THEO DÕI CÁC BIỂU HIỆN BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ HEO CON THEO MẸ TỪ KHI SINH RA ĐẾN 21 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI HEO HÒA HIỆP Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THANH SƠN Đề tài
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y
=== Y Z ===
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
THEO DÕI CÁC BIỂU HIỆN BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ HEO CON THEO MẸ
TỪ KHI SINH RA ĐẾN 21 NGÀY TUỔI
TẠI TRẠI HEO HÒA HIỆP
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S Nguyễn Thị Thu Năm Nguyễn Thanh Sơn
Lớp : BSTY Phú Yên Niên khóa : 2003 - 2008
Tháng 2 năm 2009
Trang 2THEO DÕI CÁC BIỂU HIỆN BỆNH THƯỜNG GẶP TRÊN HEO NÁI SAU KHI SINH VÀ HEO CON THEO MẸ
TỪ KHI SINH RA ĐẾN 21 NGÀY TUỔI
TẠI TRẠI HEO HÒA HIỆP
Sinh viên thực hiện:
NGUYỄN THANH SƠN
Đề tài được đệ trình để thi tốt nghiệp cấp bằng Bác sỹ ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn:
TH.S NGUYỄN THỊ THU NĂM
Tháng 2 năm 2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Ó Chân thành cảm ơn
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Quý Thầy Cô Bộ Môn Vi Sinh – Truyền Nhiễm
Tập thể quý thầy cô Trường Đại học Nông lâm đã hết lòng giúp đõ, truyền đạt kiến thức cho em trong những năm qua
SV Nguyễn Thanh Sơn
ii
Trang 4XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ và tên sinh viên thực tập: Nguyễn Thanh Sơn
Tên luận văn: “Theo dõi các biểu hiện bệnh thường gặp trên heo nái sau khi
sinh và heo con theo mẹ từ khi sinh ra đến 21 ngày tuổi tại trại heo Hòa Hiệp”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý
kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày
Giáo viên hướng dẫn
TH.S NGUYỄN THỊ THU NĂM
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài được thực hiện từ ngày 01/11/2008 đến ngày 01/01/2009 tại trại heo Hòa Hiệp thuộc tổ 8, ấp 5, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Theo dõi các biểu hiện bệnh thường gặp trên 19 heo nái sau khi sinh và 196 heo con theo mẹ từ khi sinh ra đến 21 ngày tuổi, kết quả khảo như sau:
Nhiệt độ chuồng nuôi là 29,3 0C, là khá cao so với tiêu chuẩn thích hợp dành cho nái đẻ
Số heo con sinh ra trên ổ là 10,34 ± 0,88 con/ổ, số heo con sinh ra còn sống trên ổ là 9,93 ± 0,74 con/ổ, trọng lượng bình quân heo con sinh ra còn sống trên ổ là 1,55 ± 0,12 kg/con
Số heo con cai sữa trên ổ là 9,66 ± 0,97 con/ổ, trọng lượng bình quân heo con cai sữa trên ổ là 7,06 ± 0,25 kg/con Tỷ lệ cai sữa đạt yêu cầu là 97 %
Giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con là 17,06 ± 0,20 kg/con
Nái sốt chiếm tỷ lệ 5,26 %, nái viêm tử cung là 21,05 %, nái mất sữa là 15,79
%, nái sót nhau, sót con là 5,26 %
Tổng số heo con bị bệnh chiếm tỷ lệ 27,04 % trong tổng số heo con khảo sát
Tỷ lệ heo con theo mẹ bị tiêu chảy chiếm 79,25 % trong tổng số heo con bị bệnh, tỷ lệ heo con theo mẹ bị viêm khớp chiếm 7,55 %, tỷ lệ heo con theo mẹ bị hô hấp chiếm 13,20 % Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên từng nhóm nái là 3,33 %
Kết quả điều trị trên tổng số ca mắc bệnh tại trại khỏi bệnh ở nhóm heo nái bị sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con là 100 % Ở nhóm heo con theo mẹ: bệnh tiêu chảy chiếm 85,71 %; bệnh viêm khớp chiếm 75 %; bệnh hô hấp chiếm 71,43 %
iv
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HEO HÒA HIỆP 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Chức năng của trại 3
2.1.3 Cơ cấu đàn 3
2.1.4 Hệ thống chuồng trại 3
2.1.5 Thức ăn 6
