TÓM TẮT LUẬN VĂN Đề tài được tiến hành từ ngày 25/04/2009 đến ngày 25/08/2009 tại trại chăn nuôi heo Hảo Trang huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai với mục đích khảo sát tình hình viêm tử cung,
Trang 1KHẢO SÁT TÌNH HÌNH VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ TÌNH TRẠNG TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON THEO
MẸ TẠI TRẠI HEO HẢO TRANG HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG
Giáo viên hướng dẫn:
ThS NGUYỄN THỊ THU NĂM
Tháng 09 năm 2009
Trang 2Chủ trại chăn nuôi heo tư nhân Trảng Bom chú Nguyễn Văn Hảo, và cô Nguyễn Thị Thu Trang đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình trong suốt thời gian làm đề tài tại trại Truyền đạt cho em những kinh nghiệm quí báu về khảo sát đàn nái và đàn heo con theo mẹ, cũng như những kinh nghiệm về chẩn đoán, điều trị nâng cao tay nghề
Các anh em công nhân trại chăn nuôi heo Hảo Trang huyện Trảng Bom đặc biệt là anh Đậu, chị Vân, cô Huyền đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài của mình
Các bạn lớp thú y 30 đặc biệt là Châu Minh, Xuân Thuận, Văn Khoa, Xuân Hòa, Mỹ Phương cùng bạn bè gần xa đã chia sẻ cùng những vui buồn trong suốt thời gian học tập tại trường và thực tập tốt nghiệp
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài được tiến hành từ ngày 25/04/2009 đến ngày 25/08/2009 tại trại chăn nuôi heo Hảo Trang huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai với mục đích khảo sát tình hình viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh và tình trạng tiêu chảy trên đàn heo con theo mẹ Qua khảo sát 124 con nái sau khi sinh chúng tôi ghi nhận được kết quả như sau:
Tỷ lệ viêm tử cung là 21,77%, tỷ lệ viêm vú là 4,04% Các dạng viêm tử cung gồm: viêm dạng nhờn (20,16%), viêm dạng mủ (1,61%)
Tỷ lệ heo lên giống lại của nhóm nái không viêm là 96,74%, nhóm nái viêm tử cung là 96,30%, nhóm nái viêm vú là 80,00%
Thời gian trung bình lên giống lại của nhóm nái không viêm là 5,55 ngày, nhóm nái viêm tử cung là 5,77 ngày, nhóm nái viêm vú là 5,75 ngày
Sản lượng sữa nái tính đến 21 ngày của nhóm nái không viêm là 92,80 kg, nhóm nái viêm tử cung là 83,03 kg, nhóm nái viêm vú 71,70 kg
Số heo con sơ sinh trên ổ của nhóm nái không viêm là 8,74 con, nhóm nái viêm
tử cung là 8,07 con, nhóm nái viêm vú là 8,4 con
Số heo con chọn nuôi trên ổ của nhóm nái không viêm là 8,61 con, nhóm nái viêm tử cung là 7,96 con, nhóm nái viêm vú là 8,2 con
Trọng lượng sơ sinh bình quân của nhóm nái không viêm là 1,54 kg, nhóm nái viêm tử cung là 1,52 kg, nhóm nái viêm vú là 1,50 kg
Tỷ lệ ngày con tiêu chảy của nhóm nái không viêm là 5,93 ngày, nhóm nái viêm tử cung dạng nhờn là 6,41 ngày, nhóm nái viêm tử cung dạng mủ là 5,86 ngày, nhóm nái viêm vú là 6,88 ngày
Trọng lượng bình quân của heo 21 ngày tuổi của nhóm nái không viêm là 5,36
kg, nhóm nái viêm tử cung dạng nhờn là 5,32 kg, nhóm nái viêm tử cung dạng mủ là 5,22 kg, nhóm nái viêm vú là 4,98 kg
Tỷ lệ nuôi sống đến 21 ngày tuổi của nhóm nái không viêm là 96,21%, nhóm nái viêm tử cung dạng nhờn là 95,98%, nhóm nái viêm tử cung dạng mủ là 81,25%, nhóm nái viêm vú là 87,80%
Trang 4Phân lập vi khuẩn từ dịch viêm tử cung có sự hiện diện của các vi khuẩn sau:
Staphylococcus spp., E.coli, Streptococcus spp., Enterobacter aerogenes
Kết quả thử kháng sinh đồ cho thấy các vi khuẩn phân lập trong dịch viêm tử
cung có tỷ lệ kháng kháng sinh khá cao Vi khuẩn Streptococcus spp kháng thuốc khá
nhiều, chỉ còn cephalexine, peniciline, norfloxacine, ciprofloxacine, colistine,
ofloxacine nhạy cảm 33,33% Staphylococcus spp còn nhạy cảm tốt với norfloxacine, ciproloxacine, ofloxacine, bactrim 100% E.coli nhạy cảm với norfloxacine, ciproloxacine 100% Enterobacter aerogenes nhạy cảm với norfloxacine,
ciproloxacine, colistine, kanamycine 100%
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh sách các bảng viii
Danh sách các biểu đồ ix
Danh sách các hình x
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HEO HẢO TRANG 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Mục đích và ưu thế của trại 3
2.1.3 Cơ cấu đàn 3
2.1.4 Hệ thống chuồng trại 4
2.1.5 Thức ăn và nước uống 5
2.1.5.1 Thức ăn 5
2.1.5.2 Nước uống 5
2.2 QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ VỆ SINH - TIÊM PHÒNG THÚ Y 6
2.2.1 Quy trình chăn nuôi 6
2.2.2 Quy trình tiêm phòng 6
2.2.3 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 6
2.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.3.1 Viêm tử cung 9
Trang 62.3.1.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung 9
2.3.1.3 Các dạng viêm tử cung 10
2.3.1.4 Viêm vú 11
2.3.2 Cơ chế gây viêm vú 12
2.3.3 Bệnh tiêu chảy trên heo con 12
2.3.3.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con 12
2.3.3.2 Bệnh tiêu chảy 12
2.3.3.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy 12
2.3.3.4 Cơ chế sinh bệnh 16
2.3.3.5 Triệu chứng 17
2.3.3.6 Chẩn đoán 17
2.3.3.7 Điều trị 17
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 19
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT 19
3.2 DỤNG CỤ VÀ VẬT LIỆU KHẢO SÁT 19
3.3 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 19
