GIỚI THIỆU 1.1 Mở đầu Công tác giống là một trong những khâu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, luôn được nông dân và chính quyền quan tâm. Trong đó, nhãn (Dimocarpus longan Lour.) là cây ăn trái nhiệt đới hiện diện khá lâu ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và được xếp vào loại cây ăn trái đặc sản của cả nước, trái nhãn có giá trị dinh dưỡng cao, dùng để ăn tươi và chế biến, có thị trường tiêu thụ rộng. Trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay, ngoài việc tuyển chọn hoặc lai tạo ra giống nhãn mới sinh trưởng và phát triển tốt, ít bị sâu bệnh, cho năng suất cao thì chất lượng là tiêu chí sống còn của sản phẩm trái cây tươi để đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu, là một vất đề cấp bách, là định hướng nghiên cứu cho các nhà chọn giống (Paull và Duarte, 2011). Việt Nam là một trong 3 nước có diện tích trồng nhãn đứng đầu thế giới sau Trung Quốc và Thái Lan, trái nhãn chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường trong nước, có khoảng 10% sản lượng nhãn của Việt Nam được xuất khẩu qua Trung Quốc dưới dạng tươi và sấy khô (Huang et al., 2005; Wong, 2000). Việc xuất khẩu nhãn đang bước đầu được phát triển, ngày 21/8/2015 với 2 tấn nhãn Lồng Hưng Yên đầu tiên đã được đóng gói và xuất khẩu qua Hoa Kỳ (Quỳnh Nga và Lan Anh, 2015). Đầu năm 2016, 100 tấn nhãn E-Daw đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp cũng được xuất khẩu qua Hoa Kỳ (VCA, 2016). Việc xuất khẩu nhãn qua các thị trường khó tính hứa hẹn sẽ làm tăng lợi nhuận của trái nhãn Việt Nam. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển thương mại nhãn luôn gặp nhiều hạn chế do chất lượng trái sau thu hoạch suy giảm nhanh bởi sự hóa nâu của vỏ trái và tuổi thọ rất ngắn, khoảng vài ngày ở nhiệt độ phòng (25 0 C) (Paull & Chen,1987). Để duy trì và ổn định chất lượng của trái cây trong thời gian dài thì phương pháp đông lạnh là biện pháp kỹ thuật tốt nhất để bảo quản (Trần Đức Ba và ctv., 2006; Nguyễn Xuân Phương, 2004). Do nhãn thuộc loại trái không có đỉnh hô hấp và rất mẫn cảm với tổn thương lạnh, đối với một số giống nhãn đang được trồng phổ biến hiện nay ở ĐBSCL (TDB, XCV, nhãn E-Daw, …), vỏ trái bị biến màu dẫn đến sũng nước và hóa nâu, thịt trái nhãn bị mềm nhũn và nhiều nước sau quá trình bảo quản là một vấn đề nan giải (Wang, 1998). Năm 2013, nhóm nghiên cứu tiếp cận với nhà vườn đã phát hiện được dòng nhãn mới tại đất giồng cát Bạc Liêu. Dòng nhãn này cho năng suất cao, trái rất to, hình cầu dẹt khác lạ, trái có cơm dày, vị ngọt, thơm, giòn và ít nước phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Bên cạnh đó, một đặc điểm đầy tiềm năng về dòng nhãn này là khả năng bảo quản đông lạnh trái. Dòng nhãn mới có thịt trái khô ráo, ít nước do đó sự hình thành tinh thể đá ít nên ít gây thiệt hại thịt trái, rất lợi thế trong bảo quản đông lạnh. Đến mùa thu hoạch, chủ nhà vườn, người tiêu dùng trong, ngoài tỉnh và ở nước ngoài (Hoa Kỳ) trữ lượng lớn trái nhãn dòng mới vào ngăn đông tủ lạnh gia đình để sử dụng được lâu, kết quả là đều có sự nhận định về chất lượng nổi trội của trái dòng nhãn mới sau khi trữ đông, thịt trái duy trì được độ cứng, thơm ngon, ít nhũn nước so với các trái cây cùng loại. Với những đặc tính trên, dòng nhãn mới đã được người dân trong vùng cũng như các tỉnh khác ưa chuộng nên đã triển khai nhân rộng và phát triển. Xuất phát từ những tiềm năng nổi trội của dòng nhãn mới và nhu cầu thực tế của thị trường; nhằm làm cơ sở khoa học cho định hướng triển khai nhân rộng và đăng ký phát triển dòng nhãn mới để đưa trái nhãn dòng mới này vươn cao, vươn xa trên thị trường nội địa và xuất khẩu, đề tài “Nghiên cứu đặc tính thực vật, nông học và đông lạnh trái của dòng nhãn mới phát hiện trên Giồng nhãn Bạc Liêu” cần được thực hiện là cần thiết và cấp bách. 1.2 Mục tiêu - Xác định và phân biệt được đặc điểm của giống và dấu phân tử ADN của dòng nhãn mới. - Đánh giá được sự sinh trưởng và phát triển của dòng nhãn mới ở các độ tuổi của cây, các phương pháp nhân giống vô tính và các vùng canh tác khác nhau. - Tìm ra biện pháp canh tác nâng cao khả năng đông lạnh trái của dòng nhãn mới.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN THỊ KIỀU
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH THỰC VẬT, NÔNG HỌC
VÀ ĐÔNG LẠNH TRÁI CỦA DÒNG NHÃN MỚI PHÁT HIỆN TRÊN GIỒNG NHÃN BẠC LIÊU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Cần Thơ, 2018
Trang 2tỷ lệ thịt chiếm 70,8%, thịt trái cứng giòn, khô ráo và ít nước (78%), cấu trúc
mô vững chắc phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và tiêu chuẩn xuất khẩu Dòng nhãn mới có dạng lá gần giống với nhãn Giồng Bạc Liêu (GBL) nhưng dạng trái thì tương đồng với nhãn Xuồng cơm vàng (XCV) Dòng nhãn mới có trình tự các nucleotide trên vùng gen ITS khác với giống nhãn GBL ở 2 vị trí
và nhãn XCV ở 3 vị trí Mối quan hệ di truyền của dòng nhãn mới gần với giống nhãn GBL hơn so với nhãn XCV Dòng nhãn mới sinh trưởng và phát triển mạnh, cây 10 năm tuổi có chu vi thân 0,92 m và năng suất đạt trên 70 kg/cây Tính đặc trưng của giống về hình dạng và màu sắc của hoa, lá, trái và thân không bị thay đổi theo độ tuổi cây, phương pháp NGVT và trồng trên các vùng canh tác khác nhau Nhân giống vô tính bằng phương pháp ghép đã làm tăng khả năng sinh trưởng và phát triển của cây so với trồng bằng nhánh chiết, trong đó gốc ghép Tiêu da bò (TDB) thể hiện ưu thế hơn gốc ghép XCV Trái của dòng nhãn mới có khả năng bảo quản đông lạnh tốt, trái vẫn còn chất lượng thương phẩm sau đông lạnh (ở -450C 30 phút và trữ đông ở -180C 30 ngày)
Cung cấp Calcium cho trái dạng CaCl2 (2,5%) 3 lần phun ở giai đoạn tiền thu hoạch (TTH) hay nhúng CaCl2 8% 20 phút sau thu hoạch (STH) làm tăng hàm lượng Calcium pectat trong trái, ổn định chất lượng trái trong bảo quản đông lạnh thông qua làm tăng độ cứng thịt trái, làm giảm rò rỉ ion qua màng tế bào, giảm thiệt hại mô thịt trái nhưng không làm giảm năng suất và chất lượng trái Biện pháp che gốc 10 tuần sau đậu trái (SĐT) đến thu hoạch (TH) làm giảm ẩm độ đất, cho hiệu quả tốt trong việc nâng cao khả năng bảo quản đông lạnh trái thông qua làm giảm hàm lượng nước thịt trái Biện pháp tác động kết
Trang 3hợp giữa che gốc 10 tuần SĐT đến TH với nhúng CaCl2 8% 20 phút STH đã nâng cao hiệu quả bảo quản đông lạnh trái
Từ khóa: Dòng nhãn mới, Dimocarpus longan Lour., chất lượng trái
nhãn, trái nhãn đông lạnh
Trang 4ABSTRACT The thesis on “A study on plant characteristics, agronomy, and fruit
freezing of a newly-discovered variety of longan in Bac Lieu longan planting Area” was conducted from 2013 to 2016 in Bac Lieu longan
planting area and the key coastal areas for planting longans such as Soc Trang, Tra Vinh, and Ben Tre The experiments were set to identify the characteristics of plant forms, agronomy, and ADN traces of the new variety
of longans; evaluate the growing and developing process of the new variety of longans based on the ages of the trees, different cloning and planting areas; look for methods of planting that enhance the ability to freeze a longan of the new variety
