BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG BETA – GLUCAN LÊN SỨC SINH SẢN VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA G
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG BETA – GLUCAN LÊN SỨC SINH SẢN VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA
GÀ ĐẺ ISA BROWN TẠI MỘT TRẠI CHĂN NUÔI
Họ và tên sinh viên: PHAN VĨNH TỶ PHƯỢNG
Chuyên ngành: DƯỢC THÚ Y Niên khóa: 2004 – 2009
Tháng 09/2009
Trang 2KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG β – GLUCAN LÊN SỨC SINH SẢN VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA
GÀ ĐẺ ISA BROWN TẠI MỘT TRẠI CHĂN NUÔI
Tháng 09 năm 2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành khóa học và quyển luận văn này tôi xin chân thành gửi lời
cảm ơn đến:
Th.S Hồ Thị Nga, PGS.TS Trần Thị Dân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng
dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận
văn tốt nghiệp
Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi Thú Y trường
Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh, cùng toàn thể quý thầy, cô trong và ngoài
khoa đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học
Chú Lâm Thanh Đức, chủ trại gà Thanh Đức, các cán bộ kỹ thuật cùng
toàn thể anh, chị, em công nhân của trại gà Thanh Đức đã tận tình giúp đỡ và
tạo điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tin thần cho tôi trong suốt thời gian thực
tập ở quý trại
Tôi vô cùng biết ơn bố, mẹ người đã trực tiếp cưu mang và nuôi dưỡng tôi,
cùng toàn thể người thân trong gia đình đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành
khóa học
Tôi xin gửi lời cám ơn đến các bạn trong và ngoài lớp Dược Y K.30 đã gắn
bó, giúp đỡ và động viên tôi trong thời gian học tập vừa qua
Sinh viên thực hiện
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu ‘‘Khảo sát hiệu quả của việc bổ sung β – glucan lên sức sinh sản và tình trạng sức khỏe của của gà đẻ Isa Brown tại một trại chăn nuôi’’ được tiến hành tại trại gà Thanh Đức tỉnh Đồng Nai, thời gian từ tháng 03/2009 đến tháng 06/2009 Thí nghiệm được tiến hành trên 320 gà chia làm bốn lô (mỗi
lô 80 con gà) giữa các lô có sự đồng đều về lứa tuổi, tình trạng sức khỏe và khả năng sinh sản trước khi thí nghiệm
Kết quả của việc khảo sát sau khi bổ sung β – glucan vào khẩu phần của
gà đẻ giai đoạn từ 51 đến 60 tuần tuổi:
Trọng lượng trứng trung bình ở lô bổ sung mức 20 ppm β – glucan (64,22 g/trứng) cao hơn các lô khác (63,36; 63,57; 63,59 g/trứng) với P < 0,05
Tỷ lệ đẻ trứng cao nhất thuộc về lô đối chứng (88,11%), các lô thí nghiệm là: 87,12; 87,47; 87,57% với P > 0,05
Hệ số chuyển biến thức ăn ở lô đối chứng (2,10) thấp hơn các lô có bổ sung β – glucan (2,11; 2,14; 2,14), với P > 0,05
Lượng thức ăn tiêu tốn/gà/ngày ở lô đối chứng là 117,44 g/con/ngày
và các lô bổ sung β – glucan lần lượt là 115,95; 119,35; 119,77 g/con/ngày, với P < 0,05
Tỷ lệ ngày con sổ mũi ở các lô bổ sung β – glucan (2,36; 2,03 và 1,36%) đều thấp hơn lô đối chứng (2,45%), với P < 0,05
Tỷ lệ ngày con bỏ ăn ở các lô bổ sung β – glucan đồng thời có uống kháng sinh (4,63; 5,12%) thấp hơn các lô còn lại (6,02; 5,72%), với P < 0,01
Chỉ số hình dạng của lô đối chứng (0,75) thấp hơn các lô có bổ sung
β – glucan (0,76), với P > 0,05
Chỉ số lòng đỏ của lô bổ sung 40 ppm β – glucan và không cho uống kháng sinh (0,37) thấp hơn các lô còn lại (0,38), với P > 0,05
Tỷ lệ vỏ trứng ở lô bổ sung 20 ppm β – glucan thấp nhất (0,77%), với P < 0,01
Lô bổ sung 20 ppm β – glucan có độ dày vỏ cao nhất (0,52 mm), với P < 0,01
Trang 5Lô đối chứng có tỷ lệ trứng khác thường cao nhất (15,95%), với P < 0,01
Tỷ lệ loại thải gà ở lô đối chứng và lô bổ sung β – glucan ở mức 40 ppm đều là 0%, thấp hơn hai lô còn lại (1,25; 3,75%)
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm tạ i
Tóm tắt iii
Mục lục .v
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các bảng ix
Chương 1:MỞ ĐẦU 1U 1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2: TỔNG QUAN 3