3.4 NỘI DUNG KHẢO SÁT 19
3.5 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 19
3.5.1 Ghi nhận heo bệnh 19
3.5.2 Cách lấy mẫu dịch viêm tử cung 19
3.6 CÁC CHỈ TIÊU KHẢO SÁT 20
3.6.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 20
3.6.2 Năng suất sinh sản của nái 20
3.6.3 Tỷ lệ tiêu chảy trên heo con theo mẹ 20
3.7 CÔNG THỨC TÍNH 21
3.8 XỬ LÝ SỐ LIỆU 21
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ CHUỒNG NUÔI 22
4.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT VIÊM TỬ CUNG, VIÊM VÚ TRÊN HEO NÁI 24
4.2.1 Tỉ lệ viêm tử cung, viêm vú trên heo nái 24
4.2.2 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú heo nái theo lứa đẻ 26
Trang 74.2.3 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung trên tổng số nái khảo sát 28
4.2.4 Tỷ lệ và thời gian trung bình nái lên giống trở lại sau cai sữa và sản lượng sữa nái tính đến 21 ngày 31
4.2.5 Kết quả phân lập và kháng sinh đồ trên mẫu dịch viêm tử cung 34
4.2.5.1 Kết quả phân lập vi khuẩn từ mẫu dịch viêm tử cung 34
4.2.5.2 Kết quả thử kháng sinh đồ 36
4.3 KẾT QUẢ NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA NÁI 38
4.3.1 Số heo con sơ sinh trên ổ, số heo con chọn nuôi trên ổ, trọng lượng sơ sinh bình quân 38
4.3.2 Tỷ lệ heo con tiêu chảy và tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở heo con theo mẹ trên từng nhóm nái 40
4.3.3 Trọng lượng bình quân heo con 21 ngày tuổi theo từng nhóm nái 45
4.3.4 Tỷ lệ nuôi sống của heo con đến 21 ngày tuổi theo từng nhóm nái 46
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 KẾT LUẬN 48
5.2 ĐỀ NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
PHỤ LỤC 52
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của hai loại cám 116 và 118 5
Bảng 2.2 Quy trình tiêm phòng của trại 8
Bảng 4.1 Kết quả khảo sát về nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi 22
Bảng 4.2 Tỷ lệ viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh 24
Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung và viêm vú theo lứa đẻ trên nái khảo sát 27
Bảng 4.4 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung 28
Bảng 4.5 Tỷ lệ và thời gian trung bình nái lên giống lai và sản lượng sữa nái tính đến 21 ngày 31
Bảng 4.6 Tổ hợp vi khuẩn phân lập trong 5 mẫu dịch viêm tử cung 35
Bảng 4.7 Kết quả thử kháng sinh đồ với streptococcus spp và staphylococcus…36 Bảng 4.8 Kết quả thử kháng sinh đồ với E.coli và Enterobacter aerogenes 37
Bảng 4.9 Số heo con sơ sinh trên ổ, số heo con chọn nuôi trên ổ, trọng lượng sơ sinh bình quân 38
Bảng 4.10 Tỷ lệ heo con tiêu chảy và tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên heo con theo mẹ 42
Bảng 4.11 Trọng lượng bình quân heo con 21 ngày tuổi theo từng nhóm nái 45
Bảng 4.12 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 21 ngày tuôi theo từng nhóm nái 46
Trang 9DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ viêm tử cung trên heo nái sau khi sinh 25
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ viêm tử cung và viêm vú theo lứa đẻ trên nái khảo sát 27
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ các dạng viêm tử cung 29
Biểu đồ 4.4 Thời gian trung bình nái lên giống trở lại 32
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ số nái lên giống trở lại 33
Biểu đồ 4.6 Sản lượng sữa nái tính đến 21 ngày 34
Biểu đồ 4.7 Số con sơ sinh trên ổ 39
Biểu đồ 4.8 Số con chọn nuôi trên ổ 40
Biểu đồ 4.9 Trọng lượng bình quân heo sơ sinh 41
Biểu đồ 4.10 Tỷ lệ heo con tiêu chảy 43
Biểu đồ 4.11 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên heo con theo mẹ theo từng nhóm nái 43 Biểu đồ 4.12 Trọng lượng heo con 21 ngày tuổi theo từng nhóm nái 45
Biểu đồ 4.13 Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 21 ngày tuổi theo từng nhóm nái 47
Trang 10DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Chuồng sàn cho heo cai sữa 4
Hình 2.2 Chuồng củi cho heo nái đẻ và heo con theo mẹ 4
Hình 2.3 Chuồng nền cho heo nái mang thai và chờ phối 5
Hình 4.1 Viêm tử cung dạng mủ 30
Hình 4.2 Viêm tử cung dạng mủ máu 30
Trang 11Đi đôi với cơ cấu và số lượng đàn heo tăng, ngành chăn nuôi heo phải đối mặt với nhiều vấn đề về bệnh tật hơn Riêng trên đàn nái sinh sản bệnh viêm tử cung, viêm
vú luôn là mối quan tâm hàng đầu của các trại chăn nuôi Tuy tỷ lệ chết không cao nhưng lại ảnh hưởng lớn đến năng suất của con nái như: chậm lên giống lại, mất sữa, tắt sữa… Mặt khác bệnh viêm tử cung, viêm vú làm tăng tỷ lệ tiêu chảy trên đàn heo con theo mẹ, heo con chậm tăng trưởng, giảm sức đề kháng, tăng chi phí thuốc điều trị
Trong thực tế đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về bệnh viêm tử cung, viêm vú và bệnh tiêu chảy trên đàn heo con theo mẹ, nhằm tìm ra các nguyên nhân chủ yếu gây bệnh để đề ra các giải pháp tối ưu trong việc phòng trị sao cho hiệu quả nhất
Để biết thêm về thực tế và hiểu rõ hơn về vấn đề trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng
dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Năm, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh và tình trạng tiêu chảy trên heo con theo mẹ tại trại chăn nuôi heo Hảo Trang huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai.”