The results of the study identified the new variety of longans through some states that differ from each other on plant forms, agronomy, and ADN traces of the variety such as: big leaves, wide and oval leaves, and relatively opposite way of aranging leaflet/compound leafs, big inflorescence, spherical and flat fruit, higher left side, big fruit (21.6 g), thick pulp with flesh rate accounting for 70.8%, hard and crispy flesh which is dry and has little water (78%), firm tissue structures that suit customers' tastes and export standards
The new variety of longans has its form of leaves similar to Giong Bac Lieu longans (GBL), but its form of fruits is similar to that of Xuong com vang longans (XCV) The order of nucleotides on the ITS genes of the new variety
of longans differs from that of GBL variety of longans in 2 positions and XCV
in 3 positions The genetic relationship of the new variety of longans is more similar to GBL than XCV The new variety of longan grows and develops strongly; a ten-year-old tree has its circumference of 0.92 m and productivity
of over 70 kgs/tree The variety's features concerning shapes and colors of flowers, leaves, fruits and trunks do not change due to the age of the tree, cloning and planting in different areas Cloning by transplanting has strengthened the ability to grow and develop of the tree in comparison with
planting with grafted branch; In rootstock cloning, Tieu da bo (TDB) rootstock
prevails over XCV rootstock The fruits of the new variety of longans can be well stored in frozen zones The fruits still keep their trade quality after being frozen (in -45oC within 30 minutes and kept cold in -18oC within 30 days) Providing Calcium to CaCl2 fruit (2.5%) with 3 times of spraying in pre-harvest process (PHP) or dipping in CaCl2 8% within 20 minutes in post-harvest will raise the content of Ca-pectate in the fruit, stabilize the fruit quality in freezing conservation by strengthening the flesh solidity, reducing
Trang 5ion leak through cell walls, and reducing flesh and tissue damage but not fruit productivity and quality Covering roots within 10 weeks after seedling seeds (ASS) until harvest reduces soil moisture, brings about good effects in enhancing the capability to preserve fruits in frozen zones by reducing the water content in flesh The impact method combining covering roots within 10 weeks ASS until harvest with dipping in CaCl2 8% within 20 minutes in post-harvest collection improved the effect of freezing fruits
Key words: New variety of longan, Dimocarpus longan Lour., longan
quality, frozen longans
Trang 62.2 Đặc điểm một số giống nhãn được trồng phổ biến ở Việt Nam 5
Trang 72.3.5 Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phương pháp nhân
giống vô tính và tuổi cây đến sự sinh trưởng và phát triển của cây 20
2.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bảo quản đông lạnh 25 2.4.3 Kết quả nghiên cứu nâng cao khả năng bảo quản rau quả 32 2.4.4 Thị trường, những ưu điểm và hạn chế của trái nhãn đông lạnh 35
3.3.1 Đặc tính thực vật và nông học của dòng nhãn mới tại Bạc Liêu 45 3.3.2 Biện pháp canh tác nâng cao khả năng đông lạnh trái của dòng nhãn mới tại Bạc Liêu
48 3.4 Phương pháp canh tác nhãn chung trong các thí nghiệm 53 3.4.1 Bón phân gốc và phun thuốc bảo vệ thực vật 53
3.5 Phương pháp thu thập số liệu và phân tích các chỉ tiêu 54
3.5.2 Chỉ tiêu về hình thái thực vật và đặc tính nông học 55
4.1 Đặc tính thực vật và nông học của dòng nhãn mới tại Bạc Liêu 61 4.1.1 Nguồn gốc và xuất xứ của dòng nhãn mới tại Bạc Liêu 61 4.1.2 Đặc điểm về hình thái thực vật, nông học và dấu phân tử ADN của
dòng nhãn mới
62
Trang 84.1.3 Sự sinh trưởng và phát triển của dòng nhãn mới 68 4.2 Biện pháp canh tác nâng cao khả năng đông lạnh trái của dòng
nhãn mới
83
4.2.2 Biện pháp canh tác nâng cao khả năng đông lạnh trái của dòng nhãn
Trang 93.1: Đặc tính đất và nước vườn trồng nhãn tại Bạc Liêu 42 3.2: Đặc tính đất và nước vườn trồng nhãn tại Sóc Trăng 42 3.3: Đặc tính đất và nước vườn trồng nhãn tại Trà Vinh 43 3.4: Đặc tính đất và nước vườn trồng nhãn tại Bến Tre 44
3.5: Thang cấp độ hóa nâu vỏ trái nhãn (Jiang and Li, 2001) 59
3.6: Thang xác định cấp độ thiệt hại mô thịt trái nhãn (Jiang and Li, 2001) 60 4.1: Kích thước lá chét và lá kép của các giống nhãn khảo sát 62 4.2: Một số đặc điểm về hoa của các giống nhãn khảo sát 63 4.3: Kích thước của trái, hạt và tể trên các giống nhãn khảo sát 64 4.4: Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống nhãn khảo sát 65 4.5: Tỷ lệ các base A,T, G, C khi giải trình tự gen vùng ITS (620 bp) của 3
giống nhãn khảo sát
66 4.6: Kết quả về sâu bệnh hại chính trên cây nhãn và cách quản lý 68 4.7: Kích thước thân cánh của dòng nhãn mới ở các độ tuổi khác nhau 69 4.8: Một số chỉ tiêu về nông học và năng suất của trái nhãn dòng mới ở
4.10: Kích thước thân cành của cây dòng nhãn mới ở các phương pháp
nhân giống vô tính khác nhau
72
4.11: Kích thước lá kép và lá chét của dòng nhãn mới ở các phương pháp
nhân giống vô tính khác nhau
73
4.12: Kích thước trái, hạt và tể của dòng nhãn mới ở các phương pháp
nhân giống vô tính khác nhau
75
4.13: Một số chỉ tiêu về nông học, năng suất và chất lượng trái nhãn dòng
mới ở các phương pháp nhân giống vô tính khác nhau
76
4.14: Kích thước thân cành của dòng nhãn mới được trồng ở các vùng
canh tác khác nhau
78 4.15: Kích thước lá chét và lá kép của dòng nhãn mới được trồng 2 năm ở 80
Trang 10các vùng canh tác khác nhau
4.16: Một số chỉ tiêu nông học và chất lượng của trái dòng nhãn mới được
trồng 2 năm ở các vùng canh tác khác nhau
81
4.17: Các chỉ tiêu lý học của trái trên 3 giống nhãn thí nghiệm tại thời
điểm thu hoạch
83
4.18: Các chỉ tiêu hóa học trên thịt trái 3 giống nhãn thí nghiệm tại thời
4.19: Các chỉ tiêu cảm quan trên trái của 3 giống nhãn thí nghiệm tại thời
điểm thu hoạch
85
4.20: Một số chỉ tiêu về chất lượng thịt trái nhãn tại thời điểm 30 ngày sau
đông lạnh của 3 giống nhãn khảo sát
86
4.21: Sự sụt giảm về chất lượng trái tại 2 thời điểm bảo quản (30 ngày sau
đông lạnh và tại thời điểm thu hoạch) của 3 giống nhãn khảo sát
87
4.22: Chỉ số hóa nâu vỏ trái (%) ở 3 giống nhãn ở thời điểm 30 ngày sau
đông lạnh
88
4.23: Chỉ số thiệt hại mô thịt trái (%) của 3 giống nhãn thí nghiệm tại các
thời điểm quan sát
89
4.24: Tỷ lệ rụng trái nhãn (%) tại thời điểm thu hoạch ở các nghiệm thức
cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
91
4.25: Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lúc thu hoạch ở các nghiệm
thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
93
4.26: Màu sắc vỏ trái lúc thu hoạch ở các nghiệm thức cung cấp Calcium
giai đoạn tiền thu hoạch
94
4.27: Hàm lượng Ca-pectate (mg/100g) trong vỏ và thịt trái nhãn lúc thu
hoạch ở các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
95
4.28: Độ cứng thịt trái nhãn (kgf/cm2) lúc thu hoạch và 30 ngày sau đông
lạnh ở các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
98
4.29: Tỷ lệ rò rỉ ion thịt trái (%) lúc thu hoạch và 30 ngày sau đông lạnh ở
các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
99
4.30: Hàm lượng đường tổng số (%) thịt trái nhãn lúc thu hoạch và 30
ngày sau đông lạnh ở các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn
