Với việc sử dụng sóng siêu âm có tần số thích hợp, các bác sĩ có thể nhanh chóng phát hiện những thay đổi về mặt cấu trúc của các cơ quan trong cơ thể, từ đó, có những định hướng và điều
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT SIÊU ÂM TRONG
CHẨN ĐOÁN THAI VÀ SIÊU ÂM BỤNG
TỔNG QUÁT TRÊN CHÓ
SVTH : NGUYỄN THỊ THANH TRÚC Ngành : THÚ Y
Lớp : THÚ Y 30 Niên khóa: 2004-2009
Tháng 9/2009
Trang 2ỨNG DỤNG KỸ THUẬT SIÊU ÂM TRONG CHẨN ĐOÁN THAI VÀ
SIÊU ÂM BỤNG TỔNG QUÁT TRÊN CHÓ
Tác giả
NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sĩ ngành Thú y
Giáo viên hướng dẫn:
TS NGUYỄN VĂN NGHĨA BSTY PHAN THỊ KIM CHI
Tháng 9/2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Kính dâng ba mẹ sự kính trọng và lòng biết ơn chân thành nhất
Xin cảm ơn sâu sắc thầy TS Nguyễn Văn Nghĩa đã hết lòng dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báo, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Bác sĩ Phan Thị Kim Chi đã luôn tạo mọi điều kiện,tận tình hướng dẫn,động viên và truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn Chi cục Thú y TP - HCM, Trạm Chẩn đoán – Xét nghiệm và Điều trị cùng các cô chú, anh chị ở tổ điều trị đã tận tình hỗ trợ và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thý y cùng toàn thể thầy cô khoa Chăn nuôi Thý y trường Đại học Nông Lâm TP - HCM đã tận tình dạy bảo và truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Cám ơn bạn bè và tập thể lớp Thú Y K30 đã luôn bên cạnh động viên và cùng tôi chia sẻ những khó khăn trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Hồ Chí Minh,tháng 9 năm 2009 NGUYỄN THỊ THANH TRÚC
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài "Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán thai và siêu âm bụng tổng quát" được tiến hành tại Trạm Chẩn đoán - Xét nghiệm và Điều trị trực thuộc Chi cục Thú y TP.HCM, thời gian từ tháng 1/2009 đến tháng 5/2009 Qua quá trình khảo sát, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
(1) Trong 4565 ca đến khám và điều trị tại Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị có 1908 ca được chỉ định siêu âm chiếm tỷ lệ 41,8%/tổng số ca đến khám tại Trạm Trong đó, siêu âm thai chiếm tỷ lệ 34,8% và siêu âm tổng quát chiếm 65,2%
(2) Có tất cả 25 loại bệnh lý khác nhau được phát hiện qua siêu âm trong thời gian khảo sát
(3) Bệnh lý trên hệ tiết niệu chiếm tỷ lệ cao nhất với 511 ca, tương ứng với 45,34%/tổng số ca siêu âm tổng quát, kế đến là các trường hợp bệnh lý trên hệ tiêu hóa chiếm 24,22%, sau đó là bệnh lý trên cơ quan sinh dục chiếm tỷ lệ 21,03%
(4) Có 117 trường hợp không phát hiện bệnh lý qua siêu âm, chiếm tỷ lệ 9,41%
Đó là các trường hợp chưa thấy sự thay đổi về mặt cấu trúc của các cơ quan trong xoang bụng hoặc là bệnh viêm ruột, viêm phổi thông thường, chấn thương
(5) Trong siêu âm thai, có 476 ca phát hiện có thai, 151 ca không phát hiện thai Đối với các trường hợp có thai, có tất cả 418 ca có kết luận là thai sống, chiếm tỷ
lệ cao với 66,67%, sau đó đến các ca thai chết chiếm tỷ lệ 7,97%
(6) So sánh kết quả siêu âm dự đoán tuổi thai với thực tế cho thấy giống chó tầm vóc nhỏ và trung bình có tỷ lệ sinh đúng ngày khá cao là 87,88% và 76,19%, chó tầm vóc lớn có tỷ lệ sinh đúng ngày thấp là 58,33%
(7) Siêu âm có thể giúp phát hiện và chẩn đoán tình trạng thai một cách nhanh chóng
Trang 5MỤC LỤC
TRANG
Trang tựa i
Cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục iv
Danh sách các chữ viết tắt viii
Danh sách các hình ix
Danh sách các bảng xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1.Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích 2
1.3 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 Siêu âm 3
2.1.1 Lịch sử về siêu âm 3
2.1.2 Vật lý học của siêu âm 4
2.1.2.1 Định nghĩa 4
2.1.2.2 Cơ sở vật lý của phương pháp ghi hình siêu âm 5
2.1.3 Kỹ thuật của phương pháp tạo hình bằng siêu âm 7
1.1 Nguyên lý cơ bản 7
2.1.3.2 Các hình thức thể hiện 7
2.1.3.3 Độ phân giải ảnh 9
2.1.4 Thiết bị ghi hình bằng siêu âm 9
2.1.4.1 Đầu dò 9
2.1.4.2 Thân máy 11
2.1.4.3 Thiết bị xuất 12
2.1.5 Những thuật ngữ mô tả hình ảnh siêu âm 13
Trang 62.1.5.1 Hình bờ 13
2.1.5.2 Hình cấu trúc 13
2.1.5.3 Độ hồi âm (Mức độ phản âm) 13
2.1.5.4 Mật độ của mô 14
2.1.5.5 Các hiện tượng hay gặp 14
2.1.6 Khái niệm về các mặt cắt 15
2.1.7 Tác dụng sinh học của siêu âm 15
2.1.8 Các ưu – khuyết điểm của phương pháp siêu âm 16
2.1.9 Các sai lầm thường gặp khi sử dụng máy siêu âm 17
2.2 Cơ thể học về các cơ quan được khảo sát trong siêu âm bụng tổng quát 17
2.2.1 Gan - mật 17
2.2.2 Lách 18
2.2.3 Thận 19
2.2.4 Bàng quang 20
2.2.5 Cơ quan sinh dục 21
2.3 Kỹ thuật siêu âm 24
2.3.1 Hình ảnh siêu âm bình thường của gan – mật 24
2.3.2 Hình ảnh siêu âm bình thường của lách 24
2.3.3 Hình ảnh siêu âm bình thường của thận 25
2.3.4 Hình ảnh siêu âm bình thường của bàng quang 25
2.3.5 Hình ảnh siêu âm bình thường của tiền liệt tuyến 26