Trang 12- Khảo sát nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi
- Khảo sát đàn nái sinh sản và heo con theo mẹ để theo dõi ghi nhận tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn nái sinh sản và bệnh tiêu chảy trên đàn heo con theo mẹ
- Phân lập vi khuẩn từ dịch viêm tử cung và thử kháng sinh đồ
Trang 132.1.2 Mục đích và ưu thế của trại
Mục đích: Chuyên cung cấp heo thương phẩm, heo con cai sữa, heo hậu bị và heo thịt cho thị trường
Ưu thế: Trại có một cơ sở chuyên cung cấp thịt heo tại chợ Đầu Mối thuộc quận Tân Bình TP Hồ Chí Minh, nên cập nhật được giá thịt heo hàng ngày và chủ động thời điểm xuất chuồng cho đàn heo thịt của trại
2.1.3 Cơ cấu đàn
Tính đến ngày 25/04/2009, tổng đàn heo của trại chăn nuôi gồm 1.886 con, trong đó:
Đực thí tình: 4 con Nái sinh sản: 246 con Heo thịt: 823 con Heo con theo mẹ: 813 con
Trang 142.1.4 Hệ thống chuồng trại
Có tổng cộng 5 dãy chuồng, 3 dãy nuôi heo thịt và 2 dãy nuôi heo nái Tất cả các dãy chuồng được thiết kế theo kiểu nóc nhà 2 mái, bên trên có lót lớp xốp cách nhiệt, nền chuồng xi măng, bên trong có máy quạt điện, bên ngoài trồng các cây xanh nên khá thoáng mát, trên mái có hệ thống phun sương, giữa các dãy chuồng có các hành lang cao khoảng 0,5m dùng để chuyển heo từ dãy này sang dãy kia Xung quanh trại đều có bạt che nắng che mưa và hệ thống thoát nước bao quanh trại
Chuồng nuôi được thiết kế theo 3 kiểu:
Chuồng sàn:Dành cho heo con từ 28 - 60 ngày tuổi.Diện tích cho mỗi ô chuồng: 5m2 Chiều cao tính từ mặt đất lên mặt sàn: 0,5m
Hình 2.1 Chuồng sàn cho heo cai sữa
Chuồng cũi: Dành cho nái đẻ và nuôi con Chuồng được thiết kế nái nằm giữa
heo con nằm 2 bên Diện tích chuồng nái: 1,4m2, cao 1m Diện tích chuồng heo con:
1,15m2, cao 0,4m
Trang 15 Chuồng nền: Dành cho nái mang thai Diện tích 1,5m2 Tường xây cao 0,85m
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của 2 loại cám 116 và 118
2.1.7.2 Nước uống
Được cung cấp từ giếng bơm lên bồn chứa qua các hệ thống ống dẫn bằng sắt hoặc bằng nhựa đến các ô chuồng cho heo uống và tắm rửa chuồng rất thuận lợi Tuy nhiên các công tắc điện của hệ thống bơm nước không được bố trí ở từng dãy chuồng,
Trang 16mà lại bố trí tại 1 vị trí nên gây khó khăn cho công nhân trong việc cho heo uống nước
và vệ sinh chuồng trại
2.2 QUY TRÌNH CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG VÀ VỆ SINH - TIÊM PHÒNG THÚ Y
2.2.1 Quy trình vệ sinh- tiêu độc chuồng trại
Tại cổng chính, trại có bố trí hệ thống phun xịt sát trùng xe ra vào vận chuyển Vôi bột được rãi khắp các hành lang và các dãy chuồng 1 lần/ tuần
Khi heo chuyển chuồng, xuất chuồng, trước khi nhận heo mới vào phải rửa chuồng sạch sẽ nước sạch, sát trùng bằng dung dịch NaOH 2%, dùng máy áp suất cao xịt rửa lại, để khô ráo sau đó quét vôi lên tường với nồng độ 20%
2.2.2 Quy trình tiêm phòng
Quy trình tiêm phòng được trình bày qua bảng 2.2
2.2.3 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
Nái đẻ nuôi con
Khi nái đẻ từ 2 - 3 con, tiêm cho nái 5cc oxytocine Tuyệt đối không tiêm oxytocine khi nái chưa đẻ được heo con nào, vì sẽ gây đứt rốn và heo con sẽ chết ngộp
do thiếu dưỡng khí
Khi heo con đẻ ra dùng khăn sạch, lau khô nhớt mũi, miệng và toàn thân, dùng bột giữ ấm bôi toàn thân cho heo con Cột rốn vừa đủ chặt nhưng không làm đứt rốn, cắt rốn tại vị trí cách dây buộc 2 - 3cm, sát trùng bằng cồn iod 5%, bấm răng, bấm số tai theo từng ổ, cắt đuôi những con đực không chọn làm giống Nên cho heo sơ sinh bú sữa đầu càng sớm càng tốt vì heo con sớm nhận sữa đầu có chứa kháng thể mẹ truyền
và hành động thúc bú của heo con làm cho việc đẻ của heo mẹ diễn ra nhanh hơn Tuy nhiên cần quan sát biểu hiện của con mẹ, vì trong khi rặn đẻ đau đớn dễ dẫn đến việc heo mẹ cắn hay hay đè heo con chết Loại những con bị dị tật bẩm sinh và trọng lượng nhỏ hơn 0,85kg
Trang 17Sau khi nái đẻ xong, tiêm calci fort 1ml/5kg P, IV nhằm tránh tình trạng nái bị sốt sữa và tiêm 0,5cc oxytocine để nái đẩy hết sản dịch ra ngoài, trợ lực bằng cách truyền 100ml dung dịch glucose 5% qua tĩnh mạch vú cho những nái có biểu hiện rặn
đẻ kém, nái mệt thở nhiều Thụt rửa tử cung cho nái 3 ngày bằng nước ấm hòa thêm peniciline cho đến khi hết sản dịch viêm hoặc mủ nếu có Kiểm tra tình trạng sức khỏe của nái thường xuyên trong 3 ngày tránh biến cố xảy ra gây thiệt hại Cho nái ăn lại vào ngày thứ 2 hoặc thứ 3 tùy theo tình trạng sức khỏe của nái, mức ăn tăng dần từ 1-3kg/con/ngày, tùy theo nái mập, ốm mà thay đổi thức ăn cho phù hợp Cho nái ăn tự