2.1.6 Vệ sinh thú y và quy trình phòng bệnh cho heo 10
2.1.6.1 Vệ sinh thú y 10
2.1.6.2 Quy trình phòng bệnh tổng đàn 11
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
2.2.1 Trên heo nái 13
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của heo nái 13
2.2.1.2 Một số biểu hiện bệnh thường gặp trên heo nái sau khi sinh 14
2.2.1.2.1 Sốt 14
2.2.1.2.2 Viêm tử cung 15
2.2.1.2.3 Kém sữa, mất sữa 16
2.2.1.2.4 Sót nhau, sót con 17
2.2.2 Trên heo con theo mẹ 18
2.2.2.1 Đặc điểm sinh lý của heo con theo mẹ 18
2.2.2.2 Một số biểu hiện bệnh thường gặp trên heo con theo mẹ 18
Trang 72.2.2.2.1 Tiêu chảy 18
2.2.2.2.2 Viêm khớp 19
2.2.2.2.3 Hô hấp 19
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 21
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 21
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT 21
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT 21
3.4 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 21
3.5 CÁC CHỈ TIÊU KHẢO SÁT 22
3.6 CÔNG THỨC TÍNH 22
3.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU 23
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 NHIỆT ĐỘ CHUỒNG NUÔI 24
4.2 NĂNG SUẤT SINH SẢN TRÊN NÁI THEO LỨA ĐẺ 25
4.2.1 Số heo con sinh ra 25
4.2.2 Số heo con sinh ra còn sống 26
4.2.3 Trọng lượng heo con sinh ra còn sống 27
4.2.4 Số heo con cai sữa 29
4.2.5 Trọng lượng heo con cai sữa 30
4.2.6 Giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con 32
4.3 BIỂU HIỆN BỆNH TRÊN HEO NÁI 33
4.3.1 Tỷ lệ sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con trên nái khảo sát.33 4.3.2 Tỷ lệ sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con theo lứa đẻ 34
4.4 BIỂU HIỆN BỆNH TRÊN HEO CON THEO MẸ 37
4.4.1 Tỷ lệ chung các biểu hiện bệnh xảy ra trên heo con theo mẹ 37
4.4.2 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo từng tính trạng nái 38
4.5 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI 39
4.6 KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠI TRẠI 43
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 KẾT LUẬN 44
5.2 ĐỀ NGHỊ 45
vi
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC 47
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các loại cám hỗn hợp được sử dụng 5
Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của từng loại cám hỗn hợp 8
Bảng 2.3:Quy trình thức ăn dành cho nái đẻ 9
Bảng 2.4: Quy trình thức ăn cho heo thịt giống tốt sử dụng từ 5 ngày tuổi đến khi xuất chuồng 10
Bảng 2.5: Quy trình thú y và tiêm phòng 12
Bảng 4.1: Nhiệt độ chuồng nuôi qua 3 tháng khảo sát 24
Bảng 4.2: Số heo con sinh ra trên ổ 25
Bảng 4.3: Số heo con sinh ra còn sống trên ổ 26
Bảng 4.4: Trọng lượng bình quân heo con sinh ra còn sống trên ổ 27
Bảng 4.5: Số heo con cai sữa trên ổ 29
Bảng 4.6: Trọng lượng bình quân heo con cai sữa trên ổ 31
Bảng 4.7: Giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con 32
Bảng 4.8: Tỷ lệ sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con trên nái khảo sát 33
Bảng 4.9: Tỷ lệ sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con theo lứa đẻ 34
Bảng 4.10: Tỷ lệ chung các biểu hiện bệnh xảy ra trên heo con theo mẹ 37
Bảng 4.11: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên từng nhóm nái 38
Bảng 4.12: Phương pháp điều trị tại trại heo Hòa Hiệp 40
Bảng 4.13: Kết quả điều trị trên tổng số các trường hợp bệnh 43
viii
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Số heo con sinh ra trên ổ 25
Biểu đồ 4.2: Số heo con sinh ra còn sống trên ổ 27