2.3.6 Hình ảnh siêu âm bình thường của buồng trứng 26
2.3.7 Hình ảnh siêu âm bình thường của tử cung 26
2.3.8 Chẩn đoán thai và sự phát triển của thai 27
2.3.9 Một số công trình nghiên cứu lên quan đến đề tài 29
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 32
3.1 Địa điểm và thời gian khảo sát 32
3.2 Đối tượng khảo sát 32
3.3 Nội dung khảo sát 32
3.4 Chỉ tiêu theo dõi 32
3.5 Phương tiện chẩn đoán 32
3.5.1 Thiết bị và vật liệu 32
Trang 73.5.2 Tiến hành siêu âm 32
3.6 Đo và ước lượng tuổi thai 34
3.6.1 Đo đường kính túi thai 34
3.6.2 Đo độ dài vòng mông 34
3.6.3 Đo đường kính lưỡng đỉnh 34
3.6.4 Đo độ dài thân 34
3.7 Chẩn đoán các bệnh lý trên hình ảnh siêu âm 34
3.7.1 Chẩn đoán bệnh lý thuộc hệ tiêu hóa 34
3.7.2 Chẩn đoán bệnh lý thuộc hệ tiết niệu 34
3.7.3 Chẩn đoán bệnh lý thuộc hệ sinh dục 34
3.7.4 Chẩn đoán các bệnh lý khác trên siêu âm 35
3.8 Xử lý số liệu 35
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Siêu âm tổng quát 36
4.1.1 Bệnh lý trên hệ tiết niệu 37
4.1.1.1 Bệnh lý ở bàng quang 38
4.1.1.2 Bệnh lý ở thận 40
4.1.2.Bệnh lý trên hệ tiêu hóa 41
4.1.2.1.Bệnh lý ở gan 42
4.1.2.2 Bệnh lý ở mật 44
4.1.2.3 Bệnh lý ở cơ quan khác 45
4.1.3 Bệnh lý trên hệ sinh dục 46
4.1.3.1 Bệnh lý trên cơ quan sinh dục cái 46
4.1.3.2 Bệnh lý trên cơ quan sinh dục đực 48
4.1.3 Bệnh lý khác 49
4.2 Siêu âm thai 50
4.2.1 Siêu âm chẩn đoán sự mang thai 50
4.2.2 Kiểm tra sau khi sanh 52
4.2.3 Thời điểm siêu âm thai 53
4.2.4 Siêu âm tính tuổi thai và dự đoán ngày sinh 54
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Đề nghị 57
Trang 9DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 2.1 Vận tốc truyền âm trong các môi trường 4
Hình 2.2 Kiểu A 7
Hình 2.3 Kiểu B 8
Hình 2.4 Kiểu TM 8
Hình 2.5 Máy siêu âm 12
Hình 2.6 Hiện tượng giảm âm 14
Hình 2.7 Cấu tạo và vị trí của gan 18
Hình 2.8 Cấu tạo của thận 20
Hình 2.9 Cấu tạo của bàng quang 21
Hình 2.10 Ví trí tiền liệt tuyến 22
Hình 2.11 Cấu tạo tử cung 23
Hình 4.1 Bàng quang bình thường 38
Hình 4.2.Viêm bàng quang 38
Hình 4.3 Sạn bàng quang 39
Hình 4.4 Thận bình thường 40
Hình 4.5 Viêm thận 40
Hình 4.6 Sạn thận 40
Hình 4.7 Viêm gan 42
Hình 4.8 Gan nhiễm mỡ 43
Hình 4.9 Khối u ở gan 43
Hình 4.10 Xơ gan 44
Hình 4.11 Viêm túi mật 45
Hình 4.12 Sạn túi mật 45
Hình 4.13 Viêm tử cung dạng kín 46
Hình 4.14 Viêm tử cung dạng hở 47
Hình 4.15 U nang buồng trứng 47
Hình 4.16 Viêm tiền liệt tuyến 48
Hình 4.17 Lách bình thường 49
Hình 4.18 Lách triển dưỡng 49
Trang 10Hình 4.19 Khối u ở lách 49
Hình 4.20 Viêm gan, viêm túi mật 50
Hình 4.21 Viêm gan báng nước, viêm túi mật 50
Hình 4.22 Theo dõi tim thai 52
Hình 4.23 Thai 30 ngày 54
Hình 4.24 Thai 32 ngày 54
Hình 4.25 Thai 45 ngày 54
Hình 4.26 Thai 58 ngày 54
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1: So sánh tính năng của các đầu dò 11
Bảng 2.2: Kích thước thận bình thường được đo thông qua hình ảnh siêu âm 25
Bảng 2.3 Sự phát triển của thai 29
Bảng 4.1: Số lượng chó đến khám, điều trị và siêu âm tại Trạm từ năm 2004 – 2008 36
Bảng 4.2: Kết quả siêu âm tổng quát 37
Bảng 4.3 Các nhóm bệnh lý được phát hiện bằng siêu âm 37
Bảng 4.4 Kết quả siêu âm bệnh lý trên hệ tiết niệu 38
Bảng 4.5 Kết quả siêu âm bệnh lý trên hệ tiêu hóa 41
Bảng 4.6 Phân loại gan nhiễm mỡ 43
Bảng 4.7 Kết quả siêu âm bệnh lý trên hệ sinh dục 46
Bảng 4.8 Kết quả siêu âm các bệnh lý khác 49
Bảng 4.9 Phân loại các trường hợp trong siêu âm thai 51
Bảng 4.10 Kiểm tra sau khi sinh 52
Bảng 4.11.Thời điểm phát hiện thai 53
Bảng 4.12 Bảng tính thời điểm sinh 54
Bảng 4.13 Bảng kết quả dự đoán ngày sinh theo nhóm giống 55
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đối với người bác sĩ Thú y, việc chẩn đoán chính xác một ca bệnh là điều vô cùng quan trọng để có thể đưa ra hướng điều trị đúng đắn Ngày nay, nhằm hổ trợ cho phương pháp chẩn đoán lâm sàng, những phương pháp phi lâm sàng khác cũng đã từng bước được đưa vào sử dụng Trong đó, phương pháp siêu âm có ý nghĩa không thể phủ nhận
Thật ra, kỹ thuật siêu âm đã được biết từ lâu và được ứng dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: quân sự, y học, công nghiệp… Hơn thế nữa, siêu âm còn góp phần quan trọng trong việc chẩn đoán, phát hiện và điều trị bệnh trên người Với việc sử dụng sóng siêu âm có tần số thích hợp, các bác sĩ có thể nhanh chóng phát hiện những thay đổi về mặt cấu trúc của các cơ quan trong cơ thể, từ đó, có những định hướng và điều trị kịp thời Chi phí thấp cùng với độ an toàn sinh học cao đã giúp cho dịch vụ siêu âm ngày càng phát triển và được ứng dụng rộng rãi trong nhân y
Tại các nước tiên tiến, từ cuối thập niên 70, siêu âm thú y đã được ứng dụng và trở thành một dịch vụ rất thiết yếu tại các bệnh viện trường đại học hay các phòng khám thú y tư nhân