2.1 Giới thiệu về giống gà Isa Brown 3
2.2 Một số tiêu chuẩn về chất lượng trứng 6
2.3 Một số bệnh trên gà 6
2.3.1 Một số bệnh ảnh hưởng đến sức sinh sản của gà 6
2.3.2 Một số bệnh gây chảy nước mắt, nước mũi ở gà 7
2.4 Giới thiệu về β – glucan 7
2.4.1 Cấu tạo của β – glucan 8
2.4.2 Thành phần cấu tạo của vách tế bào nấm men S cerevisiae 9
2.4.3 Cơ chế hấp thu β – glucan 10
2.4.4 Cơ chế tác động, vai trò của β – glucan trong đáp ứng miễn dịch 11
2.4.5 Những hạn chế khi sử dụng thức ăn nhóm NSP 14
2.4.6 Một số nghiên cứu về β – glucan hiện nay 15
2.5 Giới thiệu về trại gà Thanh Đức 16
2.5.1 Vị trí địa lý 16
2.5.2 Khí hậu thời tiết 16
2.5.3 Nguồn nước 16
2.5.4 Chuồng trại 17
Trang 72.5.5 Cơ cấu tổ chức và tình hình sản xuất 17
2.5.6 Quy trình thú y 18
2.5.7 Quy trình loại thải gà đẻ 18
2.5.8 Giới thiệu một vài kháng sinh trại sử dụng 20
Chương 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thời gian và địa điểm 22
3.1.1 Thời gian: 22
3.1.2 Địa điểm: 22
3.2 Đối tượng khảo sát 22
3.3 Phương pháp thí nghiệm 22
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 22
3.3.2 Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng 23
3.4 Các chỉ tiêu khảo sát và phương pháp thực hiện 23
3.4.1 Các chỉ tiêu về sinh sản 23
3.4.2 Các chỉ tiêu về sức khỏe 24
3.4.3 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng 25
3.5 Phương pháp xử lý thống kê 28
Chương 4: KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29
4.1 Các chỉ tiêu về sinh sản 29
4.1.1 Trọng lượng trứng trung bình 29
4.1.2 Tỷ lệ đẻ trứng 31
4.1.3 Tiêu tốn thức ăn 32
4.2 Các chỉ tiêu về sức khỏe 35
4.2.1 Tỷ lệ ngày con sổ mũi 35
4.2.2 Tỷ lệ ngày con bỏ ăn 37
4.2.3 Tỷ lệ loại thải 38
4.3 Các chỉ tiêu về chất lượng trứng 39
4.3.1 Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 39
4.3.2 Các chỉ tiêu về tỷ lệ các thành phần của trứng và độ dày vỏ 41
Trang 84.3.2 Tỷ lệ trứng khác thường 43
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
Tài liệu tham khảo 47
Phụ lục 49
Trang 9NS = Non-Significant (không có ý nghĩa thống kê)
NSP = non – starch polysaccharides
PRRS = Porcine reproductive and respiratory syndrome PRRSV = Virus porcine reproductive and respiratory syndrome
S cerevisiae = Saccharomyces cerevisiae
S/P = Sample / positive
TNF = Tumor necrosis factor
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng của giống gà Isa Brown của
A Hendrix Genetics Company 5
Bảng 2.2: Thành phần cơ bản của vách tế bào nấm men S.cerevisiae 10
Bảng 2.3: Hàm lượng β – glucan trong vài thực liệu 14
Bảng 2.4: Lịch sử dụng kháng sinh của trại trong thời gian thí nghiệm……… 19
Bảng 2.5: Quy trình tiêm phòng của trại 20
Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm 22
Bảng 4.1: Trọng lượng trứng trung bình 29
Bảng 4.2: Tỷ lệ đẻ 31
Bảng 4.3: Tiêu tốn thức ăn trung bình của gà trên ngày 32
Bảng 4.4: Hệ số chuyển biến thức ăn 34
Bảng 4.5: Tỷ lệ ngày con sổ mũi 35
Bảng 4.6: Tỷ lệ ngày con bỏ ăn 37
Bảng 4.7: Tỷ lệ loại thải 38
Bảng 4.8: Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 39
Bảng 4.9: Các chỉ tiêu về tỷ lệ các thành phần của trứng và độ dày vỏ 41
Bảng 4.10: Tỷ lệ trứng khác thường 43
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Hình gà Isa Brown 4
Hình 2.2 Cấu trúc của β – glucan 9
Hình 2.3 Thành phần cấu tạo của vách tế bào nấm men S.cerevisiae 9
Hình 2.4 Cơ chế hấp thu β – glucan……… 13
Hình 2.5 Sự gắn của β 1,3 - 1,6 glucan lên thụ thể bề mặt đại thực bào 13
Hình 2.6 Đại thực bào được hoạt hóa sau khi gắn β 1,3 – 1,6 glucan 13
Hình 2.7 Sơ đồ trại gà Thanh Đức 18
Hình 3.1 Cách đo đường kính lòng đỏ, đo dộ dày vỏ ……27
Hình 3.2 Các chất chứa trong quả trứng khi trứng đập vỏ và đổ ra ngoài 28
Hình 4.1 Trứng vỏ nhăn nheo………45
Hình 4.2 Trứng vỏ mỏng, nhạt màu……… 45
Hình 4.3 Trứng trên vỏ có các đám vôi nhỏ………45
Hình 4.4 Trứng vỏ lụa……… 45
Hình 4.5 Trứng vỏ mỏng, sần sùi.……… 45
Hình 4.6 Trứng vỏ nhăn nheo, móp méo………45