tiền thu hoạch
101
4.31: Tổng chất rắn hoà tan (TSS) và hàm lượng nước thịt trái lúc thu
hoạch và 30 ngày sau đông lạnh ở các nghiệm thức cung cấp Calcium
giai đoạn tiền thu hoạch
102
4.32: Hàm lượng axit tổng số (%) thịt trái nhãn lúc thu hoạch và 30 ngày
sau đông lạnh ở các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu
hoạch
103
4.33: Chỉ số hóa nâu vỏ trái nhãn tại thời điểm 30 ngày sau đông lạnh ở
các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
104
4.34: Chỉ số thiệt hại mô thịt trái nhãn lúc thu hoạch và 30 ngày sau đông
lạnh ở các nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
105
Trang 114.35: Hàm lượng Ca-pectate (mg/100 g) trong vỏ và thịt trái nhãn tại thời
điểm 30 ngày sau đông lạnh ở các nghiệm thức nhúng Calcium sau
thu hoạch
108
4.36: Độ cứng thịt trái nhãn (kgf/cm2) tại thời điểm 15 và 30 ngày sau
đông lạnh ở các nghiệm thức nhúng Calcium sau thu hoạch
110
4.37: Tỷ lệ rò rỉ ion (%) thịt trái nhãn tại thời điểm 15 và 30 ngày sau
đông lạnh ở các nghiệm thức nhúng Calcium sau thu hoạch
112
4.38: Tổng chất rắn hòa tan (TSS) và hàm lượng đường tổng số của trái
sau đông lạnh ở các nghiệm thức nhúng Calcium sau thu hoạch
113
4.39: Hàm lượng axit tổng số (TA) và hàm lượng nước thịt trái sau đông
lạnh ở các nghiệm thức nhúng Calcium sau thu hoạch
114
4.40: Chỉ số hóa nâu vỏ trái tại thời điểm 30 ngày sau đông lạnh ở các
nghiệm thức nhúng Calcium sau thu hoạch
116
4.41: Chỉ số thiệt hại mô thịt trái nhãn sau đông lạnh ở các nghiệm thức
nhúng Calcium sau thu hoạch
117
4.42: Tương quan giữa hàm lượng Ca-pectate thịt trái 15 ngày sau đông
lạnh với một số chỉ tiêu lý hóa học của trái ở 30 ngày sau đông lạnh
4.46: Các yếu tố cấu thành năng suất trái lúc thu hoạch ở các nghiệm thức
che gốc nhãn giai đoạn tiền thu hoạch
123
4.47: Màu sắc vỏ trái lúc thu hoạch ở các nghiệm thức che gốc giai đoạn
tiền thu hoạch
124
4.48: Hàm lượng nước, độ cứng và tỷ lệ rò rỉ ion của thịt trái lúc thu
hoạch ở các nghiệm thức che gốc nhãn giai đoạn tiền thu hoạch 125 4.49: Tổng chất rắn hòa tan (TSS), đường tổng số và axit tổng số của thịt
trái lúc thu hoạch ở các nghiệm thức che gốc nhãn giai đoạn tiền thu
hoạch
126
4.50: Một số chỉ tiêu lý hóa học của thịt trái lúc 30 ngày sau đông lạnh ở
các nghiệm thức che gốc nhãn giai đoạn tiền thu hoạch
127
4.51: Tương quan giữa hàm lượng nước thịt trái lúc thu hoạch với một số
chỉ tiêu lý hóa học của trái thời điểm 30 ngày sau đông lạnh
Trang 124.54: Màu sắc vỏ trái nhãn dòng mới tại thời điểm thu hoạch ở các nghiệm
Trang 13(a) Đông lạnh chậm; (b) Đông lạnh nhanh (Nguyễn Văn Mười, 2007)
26
2.4: Các dạng hình của tinh thể đá: (a)Tinh thể đá dạng hình sợi bọc xung
quanh tế bào; (b) Dạng hình sợi; (c) Dạng hình khối (Trần Đức Ba và
ctv., 2006)
26
2.5: Calcium tham gia trong cấu tạo vách tế bào thực vật 33
2.6: Trái nhãn được đóng gói bảo quản đông lạnh xuất khẩu: (a) Sản phẩm
Nhãn Xuồng Cơm Vàng của Việt Nam xuất khẩu; (b) Sản phẩm Nhãn
Edor của Thái Lan xuất khẩu
36
3.3: Địa điểm nghiên cứu tại tỉnh Bạc Liêu: Vùng đất Giồng cát trồng
nhãn tại xã Hiệp Thành, thành phố Bạc Liêu
41
3.4: Cây nhãn dòng mới khảo sát ở các độ tuổi khác nhau (a) Cây nhãn
dòng mới 10 năm tuổi; (b) Cây nhãn dòng mới 7 năm tuổi; (c) Cây
nhãn dòng mới 3 năm tuổi
46
3.5: Cây nhãn dòng mới 7 năm tuổi được nhân giống vô tính bằng các
phương pháp khác nhau: (a) Ghép trên gốc TDB; (b) Ghép trên gốc
3.7: Hình lá non nhãn bị cháy nám khi phun Calcium ở nồng độ cao (a)
Phun CaCl2 (3%); (b) Phun Ca(NO3)2 (2,5%)
50
3.8: Cách che gốc nhãn thí nghiệm làm giảm ẩm độ đất 52 3.9: Sản phẩm trái nhãn đông lạnh của thí nghiệm 57 3.10: Mô thịt trái nhãn ở 5 cấp: (a) cấp 1; (b) cấp 2; (c) cấp 3; (d) cấp 4;
(e) cấp 5
59
4.1: Sự khác biệt về lá và trái giữa các giống nhãn khảo sát 63
4.2: Trình tự Nucleotide của 3 giống nhãn khảo sát (đoạn từ 1 đến 61 có
chứa các vị trí base khác biệt)
66
4.4: Hình dạng, kích thước và màu sắc lá kép và lá chét của dòng nhãn mới
ở các phương pháp nhân giống vô tính khác nhau: a) DNM ghép trên
gốc TDB; b) DNM ghép trên gốc XCV; c) DNM trồng bằng nhánh
74
Trang 14chiết
4.5: Hình dạng, màu sắc và kích thước trái, hạt và dày thịt trái trên dòng
nhãn mới được nhân giống vô tính bằng các phương pháp khác nhau
76
4.6: Cây nhãn dòng mới trồng được 2 năm tại các vùng canh tác khác
nhau (a): Xã Hiệp Thành, TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (Đối chứng);
(b): Xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng; (c): Xã Ninh Thới,
huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh;((d): Xã Cái Mơn, huyện Chợ Lách,
tỉnh Bến Tre
79
4.7: Hình dạng, màu sắc và kích thước của trái, hạt và tỷ lệ thịt trái trên
dòng nhãn mới được trồng ở các vùng canh tác khác nhau
81
4.9: (a) Hình dạng và màu sắc trái; (b) Màu sắc thịt trái nhãn tại thời điểm
30 ngày sau đông lạnh
86
4.10: Mô thịt trái nhãn bị thiệt hại tại thời điểm thu hoạch và 30 ngày sau
đông lạnh của 3 giống nhãn thí nghiệm trên kính hiển vi ở vật kính
X40: (a, d) GBL; (b, e) DNM;(c, f) XCV
90
4.11: Khối lượng trái nhãn lúc ở các nghiệm thức cung cấp Calcium giai
đoạn tiền thu hoạch
92
4.12: Màu sắc vỏ trái nhãn ở các nghiệm thức trong thí nghiệm ĐC: phun
nước; NT1: Ca(NO3)2 phun 1 lần; NT2: Ca(NO3)2 phun 2 lần; NT3:
Ca(NO3)2 phun 3 lần; NT4: CaCl2 phun 1 lần; NT5: CaCl2 phun 2
lần; NT6: CaCl2 phun 3 lần
94
4.13: Hàm lượng Ca-pectate trong vỏ trái lúc thu hoạch ở các nghiệm thức
cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
96
4.14: Hàm lượng Ca-pectate trong thịt trái lúc thu hoạch ở các nghiệm
thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
97
4.15: Độ cứng thịt trái lúc thu hoạch ở các nghiệm thức cung cấp Calcium
giai đoạn tiền thu hoạch
98
4.16: Hàm lượng đường tổng số tại 30 ngày sau đông lạnh ở các nghiệm
thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
101
4.17: Vỏ trái ít bị hóa nâu ở các nghiệm thức phun caclium sau 2 giờ rã
đông (a) Các nghiệm thức phun Ca(NO3)2; (b) Các nghiệm thức phun
CaCl2; Phun 1 lần (NT2), 2 lần (NT3) và 3 lần (NT4); Đối chứng
phun nước (NT1)
104
4.18: Chỉ số thiệt hại mô thịt trái nhãn lúc 30 ngày sau đông lạnh ở các
nghiệm thức cung cấp Calcium giai đoạn tiền thu hoạch
106
4.19: Cấu trúc mô thịt trái nhãn bị thiệt hại tại thời điểm 30 ngày sau đông
lạnh (a) Nghiệm thức đối chứng phun nước; (b) Nghiệm thức CaCl 2
(2,5%) 3 lần phun
107
4.20: Độ cứng thịt trái nhãn tại thời điểm 15 ngày sau đông lạnh ở các
nghiệm thức nhúng Calcium sau thu hoạch
110
4.21: Tỷ lệ rò rỉ ion thịt trái nhãn tại 30 ngày SĐL ở các nghiệm thức
nhúng Calcium sau thu hoạch
112 4.22: Cấu trúc mô thịt trái nhãn dòng mới tại thời điểm 30 ngày sau đông 117
Trang 15lạnh (a) Đối chứng nhúng nước 20 phút; (b) Nhúng CaCl2 8% 20 phút
4.23: Quan hệ tương quan giữa rò rỉ ion qua màng tế bào và hàm lượng
Ca-pectate trong thịt trái tại 15 ngày sau đông lạnh
118
4.24: Năng suất trái dòng nhãn mới lúc thu hoạch ở các nghiệm thức che
gốc nhãn giai đoạn tiền thu hoạch (NT1) Không che gốc; (NT2) Che
gốc lúc 8 tuần SĐT; (NT3) Che gốc lúc 10 tuần SĐT; (NT4) Che gốc
lúc 12 tuần SĐT
123
4.25: Kích thước, màu sắc trái và dày thịt trái nhãn dòng mới lúc thu