do trong thời gian nuôi con, gần ngày cai sữa cho heo con thì giảm lượng thức ăn còn 1-1,5kg/con/ngày Đến khi cai sữa thì cho ngừng ăn hẳn, mục đích là để cho heo con
bú rút hết sữa của heo mẹ ngăn ngừa viêm vú, mặc khác khi thiếu sữa heo con cũng dần ăn nhiều thức ăn tập ăn hơn tránh gây tiêu chảy do thay đổi thức ăn đột ngột sau cai sữa Một ngày cho nái ăn 3 lần, sáng: 6 giờ, trưa: 11giờ, chiều: 16 giờ 30
đẻ để tránh stress, sau đó đưa lên sàn nuôi tới 60 ngày tuổi thì bán hoặc chuyển qua trại nuôi làm giống hoặc để nuôi cung cấp thịt
Trang 18Bảng 2.2 Quy trình tiêm phòng của trại
FMD: Foot and mouth disease
tuổi
74 ngày tuổi
180 ngày tuổi
80 ngày tuổi
173 ngày tuổi
166 ngày tuổi
186 ngày tuổi
3 Hậu bị cái sau khi
phối
84 ngày sau khi phối
63 ngày sau khi phối
91 ngày sau khi phối
Sau khi sinh 15-20 ngày
84 ngày sau phối
91 ngày sau
phối
Trang 192.3 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.3.1 Viêm tử cung
2.3.1.1 Tác hại của chứng viêm tử cung
Viêm tử cung thường xuất hiện trên heo nái sau khi sinh Khi tử cung bị viêm lớp niêm mạc sẽ bị tổn thương, từ đó gây ảnh hưởng đến sự phân tiết PGF2α làm xáo trộn chu kỳ động dục, làm tăng tỷ lệ heo nái không lên giống lại, và thời gian lên giống lại sau khi sinh kéo dài hơn
Ở nái mang thai, nếu tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào nội mạc
tử cung tiết nhiều PGF2α gây phân hủy thể vàng, làm thú dễ bị xẩy thai do thiếu progesterone từ thể vàng (progesterone được gọi là kích thích tố duy trì sự mang thai)
Ở nái không mang thai, nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng không bị phá hủy, vẫn tiếp tục tiết progesterone làm cho thú không lên giống trở lại
Khi nhiễm trùng tử cung bởi vi khuẩn E.coli, nội độc tố của vi khuẩn này ức
chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, làm nái ít sữa (Trần Thị Dân, 2003)
Heo nái suy yếu, giảm sức đề kháng, giảm sản lượng sữa, ít cho con bú, đè con
Tổ chức tế bào thay đổi làm giảm khả năng sinh sản của các lứa sau, khả năng thụ thai giảm, khả năng nuôi thai trong tử cung cũng không bình thường
Do lượng sữa trên heo nái giảm nên heo con đói khát sữa, thêm vào đó dịch viêm tử cung màu trắng giống sữa nên heo con liếm phải dẫn đến tiêu chảy, còi cọc, tăng trọng giảm, có thể chết (Nguyễn Văn Thành, 2001)
2.3.1.2 Nguyên nhân gây viêm tử cung
Nhiều nguyên nhân gây viêm tử cung như: dinh dưỡng, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe, chăm sóc, quản lý, vệ sinh, tiểu khí hậu chuồng nuôi…
Nái đẻ khó, sót nhau, gây xây sát đường sinh dục do can thiệp trong lúc sinh hay do kỹ thuật gieo tinh nhân tạo làm trầy sướt tử cung, do thụt rửa làm tổn thương niêm mạc tử cung Sự tổn thương đường sinh dục trong lúc đẻ tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập và phát triển Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua lớp niêm mạc vào máu xâm nhập vào tử cung Nguyên nhân chính của cách nhiễm này là do nhu động ruột kém, nhất là khi táo bón hoặc khi sức đề kháng của cơ thể giảm
Trang 20Các bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu Với vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu có thể xâm nhập từ ngoài đường sinh dục
Trong thời gian mang thai ít vận động, vệ sinh kém, sự thay đổi đột ngột các điều kiện môi trường, thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian sinh sản cũng là nguyên nhân gây hội chứng viêm tử cung (Hastinh, 1995 và Vicker, 1960, trích dẫn của Nguyễn Như Pho, 1996)
Nái hậu bị, ở lứa đẻ đầu tiên khung xương chậu chưa hoàn chỉnh sẽ gây tình trạng đẻ khó và tổn thương nặng trên niêm mạc đường sinh dục Nái hậu bị thường chiếm tỉ lệ cao trong các trường hợp viêm tử cung
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi khuẩn cơ hội, chúng thường xuyên có mặt tại chuồng nuôi Chúng lợi dụng lúc sinh đẻ, tử cung hay
âm đạo bị tổn thương và đang chứa nhiều sản dịch là môi trường tốt để phát triển Theo các tác giả Bertchinger (1993), Radoftits và ctv (1997) phân lập và công bố các
vi khuẩn chủ yếu gây viêm tử cung là: Staphylococcus, Streptococcus, E coli (trích
dẫn của Bùi Trọng Nhân, 2006)
mủ
Dạng viêm mủ
Là thể viêm nặng, thường xuất hiện trên nái có thể trạng xấu, chịu đựng kém, số lượng vi khuẩn xâm nhiễm vào tử cung lớn, hay do viêm tử cung dạng nhờn chuyển sang Sốt cao 40-41oC, hô hấp tăng, khát nước, kém ăn, nằm nhiều, sản lượng sữa ít hoặc mất hẳn Heo nái rất mệt không cho con bú và hay đè con Dịch viêm lỏng trắng