Biểu đồ 2.1 Trọng lượng trứng trung bình, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống của giống
gà Isa Brown 4
Biểu đồ 4.1 Trọng lượng trứng trung bình 30
Biểu đồ 4.2 Tiêu tốn thức ăn/gà/ngày 33
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ ngày con sổ mũi 37
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ ngày con bỏ ăn 38
Biểu đồ 4.5.Tỷ lệ vỏ 43
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ trứng khác thường 44
Trang 12Vấn đề đặt ra là cần phải có những chế phẩm, hoặc các loại thực phẩm chức năng từ các nguyên liệu trong tự nhiên, nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe của vật nuôi để hạn chế phần nào việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi
Nhiều chế phẩm sinh học đã được nghiên cứu, ứng dụng trong chăn nuôi nhằm tăng cường, đáp ứng miễn dịch tự nhiên của vật nuôi Một trong những chế phẩm được đề nghị bổ sung trong khẩu phần của gà đẻ là β – glucan, chất này
được ly trích từ vách tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae, có khả năng
hoạt hóa đại thực bào, kích thích tiết lysozyme, cytokine, tăng hoạt tính lympho
T và B,…
Được sự chấp thuận của khoa Chăn Nuôi Thú Y, sự hướng dẫn của Th.S
Hồ Thị Nga, PGS.TS Trần Thị Dân, sự hỗ trợ của trại gà Thanh Đức chúng tôi thực hiện đề tài:
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG β – GLUCAN LÊN
SỨC SINH SẢN VÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE CỦA GÀ ĐẺ ISA BROWN TẠI MỘT TRẠI CHĂN NUÔI
Trang 13ăn, tỷ lệ mắc bệnh trên đường hô hấp, đường tiêu hóa, tỷ lệ loại thải, tỷ lệ chết
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 Giới thiệu về giống gà Isa Brown
Gà Isa Brown là sản phẩm của tổ hợp lai các dòng đẻ trứng nâu của Viện chọn giống súc vật (Institus de sélection animale) viết tắt là I.S.A, ở Pháp Isa Brown được nuôi ở hầu hết các nước trên thế giới Nó phù hợp với khí hậu nóng lạnh, khô ráo, ẩm ướt và những phương pháp nuôi khác nhau trong lồng, sàn hay nền đất có lót trấu Gà có sức đề kháng với bệnh tật cao, đẻ trứng màu nâu đỏ khá đậm và dày, trứng có chất lượng tốt
Đặc điểm của gà bố có lông màu nâu và gà mẹ có lông màu trắng Gà con
tự phân biệt giới tính bằng màu lông với con mái lông nâu (hung hung) dùng nuôi đẻ, con trống lông trắng, bị loại bỏ sau khi đẻ Gà mái trưởng thành có bộ lông nâu đỏ pha một ít lông trắng sát thân và ở chóp cánh, chóp đuôi
Tỷ lệ nuôi sống từ 20 đến 80 tuần tuổi là 92,5% Số trứng bình quân trên
số gà đầu kỳ là 308 quả Số trứng bình quân trên số đầu gà có mặt là 320 quả Tuần tuổi đạt tỷ lệ đẻ 50% là 23 tuần Khẩu phần hàng ngày: 115 - 120 g/gà, với thức ăn 2800 Kcal/kg Hệ số trao đổi thức ăn giữa ngày tuổi thứ 141 và 532 là 2,4 - 2,5 tùy theo sự điều chỉnh khẩu phần Trọng lượng con mái lúc bắt đầu đẻ (20 tuần): 1,64 kg/con (Võ Bá Thọ, 1995)
Trang 15Hình 2.1: Hình gà Isa Brown
Biểu đồ 2.1: Trọng lượng trứng trung bình, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ nuôi sống của giống gà
Isa Brown
Trang 16Bảng 2.1: Tiêu chuẩn tỷ lệ đẻ và trọng lượng trứng của giống gà Isa Brown của
A Hendrix Genetics Company (Nguồn: www Hendrix – genetics.com)
Tuần tuổi Tỷ lệ đẻ
(%)
Trọng lượng trứng (g) Tuần tuổi
Tỷ lệ đẻ (%)
Trang 172.2 Một số tiêu chuẩn về chất lượng trứng
Trứng đạt yêu cầu phải đảm bảo các tiêu chuẩn:
Độ đậm màu lòng đỏ: 1 – 6 (không đạt), 7 – 12 (đạt yêu cầu), 13 – 15 (tốt)
Độ dày vỏ trên 0,4 mm là trứng tốt, trứng ấp phải có vỏ dày tối thiểu 0,35 mm
Chỉ số Haugh: nhỏ hơn 55 (xấu), 55 – 64 (trung bình), 65 – 79 (tốt), 80 – 100 (rất tốt) Chỉ số hình dạng nhỏ hơn 65 (trứng dài), 65 – 75 (trứng tốt) hình dạng đặt trưng là hình elip, lớn hơn 75 (trứng ngắn)
Chỉ số lòng đỏ khoảng 0,45 – 0,5 là trứng tốt, chỉ số lòng trắng khoảng 0,09 – 0,11 là trứng tốt Chỉ số lòng đỏ và chỉ số lòng trắng càng lớn thì tỷ lệ ấp
nở càng cao (Võ Bá Thọ, 1996)
Tỷ lệ phần trăm lòng đỏ (31,6%), lòng trắng (56,8%), vỏ trứng (11,6%) (Wirtchaftsgeflúgél, 1978)