hoạch ở các nghiệm thức che gốc nhãn giai đoạn tiền thu hoạch
124
4.26: Cấu trúc thịt trái nhãn dòng mới lúc 30 ngày sau đông lạnh ở các
nghiệm thức che gốc nhãn giai đoạn tiền thu hoạch
128
4.27: Cấu trúc thịt trái nhãn dòng mới tại thời điểm 30 ngày sau đông lạnh
ở các nghiệm thức tác động kết hợp khác nhau
133
Trang 16DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
AFLP Đa hình độ dài nhân bản chọn lọc Amplified Fragment
Length Polymorphism BNN & PTNN Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn -
CRD Bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn Completely Randomized
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
PCR Phản ứng chuỗi Polymerase Polymerase Chain Reaction RAPD DNA đa hình được nhân bản ngẫu nhiên Randomly Amplified
Polymorphic DNA RCBD Bố trí khối đầy đủ ngẫu nhiên Randomized Completely
Block Design
Trang 17TSS Tổng chất rắn hòa tan Total Soluble Solids
VCU Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng Value of Cultivation and Use VNCCAQMN Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam
Trang 18CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Mở đầu
Công tác giống là một trong những khâu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, luôn được nông dân và chính quyền quan tâm Trong đó, nhãn
(Dimocarpus longan Lour.) là cây ăn trái nhiệt đới hiện diện khá lâu ở vùng
Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) và được xếp vào loại cây ăn trái đặc sản của cả nước, trái nhãn có giá trị dinh dưỡng cao, dùng để ăn tươi và chế biến, có thị trường tiêu thụ rộng Trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay, ngoài việc tuyển chọn hoặc lai tạo ra giống nhãn mới sinh trưởng và phát triển tốt, ít bị sâu bệnh, cho năng suất cao thì chất lượng là tiêu chí sống còn của sản phẩm trái cây tươi để đủ sức cạnh tranh trên thị trường nội địa và xuất khẩu, là một vất đề cấp bách, là định hướng nghiên cứu cho các nhà chọn giống (Paull và Duarte, 2011)
Việt Nam là một trong 3 nước có diện tích trồng nhãn đứng đầu thế giới sau Trung Quốc và Thái Lan, trái nhãn chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường trong nước, có khoảng 10% sản lượng nhãn của Việt Nam được xuất khẩu qua
Trung Quốc dưới dạng tươi và sấy khô (Huang et al., 2005; Wong, 2000)
Việc xuất khẩu nhãn đang bước đầu được phát triển, ngày 21/8/2015 với 2 tấn nhãn Lồng Hưng Yên đầu tiên đã được đóng gói và xuất khẩu qua Hoa Kỳ (Quỳnh Nga và Lan Anh, 2015) Đầu năm 2016, 100 tấn nhãn E-Daw đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp cũng được xuất khẩu qua Hoa Kỳ (VCA, 2016) Việc xuất khẩu nhãn qua các thị trường khó tính hứa hẹn sẽ làm tăng lợi nhuận của trái nhãn Việt Nam Tuy nhiên, trong quá trình phát triển thương mại nhãn luôn gặp nhiều hạn chế do chất lượng trái sau thu hoạch suy giảm nhanh bởi
sự hóa nâu của vỏ trái và tuổi thọ rất ngắn, khoảng vài ngày ở nhiệt độ phòng (250C) (Paull & Chen,1987) Để duy trì và ổn định chất lượng của trái cây trong thời gian dài thì phương pháp đông lạnh là biện pháp kỹ thuật tốt nhất
để bảo quản (Trần Đức Ba và ctv., 2006; Nguyễn Xuân Phương, 2004) Do
nhãn thuộc loại trái không có đỉnh hô hấp và rất mẫn cảm với tổn thương lạnh, đối với một số giống nhãn đang được trồng phổ biến hiện nay ở ĐBSCL (TDB, XCV, nhãn E-Daw, …), vỏ trái bị biến màu dẫn đến sũng nước và hóa nâu, thịt trái nhãn bị mềm nhũn và nhiều nước sau quá trình bảo quản là một vấn đề nan giải (Wang, 1998)
Năm 2013, nhóm nghiên cứu tiếp cận với nhà vườn đã phát hiện được dòng nhãn mới tại đất giồng cát Bạc Liêu Dòng nhãn này cho năng suất cao, trái rất to, hình cầu dẹt khác lạ, trái có cơm dày, vị ngọt, thơm, giòn và ít nước
Trang 19phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Bên cạnh đó, một đặc điểm đầy tiềm năng về dòng nhãn này là khả năng bảo quản đông lạnh trái Dòng nhãn mới
có thịt trái khô ráo, ít nước do đó sự hình thành tinh thể đá ít nên ít gây thiệt hại thịt trái, rất lợi thế trong bảo quản đông lạnh Đến mùa thu hoạch, chủ nhà vườn, người tiêu dùng trong, ngoài tỉnh và ở nước ngoài (Hoa Kỳ) trữ lượng lớn trái nhãn dòng mới vào ngăn đông tủ lạnh gia đình để sử dụng được lâu, kết quả là đều có sự nhận định về chất lượng nổi trội của trái dòng nhãn mới sau khi trữ đông, thịt trái duy trì được độ cứng, thơm ngon, ít nhũn nước so với các trái cây cùng loại Với những đặc tính trên, dòng nhãn mới đã được người dân trong vùng cũng như các tỉnh khác ưa chuộng nên đã triển khai nhân rộng và phát triển
Xuất phát từ những tiềm năng nổi trội của dòng nhãn mới và nhu cầu thực tế của thị trường; nhằm làm cơ sở khoa học cho định hướng triển khai nhân rộng và đăng ký phát triển dòng nhãn mới để đưa trái nhãn dòng mới này vươn cao, vươn xa trên thị trường nội địa và xuất khẩu, đề tài “Nghiên cứu đặc tính thực vật, nông học và đông lạnh trái của dòng nhãn mới phát hiện trên Giồng nhãn Bạc Liêu” cần được thực hiện là cần thiết và cấp bách
1.2 Mục tiêu
- Xác định và phân biệt được đặc điểm của giống và dấu phân tử ADN của dòng nhãn mới
- Đánh giá được sự sinh trưởng và phát triển của dòng nhãn mới ở các
độ tuổi của cây, các phương pháp nhân giống vô tính và các vùng canh tác khác nhau
- Tìm ra biện pháp canh tác nâng cao khả năng đông lạnh trái của dòng nhãn mới
1.3 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát đặc tính thực vật, nông học và dấu phân tử ADN của dòng nhãn mới tại Bạc Liêu
- Khảo sát sự sinh trưởng và phát triển của dòng nhãn mới ở các độ tuổi của cây, các phương pháp nhân giống vô tính và các vùng canh tác khác nhau
- Phân tích xác định chất lượng trái và biện pháp canh tác tác động nâng cao khả năng đông lạnh trái của dòng nhãn mới tại Bạc Liêu
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu trên đối tượng dòng nhãn mới được phát hiện trên Giồng nhãn Bạc Liêu
Trang 201.5 Phạm vi nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu trong thời gian từ tháng 9/2013 đến tháng 9/2016 tại các tỉnh thuộc ĐBSCL như: Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh và Bến Tre
Luận án nghiên cứu đặc tính thực vật, nông học, sự sinh trưởng và phát triển dòng nhãn mới ở tuổi cây, phương pháp nhân giống vô tính và vùng canh tác khác nhau; Luận án nghiên cứu chất lượng trái, dấu phân tử ADN và đông lạnh trái của dòng nhãn mới
1.6 Tính mới, tính độc đáo, tính sáng tạo
Luận án xác định được một dòng nhãn mới có những đặc tính vượt trội
so với một số giống nhãn được trồng phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long, dòng nhãn có năng suất cao, trái lớn, thịt trái dày, cứng giòn, ít nước, thơm ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và tiêu chuẩn xuất khẩu, trái dòng nhãn mới sau quá trình bảo quản đông lạnh vẫn duy trì được chất lượng thương phẩm Đặc biệt, dòng nhãn mới này chưa phát hiện bị bệnh chổi rồng tròng quá trình nghiên cứu Luận án còn xác định được cung cấp Calcium cho trái dạng CaCl2 (2,5%) 3 lần phun ở giai đoạn TTH hay nhúng CaCl2 8% 20 phút STH, che gốc 10 tuần SĐT đến thu hoạch hoặc kết hợp giữa che gốc giai đoạn TTH (10 tuần SĐT đến thu hoạch) với cung cấp Calcium thời điểm STH (nhúng CaCl2 8% 20 phút) tác động có hiệu quả trong việc nâng cao khả năng bảo quản đông lạnh trái của dòng nhãn mới