Trang 21đục, sau đó chuyển sang nhày đặc, lợn cợn có màu trắng vàng Về sau mủ chảy ra nhiều hơn có màu vàng ánh xanh, đặc có khi lẫn máu, mùi rất hôi tanh, kéo dài 3-4 ngày, có thể đến 7 ngày Sau đó, xuất hiện mủ đặc, dính vào âm hộ, nếu không can thiệp kịp thời, có thể viêm này sẽ chuyển sang dạng viêm rất nặng, đưa đến viêm vú hay nhiễm trùng huyết
Dạng viêm mủ lẫn máu
Đây là thể viêm rất nặng, rất ít khi gặp thường đi kèm với đẻ khó, sót nhau, tử cung bị tổn thương nặng Viêm ăn sâu xuống lớp nội mạc tử cung và lớp cơ tử cung, làm tổn thương mao mạch gây chảy máu Dịch viêm sền sệt, có mủ lẫn máu, mùi rất tanh, nái sốt cao 40-41oC bỏ ăn kéo dài, sản lượng giảm hay mất hẳn, tăng tần số hô hấp, tăng khát nước, heo nái mệt mỏi, hay nằm, hay đè con và kém phản ứng với tác động bên ngoài Nếu không can thiệp kịp thời, nái không còn khả năng nuôi con
2.3.1.4 Viêm vú
Viêm vú ít gặp hơn viêm tử cung Viêm vú có thể xảy ra với mức độ nặng khi
kế phát từ nhiễm trùng toàn thân Viêm vú xảy ra ở một vài vú hoặc cả bầu vú, vú viêm sưng cứng, tụ máu đỏ bầm, khi ấn vào còn để lại vết Vú không tiết sữa hoặc có tiết sữa lẫn máu, viêm vú luôn đi kèm sốt cao, vú bị đau, heo hay nằm sấp, ít chịu cho con bú
Viêm vú ít xảy ra, nhưng khi xảy ra thì mức độ tác hại lại rất lớn vì tác động trực tiếp đến heo con sơ sinh Nếu không chữa trị kịp thời, vú viêm sẽ teo lại, mất sữa, nếu không cũng có thể bị xơ hóa, mất khả năng cho sữa
Viêm vú xảy ra ở bất kỳ cấp độ nào đều có ảnh hưởng đến sự tiết sữa, nếu can thiệp kịp thời, vú bình phục sẽ còn khả năng tạo sữa, nếu không vú sẽ mất sữa hoàn toàn
Sự giảm sữa có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào trong giai đoạn nuôi con của heo nái
Trang 222.3.2 Cơ chế gây viêm vú
Sơ đồ 2.2 Cơ chế gây viêm vú (Nguyễn Văn Thành, 2002)
Sinh lý sự tiết sữa
Bệnh trên heo nái
Bệnh heo con
Áp lực mút bú heo con
Trang 232.3.3 Bệnh tiêu chảy trên heo con
2.3.3.1 Đặc điểm sinh lý tiêu hóa của heo con
Heo con khi còn trong bụng mẹ sẽ nhận chất dinh dưỡng trực tiếp từ máu mẹ thông qua động mạch rốn, do đó bộ máy tiêu hóa chưa hoạt động Khi sinh ra heo con
bị cắt đứt nguồn dinh dưỡng được cung cấp trực tiếp nên bộ máy tiêu hóa phải hoạt động để cung cấp dinh dưỡng cho sự tồn tại của chúng Tuy nhiên, sự hoạt động của
hệ thống tiêu hóa vẫn chưa hoàn chỉnh
Theo Phùng Ứng Lân (1985) ( trích dẫn của Tạ Xuân Thủy, 2002), ở heo từ sơ sinh đến 25 ngày tuổi lượng HCl tiết ra trong dịch vị rất ít và nó nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy làm hàm lượng HCl tự do trong dịch vị thấp, độ acid trong dạ dày thấp tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây bệnh đường ruột
2.3.3.2 Bệnh tiêu chảy
Tỉ lệ nước trong phân bình thường chứa 80%, phân táo bón chứa dưới 70%, phân nhão chứa 85%, còn phân lỏng trên 85% được gọi là phân tiêu chảy Trên thực
tế, tiêu chảy là một biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hóa
Bệnh tiêu chảy trên heo con là một bệnh rất đa dạng Bệnh gây viêm dạ dày, ruột, đi phân lỏng làm mất nước và chất điện giải, máu cô đặc làm con vật gầy nhanh dẫn đến tử vong hoặc còi cọc chậm lớn
2.3.3.3 Nguyên nhân gây tiêu chảy
Bệnh tiêu chảy ở heo con là một bệnh rất phổ biến, bệnh thường gặp ở heo con
từ 1-21 ngày tuổi và cũng chiếm tỷ lệ cao ở giai đoạn sau đó Bệnh diễn biến với mức
độ khác nhau và xảy ra do nhiều nguyên nhân kết hợp (Nguyễn Như Pho, 1995)
Do heo mẹ
Sữa mẹ là nguồn thức ăn chính và quan trọng đối với heo con theo mẹ, do đó sự chăm sóc nuôi dưỡng heo mẹ trong giai đoạn mang thai và nuôi con ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và bệnh tật ở heo con
Chế độ chăm sóc nái mang thai nhất là 2 tháng cuối không hợp lý làm cho bào thai và heo con sau khi sinh yếu, sức sống và sức đề kháng yếu là yếu tố làm bệnh dễ phát sinh nhất là trên đường tiêu hóa (Huỳnh Trần Đạt, 2005)
Trang 24Heo nái trong quá trình mang thai nuôi dưỡng kém, thiếu protein, thiếu các chất khoáng như Cu, Zn, Fe…, hoặc do mắc bệnh làm ảnh hưởng đến bào thai nên trọng lượng sơ sinh của heo giảm, khả năng chống đỡ bệnh rất yếu kém
Do sữa mẹ không thích hợp, do chăm sóc nuôi dưỡng kém, do viêm vú, sót nhau, do heo mẹ mắc phải một số bệnh truyền nhiễm…,ảnh hưởng đến chất lượng sữa gây nên bệnh tiêu chảy ở heo con theo mẹ