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, siêu âm thú y đang được đầu tư khá phổ biến tại các trung tâm chẩn đoán, các phòng khám thú y… Trạm Chẩn đoán Xét nghiệm và Điều trị - Chi cục Thú y Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đơn vị tiên phong trong lĩnh vực siêu âm Không chỉ cung cấp dịch vụ cho khách hàng, Trạm còn tiến hành thực hiện một số đề tài chuyên ngành siêu âm nhằm xây dựng nguồn tài liệu giúp cho việc học tập của sinh viên Đại học cũng như giúp các bác sĩ thú y nâng cao kiến thức và kỹ năng trong việc chẩn đoán hình ảnh
Trang 13Tuy nhiên, siêu âm hiện nay vẫn chưa trở thành môn học chính thức tại các trường đại học có chuyên ngành thú y ở Việt Nam, vì số lượng đề tài còn ít và tài liệu phần lớn là tiếng nước ngoài Do đó việc phát triển chuyên ngành siêu âm thú y một cách có hệ thống vẫn tồn tại nhiều khó khăn
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả chẩn đoán, đồng thời xây dựng dữ liệu giúp cho việc nghiên cứu sâu rộng chuyên ngành siêu âm thú y, được sự đồng ý của khoa Chăn Nuôi Thú y trường ĐH Nông Lâm TP HCM và Chi cục Thú y TP HCM, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Văn Nghĩa và BSTY Phan Thị Kim Chi, chúng tôi tiến hành đề tài: “Ứng dụng kỹ thuật siêu âm trong chẩn đoán thai và siêu âm bụng tổng quát trên chó”
1.2 Mục đích
Hỗ trợ việc khám lâm sàng qua các nội dung sau:
- Ứng dụng siêu âm trong chẩn đoán thai, xác định tuổi thai và đánh giá tình trạng thai trên chó
- Ứng dụng siêu âm tổng quát trong chẩn đoán bệnh trên chó, ghi nhận các bệnh lý thường gặp trên chó qua những thay đổi trên các cơ quan trong xoang bụng
- Ghi nhận hình ảnh siêu âm thai và các cấu trúc bất thường của chủ mô khảo sát
Trang 14bù lại đã thu được kết quả nhờ những tiến bộ rất nhanh chóng về mặt kỹ thuật (theo Bonnin và cộng sự, 1997)
Năm 1880, Pierre và Marie Curie đã phát hiện ra nguyên lý về khả năng của các tinh thể áp điện tạo ra được sóng siêu âm và đã đặt tên là Nguyên lý áp điện.Năm 1916, Langevin là người đầu tiên dùng dòng điện xoay chiều đi qua một tinh thể áp điện để tạo ra hàng loạt sóng siêu âm khi bị ép và dãn ra
Năm 1952, Howery và Wild đã trình diễn kết quả xét nghiệm các mô sinh học bằng phương pháp chụp sóng siêu âm phản hồi Năm 1954, Hertz và Edler - một kỹ sư
và một bác sĩ Thụy Điển - đã lần đầu tiên ghi hình được hình ảnh hoạt động của hẹp van hai lá bằng phương pháp siêu âm kiểu một chiều (Time Motion Mode)
Trong những năm 60, kỹ thuật chẩn đoán bằng siêu âm được phát triển tại Châu
Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản Từ thập niên 70 trở đi, với nhiều tiến bộ về kỹ thuật, siêu âm
đã trở thành một trong những phương pháp chẩn đoán có giá trị và hoàn toàn không gây hại cho người bệnh
Ngày nay, ngành y khoa đã sử dụng siêu âm kiểu một chiều (1D), hai chiều (2D), ba chiều (3D) phối hợp thêm với Hiệu ứng Doppler đen trắng - màu giúp chẩn đoán chính xác và điều trị bệnh trên các tạng trong cơ thể người
Trang 15Ở nước ta, năm 1998 siêu âm đã được sử dụng tại Bệnh xá Thú y trường Đại học Nông Lâm Đến năm 2000, lần đầu tiên máy siêu âm chuyên dùng cho Thú y đã được đưa vào hoạt động tại Trạm Chẩn đoán - Xét nghiệm và Điều trị (trực thuộc Chi cục Thú y TPHCM) Từ đó, siêu âm đã giúp ích rất nhiều cho công tác chẩn đoán các bệnh trên chó mèo đưa đến điều trị tại Trạm
2.1.2 Vật lý học của siêu âm
Do tương tác tạo nên bởi các mối liên kết giữa các phần tử kế cạnh: một mặt sẽ bị kéo
về vị trí cân bằng, mặt khác còn chịu tác động của lực tương tác nên nó sẽ chuyển động qua lại quanh vị trí cân bằng gọi là sự dao động của các phân tử có chu kỳ (dẫn liệu của Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Mật độ phân tử càng dày đặc thì sóng âm càng lan truyền nhanh Do vậy sóng
âm lan truyền tốt nhất trong chất rắn và kém nhất trong chất khí
Hầu hết các mô của cơ thể có vận tốc truyền âm tương đương với môi trường nước ngoại trừ mô phổi có vận tốc truyền âm kém và mô xương có vận tốc truyền âm khá cao
xương
cơ gan
thận máu
mỡ nước khí
mô mềm
Hình 2.1 Vận tốc truyền âm qua các môi trường
(Nguồn: Nguyễn Quý Khoáng và Nguyễn Quang Trọng, 2009)
Trang 16Nếu phân loại theo phương pháp dao động, người ta chia sóng âm làm hai loại: sóng dọc và sóng ngang
Đơn vị của sóng âm là Hertz (Hz) - là tần số biểu thị chấn động trong thời gian một giây (1s)
Khi phân loại theo tần số (f), sóng âm được chia làm ba dải tần số chính:
- Sóng âm tần số cực thấp (vùng hạ âm - Infrasound) với f < 16Hz
- Sóng âm tần số nghe thấy (Audible sound) với f = 16 - 20.000Hz
- Sóng siêu âm (Ultrasound) với f > 20 KHz
(Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Siêu âm
Siêu âm là những rung động của vật chất có thể lan truyền trong tất cả các môi trường chất khí, chất lỏng, chất rắn nhưng không qua được khoảng chân không (khác với ánh sáng, tia X và tia Laser)
2.1.2.2 Cơ sở vật lý của phương pháp ghi hình siêu âm
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân (2002), cơ sở của kỹ thuật ghi hình siêu âm chính là sự tương tác của tia siêu âm với các tổ chức trong cơ thể Sự tương tác này phụ thuộc vào:
Vận tốc truyền của sóng siêu âm (C)