Các giải pháp kỹ thuật được nghiên cứu ứng dụng nâng cao khả năng bảo quản đông lạnh trái đã thật sự mang lại hiệu quả, làm cơ sở tham khảo cho việc hoạch định chiến lược phát triển nhãn đông lạnh xuất khẩu ở Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc và sự phân bố của cây nhãn
Nhãn có tên khoa học là Dimocarpus longan Lour., ngoài ra còn được
dùng với tên Euphoria longana Lam và Nephelium longana Lam thuộc chi
Dimocarpus, họ Sapindaceae, bộ Sapindales, cùng họ với vải và chôm chôm
(Jiang et al., 2002; Rangkadilok et al., 2005)
Cây nhãn được trồng ở nhiều quốc gia, chủ yếu là ở các nước cận nhiệt
đới do loài cây này có các yêu cầu về điều kiện môi trường nhất định Trung
Quốc và Thái Lan là hai nước có sản lượng nhãn đứng đầu thế giới, kế đến là
Việt Nam (Anupunt and Sukhvibul, 2005; Nicholls, 2001; Subhadrabandhu
and Yapwattanaphun, 2001a; Huang et al., 2005) Cây nhãn tại Australia và
Hoa Kỳ được trồng nhưng với diện tích không đáng kể (Nicholls, 2001;
Campbell and Campbell, 2001)
Tại Trung Quốc, cây nhãn được trồng nhiều tại các tỉnh như Quảng
Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến và có hơn 400 giống nhãn được trồng với mục
đích sử dụng đơn lẻ Tuy nhiên, để phục vụ cho mục đích thương mại thì
Trung Quốc chỉ tập trung trồng một vài giống cho trái chín từ đầu tháng 8 đến
cuối tháng 9 (Huang et al., 2005; Liu and Ma, 2001) Trung Quốc là nơi có
diện tích và sản lượng nhãn đứng đầu thế giới và cũng là thị trường tiêu thụ
lớn nhất Nguồn gốc của cây nhãn cũng được cho là xuất phát từ đây, cụ thể là
tỉnh Vân Nam (Ke et al.,1994; Zhuang et al., 1998) Theo Huang et al (2005),
việc sử dụng hóa chất để sản xuất mùa nghịch tại Thái Lan có một số nhà
vườn Trung Quốc làm theo nhưng thành công vẫn còn hạn chế Vì vậy, Trung
Quốc vẫn nhập khẩu nhãn từ Thái Lan trong suốt mùa nghịch
Cây nhãn được cho rằng đến Thái Lan từ Trung Quốc từ những năm
1800, mặc dù ở Thái Lan cũng có những cây nhãn hoang dại hơn 200 năm
tuổi Nhãn được trồng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, nơi có khí hậu lạnh vào
mùa đông (Huang et al., 2005) Tại Thái Lan, diện tích trồng nhãn tăng từ
17.757 ha năm 1989 lên đến 52.971 ha năm 2000, phản ánh được nhu cầu cao
của loại trái cây này tạo ra do xuất khẩu và “E-Daw” (“Daw”) là giống phổ
biến nhất và chiếm 73% diện tích trồng (Huang et al., 2005) Nhãn là loại cây
ăn trái xuất khẩu đứng hàng đầu tại Thái Lan với giá trị lên đến 202 triệu USD
năm 2000 (khoảng 167.546 tấn), khoảng 50% sản lượng đó được xuất khẩu
dưới dạng trái tươi (98.950 tấn), sấy khô (55.900 tấn), đóng hộp (11.715 tấn)
hoặc đông lạnh (977 tấn) chủ yếu qua Hong Kong, Singapore, Malaysia và
Philippines Việc khám phá ra KClO3 gây cảm ứng ra hoa nhãn ở mùa nghịch
Trang 22làm mở rộng mùa vụ ra gần như quanh năm ở Thái Lan nên sản lượng xuất
khẩu sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới (Subhadrabandhu and
Yapwattanaphun, 2001a)
Cây nhãn xuất hiện tại Australia vào những năm 1800 và được trồng rải
rác dọc theo bờ biển miền Đông bang Queensland và phía Bắc bang New
South Wales tại độ cao 400 m so với mực nước biển (Menzel and McConchie,
1998) Sản lượng nhãn khoảng 1.000 tấn năm 2000 (Nicholls, 2001) Mùa vụ
thu hoạch kéo dài từ tháng 2 đến tháng 4 ở Bắc Phần lớn trái được bán ở các
thị trường trong nước và một phần nhỏ được xuất khẩu Khách hàng chính là
các gia đình Châu Á, chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong dân số Do đó, sản
lượng hiện tại hầu như đã bão hòa ở thị trường trong nước, với giá cả bị giảm
trong các năm khi sản lượng tăng Vì vậy, cần có kế hoạch dài hơn để mở
rộng sang các thị trường phi truyền thống Ngoài ra, thị trường trong nước còn
phải cạnh tranh với nhãn nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á
Tại Hoa Kỳ, cây nhãn xuất hiện vào những năm 1900, nhãn được trồng
chủ yếu ở bang Florida và Hawaii, cũng chủ yếu được phục vụ cho các cộng
đồng người Châu Á tại đây Việc cải tiến giống cũng đang được thực hiện,
chủ yếu bằng cách nhập khẩu các giống chất lượng cao từ Châu Á, chủ yếu
trái bán dạng tươi (Campbell and Campbell, 2001) Tại Indonesia cây nhãn
cũng được trồng và tập trung trên đảo Java (Poerwanto, 2005) Cây nhãn
không thích hợp trồng ở Malaysia, nhưng từ khi có các giống chịu nhiệt thì
cây nhãn đã có thể trồng tại đây Có bốn giống nhãn chính tại Malaysia là
“Isau”, “Sau”, “Kakus” và “Mata Kuching” (Wong, 2001) So với vải thì nhãn
ít phổ biến hơn và trái nhãn ít phổ biến bên ngoài châu Á, trái nhãn xuất hiện
tại các thị trường Châu Âu, Bắc Mỹ, Australia chủ yếu phục vụ cho cộng đồng
người Châu Á tại đây (Wong, 2000)
Ở Việt Nam, cây nhãn lâu đời nhất được tìm thấy ở tỉnh Hưng Yên trồng
cách đây hơn 300 năm (Vũ Công Hậu, 1999) Theo Tổng Cục Thống Kê
(2016), tổng diện tích nhãn tại Việt Nam vào năm 2014 là 75,5 nghìn ha, diện
tích cho sản phẩm 67,7 nghìn ha, đạt sản lượng 519,2 nghìn tấn; trong đó
ĐBSCL chiếm 70-80% diện tích nhãn cả nước, tập trung ở các tỉnh Tiền
Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ (Wong, 2000)
2.2 Đặc điểm một số giống nhãn được trồng phổ biến ở Việt Nam
Về đặc tính thực vật học và nông học của các giống nhãn đã được nhiều
tác giả xác định (Verheij anh Coronel, 1992; Phạm Hoàng Hộ, 1992; Tindall,
1994; Subhadrabandhu and Stern, 2005; Trần Thượng Tuấn và ctv., 1997; Trần
Thế Tục, 2004b) Tài liệu của IPGRI cũng đã mô tả các đặc tính của cây vải
Trang 23một loại cây cùng họ với cây nhãn (IPGRI, 2002) Năm 2013, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn (BNN&PTNT) cũng đã ban hành “Quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định của
giống nhãn”, quy chuẩn đã mô tả chi tiết về cách lấy chỉ tiêu và một vài đặc
điểm về thân, lá, hoa và trái của các giống nhãn được trồng phổ biến hiện nay ở
Việt Nam khá rõ ràng (BNN&PTNT, 2013)
Theo Viện Cây Ăn Quả Miền Nam (1997), ĐBSCL có ba nhóm nhãn
chính được người dân trồng: (i) nhóm nhãn Long có đặc điểm từ 6-9 lá chét
rộng và gần tròn, vỏ trái màu vàng sáng, cơm trái mềm, mỏng và nhiều nước,
hột lớn màu nâu đen, vỏ hột dễ bị nứt; (ii) nhóm nhãn Tiêu Da Bò có 10-13 lá
chét dài, chóp lá nhọn, hột nhỏ màu nâu đen, vỏ hột không bị nứt, vỏ trái màu
nâu tối, cơm trái dai; (iii) nhóm nhãn Giồng có 8-13 lá chét, chóp lá cong tròn,
lông mịn ở mặt dưới lá, vỏ trái màu nâu xanh sáng, cơm trái mỏng, hột màu
nâu đỏ
2.2.1 Đặc điểm giống nhãn Tiêu da bò
Theo kết quả điều tra của Viện NCCAQMN, nhãn TDB là giống được
trồng tại các tỉnh Nam bộ trên 20 năm, qua khảo sát cho thấy giống này có đặc
điểm tương tự như các giống được trồng tại Huế trên 50 năm nên rất có thể
đây là giống có nguồn gốc tại Huế và được du nhập vào các tỉnh Nam bộ, vì
vậy ở các tỉnh Nam bộ giống này còn có tên là "Tiêu Huế" (Nguyễn Minh
Châu và ctv., 1997) Theo Menzel et al (2005) nhãn Long và nhãn TDB được
trồng nhiều ở các tỉnh phía Nam Việt Nam, còn nhãn Lồng Hưng Yên được
trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc Cũng theo tác giả trên, ba giống nhãn gồm
nhãn Long, nhãn Tiêu Da Bò và nhãn Lồng Hưng Yên chiếm 70-80% sản
lượng nhãn của Việt Nam Trong thời gian gần đây diện tích nhãn TDB tăng