2.3 Một số bệnh trên gà
2.3.1 Một số bệnh ảnh hưởng đến sức sinh sản của gà
1) Hội chứng giảm đẻ (Egg drop syndrome - EDS)
Căn bệnh học: vi rút EDS, họ Adenoviridae
Dịch tễ học: gà ở mọi lứa tuổi đều mẩn cảm với bệnh Gà giống hướng thịt
và gà hướng trứng đẻ trứng màu nâu dễ bị nhiễm bệnh hơn gà đẻ trứng màu trắng Triệu chứng: trứng không bình thường, vỏ mỏng, mềm hoặc không có vỏ canxi Sản lượng trứng giảm hoặc mất hẳn Con vật bị nhiễm vi rút vẫn khỏe mạnh 2) Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious bronchitis – IB)
Căn bệnh học: vi rút IB, họ Coronaviridae, vi rút này có nhiều serotýpe và tính kháng nguyên khác nhau
Dịch tễ: gà ở mọi lứa tuổi đều bị nhiễm bệnh Bệnh lây lan nhanh từ đàn này sang đàn khác nhưng tỷ lệ chết thấp Bệnh có thể xảy ra ở cả đàn đã được phòng bệnh bằng vacxin
Triệu chứng: triệu chứng hô hấp với tiếng ran khí quản Chất lượng và sản lượng trứng giảm Bệnh tạo ra trứng non, vỏ mềm hoặc những trứng nhăn nheo, móp méo một phần hoặc toàn bộ, tạo ra những trứng bị nhạt màu hoặc màu trắng
Trang 18Ở vài ổ bệnh, tiêu chảy rất nhiều nhưng triệu chứng hô hấp lại nhẹ (Viện thú y quốc gia, 2002)
3) Bệnh tạo trứng dị hình
Sự phá hủy (dù chỉ tạm thời) hoạt động của buồng trứng, đặc biệt là chức năng nội tiết và vận động của ống dẫn trứng là nguyên nhân trực tiếp đẻ ra những trứng không bình thường Những sự phá hủy ấy trong quá trình tạo trứng bị gây
ra do việc cho ăn và chế độ nuôi không hợp lý đối với gà mái tơ đẻ trứng cũng như bởi các bệnh khác khác nhau của cơ quan tạo trứng Trứng không bình thường hoặc trứng bệnh gồm: trứng quá nhỏ, quá to, trứng đôi, trứng biến dạng
Trứng biến dạng có nhiều hình dạng khác nhau như:
Trứng hình tròn, dài – hình trụ, xoắn, lõm, trứng có hình xoắn ốc hoặc đinh vít được tạo ra trong tử cung ống dẫn trứng do kết quả chèn ép của thành ống dẫn trứng lên trứng vào giai đoạn ban đầu khi tạo vỏ
Trứng có vỏ sần sùi, trên vỏ có các cục, đám vôi nhỏ và các u lồi được tạo thành trong giai đoạn sinh chất vôi của ống dẫn trứng, do kết quả phá hủy sự hoạt động các tuyến bài tiết lớp vỏ và sự co bóp ống dẫn trứng không bình thường (co giật) Sự tổn thương và viêm ống dẫn trứng ở mức độ khác nhau cũng tạo khả năng hình thành các trứng dị hình (F.M.Orlov, 1975)
2.3.2 Một số bệnh gây chảy nước mắt, nước mũi ở gà
Bệnh sổ mũi lây nhiễm ở gà, bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm, bệnh viêm phế quản truyền nhiễm, bệnh viêm đường hô hấp mãn tính
2.4 Giới thiệu về β – glucan
Năm 1940, Louis Pillemer đã nghiên cứu trên Zymosan và cho biết đây là một dược phẩm có khả năng kích thích và điều khiển hệ thống miễn dịch không đặc hiệu, thành phần của nó là một hỗn hợp thô của những vật liệu từ thành tế bào nấm men chứa đựng những protein, lipid và đường đa
Năm 1960, Nicholas DiLuzio của Trường Đại học Tulane khám phá ra hợp chất hoạt hóa miễn dịch chủ động trong phạm vi thành phần dược phẩm của Zymosan
là β-1,3-D-glucan (một chuỗi đường đa dài không có tác dụng phụ của Zymosan)
Trang 19Năm 1975, vai trò của β-glucan trong điều trị ung thư đã được chứng minh bởi thạc sĩ Peter W.Mansell và những cộng sự Vào những năm 80, tại đại học Harvard, giáo sư bác sĩ Jouyce Czop đã nghiên cứu về β-glucan và đã tìm ra được vị trí thụ thể đặc biệt cho β-1,3-glucan trên bề mặt đại thực bào, vị trí đó có kích cỡ khoảng 1 micron
Năm 1985, thạc sĩ D.Patchen và cộng sự thuộc viện nghiên cứu bức xạ sinh học của lực lượng vũ trang, thông báo kết quả của những cuộc thí nghiệm của họ và công bố những hiệu quả phòng chống bức xạ của β-1,3-glucan
Năm 1987, bác sĩ William Browder, giám đốc của trường đại học Tulane
ở NewOrleans, đã báo cáo những lợi ích của việc sử dụng β-1,3-glucan để kích thích đáp ứng miễn dịch và ngăn ngừa sự nhiễm trùng ở những bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật do chấn thương cơ thể
2.4.1 Cấu tạo của β – glucan