Biểu đồ 4.3: Trọng lượng bình quân heo con sinh ra còn sống trên ổ 28
Biểu đồ 4.4: Số heo con cai sữa trên ổ 30
Biểu đồ 4.5: Trọng lượng bình quân heo con cai sữa trên ổ 31
Biểu đồ 4.6: Giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con 32
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con trên nái khảo sát.33 Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ sốt, viêm tử cung, mất sữa, sót nhau, sót con theo lứa đẻ 35
Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ chung các biểu hiện bệnh xảy ra trên heo con theo mẹ 37
Biểu đồ 4.10: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy trên từng nhóm nái 39
Trang 11DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Cổng vào trại chăn nuôi heo Hòa Hiệp 4
Hình 2.2: Khu nái bầu và nái khô 4
Hình 2.3: Khu nái đẻ và nuôi con 5
Hình 2.4: Khu nuôi heo cai sữa và heo thịt 6
Hình 4.1: Heo nái bị viêm tử cung 36
Hình 4.2: Heo nái bị mất sữa 36
Hình 4.3: Heo con bị tiêu chảy 38
Hình 4.4: Heo con bị viêm khớp 42
Hình 4.5: Heo con bệnh hô hấp 42
x
Trang 12DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
FMD: Foot and Mouth Disease
PRRS: Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome
E.coli: Escherichia coli
Trang 13bộ, kỹ thuật cao ở các trang trại gia đình hay xí nghiệp, từ đó có thể đáp ứng nhu cầu
về số lượng, chất lượng cho người tiêu dùng trong và ngoài nước
Xuất phát từ các yếu tố trên, để có được sự thành công, con người không ngừng chọn lọc, cải tiến, áp dụng các biện pháp quản lý, lai tạo, nhân giống để tạo ra các giống có năng suất cao, dễ nuôi, sức đề kháng với bệnh tật tốt Bên cạnh đó, nhà chăn nuôi cần phải đề ra chiến lược hợp lý, chăm sóc dinh dưỡng, vệ sinh, môi trường, phát hiện kịp thời nguyên nhân gây bệnh từ đó có biện pháp điều trị hiệu quả, tránh lây lan mầm bệnh gây thiệt hại kinh tế Qua đó, việc theo dõi bệnh lý về mặt lâm sàng sẽ góp phần không nhỏ cho công tác chẩn đoán và điều trị Do vậy, việc khảo sát để đánh giá tình hình bệnh thường xảy ra trên heo nái sau khi sinh và heo con theo mẹ sẽ góp một phần quan trọng không nhỏ trong ngành chăn nuôi heo hiện nay
Được sự đồng ý và phân công của bộ môn Vi sinh truyền nhiễm, Khoa Chăn Nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, cùng với sự hướng
dẫn của Th.S Nguyễn Thị Thu Năm chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Theo dõi
các biểu hiện bệnh thường gặp trên heo nái sau khi sinh và heo con theo mẹ từ khi sinh ra đến 21 ngày tuổi tại trại heo Hòa Hiệp”
Trang 14- Ghi nhận năng suất sinh sản của đàn heo nái trong thời gian khảo sát
- Khảo sát yếu tố nhiệt độ chuồng nuôi ảnh hưởng đến sức khoẻ của heo mẹ và heo con
- Theo dõi cách điều trị và đánh giá hiệu quả điều trị tại trại
Trang 15Trại nằm trên địa bàn thuộc tổ 8, ấp 5, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
2.1.2 Chức năng của trại
Cung cấp heo con cai sữa, heo thịt thương phẩm cho thị trường trong và ngoài tỉnh
2.1.3 Cơ cấu đàn
Tính đến ngày 01/2/2009 tổng đàn heo của trại có 453 con bao gồm:
Đực giống : 1 con
Heo nái sinh sản : 75 con
Heo nái hậu bị : 25 con
Heo con theo mẹ : 112 con
Heo cai sữa : 77 con
Heo thịt thương phẩm : 163 con
2.1.4 Hệ thống chuồng trại
Trang 16Hình 2.1: Cổng vào trại chăn nuôi heo Hòa Hiệp
Tất cả trại heo gồm 4 khu: khu nái giống; khu nái bầu và nái khô; khu nái đẻ và nuôi con; khu nuôi heo cai sữa và heo thịt
Khu nái giống:
Heo nái giống được mua về chủ yếu từ công ty CP gồm các giống Yorkshire, Landrace x Yorkshire, Yorkshire x Landrace Dạng chuồng nền làm bằng xi măng, mái lợp tole, máng ăn tự động đặt ở giữa Chuồng có diện tích là 36 m2 (7,2 m x 5 m) chứa khoảng 25 giống; có ô chuồng cách ly heo bệnh
Khu nái bầu và nái khô:
Hình 2.2: Khu nái bầu và nái khô
Kiểu chuồng mái lợp tole, nền bêtông Dạng chuồng cá thể từng ô: gồm
Trang 17106 ô chia đều cho 2 dãy: trong đó 104 ô dành cho nái bầu và nái khô, mỗi ô có kích thước 0,6 m x 2,2 m; 2 ô còn lại dành cho heo đực với kích thước mỗi ô là 2 m x 2,2
m Máng ăn được làm bằng nhôm trãi dài phía trước ô chuồng, bên trong ngăn thành từng ô nhỏ Máng uống có núm cắn tự động
Khu nái đẻ và nuôi con:
Hình 2.3: Khu nái đẻ và nuôi con
Mái lợp tole, nền bê tông Trong chuồng được phân chia 4 dãy A, B, C, D; mỗi dãy gồm 7 ô (mỗi ô có kích thước là 1,8 m x 2,2 m); khu này được thiết kế theo dạng chuồng lồng: sàn bêtông cho heo mẹ và sàn nhựa dành cho heo con; sàn cách nền 0,4
m - 0,6 m , trong mỗi ô có lồng úm heo con làm bằng sắt với diện tích (0,8 – 1 m2), mỗi lồng úm có đèn sưởi ấm 75 w, máng ăn làm bằng tole, máng uống có núm cắn tự động dành cho heo mẹ riêng và heo con riêng Ở đây còn bố trí thêm 12 ô sắt với diện tích (3,96 m2) để dự bị
5
Trang 18Khu nuôi heo cai sữa và heo thịt:
Hình 2.4: Khu nuôi heo cai sữa và heo thịt
Đối với heo thịt được thiết kế theo dạng chuồng nền làm xi măng; mái lợp tole; máng ăn tự động; máng uống có núm cắn tự động và thiết kế thêm máng nước làm bằng xi măng dọc theo vách sau ô chuồng để cho heo tắm và chơi.Khu này được thiết
kế cho 500 heo thịt; gồm 20 ô, mỗi ô có diện tích 30 m2 (5 m x 6 m) cho 25 heo thịt Hiện tại, trại đang chuẩn bị xây dựng khu nuôi heo cai sữa riêng, trong khi chờ đợi trại tận dụng, bố trí thêm ô dạng chuồng lồng sắt, sàn nhựa cách nền 0,6 m - 0,8 m, mỗi ô
có diện tích 8 m2 (2 m x 4 m) dùng để nuôi heo cai sữa
Tất cả các khu không sử dụng hệ thống phun sương mà sử dụng nước phun trên mái tole Xung quanh từng khu đều có hệ thống bạt che tránh mưa tạt, gió lùa Mỗi khu thiết kế một buồn nước để pha thuốc rồi dẫn đến hệ thống nước uống tự động dành riêng cho heo
2.1.5 Thức ăn
Phần lớn thức ăn của trại được mua từ công ty CP, riêng thức ăn cho heo cai sữa và heo thịt thì trại mua nguyên liệu về tự trộn cho heo ăn
Trang 19553 Heo thịt (30 kg – 60 kg thể trọng)
Heo thịt siêu nạc (80 kg thể trọng - xuất chuồng) 553S Heo thịt (80 kg thể trọng - xuất chuồng)
566 Heo nái chửa (sau phối giống – 2 tuần trước khi đẻ)
567 Heo nái nuôi con (2 tuần trước khi đẻ - cai sữa)
567S Heo nái nuôi con giống tốt (2 tuần trước khi đẻ - phối giống)
Trang 20Bảng 2.2: Thành phần dinh dưỡng của từng loại cám hỗn hợp
0.8 - 1.0
0.8 - 1.0
0.75 - 1.0
1.0 - 2.0
0.9 - 1.0
0.9 - 1.0
P (tối thiểu) 0.6 0.6 0.6 0.6 0.6 0.8 0.7 0.7
Muối NaCl (%) 0.40 -
0.75
0.40 - 0.60
0.40 - 0.60
0.40 - 0.60
0.45 - 0.80
0.40 - 0.60
0.40 - 0.60
0.40 - 0.60 Năng lượng
Trang 21Bảng 2.3: Quy trình thức ăn dành cho nái đẻ
Mã số cám Thời gian Khẩu phần (kg/con/ngày)
Trước khi
Nuôi con 7 ngày trở lên Ăn tối đa (*)
Ngày cai sữa (21 ngày tuổi) Sáng cho ăn 0,5 kg
Chiều không cho ăn chuyển xuống
Ghi chú: (*): Khẩu phần heo nái ăn tối đa = (1% trọng lượng nái + 0,4 * số con nuôi)
Theo phòng kỹ thuật công ty CP thì ý nghĩa của bảng 2.3 là: để kiểm soát lượng
thức ăn của heo nái giúp heo nái dễ đẻ; Khi áp dụng theo quy trình này sẽ cải thiện
được năng suất: nếu ở trại quản lý tốt thì tăng 1%, ở trại quản lý kém thì tăng 0,5 % so
với không áp dụng quy trình kiểm soát thức ăn này
Trang 22Bảng 2.4: Quy trình thức ăn cho heo thịt giống tốt sử dụng từ 5 ngày tuổi đến khi