lên rất nhanh và được trồng nhiều ở Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng
Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước
Giống nhãn TDB có cây phát triển nhanh, sinh trưởng mạnh, tán hình
tròn, cây có cấu trúc vỏ thân hơi sần sùi, lá kép có 5 - 6 cặp lá chét, lá dạng
thon nhỏ và dài có tỷ lệ dài/rộng của lá chét là 3,2, đuôi lá hơi bầu Trái sai, số
trái trên chùm có thể lên đến 50 trái, dạng trái tròn đều, khi chín vỏ trái có màu
vàng như da bò, khối lượng trái trung bình 10 g/trái, tỷ lệ thịt trái cao, phần ăn
được khoảng 60% khối lượng trái, hạt nhỏ, thịt trái màu trắng đục, hơi dai, ráo
nước, lượng nước trong vừa phải, vỏ hạt không nứt, độ ngọt vừa phải, ít thơm,
chủ yếu dùng để ăn tươi, năng suất cao (Bảng 2.1) Đa số giống nhãn này được
trồng bằng nhánh chiết Đây là giống có nhiều triển vọng, nhược điểm của
giống nhãn này là rất mẫn cảm với bệnh chổi rồng và khi cây ra hoa đòi hỏi
phải xử lý bằng cách khoanh vỏ hay xử lý hóa chất chlorate kali nhưng có thể
Trang 24lợi dụng nhược điểm này để chủ động xử lý cây ra hoa theo ý muốn và có thể
thu hoạch ba vụ trên năm (Nguyễn Minh Châu và ctv., 1997; Menzel et al.,
2005)
2.2.2 Đặc điểm giống nhãn Xuồng cơm vàng
Giống nhãn XCV đã được chọn lọc giữ lại từ hàng chục năm nay, do dạng
trái có hình giống chiếc xuồng nên giống này có tên là nhãn xuồng Giống có
nguồn gốc tại Bà Rịa - Vũng Tàu trên 40 năm của vườn ông Phan Văn Tứ, hiện
được trồng nhiều tại Bà Rịa - Vũng Tàu và các tỉnh phía Nam như: Tiền Giang,
Vĩnh Long, Cần Thơ, (Trần Thế Tục, 2004a)
Theo Nguyễn Minh Châu và ctv (1997), nhãn XCV có thân cây sinh trưởng
trung bình, tán cây có hình vòm củ hành, cành mọc xuyên, lá nhỏ và hẹp, dạng
thuôn dài, đuôi lá tròn, bìa lá cong úp xuống, lá dạng dài có tỷ lệ dài/rộng của
lá chét là 3,6, lá kép có 8-10 lá chét, phát hoa dạng trung bình hơi xòe màu xanh
ngã vàng Trái màu vàng da bò, bề mặt vỏ trái có nhiều chấm nhỏ màu nâu
đen, khối lượng trái từ 16-25 g, độ dày thịt trái từ 5,5-6,2 mm, tỷ lệ ăn được
60-70% so với khối lượng trái Trong điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp đường
kính trái nhãn XCV có thể đạt 34 mm nếu được chăm sóc tốt, bón phân cân
đối Thịt trái màu trắng hanh vàng, ráo, giòn, vị ngọt, độ Brix 21-24%
Giống nhãn XCV dễ ra hoa trong điều kiện tự nhiên, kết quả khảo sát của
Trần Văn Hâu và Huỳnh Thanh Vũ (2008) cho thấy nhãn XCV 4 năm tuổi ra
hoa trong tháng 4, thu hoạch vào tháng 8 với tỷ lệ ra hoa trên 80%, trung bình
mỗi phát hoa có 1.514,2 hoa, trong đó có 20% là hoa cái và lưỡng tính Tỷ lệ
đậu trái tương đối thấp (13%) Rụng trái non tập trung trong giai đoạn 30 ngày
sau khi đậu trái, thu hoạch đạt 9,6 trái/chùm, trái có khối lượng 21,9 ± 0,5 g
Cây chiết cành cho trái sau khi trồng 1,5-2 năm, từ khi ra hoa đến khi thu
hoạch khoảng 4-4,5 tháng, cây 20 năm tuổi có thể thu hoạch từ 100-140
kg/cây/năm (Bùi Thị Mỹ Hồng, 2005)
So với nhãn TDB thì nhãn XCV cho số vụ thu hoạch trong năm ít hơn
nhưng về phẩm chất thì trái to hơn, cấu trúc thịt ngon hơn (Bảng 2.1) nên được
người tiêu dùng ưa chuộng và hiện nay giống nhãn này chưa bị nhiễm bệnh
chổi rồng Vì vậy mà diện tích trồng nhãn XCV càng ngày càng tăng, đặc biệt
phát triển mạnh ở vùng đất phù sa huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp
Trang 25Bảng 2.1: Đặc điểm nông học của 2 giống nhãn phổ biến ở Miền Nam (Nguyễn
Minh Châu và ctv., 1997)
Thu hoạch (lần/năm)
Tự nhiên 4-4,5 Xuồng, vai cao hơn cuống Vàng da bò
2,8-3,4 16-25 5,5-6,2 Trắng hanh vàng Ráo, dai, giòn 60-70
21-24 3,0-4,0
2-3 10-14,2 3-4,5 10-12 Vàng nâu lợt Phải xử lý
5 Tròn không đều Vàng da bò 1,8-2,4 8-12 4,5-5,5 Trắng đục Khá ráo, dai 50-55 20-23 1,8-2,4
2.2.3 Đặc điểm giống nhãn E-Daw
Nhãn E-Daw hay Daw là giống nhãn có nguồn gốc từ Thái Lan Đây
cũng là một trong những giống nhãn canh tác chính ở Thái Lan cùng với các
giống khác như Chompoo, Haew, Biew Kiew và được trồng nhiều ở phía Bắc
của Thái Lan, có khả năng kháng bệnh tốt, cho năng suất và thu nhập ổn định
(Menzel et al., 2005)
Các trung tâm giống nhập nhãn E-Daw về Việt Nam và bán cho người
trồng nhãn từ cuối thập niên 90 của thế kỷ 20 nhưng không phát triển được do
chưa hiểu về đặc tính sinh trưởng và phát triển của giống, chưa có biện pháp
kích thích ra hoa hiệu quả Trong những năm gần đây biện pháp kích thích ra
hoa bằng chlorate kali tỏ ra có hiệu quả nên giống nhãn này được trồng nhiều ở
huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang và Bến Tre
(Nguyễn Ngọc Đầy, 2009; Trần Văn Hâu và Đỗ Minh Huân, 2011)
Theo Nguyễn Ngọc Đầy (2009), nhãn E-Daw có 100% tán cây có dạng
hình vòm củ hành, lá kép có 5-7 lá chét, phiến lá thon nhỏ, đuôi lá nhọn (<300),
dạng lá dài có tỷ lệ dài/rộng của lá chét là 3,3, bề mặt láng, lá non có màu nâu
đỏ, sau đó phát triển thành màu xanh nhạt rồi đến màu xanh sậm
(Subhadrabandhu and Stern, 2005), góc cành so với thân chính là một góc
nghiêng khoảng 46 - 850 Theo khảo sát của Trần Văn Hâu và Đỗ Minh Huân
(2011), nhãn E-Daw có ba loại hoa là hoa đực, hoa cái và hoa lưỡng tính Tuy
Trang 26nhiên, hoa lưỡng tính chiếm tỷ lệ rất thấp (0,04%), trung bình có 2.279 hoa
trên một phát hoa, trong đó có 355 hoa cái, chiếm tỷ lệ 15,6% Số hoa trên phát
hoa tùy thuộc vào chiều dài của phát hoa Tỷ lệ hoa đực và hoa cái trên phát
hoa có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường (Manochai et al., 2005) và chất
điều hòa sinh trưởng thực vật (Trần Văn Hâu, 2009) Tuy nhiên, vẫn chưa có
nhiều nghiên cứu về tỷ lệ giữa hoa cái và hoa đực trên cây nhãn (Graves,
2009) Qua khảo sát của Nguyễn Ngọc Đầy (2009) cho thấy nhãn E-Daw có
phát hoa dài, số trái trên chùm cao, khi chín vỏ trái có màu vàng da bò sậm nên
người dân địa phương còn gọi là nhãn da bò Vĩnh Châu Trái nhỏ, khối lượng
trái khoảng 10 g, chất lượng thấp với độ Brix (20%), cơm dai, giòn tỷ lệ ăn
được chiếm 60%, lượng nước trong trái thấp, ít thơm có mùi hăn lạ, hột trung
bình Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Hâu và Đỗ Minh Huân
(2011) thì trái có khối lượng trung bình 11,2 g với tỷ lệ thịt trái 7,85 g, chiếm
tỷ lệ 70%, thịt trái có bề dày trung bình 6,6 mm, có độ Brix trung bình 18,04%,
điều này có thể do độ tuổi cây và điều kiện canh tác của hai vườn thí nghiệm
khác nhau Ở Thái Lan, Subhadrabandhu (1990) cũng cho biết khối lượng trái
nhãn trung bình từ 5-12 g và đường kính trái dao động từ 1,2 -3,0 cm thay đổi
theo giống và điều kiện canh tác Với các đặc điểm nông học này thì nhãn
E-Daw rất được ưa chuộng trong việc sấy khô xuất khẩu Nhãn E-E-Daw ra hoa
một vụ trong năm, thời điểm ra hoa của nhãn E-Daw thường vào tháng 11 - 12
và thu hoạch vào tháng 7- 8, năng suất cao Tuy nhiên, nhãn ra hoa tự nhiên rất
yếu, không đồng loạt, người dân canh tác phải xử lý ra hoa bằng hóa chất
TheoTrần Văn Hâu và Đỗ Minh Huân (2011), thời gian từ khi hoa nở đến khi
thu hoạch nhãn E-Daw khoảng 5 tháng Cây sinh trưởng và phát triển tốt trên
đất phù sa ven sông, đất thịt hay thịt pha cát (Nguyễn Minh Châu, 2009)
2.2.4 Đặc điểm giống nhãn Giồng Bạc Liêu
Giống nhãn Giồng có nguồn gốc từ Trung Quốc, được người Trung Quốc
khi di cư qua Việt Nam mang theo hai giống nhãn và được trồng đầu tiên trên