Beta – glucan là một polisaccharide được tạo nên từ các phân tử glucose,
nó khác các loại đường thông thường khác là được liên kết bởi những nối mắc xích khác nhau bởi sự sắp xếp khác nhau ở vị trí β-1,3; β-1,4; β-1,6 glucoside Dựa vào tính chất của nó ta có thể phân loại β – glucan làm 2 loại: β – glucan tan
và β – glucan không tan
Beta-glucan không tan là những β-1,3-1,4-glucan (có nhiều trong đại mạch và yến mạch) chỉ là chất xơ không đóng vai trò gì trong miễn dịch Beta – glucan tan là những β-1,3-1,6-glucan có nhiều trong các loại cây nấm và vi sinh
vật, nguồn nhiều nhất là trong vách tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae (S.cerevisiae) Nó là một chuỗi gồm nhiều glucose kết hợp với nhau tại các vị trí
β-1,3 và β-1,6 Chuỗi gồm những glucose liên kết với nhau tại vị trí β-1,3 được xem như là mạch chính Các glucose liên kết với mạch chính tại vị trí β-1,6-glucan được xem như là mạch nhánh Chính những mạch nhánh này góp phần nâng cao khả năng kích thích sinh miễn dịch của β-1,3-1,6-glucan
Chất β-1,3-glucan hay β-1,3-1,6-glucan đều có khả năng kích thích miễn dịch, tuy nhiên, mạnh nhất vẫn là β-1,3-1,6-glucan
Trang 20
Hình 2.2: Cấu trúc của β – glucan
2.4.2 Thành phần cấu tạo của vách tế bào nấm men S cerevisiae
Vách tế bào nấm men S.cerevisiae chiếm 15 – 30% vật chất khô với đa
phần là β-1,3-glucan, β-1,6-glucan, manoprotein và kitin Beta 1,3-glucan giữ vai trò trọng tâm trong tổ chức vách tế bào, nó liên kết với β-1,6–glucan, mannoprotein và kitin (Kollar và ctv, 1997; dẫn liệu bởi Hồ Thị Nga, 2007) Những thành phần này đã tạo thành một mắt xích với hình dáng đại phân tử phức tạp Trong thực tế, thành
Trang 21Bảng 2.2: Thành phần cơ bản của vách tế bào nấm men S.cerevisiae
Thành phần Phân tử khối (kDa) Tỷ lệ so với tế bào (%)
(Lipke và Ovalle, 1998; dẫn liệu bởi Hồ Thị Nga, 2007)
2.4.3 Cơ chế hấp thu β – glucan
Ruột non cũng tham gia bảo vệ cơ thể nhờ những nang bạch huyết nằm ở vách ruột và những tế bào biểu mô đặc biệt gọi là tế bào M (Lâm Thị Thu Hương, 2005) Sự hấp thu kháng nguyên xảy ra chủ yếu trong đoạn hồi tràng Kháng nguyên xuyên qua tế bào biểu mô đặc biệt được gọi là tế bào M và trên những nang bạch huyết hay còn gọi là mảng payer Sự bao phủ của các nang giúp cho việc mã hóa bắt giữ những mảng nhỏ xung quanh trung tâm dạng vòm của tế bào M Tế bào M chấp nhận cho những kiểu hình đặc thù xuyên qua, thông qua quá trình cơ học gọi là hiện tượng ẩm bào Đây là sự bắt giữ vật lý và kéo chúng thông qua thành ruột non Khi kháng nguyên vừa qua khỏi thành tế bào ruột non thì ngay lập tức một lượng lớn tế bào T, tế bào B, đại thực bào và tế bào hình cây tiến tới và nhanh chóng thực bào các kháng nguyên và trình diện kháng nguyên Sau đó các tế bào nhớ kháng nguyên sẽ làm việc và kháng thể đặc hiệu chống lại kháng nguyên đó nhanh chóng được sinh ra Người ta cũng tìm thấy ở vùng này một lượng lớn kháng thể, những kháng thể này rất quan trọng trong việc giúp làm ngưng hoạt động của độc tố vi khuẩn, những thứ làm trở ngại quá trình thực bào Quá trình này xảy ra càng nhanh thì càng tốt cho cơ thể, nhanh chóng khống chế được kháng nguyên và giảm thiểu nhất tác hại của kháng nguyên gây bệnh
Tế bào M có khả năng nhận biết, bắt giữ và vận chuyển những phân tử rắn rất nhỏ ở sát vách ruột non Kích cỡ của những vật này có thể chỉ vài micromet đường kính và chiều dài β-1,3-1,6-glucan có tính kháng acid nên khi cấp bằng đường uống nó qua được dạ dày mà không bị biến tính, ngoài ra nó còn
Trang 22là chất hòa tan nên không bị kết tụ khi gặp nước Hơn nữa, đường ruột thú thiếu men đặc hiệu β-1,3-1,6-glucanase là men phân cắt β-1,3-1,6-glucan thành glucose hoặc di-glucose là đường có thể bị hấp thu qua thành ruột non như là một chất dinh dưỡng Do đó, khi cấp β-1,3-1,6-glucan bằng đường miệng nó sẽ xuyên qua đường tiêu hóa đến được hồi tràng mà không bị biến tính Khi đến hồi tràng