(Nguồn: Phòng kỹ thuật công ty CP)
Phòng kỹ thuật công ty CP khuyến cáo:
* Thời gian nuôi heo thịt : 5 – 6 tháng (20 tuần – 24 tuần tuổi)
* Khi chuyển cám này sang cám khác nên trộn theo tỷ lệ: 25:75; 50:50;
75:25 (ba ngày liên tục); sau đó chuyển sang hoàn toàn
* FCR tiêu chuẩn của heo thịt giống tốt thường là 2,4
2.1.6 Vệ sinh thú y và quy trình phòng bệnh cho heo
2.1.6.1 Vệ sinh thú y
Tất cả các phương tiện đi vào trại đều phải phun thuốc sát trùng Bố trí hố sát
trùng cổng ra vào trại, đầu dãy từng khu, thuốc sát trùng được thay mỗi ngày nhằm
đảm bảo vệ sinh phòng dịch và tránh lây lan mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác
Định kỳ sát trùng chuồng trại 2 – 3 lần/tuần bằng dung dịch Novadine 10% với
tỷ lệ pha loãng 1 : 500 Thường xuyên quét dọn hằng ngày, vệ sinh chuồng trại, tuỳ
theo thời tiết thay đổi mà tắm heo 1 lần/ngày hoặc không tắm
Trang 23Công nhân được trang bị quần áo, ủng bảo hộ trong lúc làm việc, hạn chế việc qua lại giữa các dãy chuồng Đối với khách tham quan, đều phải mặc quần áo bảo hộ riêng của trại rồi mới xuống chuồng dưới sự hướng dẫn của kỹ thuật viên hay công nhân trong trại
2.1.6.2 Quy trình phòng bệnh tổng đàn
Quy trình phòng bệnh tổng đàn tại trại heo Hòa Hiệp được thể hiện qua bảng 2.5
Trang 24Bảng 2.5: Quy trình thú y và tiêm phòng
1 Heo con theo mẹ 7
2 Heo con từ khi
cai sữa đến 60 ngày
Tụ huyết trùng
Viphavet NAVETCO NAVETCO
Aujesky
Viphavet NAVETCO Pfizer
Bệnh do Parvovirus và bệnh do
Leptospira
PRRS FMD
Aujesky
Pfizer
NAVETCO NAVETCO Pfizer
NAVETCO NAVETCO Pfizer
5 Nái nuôi con
(ngày sau khi sinh)
10
15
20
PRRS FMD
Tụ huyết trùng
NAVETCO NAVETCO NAVETCO
6 Nái dưỡng thai
(ngày sau khi phối
giống đậu thai)
Trang 252.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.2.1 Trên heo nái
2.2.1.1 Đặc điểm sinh lý sinh sản của heo nái
Heo là loài thú đa chu kỳ động dục Tuổi thành thục vào lúc 7 tháng tuổi nhưng
có thể kém hơn nếu dinh dưỡng kém Mỗi chu kỳ động dục khoảng 21 ngày, biến động
từ 11 – 41 ngày Thời gian động dục biến động từ 18 – 96 giờ, trung bình từ 40 – 46 giờ Sau khi cai sữa, chu kỳ động dục đầu tiên xảy ra sau đó 3 – 7 ngày Nhiều heo có thể động dục 1 – 3 ngày sau khi sinh con, nhưng đa số heo không có trứng rụng và không thụ thai Trứng rụng vào giai đoạn cuối của thời kỳ động dục Mỗi lần có thể có
10 – 25 trứng rụng (trung bình 16,4 trứng)
Khi nái mang thai thì hàm lượng estrogen được duy trì ở mức ổn định, chỉ trước vài ngày sinh thì hàm lượng kích thích tố này đột ngột tăng và giảm nhanh sau khi sinh Estrogen được phân tiết do buồng trứng hay vỏ thượng thận, dịch hoàn, nhau thai, có tác dụng làm tăng lượng nước, DNA, RNA, tăng tổng hợp prôtêin và hoạt tính của enzyme Estrogen còn làm phát triển da, tuyến vú, các cơ quan và làm tử cung thú cái mang thai cảm ứng với tác dụng của progesterol, oxytoxin, relaxine
Progesterone là một kích thích tố của sự mang thai vì làm cho lớp nội mạc của
tử cung dày lên và tuyến tử cung phát triển trước khi trứng thụ tinh đóng ổ trên thành
tử cung Progesterone còn ức chế sự vận động của tử cung trong thời gian mang thai Trong lúc mang thai, progesterone ức chế sự rụng trứng thông qua phản xạ ức chế sự phân tiết LH của não thuỳ trước Nếu nái mang thai thì hoàng thể hoạt động và progesterone duy trì ở mức cao Số thai trong tử cung không ảnh hưởng tới hàm lượng progesterone Nếu hàm lượng progesterone thấp sẽ dẫn đến xảy thai, tuy nhiên nếu cao thì không có nghĩa tỷ lệ sống của thai cao