đất giồng cát của xã Hiệp Thành tỉnh Bạc Liêu đến nay có cây đã trên trăm
năm tuổi Người dân địa phương gọi hai giống nhãn đó là: “Su bít” và “Tu
huýt” cả hai giống nhãn đều thích nghi và phát triển rất tốt trên đất giồng cát,
nhất là giống nhãn Su bít có nghĩa là khô giòn theo tiếng Hoa và được nhiều
người ưa chuộng và họ không ngừng nhân rộng diện tích, giống Su bít cho trái
to, vỏ mỏng, cơm dày rất thơm và ngọt; còn giống Tu huýt thì trái nhỏ, hạt
nhỏ, nhưng cơm dày và ngọt
Khác với nhãn TDB và nhãn Long, nhãn GBL ra hoa tự nhiên một vụ
trong năm Hoa bắt đầu nở vào tháng 3, trái chín vào tháng 8 Lá kép có 4-5
cặp lá chét, phiến lá thon, hai bên mép lá quăn xuống dưới mút lá bầu, lá to, tỷ
Trang 27lệ kích thước dài/rộng của lá là 1,8, bề mặt láng màu xanh sậm Góc cành so
thân chính lớn do đó tán xòe rộng hơn giống khác Phát hoa dài, số trái trên
chùm cao, khối lượng trái nhỏ, quả chín vỏ có màu da bò nên người dân địa
phương còn gọi là nhãn Da bò Bạc Liêu, khối lượng quả trung bình 16 g, hạt
tương đối to, không nứt vỏ hạt, độ Brix thấp (20%), cơm dày, dai, giòn, tỷ lệ ăn
được chiếm 60%, lượng nước trong trái thấp, với các đặc điểm nông học này
nhãn GBL rất được ưa chuộng trong việc sấy khô xuất khẩu Biện pháp sấy
khô nhãn đã đem lại hiệu quả cao trong việc tồn trữ và bảo quản nhãn trong
thời gian dài, nhãn GBL tuy chất lượng trái không cao nhưng có ưu điểm là
cây mọc khỏe, thích nghi với đất xấu, đất có ảnh hưởng mặn, phèn hay đất
vùng đồi cao thiếu nước (Dương Minh và ctv., 1996; Phạm Chí Nguyện và
Nguyễn Bảo Vệ, 2008)
2.2.5 Đặc điểm giống nhãn Long
Nhãn Long được trồng phổ biến ở Cần Thơ, Sóc Trăng và Đồng Tháp
Trồng chủ yếu bằng chiết cành, đối với nhãn Long ra hoa hai vụ/năm, vụ chính
(vụ một) ra hoa tháng 3 dương lịch thu hoạch tháng 7, 8 dương lịch; vụ hai ra
hoa tháng 10, thu hoạch tháng 2, 3 dương lịch Vụ một năng suất thường cao
và ổn định hơn vụ hai Tốc độ phát triển thân lá của nhãn Long thường chậm
hơn nhãn TDB Trung bình cây nhãn 20 năm tuổi có chiều cao cây khoảng 10
m, tán cây 12 m, người dân ở đây ưa chuộng giống nhãn này vì trái to, khi chín
có màu vàng sáng, thịt trái mềm ngọt với mùi thơm lôi cuốn, nhãn Long kháng
được bệnh chổi rồng Bên cạnh những đặc điểm này nhãn Long có nhược điểm
là năng suất trung bình, năng suất hai vụ rất biến động, số trái trên chùm thấp,
trái có hột to, hột thường bị nứt, cơm mỏng, mềm, lượng nước chứa trong trái
cao làm trở ngại cho người ăn tươi đặc biệt trở ngại trong việc sấy khô và khó
bảo quản sau khi thu hoạch (Dương Minh và ctv., 1996)
2.2.6 Đặc điểm giống nhãn Lồng Hưng Yên
Theo kết quả đánh giá tập đoàn giống nhãn tại Viện nghiên cứu rau quả
bằng kỹ thuật RAPD và AFLP cho thấy các giống nhãn trồng ở miền Bắc
(nhãn Lồng, Cùi, Nước, Thóc, Đường Phèn, Trơ và Bàm Bàm) và miền Nam
(TDB, XCV, Xuồng cơm trắng và Bánh xe) khác biệt rất xa nhau về di truyền
Các giống miền Nam đa số là các giống địa phương không có nguồn gốc nhập
nội Trong khi các giống nhãn nhập nội (từ Thái Lan, Singapore, Đài Loan,
Trung Quốc) đều không có khác biệt di truyền nhiều so với các giống nhãn ở
miền Bắc (Đặng Thị Vân và ctv . , 2004)
Ở miền Bắc, nhãn có rất nhiều loại dựa vào màu sắc và mùi vị mà được
đặt với các tên khác nhau như nhãn nước, nhãn cùi, nhãn đường phèn, nhãn
Trang 28Thóc, nhãn Lồng, Nhưng chỉ có nhãn Lồng (giống nhãn xuất phát từ Hưng
Yên) là ngon nhất, loại nhãn này trái to hơn các giống khác ở miền Bắc, khối
lượng trung bình đạt 11-12 g/trái, trái to có thể đạt 14-15 g, quả nhỏ 7-8 g/trái,
tuy nhiên khối lượng trái còn phụ thuộc vào sức sinh trưởng của cây và số quả
trên cây, vỏ trái có màu vàng sậm, thường dày và có gai, giòn, độ dày trung
bình đạt 0,8 mm, trái trên chùm nhãn Lồng thường có kích thước khá đều
nhau Thịt trái dày và khô, hạt nhỏ màu nâu đen, độ bám giữa thịt trái và hạt,
giữa thịt trái và vỏ yếu, tỷ lệ thịt/quả đạt trung bình 62,7% cao hơn các giống
nhãn khác trừ nhãn cùi điếc, trái chín ăn giòn ngọt đậm, vị thơm ngọt như
đường phèn Đặc điểm của nhãn Lồng là các múi chồng lên nhau ở phía đỉnh
trái, trên mặt ngoài thịt trái hình thành các nếp nhăn Ngoại trừ một tỉ lệ diện
tích nhãn chất lượng cao như nhãn Lồng dùng để bán quả tươi, thì khoảng 70%
diện tích nhãn ở miền Bắc hiện nay có chất lượng thấp, chỉ dùng để chế biến
thành nhãn khô (Trần Thế Tục, 2004a)
2.2.7 Đặc điểm giống nhãn Cùi
Nhãn Cùi là giống nhãn được trồng phổ biến, có khối lượng trái trung
bình đạt 8,5 g/trái (khoảng 120 trái/kg) Trái có hình cầu hơi dẹt, vỏ màu nâu
vàng, không sáng màu Độ ngọt thơm của trái kém hơn nhãn lồng Độ dày của
vỏ trái trung bình 0,5 mm Tỷ lệ phần ăn được đạt 58% Nhãn cùi chủ yếu để
sấy khô làm long nhãn dùng cho xuất khẩu Về giá trị kinh tế kém hơn so với
nhãn lồng (Trần Thế Tục, 1999)
2.2.8 Các dòng nhãn lai
Dòng nhãn lai NL1-23: Đây là con lai của tổ hợp lai bố là giống nhãn
Xuồng cơm vàng và mẹ là giống nhãn TDB với các đặc điểm nổi bật được ghi
nhận như cây sinh trưởng mạnh, tán lá dày, phiến lá to dài, thời gian từ ra hoa
đến thu hoạch là 145-160 ngày, tỷ lệ đậu trái 79,8-80,5%, khối lượng trái 16 g,
dày thịt trái 6,7 mm, rất ngọt có độ Brix 23,8%, tỷ lệ phần ăn được 60,8%
Năng suất của giống nhãn này đạt 60,5 kg/cây/năm (Đào Thị Bé Bảy và ctv.,
2015)
Dòng nhãn lai NL1-19: Đây là con lai của tổ hợp lai bố là giống nhãn
TDB và mẹ Xuồng cơm vàng, cây có đặc tính sinh trưởng khá tốt, hình thái
cây, lá giống nhãn TDB, tỷ lệ rụng trái thấp 30%, khối lượng trái 16,2 g, cao
hơn rất nhiều so với giống TDB, thịt trái dày 5,5 mm, có độ Brix 23,8%, tỷ lệ
phần ăn được 60,3% (Đào Thị Bé Bảy và ctv., 2015)
Trang 292.3 Kỹ thuật canh tác nhãn
2.3.1 Chọn giống
Công tác chọn giống cây trồng là một trong những yếu tố hàng đầu quyết
định sự thành bại trong xuất khẩu cũng như tiêu thụ nội địa Cần chú trọng
chọn và nhân giống các dòng tốt, sạch bệnh cho sản xuất đại trà Giống được
chọn là những giống không những ưu tú về chất lượng, hình dạng mà còn phải
có năng suất cao và ổn định Đó là tiêu chuẩn hàng đầu của công tác chọn
giống (Trần Đình Long, 1997) Tôn Thất Trình (2000) cho rằng khi lựa chọn
các giống phù hợp với xuất khẩu nên chú ý vào các chỉ tiêu: cơm trái có nhiều
nước hay xốp, mùi vị thơm nhiều hay ít và tỷ lệ cơm ở trái cao, dễ bóc vỏ là
những chỉ tiêu quan trọng phù hợp với xuất khẩu
Vũ Công Hậu (1999) cho rằng chọn giống phải chú ý hai điểm chính là:
(1) tính thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương và (2) đáp ứng được yêu
cầu của thị trường Vì việc chọn ra cây đầu dòng có năng suất cao, phẩm chất
tốt là rất cần thiết Tiêu chuẩn cây đầu dòng đối với nhãn là cây đại diện cho
một dòng của giống mang những đặc tính tốt, đặc trưng so với cây quần thể để
thu mắc tháp, cành chiết Cây đầu dòng cần thỏa mãn những ưu điểm sau: Cây
đầu dòng có những đặc điểm hình thái đặc trưng của giống; Năng suất trung
bình của cây đầu dòng phải cao ít nhất bằng năng suất trong tiêu chuẩn chọn
cây đầu dòng (cây mẹ) và ổn định ít nhất 3 năm; Phẩm chất ngon, quả to, cơm
dày, hột nhỏ, có hương thơm, hàm lượng chất tan cao
Tại Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan và Bang Florida đã tuyển chọn