nó được hấp thu như một kháng nguyên bởi tế bào M và phân bố đến các mảng payer trong hệ thống mạch bạch huyết để hoạt hóa một cách hiệu lực những thụ thể β – glucan trên đại thực bào hoặc một tế bào hình cây để tạo tiềm lực và nâng cao hiệu quả đáp ứng miễn dịch
Hình 2.4: Cơ chế hấp thu β – glucan 2.4.4 Cơ chế tác động và vai trò của β – glucan trong đáp ứng miễn dịch
β – glucan kích thích miễn dịch, hoạt hóa đại thực bào bằng cách gắn kết với các thụ thể thu nhận thông tin đặc hiệu trên màng đại thực bào để kích hoạt các đại thực bào hoạt động trực tiếp sản xuất ra các phức hợp diệt khuẩn, hoặc chúng sẽ trở nên mẫn cảm hơn trong các đáp ứng miễn dịch Sau khi được gắn kết, chuỗi phản ứng miễn dịch sẽ khởi động và hoạt hóa tạo thành chuỗi hệ thống phòng thủ chủ động
Trang 23Hoạt động dược học của β – glucan là tăng cường sức đề kháng của vật chủ đối với sự xâm nhập của vi rút, vi khuẩn và ký sinh trùng (Diluzio, 1983; dẫn liệu bởi Hồ Thị Nga, 2007 )
Beta – glucan làm tăng đáp ứng miễn dịch thông qua việc kích thích tăng
số lượng, kích thước và chức năng của đại thực bào, kích thích đại thực bào tiết lysozyme, TNF (tumor necrosis factor) và sản xuất một số cytokine, (Meria at al, 1997) Beta-1,3-glucan kích hoạt hệ thống miễn dịch không đặc hiệu thông qua việc kích thích tăng sự thực bào, tăng hoạt tính của tế bào lympho, kích thích hệ thống lưới nội mô, kích hoạt tế bào diệt tự nhiên bao gồm cả những sự phân bào được lựa chọn và bổ thể, tăng cường sản xuất kháng thể Thêm vào những tác dụng quan trọng này, β – glucan là một chất chống oxy hóa hiệu quả và loại thải chất cặn bã trong cơ thể, có thể làm giảm cholesterol trong máu (Meria và ctv,
1996 ) β-glucan còn được cho là có vai trò thiết yếu trong việc điều trị ung thư (W.Mansell at al, 1975), phòng chống bức xạ ( D.Patchen at al, 1985) Ngoài ra, người ta còn chứng minh được β – glucan có thể làm giảm lượng kháng sinh thông thường được yêu cầu mà hiệu quả điều trị vẫn được đảm bảo (trích dẫn bởi
Hồ Thị Nga, 2007)
Hiện nay, những nghiên cứu về β – glucan chưa nhiều và cũng chưa có nghiên cứu nào cho thấy β – glucan có độc tính hoặc có khả năng gây bệnh, nó là một trong những chất kích thích sinh học đối với sự đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu có triển vọng hiện nay
Trang 24Hình 2.5: Sự gắn của β 1,3-1,6 glucan lên thụ thể bề mặt đại thực bào
(Engstad và Robertsen, 1993;1994; dẫn liệu bởi Hồ Thị Nga, 2007)
Hình 2.6: Đại thực bào được hoạt hóa sau khi gắn β 1,3 – 1,6 glucan
(Engstad và Robertsen, 1993;1994; dẫn liệu bởi Hồ Thị Nga, 2007)
Trang 252.4.5 Những hạn chế khi sử dụng thức ăn nhóm NSP (non – starch
polysaccharides) trong khẩu phần chăn nuôi
Dù là β – glucan tan hay không tan thì nó đều có bản chất là NSP do đó nó
cũng có một số hạn chế mà một NSP có thể gây ra khi sử dụng
NSP được xem như một chất kháng dinh dưỡng, không có hiệu quả trong
tiêu hóa và hấp thu tinh bột, protein và lipid trong ruột thú dạ dày đơn NSP hòa
tan có thể làm gia tăng độ nhớt trong đường tiêu hóa tạo nên một lớp phủ vách
ruột, ngăn cản sự hấp thu và làm giảm tỷ lệ khuếch tán của cơ chất và các
enzyme tiêu hóa (Ikegami và ctv, 1990)
Theo Lecterme và ctv (1998) NSP hòa tan có khả năng giữ nước cao nên
ngăn chặn sự tiêu hóa và hấp thu protein trên heo, trong khi NSP không hòa tan
có khả năng giữ nước cao nhưng không ảnh hưởng đến sự tiêu hóa và hấp thu
protein
Selvendran và ctv (1987) cho rằng NSP có thể không ảnh hưởng nhiều
đến khả năng tiêu hóa thức ăn ở ruột non, bởi vì hoạt tính enzyme có trong chất
tiết tuyến tụy là rất lớn Ngoài ra, qua thực nghiệm Jensen và ctv (1998) không
tìm thấy sự khác biệt của hoạt tính enzyme tuyến tụy ở heo 28 ngày tuổi được
cho ăn khẩu phần căn bản lúa mạch với có hoặc không bổ sung β-glucanase
(trích dẫn bởi Hồ Thị Nga, 2007)
Bảng 2.3: Hàm lượng β – glucan trong vài thực liệu
TT Thực liệu Hàm lượng β – glucan (%)
Trang 262.4.5 Một số nghiên cứu về β – glucan hiện nay