Sự thay đổi tỷ lệ giữa estrogen và progesterone làm tử cung nhạy cảm với oxytoxin dẫn đến việc khơi mào cho sự sinh đẻ và sự tăng tiết prolactin
Trong suốt quá trình mang thai, nái cần cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng để tạo thành cơ, mỡ dự trữ cho cơ thể cũng như nuôi thai Do đó, ta cần thiết phải nuôi dưỡng tốt thú cái trong thời kỳ có mang
Thời kỳ đầu là thời kỳ phôi và thai còn nhỏ (kéo dài khoảng 60 ngày), sử dụng
ít dưỡng chất trong máu của mẹ, dưỡng chất còn lại nái dùng dể dự trữ tạo sữa sau
Trang 26này Nếu thiếu dưỡng chất sẽ gia tăng hiện tượng tiêu phôi, nái còn ít thai sống khi đẻ
mà chứa nhiều thai khô (thai gỗ) Tuy nhiên, nái thừa dưỡng chất cũng gây ảnh hưởng tiêu phôi và làm nái trở nên mập mạp, khó đẻ Vì vậy thức ăn phải cân bằng dưỡng chất, tránh dư năng lượng, chất béo, thiếu xơ gây táo bón
Trong giai đoạn thứ hai của thai kỳ, khoảng 54 – 55 ngày, thời kỳ này thai đã lớn sử dụng nhiều dưỡng chất trong máu của mẹ để phát triển, do đó thiếu dưỡng chất trong thức ăn của nái sẽ làm heo con sơ sinh nhỏ vóc, khó nuôi, tỷ lệ hao hụt cao Nhưng nếu quá dư thừa dưỡng chất làm thai sẽ tăng trọng nhiều, trở nên lớn vóc làm nái khó đẻ, đẻ không ra, phải can thiệp kéo thai, móc thai gây tổn thương bộ phận sinh dục làm nái viêm nhiễm, mất sữa hoặc bị nghẽn tắt ống sinh dục (cổ tử cung, ống dẫn trứng) trở nên vô sinh Trong khẩu phần ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai phải có ít nhất 5 – 7% chất xơ Lượng chất xơ này giúp ngăn ngừa hiện tượng táo bón cũng như làm nở rộng cơ quan tiêu hoá
Số thai đậu tuỳ thuộc vào số lượng trứng rụng, khối lượng bào thai sẽ lớn dần lên, nhất là ở giai đoạn 1/3 trong thời kỳ mang thai trở về sau Vì vậy việc cung cấp thức ăn để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng trong điều hoà cơ thể, tiết kích thích tố đủ hàm lượng là việc hết sức quan trọng trong chăn nuôi heo
2.2.1.2 Một số biểu hiện bệnh thường gặp trên heo nái sau khi sinh
2.2.1.2.1 Sốt
Theo Nguyễn Như Pho (2000), nếu phản ứng viêm là phản ứng cục bộ đối với thương tích, thì phản ứng sốt là phản ứng toàn diện của cơ thể, để đối phó lại với mầm bệnh Vậy sốt là phản ứng bảo vệ của cơ thể, sốt báo cho ta biết có mầm bệnh xâm nhập, và cơ thể đang chống lại tích cực
Sốt được phân thành 3 loại:
- Sốt nhẹ: thân nhiệt tăng dưới 10C
- Sốt vừa: thân nhiệt tăng 1 - 20C
- Sốt cao: thân nhiệt tăng trên 20C Triệu chứng của sốt đi đôi với thân nhiệt tăng co các triệu chứng sau:
- Da khô, niêm mạc khô và cương mạch
- Nhịp tim tăng
- Hô hấp nhanh và mạnh
Trang 27- Về tiêu hoá: thú giảm tính ngon miệng, giảm nhu động ruột, táo bón
- Về tiết niệu: nếu sốt cao, lượng nước tiểu giảm, vỡ hồng cầu, nên nước tiểu có màu đỏ, albumin xuất hiện trong nước tiểu
- Về thần kinh: Sốt nhẹ, thú uể oải; sốt quá cao thì thần kinh bị kích thích với các biểu hiện co giật, điên cuồng
Theo PGS.TS.Trần Thị Dân, thân nhiệt bình thường của heo là 38 – 400C Đo thân nhiệt cho heo ta thường đo nhiệt độ trực tràng hoặc âm đạo Nhiệt độ ở trực tràng không đặc trưng được nhiệt độ của cơ thể nhưng qua nó ta có thể biết được nhiệt độ cơ thể (ở miệng nhiệt độ thường thấp hơn nhiệt độ trực tràng 0,50C và ở nách thấp hơn nhiệt độ trực tràng là 10C) Nhiệt độ trung bình ở trực tràng của heo là 39,20C và biến động từ 38,7 – 39,80C