Vận tốc lan truyền của sóng âm là những quãng đường mà sóng âm lan truyền sau một thời gian
Trong mô mềm, vận tốc lan truyền gần như nhau (Cnước= 1540m/s, Cmỡ = 1450m/s, Cbắp cơ = 1600m/s, Cgan = 1550 m/s) Ngược lại, vận tốc lan truyền trong không khí và mô xương lại khác hẳn nhau (Ckhông khí =330m/s, Cxương = 3000 - 4000m/s)
Trở kháng âm của môi trường (z)
Trở kháng âm của môi trường là độ vang hay độ dội của sóng âm trong môi trường Sóng siêu âm dội lại theo định luật phản chiếu của ánh sáng
z = c × p
Trở kháng âm được tính bằng công thức:
Trong đó: p = (kg/m3) là mật độ của môi trường
c = (m/s) là vận tốc lan truyền của sóng âm trong môi trường Trở kháng âm của môi trường có vai trò quyết định đối với biên độ của sóng phản xạ trên mặt phân cách giữa hai môi trường
Trang 17Hệ quả của công thức:
Hình siêu âm chỉ rõ khi tia siêu âm thẳng góc với mặt ngăn cách
Sự dội lại của tia siêu âm phụ thuộc vào sự khác biệt về bản chất giữa hai môi trường chứ không phụ thuộc vào vật cản
Phản xạ và khúc xạ
Khi sóng âm truyền đi trong môi trường đồng nhất và đẳng hướng, nó sẽ truyền theo phương thẳng Khi gặp mặt phân cách đủ lớn giữa hai môi trường có trở kháng âm khác nhau, tức có vận tốc truyền âm khác nhau, sóng âm sẽ tuân theo định luật phản xạ
và khúc xạ Một phần năng lượng của sóng âm sẽ phản xạ ngược trở lại và phần còn lại
sẽ truyền tiếp vào môi trường thứ hai
Hiện tượng khúc xạ là hiện tượng sóng truyền tiếp không cùng hướng sóng tới Hiện tượng phản xạ toàn phần là hiện tượng mà sóng âm sẽ không khúc xạ được sang môi trường thứ hai bên kia mặt phân cách và toàn bộ năng lượng được phản xạ trở lại môi trường thứ nhất
Sự tán xạ
Một hiện tượng quan trọng khác trong tạo hình bằng siêu âm là hiện tượng tán xạ của tia siêu âm khi gặp cấu trúc nhỏ hoặc với bề mặt không đồng đều Khi đó tia siêu
âm sẽ bị tán xạ đi khắp hướng, và chỉ một phần nhỏ chắc chắn tới được đầu dò
Tuy việc ghi nhận các tia tán xạ rất khó khăn nhưng chúng có lợi thế là không phụ thuộc vào góc tới của tia siêu âm và rất quan trọng trong việc đánh giá các cấu trúc nhỏ (Ví dụ: đánh giá độ đồng đều của nhu mô gan, tụy hay vách liên thất…)
Giảm âm và khuếch tán bù
Năng lượng của sóng siêu âm giảm dần trên đường lan truyền trong các mô Các
cơ chế của giảm âm rất đa dạng Đó là những tương tác mà trong đó năng lượng chùm tia tới được lấy bớt dần để truyền lại theo nhiều hướng khác nhau (do phản xạ hay khuếch tán) hoặc bị hấp thu bởi các mô và chuyển đổi thành nhiệt (do hấp thu)
Để khắc phục sự giảm âm, tín hiệu phải bù bằng hệ thống khuếch đại nhằm tạo
ấn tượng ảnh đồng nhất ở tất cả các độ sâu
Trang 18Thông số của sóng siêu âm và kích thước hình học của tổ chức
Sóng siêu âm phản xạ trên mặt phân cách, do đó năng lượng phản xạ còn phụ thuộc vào kích thước của mặt phân cách và độ dài bước sóng λ của chùm tia Sóng siêu
âm có tần số càng cao thì càng dễ phát hiện và phân biệt được các vật nhỏ nhưng cũng
vì vậy mà khó vào được sâu các tổ chức bên trong
2.1.3 Kỹ thuật của phương pháp tạo hình bằng siêu âm
2.1.3.1 Nguyên lý cơ bản
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân (2002), đầu dò được kích thích bởi xung điện sẽ phát ra một xung động siêu âm đáp ứng Xung động siêu âm này truyền vào các mô sinh học sẽ lan truyền đi dần dần, sóng siêu âm sẽ gặp các mặt phản hồi trên đường truyền, tạo ra các sóng phản xạ và tán xạ quay trở về đầu dò và hồi âm được thu nhận tại đây
Đầu dò sẽ biến đổi sóng hồi âm thành tín hiệu điện thông qua hiệu ứng áp điện Tín hiệu này mang hai thông tin chính:
- Thông tin về độ lớn biên độ - phản ánh tính chất âm học của môi trường
- Thông tin về vị trí của nguồn tạo tín hiệu
Các thông tin này sau đó được xử lý và thể hiện thành hình ảnh trên màn hình
(Nguồn: Nguyễn Quý Khoáng và Nguyễn Quang Trọng, 2009)
Trang 19Kiểu B (B - mode, Brightness Mode)
Tín hiệu hồi âm được thể hiện bởi những chấm sáng Độ sáng của các chấm này thể hiện biên độ của tín hiệu hồi âm Vị trí các chấm sáng xác định khoảng cách từ đầu
dò đến mặt phản hồi (Nguyễn Phước Bảo Quân,2002)
Hình 2.3 Kiểu B
(Nguồn: Nguyễn Quý Khoáng và Nguyễn Quang Trọng, 2009)
Kiểu TM (TM - mode, Time Motion Mode)
Dùng để thể hiện sự chuyển động cùng chiều với tia sóng âm của các vật thể theo thời gian bằng cách thể hiện hình ảnh B - mode theo diễn biến thời gian với các tốc độ quét khác nhau Kết quả là nếu nguồn hồi âm đứng yên thì sẽ tạo ra đường thẳng ngang qua màn hình, còn nếu mặt phản hồi chuyển động thì sẽ tạo ra đường cong phản ảnh sự chuyển động của mặt phản hồi (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Hình 2.4 Kiểu TM
(Nguồn: Nguyễn Quý Khoáng và Nguyễn Quang Trọng, 2009)
Trang 202.1.3.3 Độ phân giải ảnh
Độ nét của các chi tiết trong ảnh phụ thuộc vào khả năng phân giải của hệ thống ghi hình Độ phân giải l à khoảng cách tối thiểu ngăn cách giữa hai điểm trên hình siêu âm còn được phân biệt rõ nét Giới hạn phân giải của hệ thống ghi hình được xác định bởi độ dài bước sóng Khi độ dài bước sóng giảm thì tần số tăng lên, khả năng phân giải cũng tăng lên theo tần số Nhưng độ giảm âm cũng tăng ngang bằng với tần