Ở sữa đầu ngoài các chất thiết yếu, còn có 1 lượng kháng thể khá lớn, các loại kháng thể này chủ yếu là IgG Tuy nhiên, vi sinh vật có hại trong đường tiêu hóa thường hiện diện trên bề mặt màng nhày ruột đó là nơi IgG hiếm xuất hiện và hoạt động không hữu hiệu Khi sữa đầu ngưng sản xuất, hàm lượng IgG giảm nhanh, IgA được thay thế để trở thành loại kháng thể chính trong sữa thường (Trần Thị Dân, 2002) Theo Maria Mely (1996) ( trích dẫn của Huỳnh Thị Sao Ly, 2007) , IgA trong sữa đề kháng với enzyme tiêu hóa, do đó chúng tồn tại và phát huy tác dụng tại lớp biểu mô ruột Tác dụng chính của IgA là kết dính các vi khuẩn, do đó IgA là kháng thể quan trọng để bảo vệ niêm mạc đường tiêu hóa chống lại sự tấn công của vi sinh vật có hại
Heo mẹ bị hội chứng M.M.A, heo con bú có sản vật viêm hoặc liếm dịch viêm rơi rớt trên nền chuồng gây tiêu chảy Trên những heo mẹ kém sữa hay mất sữa heo con bú được ít, hoặc không bú sữa đầu nên sức đề kháng kém dễ phát sinh bệnh (Nguyễn Như Pho, 1995)
Ngược lại trên những đàn có heo mẹ tốt sữa, sữa mẹ nhiều và giàu chất dinh dưỡng, heo con bú nhiều sữa có nhiều dưỡng chất khó tiêu, nên bị đẩy xuống ruột già
là môi trường thuận lợi cho những vi sinh vật có hại phát triển nhanh gây bệnh tiêu chảy trên heo con (Võ Văn Ninh, 2001)
Ở heo sơ sinh hoạt tính amylase của tuyến tụy lúc đầu còn kém, sau đó tăng dần
từ tuần tuổi thứ 4 đến thứ 5 Như vậy trong nuôi dưỡng heo con nếu sử dụng thức ăn
Trang 25không phù hợp với sự phân tiết của enzyme tiêu hóa thì thức ăn không tiêu hóa hết, tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển và gây tiêu chảy (Waker, 1959; trích dẫn của Nguyễn Quốc Dũng, 2004)
Ngoài ra, ở heo sơ sinh lớp mỡ dưới da rất ít và thiếu mỡ nâu nên khả năng sinh nhiệt kém Mặt khác, diện tích bề mặt lớn hơn so với trọng lượng cơ thể, nên heo con
dễ bị mất nhiệt và rất nhạy cảm với lạnh Khi có tác nhân stress kéo dài, heo con dễ bị rối loạn tiêu hóa và dẫn đến tiêu chảy (Ramon, 1994; trích dẫn của Lê Thị Hương, 2007)
Lớp vỏ đại não của heo con chưa phát triển đầy đủ, nên các phản xạ có chức năng bảo vệ nói chung còn kém, trong đó phản xạ điều tiết nhiệt độ của cơ thể rất kém nên heo con dễ bị stress với những biến đổi về nhiệt độ của môi trường làm giảm sức
đề kháng dẫn đến tiêu chảy (Phùng Ứng Lân, 1985)
Do heo con tăng trưởng quá nhanh nên thường thiếu Fe để tạo hồng cầu, heo
thiếu máu hoặc heo con bị viêm rốn do E.coli làm giảm sức đề kháng đều dẫn đến tiêu
chảy (Nguyễn Như Pho, 1995)
Thời kỳ heo con mọc răng cũng gây tiêu chảy cho heo con Hai giai đoạn heo con sốt và tiêu chảy cao là lúc 10 - 17 ngày tuổi và 23 - 29 ngày tuổi ứng với thời gian mọc răng sữa đầu tiên hàm 3 hàm dưới và răng tiền hàm 4 hàm trên (Võ Văn Ninh, 1985; dẫn liệu của Nguyễn Như Pho, 1995)
Do đặc tính heo con hay liếm láp nước đọng nên dễ bị nhiễm vi khuẩn gây bệnh đường ruột hoặc heo con ăn thức ăn của mẹ, bộ máy tiêu hóa không tiêu hóa được dẫn đến rối loạn tiêu hóa gây ra tiêu chảy
Do ngoại cảnh và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Heo con được vận động làm tăng trao đổi chất nên tăng sức đề kháng với dich
vị, nếu thiếu vận động heo con cũng có thể bị tiêu chảy (Phùng Ứng Lân, 1985)
Do vệ sinh chuồng trại kém, hoặc hệ thống nước không vệ sinh… cũng gây ra tiêu chảy
Do nhiệt độ úm heo trong tuần đầu không đủ, do bấm răng không kỹ nên khi bú heo con gây viêm vú mẹ Heo con bú sữa viêm sẽ bị tiêu chảy hoặc heo con không bú sữa đầy đủ, hoặc do thức ăn kém phẩm chất nên ảnh hưởng đến chất lượng sữa (Nguyễn Như Pho, 1995)
Trang 26Do thiết kế chuồng trại không phù hợp làm ẩm ướt, mưa tạt, gió lùa, thiết kế máng ăn không phù hợp, thông thoáng kém, do sự biến đổi đột ngột của thời tiết hoặc
do nhiệt độ quá lạnh hay quá nóng đều có thể gây tiêu chảy cho heo con (Đào Trọng Đạt, 1964; trích dẫn của Hồ Kim Hoa, 2004)
Do quản lý, chuyển chuồng, nhập đàn tách bầy gây stress hoặc do heo con tập
ăn đột ngột cũng gây tiêu chảy
2.3.3.4 Cơ chế sinh bệnh
Sơ đồ 2.3 Cơ chế sinh bệnh ở heo con theo mẹ (Phùng Ứng Lân, 1995)
Theo Nguyễn Như Pho (1995), trong giai đoạn từ 1 - 21 ngày tuổi, heo con thiếu HCl tự do làm giảm khả năng tiêu hóa protein Các vi khuẩn và độc tố của chúng, chất độc do phân giải thức ăn sẽ tác động lên niêm mạc ruột, gây viêm ruột làm
Niêm mạc đường ruột
Tiêu chảy, giảm sức đề kháng