Trong trường hợp sốt nhẹ, cho uống đủ nước để phòng mất nước Trường hợp sốt vừa cũng cho uống đủ nước và có thể kèm theo thuốc hạ sốt liều nhẹ Trường hợp sốt cao ta phải hạ sốt bằng thuốc hoặc kèm theo các biện pháp giải nhiệt tích cực như làm mát cơ thể, và cần cấp nước, chất điện giải, nếu thấy cơ thể mất nhiều nước phải truyền dịch sinh lý
2.2.1.2.2 Viêm tử cung
Bệnh viêm tử cung ở heo nái là một trong những bệnh gây tổn thương đường sinh dục của heo nái sau khi sinh, có khả năng làm mất sữa, ảnh hưởng đến sự sinh sản, chậm động dục hay không thụ thai, có thể vô sinh
Theo Thạc sĩ Đặng Thanh Tùng (2006), có 7 nguyên nhân gây nên bệnh viêm
tử cung:
- Thứ nhất: là thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý Kiểu phần ăn của nái thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng rất lớn đến viêm tử cung Heo nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, gây viêm tử cung do xây xát Ngược lại nếu thiếu dinh dưỡng heo nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm tử cung Hàm lượng khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng không nhỏ, thiếu vitamin A sẽ gây sừng hoá niêm mạc, sót nhau
- Thứ hai: chính là hệ thống chăm sóc, quản lý vệ sinh Vệ sinh chuồng trại, tắm rửa sạch sẽ thân thể heo nái, thụt rửa tử cung khi sanh, sử dụng nước sạch làm giảm tỷ
lệ viêm tử cung
Trang 28- Yếu tố tiểu khí hậu chuồng trại là nguyên nhân thứ ba Thời tiết khí hậu quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ dễ đưa đến viêm tử cung
- Thứ tư: là yếu tố tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khoẻ Viêm tử cung dạng mủ lứa
đẻ thứ 1 và 2 chiếm 8,33% Trên 4 lứa 58,33% Heo nái già sức khoẻ kém, kế phát một
số bệnh nên sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ đưa đến viêm tử cung
- Thứ năm: là kích dục tố Oxytoxin có tác dụng kích thích co bóp tử cung tống sản dịch, nhau ra khỏi đường sinh dục làm giảm tỷ lệ viêm tử cung
- Thứ sáu: nhiễm trùng sau khi sinh
- Thứ bảy: là con đường xâm nhiễm Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi qua máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này
là sự kém nhu động của ruột và nhất là táo bón Xâm nhập có thể hướng từ ngoài vào
do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu cũng là nguyên nhân gây nhiễm
Triệu chứng của bệnh viêm tử cung được biểu hiện qua 3 dạng:
- Viêm dạng nhờn: là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi sinh 2- 3 ngày, niêm mạc
tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn, trong hoặc đục heo cợn có mùi tanh vài ngày sau khi dịch tiết dịch nhờn giảm lại đặc và hết hẳn Thú không sốt hoặc sốt nhẹ, thú vẫn cho con bú bình thường
- Viêm dạng mủ: là thể viêm nặng thường xuất hiện trên thú có thể trạng xấu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều, cũng có thể viêm tử cung dạng nhờn kế phát Thú cũng thường sốt 40- 410C, khát nước, kém ăn, nằm nhiều, tiểu ít, nước tiểu vàng, phân có màng nhầy, mệt mỏi, ít cho con bú hay đè con
- Viêm dạng mủ lẫn máu: là phản ứng ăn sâu vào lớp tử cung, tổn thương mạch mao quản gây chảy máu Các biểu hiện như viêm sền sệt có mủ lẫn máu mùi rất tanh, thân nhiệt rất cao sốt kéo dài, thú bỏ ăn, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thở nhiều, khát nước, mệt mỏi, kém phản xạ với bên ngoài đôi khi đè con Mặt khác thú có biểu hiện thần kinh suy nhược, thân nhiệt tăng, mạch tăng, thở hổn hển
2.2.1.2.3 Mất sữa
Viêm tử cung dạng mủ thường đưa đến chứng mất sữa hoặc các trường hợp sốt cao do các nguyên nhân gây bệnh khác như bệnh truyền nhiễm, viêm phổi …
Trang 29Sót nhau gây cho heo nái đẻ ăn uống kém, nhiệt độ tăng cao 40 – 410C trong 1