số Vậy, khi khảo sát các chủ mô gần bề mặt nên dùng đầu dò tần số cao và ngược lại, dùng đầu dò có tần số thấp để khảo sát các chủ mô ở sâu.(Bonnin và cộng sự, 1997)
2.1.4 Thiết bị ghi hình bằng siêu âm
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), có nhiều loại máy siêu âm được thiết kế sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau Một cách tổng quát, có thể chia làm ba loại như sau:
- Máy siêu âm màu với đầy đủ chức năng hiện đại
- Máy siêu âm đa chức năng có khả năng giải quyết được mọi yêu cầu chuyên khoa
- Máy siêu âm xách tay với chức năng đơn giản, chủ yếu dùng trong cấp cứu Tuy nhiên, với sự phát triển của kỹ thuật, một số máy siêu âm xách tay gần đây cũng có khá đầy đủ chức năng cần thiết Người sử dụng cần biết rõ yêu cầu của mình
để chọn lựa thiết bị thích hợp Nếu nắm vững các tính năng của máy sẽ giúp ta tránh nhiều sai lầm thường gặp
Một máy siêu âm có cấu tạo gồm 3 phần:
- Phần nhập: Đầu dò
- Phần xử lý: Thân máy
- Phần xuất: Màn hình
2.1.4.1 Đầu dò
Cấu tạo đầu dò
Theo Nguyễn Phước Bảo Quân (2002), đầu dò vừa đóng vai trò đầu phát sóng vừa đóng vai trò đầu thu sóng Tinh thể gốm của đầu dò có khả năng phát ra các chuỗi xung cao tần Cứ sau mỗi xung phát đầu dò lại tiếp nhận sóng hồi âm Độ lặp lại của các chuỗi xung phụ thuộc vào độ sâu tối đa cần chẩn đoán Bề dày của tinh thể gốm sẽ quyết định tần số f của đầu dò (bề dày 1mm ứng với tần số 2 MHz)
Tần số của đầu dò được dùng trong khám bụng tổng quát từ 3,5 MHz - 5 MHz
Trang 21Phân loại đầu dò
Sự khác biệt giữa các loại đầu dò là do việc sắp xếp các chấn tử trên đầu dò dẫn tới việc tái tạo hình ảnh khác nhau Loại đầu dò có thể nhận biết dựa vào hình dáng bên ngoài hay hình ảnh mặt cắt siêu âm Trong khám bụng tổng quát, nên sử dụng đầu
dò Convex để có hình ảnh tổng quát; sau đó chuyển sang đầu dò Linear để xem xét các vùng nghi ngờ
¾ Đầu dò Linear (Đầu dò dạng thẳng)
Nguyên lý: Đầu dò được cấu tạo từ một dãy n tinh thể đơn Tia siêu âm được tạo thành từ nhóm gồm m đơn tinh thể đứng cạnh nhau và được quét bằng cách tắt tinh thể đứng đầu nhóm và bật thêm một tinh thể đứng kế tinh thể cuối cùng, cho hình thẳng theo trục đầu dò
Ưu điểm: Vùng thăm khám rộng, khả năng thể hiện các vùng gần bề mặt tốt Nhược điểm: Kích thước lớn, độ phân giải theo chiều dọc và ngang khác nhau Ứng dụng: Dùng khảo sát vùng bụng, siêu âm sản khoa – phụ khoa, siêu âm tuyến giáp và siêu âm gần bề mặt (Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
¾ Đầu dò Convex (Đầu dò dạng cong)
Nguyên lý: Giống nguyên lý làm việc của đầu dò Linear, chỉ khác ở chỗ các đơn tinh thể không xếp theo hàng ngang mà xếp theo hình cong
Ưu điểm: Đầu dò được quét theo hình rẽ quạt với bề mặt tiếp xúc nhỏ hơn đầu
dò Linear và có dạng cong nên có khả năng áp vào nhiều vùng cơ thể
Ứng dụng: Khảo sát vùng bụng và hố chậu.(Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
¾ Đầu dò Sector (Đầu dò dạng quạt)
Nguyên lý: Tinh thể tròn quay quanh và quét tia siêu âm theo một góc hình rẽ quạt Tinh thể được gắn trên một trục và motor quay được để trên đầu đặc biệt nên hình ảnh siêu âm có dạng hình cung tròn Tinh thể tiếp xúc với bệnh nhân qua 2 lớp vật liệu thấu âm
Ưu điểm: Bề mặt tiếp xúc, độ mở lớn, các đầu dò đặc biệt có góc quét 360 o Nhược điểm: Do có phần cơ khí nên đầu dò hơi nặng và chuyển mode chậm Ứng dụng: Trong siêu âm tim, nội tổng quát và sản – phụ khoa
(Nguyễn Phước Bảo Quân, 2002)
Trang 22Bảng 2.1: So sánh tính năng của các đầu dò
Gain (công suất phát sóng siêu âm)
Cần tuân thủ nguyên tắc ALARA (As low as reasonably acceptable): Dùng sóng siêu âm với công suất thấp nhất có thể được khi sử dụng máy siêu âm
Có 2 phần để điều chỉnh Gain: Tổng cộng và từng phần
- Gain từng phần được thiết kế để bù lại lượng hao hụt năng lượng trên đường
đi của sóng siêu âm Ở các máy đơn giản , nó được chia làm 2 phần: gần và xa (near gain and far gain) Ở các máy phức tạp hơn, có phần tinh chỉnh cho từng mức độ sâu 2
cm (TGC: Time Gain Compensation)
Nguyên tắc chỉnh: Tạo được hình ảnh đồng dạng
- Gain tổng cộng thường dùng ở mức thấp nhất và Gain từng phần ở mức cao nhất có thể được
Bộ phận xử lý ảnh
Có nhiều cách xử lý ảnh khác nhau nhằm quan sát tổn thương rõ hơn Nói một cách tổng quát, có 2 loại xử lý ảnh: trước và sau khi cố định ảnh
Cần chú ý là độ mịn tỷ lệ nghịch với độ tương phản Những biện pháp làm tăng
độ tương phản sẽ làm thấy rõ hình bờ của tổn thương nhưng sẽ làm giảm khả năng phát hiện tổn thương và ngược lại
Yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất là việc xác định vùng khảo sát động học (Dynamic range: DR) Nếu DR nhỏ, hình có độ tương phản cao nhưng không mịn và ngược lại
Trang 23Các bộ phận nhập dữ liệu:
- Chú thích (Comment)