Rối loạn tiêu hóa
(Rối loạn vận động,
hấp thu tiết dịch)
Rối loạn cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột (loạn khuẩn)
Tử vong
Rối loạn cân bằng điện giải (do mất nước) Nguyên nhân gây
bệnh
Trang 27nhu động ruột gây tiêu chảy Sự tiêu chảy làm mất nước và chất điện giải, máu bị cô đặc, cơ thể trúng độc, thú bị suy nhược nặng do hai yếu tố:
Cơ thể mất nước gầy nhanh, mắt hõm, bụng tóp, da nhăn
Heo con lười bú nên thiếu dinh dưỡng, nếu bú được ít sữa bị đẩy nhanh qua đường tiêu hóa do nhu động ruột tăng chất dự trữ của cơ thể giảm, heo con suy nhược nhanh và thường chết vào ban đêm do lạnh
2.3.3.5 Triệu chứng
Theo Huỳnh Trần Đạt ( 2005), heo con tiêu chảy đa số thân nhiệt không tăng, nếu có tăng sau vài ngày thân nhiệt trở lại bình thường Việc xác định dựa vào trạng thái phân, phân loãng: có màu trắng hay hơi vàng, nhiều bọt khí Heo con bị khát nước, đôi khi ợ và nôn ra sữa không tiêu, tăng số lần đi phân trong ngày
Ngoài trạng thái phân còn quan sát một số triệu chứng lâm sàng như sau: lúc mới tiêu chảy heo con vẫn còn phản xạ bú bình thường, sau đó tiêu chảy nhiều, bệnh nặng, heo con bỏ bú, gầy tóp nhanh do mất nước và các chất điện giải Niêm mạc mắt, mũi, mồm nhợt nhạt, heo bị thiếu máu, thường nằm một chỗ và một số trường hợp heo con mất phản ứng rõ rệt với các kích thích run cơ, co giật, nhiệt độ giảm và thường dẫn đến chết
Lưu ý khi theo dõi chăm sóc heo con, thường heo con trước khi tiêu chảy có giai đoạn heo đi phân khó, phân táo bón nhỏ và đen như hạt đậu
2.3.3.6 Chẩn đoán
Thường dựa vào triệu chứng lâm sàng đặc biệt là phân tiêu chảy Tuy nhiên, để xác định chính xác cần xét nghiệm vi trùng học, bệnh phẩm là phân heo tiêu chảy, phân tích các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại Những chỉ tiêu cho
ta khẳng định bệnh chính xác và loại trừ được những ý kiến trái ngược nhau Chúng ta cũng nên làm kháng sinh đồ
2.3.3.7 Điều trị
Cần tích cực ngay từ đầu với các biện pháp sau:
Cung cấp năng lượng, cung cấp nước và chất điện giải ngay cho heo con Thường người ta dùng nước sinh lý mặn, ngọt cấp qua xoang bụng với liều 20ml/lần, ngày 2-3 lần
Cấp kháng sinh tiamuline 1cc/1kgP để ngăn chặn vi sinh vật có hại phát triển
Trang 28Cung cấp các chất bảo vệ niêm mạc ruột
Cung cấp Vitamine như: A, C, B-complex
Sau khi bệnh thuyên giảm và ngưng liệu trình điều trị bằng kháng sinh được 24 giờ, nên dùng các chế phẩm vi sinh vật như biolactyl cho heo con uống để phục hồi hệ
vi khuẩn có lợi cho đường ruột Trong quá trình điều trị cần giữ ấm cho heo con, cần
vệ sinh ổ úm và chuồng trại thật sạch sẽ
Trang 29Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT
- Thời gian: đề tài được tiến hành từ 25/04/2009 đến 25/08/2009
- Địa điểm: đề tài được thực hiện tại trai heo Hảo Trang huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai
3.3 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
- Heo nái sinh sản: 124 con
- Heo con theo mẹ từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi: 1.064 con
3.4 NỘI DUNG KHẢO SÁT
- Khảo sát tình hình viêm tử cung, viêm vú trên heo nái sau khi sinh
- Khảo sát tình trạng tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Xác định heo nái bị viêm vú cũng dựa vào triệu trứng lâm sàng như: sốt, nái có biểu hiện rất mệt, thở nhiều Thân nhiệt tăng từ 39,5- 40,5oC, có khi tăng lên 41oC Những vú viêm sưng, cứng có màu đỏ hồng, khi sờ và ấn vào heo nái có phản ứng rất
Trang 30đau Nặn sữa những vú viêm, sữa đặc đôi khi thấy sữa có lợn cợn Nái thở nhiều hay nằm sấp lười chăm sóc con
3.5.2 Cách lấy mẫu dịch viêm tử cung
Mẫu phân lập vi sinh vật lấy từ dịch viêm tử cung ở heo nái sau khi sinh xong khoảng 12-24 giờ Lấy ngẫu nhiên trên 5 heo nái bị viêm tử cung, trong đó 1 mẫu dịch viêm tử cung dạng mủ và 4 mẫu dịch viêm tử cung dạng nhờn
Mang găng tay, dùng bông gòn có thấm cồn 70o lau sạch phần bên ngoài âm hộ Dùng mỏ vịt mở âm hộ ra sau đó đưa ống type vô trùng qua âm đạo Đưa tăm bông vô trùng thông qua ống type lấy dịch viêm (khi que tăm bông qua được cổ tử cung sẽ thấy rất nhẹ không còn cản trở) Rút tăm bông trở lại lòng ống type rồi rút ống type và tăm bông ra ngoài, tránh chạm chung quanh để không bị tạp nhiễm các vi trùng bên ngoài Dùng đèn cồn hơ miệng ống nghiệm lấy nút tăm bông ra và cắm tăm bông sâu vào môi trường vận chuyển (Carry- blair), bẻ gãy phần tăm bông dư, sau đó đậy nút tăm bông lại cho ngay ngắn, cho vào thùng đá để bảo quản và đưa về phòng phân tích vi sinh Bệnh viện Thú y Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCM, để phân lập vi khuẩn và thử kháng sinh đồ từ dịch viêm tử cung