1 Qureshi và ctv (2003) chứng minh sự gia tăng chức năng thực bào của đại thực bào khi bổ sung β-1,3-1,6-glucan trong khẩu phần cho gà với hàm lượng
20 – 40 ppm so với lô không bổ sung Ngoài ra, tác giả còn cho biết trong môi trường có β – glucan, số lượng đại thực bào gia tăng so với môi trường không có
β – glucan (in vitro) và đại thực bào tiết ra nhiều nitric (NO) hơn trong phần nổi của môi trường có β – glucan
2 Hurnik (2004) bổ sung β-1,3-1,6-glucan ở các mức vào khẩu phần heo cai sữa, có hoặc không tiêm vaccin PRRS Tác giả này kết luận:
Khi heo được bổ sung 80 ppm β – glucan và tiêm vaccin PRRS, sẽ gia tăng lượng kháng thể (S/P = 2,20) so với heo không bổ sung (S/P = 1,49), bổ sung 40 ppm (S/P = 1,62), và 120 ppm (S/P = 1,26)
Bổ sung 80 ppm và tiêm vaccin PRRS cải thiện tăng trọng (428 g/ngày) so với nhóm không bổ sung (363 g/ngày), bổ sung 40 ppm (400 g/ngày) và 120 ppm (362 g/ngày) Heo nái được cho ăn β – glucan suốt thời gian mang thai sẽ cải thiện số con đẻ ra trên lứa và số con cai sữa
3 Qua thực nghiệm in vitro, Zhengguo Xiaoa và ctv (2004) đã chứng minh β-1,3-1,6-glucan kích thích chức năng tăng sinh bạch cầu đơn nhân lớn trên heo nhiễm PRRSV β – glucan được bổ sung với nồng độ 1,6 mg/ml vào môi trường có tế bào bạch cầu đơn nhân, kết quả làm tăng số lượng tế bào này khi không có sự kích thích của kháng nguyên (từ 6 tăng lên 14 tế bào/giếng), khi nồng độ đến 50 mg/ml thì sự kích thích đạt đỉnh cao (104 tế bào/giếng), nhưng đến nồng độ 100 mg/ml thì không có sự đáp ứng nữa (105 tế bào/giếng)
4 Selvaraj và ctv (2005) tiêm β – glucan cho cá với các liều lượng 0, 100,
500 và 1000 μg/con cá và lấy máu ngày thứ 1, 3 và 5 để kiểm tra Kết quả có sự gia tăng tổng số bạch cầu trong máu ngoại vi, đặc biệt là gia tăng số lượng bạch cầu trung tính và đơn nhân
5 Hồ Thị Nga và Trần Thị Dân (2006) bổ sung β – glucan theo 4 mức (0,
40, 80, 120 ppm) trên lợn nuôi thịt giai đoạn 28 – 150 ngày tuổi đã kết luận:
Trang 27Mức bổ sung 120 ppm β – glucan có thể góp phần làm giảm tỷ lệ ho và ngày con ho Tình trạng thở bụng ở lô bổ sung 80 ppm và 120 ppm được cải thiện rõ rệt
2.5 Giới thiệu về trại gà Thanh Đức
2.5.1 Vị trí địa lý
Trại gà nằm trên địa bàn xã Xuân Phú, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, nằm cách quốc lộ 1A khoảng 1500 m theo hướng Đông Bắc Do vị trí của trại nằm gần quốc lộ 1A nên thuận tiện cho việc vận chuyển thức ăn và các sản phẩm chăn nuôi Ngoài ra, do cách xa khu dân cư nên trại đã hạn chế được phần nào dịch bệnh và không ảnh hưởng đến môi trường người dân xung quanh
2.5.2 Khí hậu thời tiết
Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai, nhiệt độ cao quanh năm, trung bình
25 – 27oC, tháng lạnh nhất cũng không dưới 23,5oC, số giờ nắng trong năm
2500 – 2860 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82% Độ ẩm này cao hơn so với khoảng
độ ẩm lý tưởng cho gà là 65 – 75% (Dương Thanh Liêm, 1999)
Đồng nai có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tương đối lớn, trung bình năm 1700 – 1800 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau, thời tiết nắng nóng, độ ẩm thấp, có khi xuống dưới 70%
Trại gà sử dụng hệ thống chuồng lạnh nên vào ban ngày trong chuồng nhiệt độ trung bình là 26,5oC, nhiệt độ này cao hơn so với khoảng nhiệt độ lý tưởng là 20 – 25oC (Võ Bá Thọ, 1996)
2.5.3 Nguồn nước
Trại sử dụng nước giếng, nước được bơm lên bồn cao để dự trữ, sau đó dẫn nước đến các dãy chuồng cho sử dụng Trại sử dụng hệ thống ống dẫn nước thiết kế trong chuồng nuôi với những núm uống Hệ thống này tiết kiệm nước và luôn có nước sạch cho gà uống Ngoài ra trại còn lắp thêm cốc hứng ở mỗi núm hoặc hệ thống máng uống ở mỗi dãy chuồng để khắc phục tình trạng nước nhỏ giọt gây ẩm ướt chuồng
Trang 282.5.4 Chuồng trại
Tổng đàn 62.000 con gà bao gồm: 30.000 gà đẻ và 32.000 gà hậu bị
01 nhà nuôi gà giò từ 7 – 18 tuần tuổi, kích thước: 110 × 13 m, sức chứa 32.000 con, mật độ nuôi 22,38 con/m2 đạt tiêu chuẩn 20 – 25 con/m2 theo Võ Bá Thọ (1995)