- 2 ngày, lượng sữa giảm, cắn con không cho con bú, cứ cong lưng rặn Mép âm môn
có chảy dịch màu đục lẫn màu đen và có những mảnh nhau đen hôi tanh Sót nhau hoàn toàn là toàn bộ nhau thai còn ở trong tử cung, sót nhau không hoàn toàn là một
bộ phận màng nhau thai còn dính chặt với niêm mạc tử cung, còn một phần nhau treo
lơ lửng ở mép âm môn
Những nguyên nhân gây ra bệnh sót nhau, sót con:
* Trong thời gian heo nái chửa, nhất là vào thời gian cuối, sự vận động không thích hợp, thức ăn thiếu Canxi và chất khoáng do đó cơ tử cung bị liệt, khi sinh tử cung co bóp yếu không đẩy thai và nhau ra được
* Heo nái quá gầy hoặc quá béo, đẻ nhiều lứa hoặc đẻ quá nhiều con, con quá
to, nước ối quá nhiều cũng làm cho tử cung dãn quá mức dẫn đến tử cung co bóp yếu sinh hiện tượng sót nhau
* Do niêm mạc tử cung viêm, dịch viêm tiết ra gây dính nhau với tử cung, khi sinh nhau sót trong tử cung
* Do sót mà nhau ra chưa hết, người đỡ đẻ kéo đứt để lại sót lại một ít
* Do heo con còn sót lại nằm sai vị trí nên tắt, không ra được
* Nhau mẹ và nhau con dính vào nhau do viêm núm nhau, do bệnh xảy thai
truyền nhiễm bởi vi trùng Bruccella hay vi khuẩn Vibrio fuctus, do cấu tạo núm nhau
làm cho nhau mẹ và nhau con liên kết với nhau chặt chẽ Khi tử cung co bóp yếu hơn bình thường thì dễ làm sót nhau (Lê Hồng Mận và Xuân Giao, 2006)
Trang 302.2.2 Trên heo con theo mẹ
2.2.2.1 Đặc điểm sinh lý của heo con theo mẹ
Khi mới sinh, cơ thể heo con chưa phát triển hoàn chỉnh về hệ tiêu hoá và hệ miễn dịch Trong dạ dày heo con thiếu HCL nên pepsinnozen tiết ra không trở thành men pepsin hoạt động được Khi thiếu pepsin, sữa mẹ không được tiêu hoá và bị kết tủa dưới dạng cazein, gây rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy phân màu trắng (màu của cazein chưa được tiêu hoá) Hơn nữa khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt của heo con chưa hoàn chỉnh, do vậy nó không kịp thích nghi với sự thay đổi bất thường thời tiết, khí hậu Mặt khác lượng mỡ dưới da của heo con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi, heo con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Do đó, để điều hoà thân nhiệt cho heo con thì nhiệt độ thích hợp ở chuồng nuôi nên là 28 – 340C
2.2.2.2 Một số biểu hiện bệnh thường gặp xảy ra trên heo con theo mẹ
2.2.2.2.1 Tiêu chảy
Theo Võ Văn Ninh (2001), tiêu chảy là một hiện tượng rối loạn tiêu hoá, thay vì nhu động của ruột diễn ra bình thường thì trở nên co thắt quá độ làm cho những chất chứa trong lòng ruột non, ruột già thải ra hậu môn quá nhanh, dưỡng chất không kịp tiêu hoá và ruột già chưa hấp thu được nước
Những nguyên nhân chủ yếu làm cho heo con bị tiêu chảy có thể kể như sau:
* Do điều kiện vệ sinh dinh dưỡng: nhân tố bẩm sinh do quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng heo mẹ không đầy đủ nhất là giai đoạn có chữa, heo mẹ bị thiếu chất dinh dưỡng: chất khoáng, nhất là Fe, Co, Ca, vitamin B12 làm bào thai phát triển kém, do
đó heo con mới sinh dễ bị tiêu chảy Đồng thời, heo con bú sữa mẹ kém phẩm chất dễ gây rối loạn trao đổi chất, thiếu khi bú sữa mẹ heo con rất cần nước, thiếu nước chúng
sẽ uống nước bẩn dễ gây tiêu chảy
* Do đặc điểm sinh lý ở heo con
* Do vi khuẩn đường ruột thường là kế phát Khi sức đề kháng của heo con
giảm, các vi khuẩn như E.coli, Samonella phát triển nhanh chóng gây bội nhiễm, tăng
động lực gây bệnh
* Do thiết kế chuồng trại không đúng kỹ thuật, ẩm ướt, mưa tạt, gió lùa, thiết kế máng ăn không phù hợp, độ thông thoáng kém Do sự biến đổi đột ngột của thời