3.6 CÁC CHỈ TIÊU KHẢO SÁT
3.6.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi
3.6.2 Năng suất sinh sản của nái và bệnh trên nái
- Tỷ lệ nái viêm tử cung, viêm vú
- Kết quả phân lập và kháng sinh đồ trên mẫu dịch viêm tử cung
- Thời gian lên giống lại sau cai sữa
- Sản lượng sữa nái tính đến 21 ngày
- Số heo con sơ sinh bình quân
- Trọng lượng heo con sơ sinh bình quân
- Số heo con sơ sinh
- Số heo con chọn nuôi sơ sinh
- Trọng lượng heo con cai sữa bình quân
- Tỷ lệ nuôi sống heo con đến 21 ngày tuổi
3.6.3 Tỷ lệ tiêu chảy trên heo con theo mẹ
Trang 313.7 CÔNG THỨC TÍNH
- Tỷ lệ nái viêm tử cung (%) = (Số nái viêm tử cung / Số nái khảo sát) X 100
- Tỷ lệ nái viêm vú (%) = (Số nái viêm vú / Số nái khảo sát) X 100
- Thời gian và tỷ lệ lên giống lại:
+ Thời gian và tỷ lệ lên giống lại trung bình (ngày)
= (Tổng thời gian lên giống lại sau cai sữa / Tổng số nái khảo sát) X 100
+ Tỷ lệ lên giống trở lại sau cai sữa (%)
= (Tổng số nái lên giống lại sau cai sữa / Tổng số nái khảo sát) X100
- Sản lượng sữa nái tính đến 21 ngày (kg):
= 3 X (P toàn ổ heo con 21 ngày tuổi – P toàn ổ heo con sơ sinh)
Với P: Trọng lượng (kg)
3: Hệ số quy đổi (1kg tăng trọng tương đương 3 kg sữa)
- Số heo con bình quân trên ổ = (Tổng số heo sơ sinh / Tổng số nái khảo sát)
- Trọng lượng bình quân sơ sinh (kg/ con) = (Trọng lượng sơ sinh toàn ổ / số heo con sơ sinh toàn ổ)
- Tỷ lệ heo tiêu chảy (%) = (Tổng số heo tiêu chảy / Tổng số heo khảo sát) X
Trang 32Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 NHIỆT ĐỘ VÀ ẨM ĐỘ CHUỒNG NUÔI
Bảng 4.1 Kết quả khảo sát về nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi
Tuyến mồ hôi và cơ chế tăng nhịp thở không phát triển ở heo Do đó, heo là loài chịu nóng kém nhất trong các loài động vật có vú Nhiệt độ trực tràng bắt đầu tăng lên mức bình thường khi nhiệt độ không khí khoảng 30-32oC Nếu ẩm độ không khí bằng hay cao hơn 65%, heo không thể chịu đựng nhiệt độ 35oC trong một thời gian dài Heo không thể chịu được nhiệt độ 40oC ở bất kỳ ẩm độ nào của không khí (Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997) khi ẩm độ tương đối khoảng 60-70% thì mức nhiệt độ thoải mái tùy theo trọng lượng của heo là:
Trang 33Trọng lượng
Nhiệt độ (oC) 26-30 22-26 18-22 16-20 14-20 Qua bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy nhiệt độ và ẩm độ của trại là khá cao so với chuẩn mà Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997) đưa ra Nhiệt độ buổi trưa tháng
8 lên đến 34,5oC, tháng 7 là 34,45oC, tháng 6 là 33,6oC Ẩm độ buổi sáng của tháng 5
là 91,5%, tháng 8 là 89,88%, tháng 6 là 88,4%
Kết quả nhiệt độ trung bình của chúng tôi (31,17oC) cao hơn kết quả khảo sát
về nhiệt độ trung bình của: Hồng Nguyễn Minh Thảo (2006) ghi nhận tại Xí nghiệp chăn nuôi Gò Sao là 30,99oC; Huỳnh Thị Sao Ly (2006) ghi nhận tại trung tâm giống nông nghiệp Vĩnh Long là 27,33oC; Nguyễn Văn Út (2007) ghi nhận tại trại heo tư nhân Tân Uyên là 29,31oC; Lê Thụy Bình Phương (2006) ghi nhận tại trại heo Tân Trung là 30,15oC
Kết quả ẩm độ trung bình của chúng tôi (74,28%) thấp hơn kết quả khảo sát về
ẩm độ trung bình của: Huỳnh Trần Đạt (2005) ghi nhận tại trại heo Tân Việt là 78,72% Nhưng lại cao hơn kết quả ẩm độ trung bình của: Lê Thụy Bình Phương (2006) ghi nhận tại trại heo Tân Trung là 69,5%; Nguyễn Văn Út (2007) ghi nhận tại trại heo tư nhân Tân Uyên là 63,69%; Hồng Nguyễn Minh Thảo (2006) ghi nhận tại Xí nghiệp chăn nuôi Gò Sao là 71,46%; Huỳnh Thị Sao Ly (2006) ghi nhận tại Trung tâm giống Nông nghiệp Vĩnh Long là 71,75%
Vậy so với yêu cầu nhiệt độ, ẩm độ cho sự phát triển bình thường của heo thì kết quả ghi nhận của chúng tôi cao hơn Đây có thể là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe của đàn heo trong đó có heo nái, và đàn heo con theo mẹ
Heo nái phải mang thai hoặc phải nuôi con, để nuôi thai hay sản xuất sữa cho con bú, nên quá trình chuyển hóa của cơ thể luôn diễn ra ở mức cao, quá trình sinh nhiệt tăng Mặt khác trong thời gian nuôi con, nguyên tắc chăn nuôi của trại là nái không được tắm vì sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của heo con theo mẹ, nên nái ở trại bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhiệt độ