ cấu đàn và cơ cấu giống của trại
Các nhóm bò Đàn loại
Tổng cộng
Trang 242.3.3.1 Phương thức chăn nuôi
Bò được nuôi nhốt, không có sân để vận động và chia theo từng nhóm: bò cao sản (trên 15kg sữa/con/ngày), bò có sản lượng sữa trung bình (từ 10-15 kg sữa/con/ngày), bò có sản sữa lượng thấp (dưới 10 kg sữa/con/ngày) được nuôi theo hai dãy chuồng còn bò cạn sữa và mang thai, bò cái hậu bị mang thai, bò sắp đẻ, bò bệnh,bê cái tơ và bê cái dưới 3 tháng tuổi, bê từ 4-7 tháng được nuôi theo từng ô chuồng khác nhau
2.3.3.2 Thức ăn
Thức ăn: bò sữa chia thành hai nhóm chính:
- Thức ăn thô: Qua thời gian khảo sát chúng tôi ghi nhận được trại chủ động giải quyết được phần lớn thức ăn thô cho bò, cỏ được trồng tại trại đủ để cung cấp cho
bò trong mùa mưa, vào mùa nắng lượng cỏ thiếu nên thường được bổ sung thêm rơm khô, rơm ủ urê, cỏ ủ để cân đối khẩu phần Các giống cỏ được trồng chủ yếu là cỏ voi,
cỏ VA 06 Ngoài ra còn có các sản phẩm tân dụng của ngành trồng trọt như: thân cây bắp, cùi bắp… tuỳ vào mùa vụ
Hình 2.5: Cỏ voi và cỏ VA 06
-Thức ăn tinh chủ yếu là cám hỗn hợp (sử dụng cám CP 884 của công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam) và hèm bia (được mua từ các công ty sản xuất bia Sài Gòn)
Thức ăn bổ sung: ngoài thức ăn thô và thức ăn tinh còn bổ sung thêm một số loại thức ăn khác như: muối, urea, đá liếm
Trang 252.3.3.3 Đặc điểm chuồng trại
Trại bò sữa Sao Mai gồm 4 dãy chuồng riêng biệt được chia ra như sau: chuồng
bò đang vắt sữa, chuồng bò cạn sữa, chuồng bò cái tơ, chuồng bê Nền chuồng tráng xi măng có độ dốc thích hợp, mái chuồng được xây kiên cố, với kiểu chuồng hai mái lợp tôn, độ cao mái khoảng 5,2m, diện tích máng ăn 1,6m x 0,66m, diện tích máng uống 0,5 x 0,66m, diện tích trung bình khoảng 4,5m2/con
Hình 2.6 Chuồng nuôi bò cạn sữa, mang thai và bò đang vắt sữa
2.3.3.4 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
Cách cho ăn: thức ăn thô chủ yếu là cỏ xanh và rơm (hoặc rơm ủ urê) được cho
ăn xen kẽ: cỏ xanh cho ăn vào thời điểm 9 giờ 30 phút sáng và 16 giờ 30 chiều, rơm (hoặc rơm ủ urê) cho ăn vào 6 giờ sáng và 11 giờ Cám hỗn hợp và hèm bia cho ăn vào mỗi buổi sáng, riêng đàn vắt sữa cho ăn cám hỗn hợp và hèm bia vào thời điểm trước khi vắt sữa
- Số lượng thức ăn
Bò có sản lượng sữa trên 15 kg /con/ngày: cho ăn thức ăn thô xanh khoảng
17-30 kg, thức ăn tinh cho ăn theo định mức 8-10 kg/con/ngày, 10-14 kg hèm bia/con/ngày và cho ăn rơm 1-2 kg/con/ngày
Bò có sản lượng 10-15 kg/con/ngày khẩu phần tương tự nhưng thức ăn tinh là 6 kg/con/ngày
Bò có sản lượng dưới 10 kg/con/ngày: khẩu phần tương tự nhưng thức ăn tinh
là 4 kg/con/ngày
- Vệ sinh
Bò trung bình được tắm 3 lần mỗi ngày Ngoài 2 lần tắm trước lúc vắt sữa bò
Trang 26khi tắm bò, phân được tập trung ở đầu mỗi dãy chuồng sau đó vận chuyển đến hồ chứa phân bằng xe kéo
Xô đựng sữa, dụng cụ vắt sữa được rửa sạch phơi nắng sau khi sử dụng Nước uống cho bò từ giếng bơm tương đối vệ sinh
Hình 2.7 Tắm bò trước khi vắt sữa và xô đựng sữa 2.3.3.5 Nuôi dưỡng và chăm sóc bê
Phương thức nuôi dưỡng và chăm sóc bê của trại được thực hiện theo nội dung tập huấn “Hội thi triển lãm giống bò sữa 2002” của thành phố Hồ Chí Minh
- Giai đoạn sơ sinh