- Chỉ thị mặt cắt (Bodymark)
- Hồ sơ bệnh nhân (ID) mà trong thú y, ở phần này chúng ta điền các dữ liệu
về giống , tuổi, giới tính
Các chức năng tính toán:
- Tổng quát: Khoảng cách, diện tích, thể tích
- Sản khoa: Tuổi thai, số lượng thai
- Đổi chiều (Reverse)
Thang xám (Gray scale)
Thang xám thường sử dụng từ 16 - 64 nấc Số nấc trên thang xám càng cao thì khả năng phát hiện tổn thương càng cao
2.1.4.3 Thiết bị xuất: Gồm màn hình, máy in nhiệt, phim Poraloid, thu video
Hình 2.5 Máy siêu âm
Trang 242.1.5 Những thuật ngữ mô tả hình ảnh siêu âm
2.1.5.1 Hình bờ
Hình bờ có thể là liên bề mặt giới hạn giữa hai môi trường đặc có cấu trúc âm khác nhau: Gan - thận phải, lách - thận trái, khối u đặc - nhu mô bình thường Cũng có thể là giới hạn của một cấu trúc lỏng bình thường hay bệnh lý: Thành bàng quang, túi mật, abscess … (Bonnin và cộng sự, 1997)
2.1.5.3 Độ hồi âm (Mức độ phản âm)
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), độ hồi âm, đôi khi gọi tắt là echo, phản ảnh đặc trưng của cơ quan phản xạ lại sóng siêu âm
Người ta phân biệt độ hồi âm thành 3 mức độ:
- Hồi âm dày (Hồi âm tăng, hyperechoic): Mô tả cấu trúc có mức độ xám tăng
so với độ hồi âm của cấu trúc nền xung quanh hoặc so với tình trạng bình thường (hồi
âm của xương, chủ mô )
- Hồi âm kém (hồi âm giảm, hypoechoic): Mô tả cấu trúc có mức độ xám giảm
so với độ hồi âm của cấu trúc nền xung quanh hoặc so với tình trạng bình thường (hồi
âm của mô, của dịch mủ )
- Hồi âm trống (không có hồi âm, sonolucent): Mô tả cấu trúc không tạo được sóng phản hồi So với mức tương ứng trên thang độ xám thì những cấu trúc này có độ xám rất thấp, thậm chí hiển thị màu đen (hồi âm của dịch )
Trang 252.1.5.4 Mật độ của mô
Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), căn cứ vào độ hồi âm ta có thể ước lượng được sự tổn thương ở dạng đặc hay lỏng: tính chất đặc (hồi âm bên trong đồng nhất hoặc không đồng nhất), tính chất dịch (nang), tính chất hỗn hợp (có phần đặc - có phần dịch)
Trên thực tế, nhiều khi bản chất là mô đặc nhưng có độ hồi âm rất kém, gần như trống (Ví dụ: hạch của lymphoma) hay ngược lại, là chất dịch mủ nhưng độ hồi
âm rất dày (Ví dụ: abscess gan do vi khuẩn) Do đó, cần dựa thêm vào nhiều yếu tố khác để xác định
2.1.5.5 Các hiện tượng hay gặp
Bóng âm (Bóng lưng)
Do sự phản xạ mạnh, phần phía sau sẽ không nhận được tín hiệu siêu âm tới, vì thế trên ảnh siêu âm, vách phản xạ được biểu hiện bởi một sóng phản hồi rất đậm kèm theo sau đó Đó là một dải xám tối hơn môi trường xung quanh ở ngay phía sau cấu trúc (Bonnin và cộng sự, 1997)
Sự hồi âm mạnh
Mô xương, vôi có độ cản âm rất lớn nên khi gặp loại mô này hầu hết sóng siêu
âm đều bị phản xạ ngược lại Trên ảnh siêu âm, mô này cho hình ảnh có độ hồi âm rất dày (rất sáng), ví dụ như sạn (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Sự giảm âm
Khi qua môi trường có độ cản âm cao thì phần sau sẽ nhận được ít tín hiệu siêu âm hơn xung quanh Ta thường gặp hiện tượng này trong trường hợp gan nhiễm
mỡ Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Hình 2.6 Hiện tượng giảm âm
Trang 26Sự tăng âm
Khi qua môi trường có độ cản âm thấp thì phần sau sẽ nhận được nhiều tín hiệu siêu âm hơn xung quanh, dẫn đến hiện tượng tăng âm là một dải xám sáng hẳn lên ngay trên cấu trúc (Nguyễn Thu Liên và cộng sự, 1998)
Hiện tượng dội lại (Đa âm phản hồi)
Hình ảnh xuất hiện trên màn hình siêu âm là một loạt hình ảnh giả của mặt phân cách với những khoảng cách đều nhau phía sau mặt phân cách thật với kích thước và
độ hồi âm nhỏ dần (Nguyễn Phước Bảo Quân,2002)
Thứ tự hồi âm
Thứ tự hồi âm tăng theo mô và vật chất cơ thể Hồi âm tăng dần theo thứ tự: mật – nước tiểu, vùng tủy thận, vùng vỏ thận, gan, mỡ dự trữ, lách, tiền liệt tuyến, xoang thận, cấu trúc mỡ - thành mạch máu, xương- hơi – vùng rìa tổ chức
Máu và dịch chất cho hình ảnh đen trên hình ảnh siêu âm vì có rất ít hồi âm Khi dịch chất bị vẩn đục do protein, tế bào, sợi mô liên kết tăng lên thì nó sẽ có hồi âm tăng
- Cắt liên sườn và dưới sườn
Trong siêu âm thú y, đường cắt, đường cắt liên sườn và dưới sườn thường rất ít được sử dụng
2.1.7 Tác dụng sinh học của siêu âm
Siêu âm sử dụng trong chẩn đoán không có hại gì cho thú và người kể cả những
tế bào non, cụ thể là:
- Đối với tế bào non: Khi phát gián đoạn một nguồn siêu âm có cường độ 2w/cm2, tần số 2 MHz qua não chó, sau 5 - 9 giờ, qua khảo sát không thấy tổn thương gì
Trang 27- Đối với cơ quan sinh dục: Phát một nguồn siêu âm có tần số 0.8 MHz chiếu
nhiều lần vào bộ phận sinh dục chó trong chu kỳ động dục, sau 15 phút cũng không gây ra thay đổi gì
- Đối với bào thai: Sử dụng sóng âm cường độ 40 NW/cm2, tần số 2.4 MHz chiếu vào chuột nhiều lần trong quá trình mang thai vẫn không làm thai bị biến dạng, chuột sinh sản bình thường, tỷ lệ chết sau khi sinh không tăng so với lô đối chứng
2
- Đối với máu: Sử dụng nguồn siêu âm liên tục với cường độ 12 mw/cm tác động lên hồng cầu có đánh dấu Chrom 51 Ta nhận thấy hồng cầu không bị thay đổi gì so với nhóm đối chứng