06 nhà nuôi gà đẻ có kích thước: 90 × 5 m, sức chứa mỗi nhà nuôi gà là 5.000 con, mật độ nuôi 450 cm2/con, mật độ này dày hơn so với khuyến cáo
530 – 650 cm2/con (Lâm Minh Thuận, 2004)
Dãy chuồng được thiết kế theo hướng Đông, mái bằng tôn, mái phụ bằng nhựa dẻo, gồm 2 dãy chuồng với 12 dãy lồng xây dựng song song và xếp chồng xen kẽ lên nhau Dãy lồng thấp nhất cách nền chuồng 0,4 m Kích thước của lồng
là 0,45 x 0,40 x 0,30 m
Máng ăn đặt cố định trên máng hứng trứng, nằm ngoài lồng và được làm bằng nhựa Máng uống được làm bằng nhựa trên đó có gắn những núm uống nằm phía trên của lồng cách mặt lồng 10 cm
Trại sử dụng hệ thống chuồng lạnh với thiết bị chống nóng là quạt đẩy và hút không khí qua giàn lạnh Giàn lạnh là một giàn lưới có nước tràn qua làm mát không khí trước khi được thổi vào chuồng Hệ thống này đạt hiệu quả chống nóng tốt cho gà Thời gian chiếu sáng của trại là 17 giờ cao hơn so với khuyến cáo là 15 giờ (Võ Bá Thọ, 1995)
2.5.5 Cơ cấu tổ chức và tình hình sản xuất
Cơ cấu tổ chức: chủ trại (01), kỹ thuật (01), kế toán (01), khâu chế biến thức ăn, nhân viên chăn nuôi và lao động khác (20 người)
Tình hình sản xuất: trại chủ yếu sản xuất trứng thương phẩm phục vụ trong địa bàn tỉnh, ngoài ra trại còn chuyên cung cấp: thức ăn – con giống; dịch
vụ kỹ thuật và thiết kế chuồng trại
Trang 29Hình 2.7: Sơ đồ trại gà Thanh Đức 2.5.6 Quy trình thú y
Đối với công nhân, phải mặc quần áo bảo hộ của trại, mang khẩu trang, mang ủng trước khi vào khu vực chăn nuôi, phải dẫm vào hố vôi sát trùng ở đầu nhà gà Đối với khách tham quan, khi đi vào khu vực chăn nuôi phải được sự đồng ý và hướng dẫn của chủ trại Ở mỗi nhà gà, phải thường xuyên quét dọn vệ sinh hành lang, xung quanh lồng gà
2.5.7 Quy trình loại thải gà đẻ
Hàng ngày, nhân viên kỹ thuật đi kiểm tra và loại thải những con có biểu hiện đẻ kém như mồng teo, nhạt màu, hậu môn hẹp và khô, khoảng cách giữa hai xương chậu hẹp
Trang 30Bảng 2.4: Lịch sử dụng kháng sinh của trại trong thời gian thí nghiệm
Ngày Kháng sinh Liều lượng
và đường cấp Trị bệnh
1 – 3/4 Oxytetracycline 0,5 g/l nước Viêm ruột do E.coli, viêm thận tiêu
chảy do Salmonella, tụ cầu khuẩn
9 – 11/4 Amoxcicillin 0,5 g/2l nước
Bệnh đường hô hấp như CRD, Coryza,…và bệnh đường tiêu hóa
như tiêu chảy do Salmonnella
14 – 16/4 Oxytetracycline 0,5 g/l nước Viêm ruột do E.coli, viêm thận, tiêu
chảy do Salmonnella, tụ cầu khuẩn
17 – 19/4 Tiamulin 0,5 g/l nước Bệnh trên đường hô hấp do
Trang 31Bảng 2.5: Quy trình tiêm phòng của trại
Ngày
7 Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm Nhỏ mắt
Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm Nhỏ mắt
Đậu Chủng màng cánh
21
Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm Cho uống hoặc nhỏ mắt, miệng
35
56 Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm Cho uống hoặc nhỏ mắt, miệng
Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm Cho uống hoặc nhỏ mắt, miệng
Viêm thanh khí quản truyền nhiễm Nhỏ mắt
70
Đậu Chủng màng cánh
Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm Cho uống hoặc nhỏ mắt, miệng
Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm và
105
2.5.8 Giới thiệu một vài kháng sinh trại sử dụng
1) Tylan 40 premix
Thành phần: trong 1 kg Tylan 40 premix có chứa 40 g tylosin nguyên
chất
Tác dụng: điều trị bệnh nhiễm khuẩn, bệnh CRD
Phổ diệt khuẩn: chống lại các vi khuẩn gram (+), Mycoplasma
Chỉ định: phòng bệnh và cải thiện tăng trọng và tỷ lệ đẻ
Trang 32Công dụng: tác dụng hữu hiệu trên Mycoplasma vi khuẩn gây bệnh CRD
(Hô hấp mãn tính) Kích hoạt đại thực bào làm tăng sức đề kháng Khống chế tress, giữ ổn định sức khỏe cho cả đàn gà về sau
Liều phòng: hòa tan 0,5 g/l nước, sử dụng liên tục trong 3 ngày
Liều trị: hòa tan 0,5 g/l nước dùng liên tục trong 5 ngày hoặc lâu hơn nếu thấy cần thiết
Ngoài ra, trại còn sử dụng một số thuốc như: Oxytetracyclin, Tiamulin Hydrogen Fumarat, Doxytetracyclin, Hipradoxi – S, Hipradoxi – enro S