Trước khi bò đẻ vài ngày, công nhân trại chuẩn bị lồng úm bê có lót rơm khô Sau khi bê được sinh ra, dùng khăn lau khô nhất là phần đầu, mũi và miệng Tiến hành cắt rốn cho bê, dùng dao sắc hay kéo cắt rốn cách bụng 5cm và dùng cồn iod để sát trùng vết cắt Sau đó cho bê lên lồng úm, tách hẳn bê và bò mẹ ra Khoảng 1h sau, cho
bê uống sữa đầu của bò mẹ được vắt ra, tùy theo lượng sữa đầu của bò mẹ nhiều hay ít
mà cho bê uống
Ở giai đoạn này bê được uống sữa đầu càng nhiều càng tốt và được cho uống theo lần vắt sữa là 2 lần trong ngày, mỗi lần từ 2,5-3 kg/con Sau 10 ngày đưa bê ra chuồng để nuôi theo nhóm
- Giai đoạn cho uống sữa
Giai đoạn này được tính từ ngày thứ 10 (sau khi bê được đưa ra chuồng để nuôi theo nhóm) kéo dài đến khi cai sữa (khoảng 3,5 tháng) Thức ăn trong giai đoạn này là sữa nguyên và thức ăn hỗn hợp dành cho bê với lượng tăng dần từ tuần thứ nhất 4,5 kg
Trang 27hợp dành cho bê nhưng lượng sữa cho uống bắt đầu giảm còn 5 kg sữa con/ngày Từ tuần thứ 7 đến tuần thứ 8 giảm lượng sữa còn 3 kg/con/ngày giai đoạn này bắt đầu cho
bê làm quen với cỏ tươi và thức ăn tinh Đến tuần thứ 9-10 lượng sữa cho uống khoảng 1,5 kg/con/ngày và lượng thức ăn tinh tăng lên dần (0,5 đến 1kg), cỏ cho ăn tự do Đến tuần thứ 10-12 cho uống 1kg sữa cộng với 1,5 kg thức ăn tinh, tuần thứ 12-14 cho uống khoảng 0,5kg sữa cộng với 2kg thức ăn tinh/ngày và cho uống sữa cách ngày sau
đó ngưng hẳn để cai sữa bê
- Giai đoạn hậu bị
Giai đoạn này tính từ khi cai sữa khoảng 3,5 tháng đến 24 tháng tuổi Thức ăn cho bê trong giai đoạn này là thức ăn xanh (cỏ tươi) cho ăn tự do, chỉ bổ sung một lượng nhỏ 0,5-1kg thức ăn tinh/ngày
2.3.3.6 Khai thác và tiêu thụ sữa
Bò được vắt sữa 2 lần/ngày vào thời điểm: 4 giờ 30 phút – 5 giờ sáng và 15-16 giờ 30 chiều
Trước khi vắt sữa cả người và bò đều được vệ sinh, bò được xịt rửa bầu vú và lau khô bằng khăn sạch, vắt bỏ tia sữa đầu, sau đó đưa máy vắt sữa vào vắt đến khi lượng sữa cạn thì ngưng và vắt kiệt bằng tay, cuối cùng sát trùng bầu vú rồi đưa về chuồng
Sữa vắt xong được cho vào thùng đưa đến điểm thu mua sữa, tại đây được nhân viên lấy mẫu kiểm tra vi sinh
2.3.3.7 Công tác thú y
Công tác thú y được đặc biệt quan tâm thực hiện theo đúng quy trình kỹ thuật Chuồng trại được sát trùng định kỳ hàng tháng, quy trình tiêm phòng được thực hiện nghiêm ngặt Trong đó, công tác tiêm phòng bệnh lở mồm long móng và tụ huyết trùng được tiêm 2 lần/năm vào thời điểm giao mùa tháng 4 đến tháng 5 và tháng 10 đến tháng 11 Bên cạnh việc tiêm phòng vaccin, việc xổ giun định kỳ cũng được thực hiện 1 lần/năm
Tuy nhiên, các bệnh sản khoa, đau móng… vẫn còn rải rác xảy ra trên đàn bò của trại
Trang 283.2.1 Đối tượng và dụng cụ khảo sát
Đối tượng khảo sát là đàn bò đang sản xuất sữa của trại được phân theo nhóm máu gồm 4 nhóm F1, F2, F3 và F4
Dụng cụ: cân đồng hồ, xô đựng sữa, thước dây của viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam (WE-BO), đo vòng ngực để tính trọng lượng bò, sổ phối giống, sổ sản lượng sữa, phiếu điều tra cá thể
3.2.2.2 Phương pháp gián tiếp
-Sử dụng số liệu lưu trữ ở trại
-Sử dụng số liệu của Trung Tâm Quản Lý và Kiểm Định Giống Cây Trồng Vật Nuôi thành phố Hồ Chí Minh
3.3 Các chỉ tiêu khảo sát
3.3.1 Trọng lượng bò cái sinh sản (kg)
Xác định bằng cách dùng thước dây WE-BO đo vòng ngực