Tuy nhiên, nên sử dụng thời gian siêu âm vừa đủ để ghi nhận những thông tin, hình ảnh cần thiết và đồng thời duy trì cường độ siêu âm ở mức thấp nhất (nếu có thể) càng tốt
2.1.8 Các ưu - khuyết điểm của phương pháp siêu âm
Ưu điểm
- Không làm hư hại các tổ chức nội tạng
- Không gây chảy máu
- Quan sát các cơ quan trong trạng thái động ở thời gian thực
- Không cần chuẩn bị đặc biệt
- Có thể sử dụng trong lúc mổ
Khuyết điểm
- Sóng siêu âm có thể bị cản trở do xương, hơi trong bụng hoặc do mỡ quá dày
- Có góc chết ở một số vị trí làm không quan sát được tổn thương
- Đôi khi có khó khăn cho việc tiếp xúc da của đầu dò tạo nên hình ảnh các vòng tròn đồng tâm
Trang 282.1.9 Các sai lầm thường gặp khi sử dụng máy siêu âm
Siêu âm không bao giờ sai, chỉ có người đọc siêu âm sai Theo Nguyễn Thu Liên và cộng sự (1998), những sai lầm khi chẩn đoán bằng máy siêu âm có thể nằm trong hai nhóm:
(1) Nhóm lỗi kỹ thuật phụ thuộc vào kỹ năng sử dụng máy:
- Dùng máy sai mục đích
- Chọn sai đầu dò
- Chỉnh sai gain (gần/xa)
- Chọn các thông số không đúng
- Đo không chuẩn
(2) Nhóm lỗi nhận định phụ thuộc vào kinh nghiệm
2.2 Cơ thể học về các cơ quan được khảo sát trong siêu âm bụng tổng quát
2.2.1 Gan - mật
Hình dạng - Vị trí
Gan nằm trong và phía trước xoang bụng, tiếp xúc với mặt sau cơ hòanh , hơi nghiêng từ trên xuống và từ sau ra trước Mặt trước lồi, trơn láng gọi là mặt thành Mặt sau lồi lõm tiếp xúc với dạ dày, thận…gọi là mặt tạng
Gan được cố định nhờ các dây treo, cố định gan với cơ hòanh, đáy của xoang bụng, thận và dạ dày
Túi mật hình quả lê, nằm ở mặt tạng của gan
Ở chó, gan phân thành 6 thùy:
- Thùy phải: gồm 2 thùy: thùy trung phải (phía trước), thùy bên phải (ở sau)
- Thùy trái: gồm 2 thùy: thùy trung trái (phía trước), thùy bên trái (ở phía sau)
- Thùy vuông: phía trước
- Thùy sau: là thùy đuôi (Phan Quang Bá, 2004)
Trang 29
Túi mật Gan
Thận
Tim Túi mật
Chức năng của gan
Tham gia hầu hết các quá trình trao đổi chất như: trao đổi glucid, lipid, protid, vitamine, khóang… ngòai ra, gan còn là nơi dự trữ máu và năng lượng
Gan là kho dự trữ lipid rất lớn như phospholipids, cholesterone trong tế bào gan, các vitamine A, D, B1, K… được dự trữ ở gan
Gan là nơi sản xuất chất kháng đông như heparin đồng thời tham gia vào quá trình giải độc
Gan có chức năng chuyển hoá ammoniac thành ure
2.2.2 Lách
Hình dạng – Vị trí
Lách hình hơi giống lưỡi liềm với phần dưới rộng hơn, có màu nâu sẫm, không
có ống dẫn tiết Lách của chó khá lớn: dài 9,7 – 24cm; rộng 2,5 – 4,6cm; trọng lượng 8
- 147g (Nikel và các cộng sự, 1997) Tuy nhiên hình dạng, kích thước và vị trí của lách rất thay đổi tùy thuộc vào giống chó, tuổi tác, tầm vóc và sự chứa máu ở các mạch của lách
Lách nằm hòan tòan ở phía bên trái mặt phẳng giữa từ xương sườn số 11 - 13 Mặt ngòai lách lồi và phần lớn đối diện với sườn trái Mặt trong lõm theo chiều dọc và
Trang 30có một lằn dọc (gọi là tể) có mạch máu, dây thần kinh theo màng võng lớn dính vào (Lê Quang Thông, 1999)
Nyland và Mattoon (1995) cho rằng: lách nằm ở vị trí bên trái, lượn theo đường cong lớn của dạ dày Vị trí chính xác của lách rất thay đổi, phụ thuộc vào lượng hơi trong dạ dày và kích thước của những cơ quan khác trong xoang bụng Phía trên lách giáp với vùng cung sườn, thân và đuôi lách nằm dọc theo thành bụng trái hoặc ở sát bên thận trái
và ký sinh trùng trong máu
Lách thực hiện chức năng tạo hồng cầu khi tủy xương suy yếu, tham gia điều hòa lượng máu trong cơ thể
2.2.3 Thận
Hình dạng – Vị trí
Thận là cơ quan bài tiết nước tiểu, gồm hai quả, hình hạt đậu, có màu nâu đỏ, bọc trong là một màng trong suốt, thận nằm sát thành sau của bụng, dọc hai bên cột sống ở dưới miền thắt lưng Xung quanh thận là đám mỡ bao phủ quanh thận Phía ngoài đám mỡ quanh thận có lá cân bao bọc
Khối lượng thận trên chó thể trọng khỏang 10Kg là 15g Kích thước thận: dài 5,5cm ; rộng 3,5cm ; dày 2,5 cm
Thận trái: nằm dưới các đốt sống thắt lưng 2,3,4, sát động mạch chủ sau ở cạnh trong Mặt trước thận trái liên quan đến 4 cơ quan: lách - đuôi tụy – mặt sau dạ dày - kết tràng xuống
Trang 31Thận phải: nằm về phía phải và hơi ở phía trước hơn thận trái, ngang với ba đốt sống thắt lưng đầu tiên Tĩnh mạch chủ sau chạy sát phía trong thận này.Mặt trước thận phải liên quan đến 6 cơ quan: đọan tá tràng hướng hạ - đầu tụy – túi mật gan – manh tràng – kết tràng trên
Đào thải các sản phẩm dị hóa trong cơ thể như: ure, acid uric, creatinin…
Điều hòa huyết áp,khối lượng hồng cầu thông qua việc sản xuất Erythroprotein Điều hòa sự chuyển hóa Calci và các chuyển hóa khác
2.2.4 Bàng quang
Hình dạng – Vị trí
Bàng quang là một túi cơ, có kích thước rất thay đổi tùy thuộc vào lượng nước tiểu đang chứa.Nếu bàng rỗng, có dạng hình quả lê, nằm co lại hòan tòan trong xoang chậu Nếu bàng quang đầy, có dạng bầu dục, phần trước lấn vào khối ruột để đi vào xoang bụng
Bàng quang có ba dây treo: một dây treo giữa và hai dây treo bên Gần cổ bàng quang có hai ống dẫn tiểu mở vào hai bên, tạo với ống thoát tiểu thành một tam giác có đỉnh là của ống thoát tiểu (Evans và Christensen, 1979)
Trang 32Mặt dưới của bàng quang nằm trên sàn xoang chậu Mặt trên tiếp xúc với trực tràng, đọan cuối ống dẫn tinh, túi tinh nang (nếu là thú đực), với thân tử cung và âm đạo (nếu là thú cái)
Tiền liệt tuyến Bàng quang
Ống thóat tiểu
Hình 2.9 Cấu tạo của bàng quang (Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/cliented/anatomy) Chức năng:
Bàng quang nhận nước tiểu theo ống dẫn tiểu từ thận đổ xuống và chứa nước tiểu tại đó trước khi thải ra ngòai
2.2.5 Cơ quan sinh dục
- Cơ quan sinh dục đực: bao gồm dịch hoàn, phó dịch hoàn, ống dẫn tinh, tuyến
nhiếp hộ (tiền liệt tuyến) và dương vật Tuy nhiên, trên hình ảnh siêu âm của thú y, chúng ta chỉ mới có thể quan sát được tiền liệt tuyến (Phan Quang Bá, 2002)
Tất cả các loài đều có tiền liệt tuyến Ở chó, tuyến này rất phát triển Chó càng già thì tuyến này càng lớn (Nyland và Mattoon, 1995)
Tiền liệt tuyến nằm ở cổ bàng quang, đoạn đầu ống thoát tiểu và đổ dịch tiết vào ống này bằng các lỗ nhỏ Ống thoát tiểu chạy xuyên qua trung tâm của tuyến, chia tuyến thành hai thùy bên
Trang 33Chất tiết của tiền liệt tuyến có pH trung tính hoặc kiềm nhẹ, có mùi rất đặc biệt với tác dụng:
+ Pha loãng tinh dịch và tăng hoạt tính tinh trùng
+ Trung hòa độ acid trong niệu dục cũng như trung hòa CO2 do tinh trùng thải ra khi sử dụng glucose
Hình 2.10 Ví trí tiền liệt tuyến
(Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/cliented/anatomy)
- Cơ quan sinh dục cái: Cơ quan sinh dục cái gồm dây rộng, noãn sào, ống dẫn
trứng, tử cung, âm đạo, tiền đình và âm hộ
+ Buồng trứng (hay còn gọi là noãn sào) hình hạt đậu, nằm hai bên của xoang bụng Kích thước đối với chó khoảng 12,5kg; dài khoảng 1,5cm; rộng 0,7cm; sâu 0,5cm Kích thước buồng trứng thay đổi tùy thuộc trọng lượng cơ thể Chó có tầm vóc lớn thì buồng trứng lớn hơn của chó có tầm vóc nhỏ nhưng sự chênh lệch không quá 0,2cm (Phan Thị Kim Chi, 2003)
Cực trước của buồng trứng tiếp xúc với vòi Fallope, cực sau dính với sừng tử cung bằng dây tròn gọi là dây chằng noãn Buồng trứng bên phải nằm về phía trước so với buồng trứng bên trái và nằm khoảng đốt sống thắt lưng số 3 – 4 Buồng trứng bên trái nằm khoảng đốt sống thắt lưng số 3 – 5
Trang 34+ Tử cung: là một ống cơ rỗng, nằm phần lớn trong xoang bụng, phần sau nằm trong xoang chậu, chia làm ba phần:
• Sừng tử cung: gồm hai sừng, tiếp nối với ống dẫn trứng phía trước và thân tử cung phía sau Sừng tử cung nằm hoàn toàn trong xoang bụng Sừng tử cung bên phải thường dài hơn bên trái
• Thân tử cung: nằm trong xoang bụng và xoang chậu Mặt trên giáp với trực tràng, mặt dưới giáp với bàng quang
• Cổ tử cung: là phần thu hẹp phía sau của tử cung và nối với âm đạo
Tử cung dính vào vùng thắt lưng và thành của xoang chậu bằng hai nếp của phúc mạc gọi là dây rộng Kích thước của tử cung rất thay đổi, tùy thuộc vào tầm vóc của chó, số lần mang thai, tình trạng bệnh lý sinh sản và tình trạng chó có thai hay không (Nyland và Mattoon, 1995)
Ống dẫn tiểu Bàng quang
Trang 352.3 Kỹ thuật siêu âm
2.3.1 Hình ảnh siêu âm bình thường của gan - mật
Mô tả:
Để đánh giá kích thước gan, ta dựa trên tiêu chuẩn: khoảng cách giữa dạ dày và
cơ hòanh tăng hoặc sự di chuyển thùy đuôi của gan phủ qua mặt bụng của thận phải thì xem là gan to và ngược lại, khoảng cách giữa dạ dày và cơ hoành giảm hoặc thùy đuôi của gan không tiếp xúc với cực dưới của thận phải thì xem gan nhỏ so với bình thường
Túi mật bình thường qua mặt cắt dọc có dạng hình quả lê, phần lớn nhất là đáy
và thuôn nhỏ dần đến cổ túi mật, qua mặt cắt ngang có dạng hình tròn hoặc oval
Độ hồi âm:
Chủ mô gan đồng nhất trên tòan bộ nhu mô với mức độ hồi âm được hiển thị ở
độ xám trung bình Bình thường, hồi âm ở gan sẽ giống hay hơi dày hơn hồi âm vùng
vỏ của thận phải ở cùng một độ khảo sát Lách có hồi âm dày hơn gan Có sự khác biệt lớn về hồi âm giữa vùng vỏ thận trái và lách hơn là giữa vùng vỏ thận phải so với gan Những thay đổi về hồi âm sẽ là chứng cứ cho sự bất thường ở những cơ quan này (gan, lách, thận)
Đường bờ gan là đường hồi âm tương đối sáng, mỏng, trơn láng, uốn lượn theo hình dạng bên ngòai của gan
Thành túi mật lúc nhịn ăn tương đối mỏng, mức độ hồi âm vừa phải Lòng túi mật chứa dịch mật đơn thuần thì không tạo ra hồi âm Do bản chất dịch nên phía sau túi mật luôn xảy ra hiện tượng tăng cường âm
2.3.2 Hình ảnh siêu âm bình thường của lách
Lách có hình dạng như lưỡi liềm Cực trên và mặt trên ngòai lồi, giới hạn bởi mặt phân cách hơi trong nhu mô phổi Mặt phân cách này là một đường phản âm sáng Mặt trong và cực dưới giáp với thận trái
Một số dị dạng bẩm sinh của lách (tuy rất hiếm xảy ra) là: đa lách, không có lách, lách lạc chỗ, lách phụ
Đường bờ trơn láng, đều đặn, có hồi âm dày, sáng