giống nhãn phát triển phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và xuất khẩu theo
hướng trái to, cơm nhiều, mùi vị hấp dẫn, cơm giòn, ít nước, hàm lượng đường
cao, có năng suất cao và ổn định, giống có thời gian thu hoạch kéo dài và có
thể tồn trữ lâu vẫn giữ được chất lượng của trái (Menzel et al., 1990) Tôn
Thất Trình (2000) cho rằng khi lựa chọn các giống phù hợp với xuất khẩu nên
chú ý vào các chỉ tiêu: cơm trái có nhiều nước hay xốp, mùi vị thơm nhiều hay
ít và tỷ lệ cơm ở trái cao, dễ bóc vỏ là những chỉ tiêu quan trọng phù hợp với
xuất khẩu cụ thể như cần có trái to, đường kính trái từ 2,5 cm trở lên, khối
lượng trái nặng từ 15-16 g trở lên, độ đường ở cơm nhãn cao từ 19-20% Tỷ lệ
cơm ở trái phải đạt khoảng 70-75% trái (cơm dày, hột nhỏ)
Hiện nay, có nhiều giống nhãn được trồng phổ biến ở các tỉnh thành trong
nước: như nhãn TDB, XCV, E-Daw, Giồng Tuy nhiên, giống nhãn được
người dân đánh giá là trái có chất lượng cao là nhãn XCV, giống có phẩm chất
ngọt, thơm ngon, thịt quả dày, tỷ lệ ăn được cao, hạt nhỏ, chống chịu được
bệnh chổi rồng nên được người dân ưa chuộng, với các đặc điểm này của giống
cũng là định hướng mà các quốc gia trồng nhãn khác trên thế giới hướng tới
Trang 302.3.2 Kỹ thuật trồng
2.3.2.1 Chuẩn bị đất trồng
Cây nhãn được trồng vào mùa mưa, khoảng tháng 5-6 dương lịch Trồng
nhãn trên mô đất, mô đất đắp thành hình tròn rộng 60-80 cm, cao 50-70 cm
Đất trong mô trộn với 10-15 kg phân chuồng hoai và tro trấu, 0,5 kg phân lân
và chuẩn bị mô từ 15-30 ngày trước khi trồng Do đất ở ĐBSCL thấp nên
trồng cây ăn trái phải đào mương, lên liếp Tùy theo độ cao của vườn mà đào
mương sâu hay cạn, liếp rộng hay hẹp Thường liếp rộng 8 m, mương rộng 3-4
m, sâu 1-2 m (Lê Thanh Phong, 2000) Tuy nhiên, đối với các vùng đất dốc,
đồi núi hay đất giồng cát thì không cần đào mương lên liếp mà chỉ xẻ rảnh
thoát nước và chuẩn bị mô trồng cũng không cần cao
2.3.2.2 Mật độ trồng và cách trồng
Vấn đề mật độ trồng cây thường được tranh luận và trên thế giới người ta
trồng cùng một giống nhưng với các mật độ khác nhau Xác định khoảng cách
và mật độ trồng hợp lý còn phụ thuộc vào những vấn đề như: diện tích đất lớn
hay nhỏ, đất tốt hay xấu, khả năng đầu tư về phân bón, nước tưới, thời gian
khai thác vườn trái ngắn hay dài, … Trần Thế Tục (2004a) cho rằng nên trồng
nhãn với khoảng cách 8x8 m đối với đất tốt vùng đồng bằng, còn vùng đồi núi
trồng với khoảng cách 7x7 m hay 6x7 m Mật độ trồng nhãn thực tế ở các
vườn thuộc ĐBSCL cũng thay đổi từ 4-8 m Tùy theo giống, đất trồng và mô
hình trồng, có thể chọn khoảng cách thích hợp là 5 x 5 m, 6 x 6 m, 8 x 8 m
(Dương Minh và ctv., 2001) Cách trồng: Khoét lỗ trên mô vừa với bầu cây
con, nhẹ nhàng xé bỏ bọc nylon rồi đặt bầu cây vào lỗ sao cho cổ rễ bằng hoặc
thấp hơn mặt đất 2-3 cm, lấp đất lại vừa khuất mặt bầu, ém đất xung quanh
gốc, cắm cọc buộc cây con vào (để tránh rễ bị lung lay dễ làm đứt rễ, cây con
phát triển kém, nếu đứt nhiều rễ, cây sẽ chết) và tưới đẫm nước, sau đó thường
xuyên giữ ẩm cho cây (Lê Thanh Phong, 2000)
2.3.3 Chăm sóc
2.3.3.1 Đắp mô, bồi liếp
Trong hai năm đầu, hàng năm cần đắp thêm đất khô vào chân mô, giúp
mô cao hơn, rộng hơn Tới năm thứ ba trở đi, hàng năm nên vét bùn non ở đáy
mương bồi thêm một lớp mỏng 2-3 cm ngay sau khi làm gốc, bón phân, nếu
trồng nhãn trên đất thịt pha sét thì hàng năm nên bón thêm phân hữu cơ giúp
đất thông thoáng hơn, tạo điều kiện tốt cho bộ rễ phát triển (Lê Thanh Phong,
2000; Trần Thế Tục, 2004a)
Trang 312.3.3.2 Làm cỏ, xới xáo
Cần thường xuyên làm cỏ để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, hạn chế sự cư
trú, xâm nhập của sâu bệnh gây hại Kết hợp xới xáo đất giúp đất thông thoáng
nhằm giúp bộ rễ tăng cường trao đổi chất, không dùng cuốc lưỡi và không xới
sâu vì làm tổn thương bộ rễ Tuyệt đối không diệt cỏ bằng các hóa chất trong
vườn nhãn nói riêng và vườn cây ăn trái nói chung (Lê Thanh Phong, 2000;
Trần Thế Tục (2004a)
2.3.3.3 Tưới, tiêu nước
Nhãn rất cần nước, nếu được tưới đầy đủ nhãn sẽ phát triển nhanh, ra
hoa, kết trái tốt Nhãn là cây chịu hạn nên chịu úng kém, cần có hệ thống thoát
nước trong mùa mưa Đối với những vườn có nguy cơ bị ngập trong mùa mưa
lũ thì nên có hệ thống bờ bao vững chắc, kịp thời bơm nước ra khỏi vườn khi
cần thiết Tuy nhiên đối với các vùng đồi núi hay đất giồng cát rất dễ bị thiếu
nước, cần chú ý cung cấp đủ nước cho cây (Lê Thanh Phong, 2000; Trần Thế
Tục (2004a)
Độ ẩm đất ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của rễ nhãn, đất đủ ẩm rễ
sinh trưởng mạnh (1 ngày rễ mới có thể mọc dài thêm 1,55 cm) Hàm lượng
nước trong đất từ 13% trở lên là thích hợp cho cây nhãn sinh trưởng và phát
triển (Nguyễn Bình Nhự, 2011)
2.3.3.4 Tỉa cành, tạo tán
Sau thu hoạch cần tiến hành tỉa bỏ những cành sâu bệnh, cành bị che
khuất trong tán cây, cành vượt, đồng thời bấm tỉa những cành vừa được thu
trái để giúp cây ra tược non đồng loạt Tạo hình và cắt tỉa có tác dụng giúp cho
thân cành phân bố hợp lý, tận dụng khoảng không gian, tăng cường được sự
đồng hóa các chất trong cây do rút ngắn khoảng cách giữa thân và cành Lê
Thanh Phong (2003) cho rằng cây ăn trái khó đạt được năng suất cao và chất
lượng tốt nếu để nó phát triển tự nhiên mà không cắt tỉa để tạo một dạng hình
hợp lý Hiệu quả dễ thấy nhất là sau khi cắt tỉa cành cây sẽ tạo ra các chồi non
sinh trưởng mạnh và có nhiều khả năng để cho các cành mới này cho hoa trái,
giúp giữ được sản lượng ổn định hàng năm
Trần Thế Tục (2004a) cho rằng việc tạo hình và cắt tỉa được thực hiện từ
năm thứ hai trở đi vào trước lúc mọc cành xuân, với cây ghép thân chính có
thể cao từ 40-100 cm trên đó giữ lại 3-4 cành cấp một phân bố đều ra các phía
và hình thành với thân chính một góc khoảng 450 Trên cành cấp một để lại
2-3 cành cấp hai Độ dài mỗi cành này khoảng 2-30-2-35 cm, sau này phát triển cành
cấp ba Có nhiều kiểu tán cây như tán hình trụ, hình chổi, hình tháp, hình cầu,
hình mâm xôi Kiểu tán tùy thuộc vào đặc điểm phân cành của cây và tùy
Trang 32thuộc vào kỹ thuật tạo hình cắt tỉa Kiểu tán mâm xôi là kiểu tán lý tưởng vì nó
hội được các ưu điểm của các kiểu tán khác (Nguyễn Văn Kế, 2001)
2.3.3.5 Bón phân
Đối với cây nhãn, vấn đề phân bón ảnh hưởng đến phẩm chất trái bao
gồm hình dáng, kích thước trái, khối lượng trái, cấu trúc vỏ trái, độ dày vỏ,
màu sắc vỏ, độ dày cơm và độ ngọt (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1992) Kết
quả nghiên cứu ở Trung Quốc và Thái Lan cho thấy dinh dưỡng của cây là
nhân tố chính ảnh hưởng đến sự đậu trái nhãn và điều khiển ra bông Nếu bón
phân đạm quá nhiều, cây ra nhiều đọt, đọt quá mập, khi làm bông thường
không đạt kết quả mà chỉ ra chồi và lá (Vanichankul, 1990) Trên cơ sở hàm
lượng dinh dưỡng chuẩn trong lá của cây nhãn (Bảng 2.2) và căn cứ vào tình
trạng cây, tuổi cây và điều kiện đất đai của từng vùng, đã có nhiều tác giả
nghiên cứu các chế độ bón phân khác nhau
Bảng 2.2: Hàm lượng dinh dưỡng chuẩn trong lá của cây nhãn tại Úc
(Diczbalis, 2002)
Ghi chủ: “-“ không có số liệu
Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, ở vườn nhãn cao sản cho năng suất
từ 11-12 tấn/ha bón 22,5 tấn nước phân và 15 tấn phân chuồng phối hợp với
180 kg urê + 225 kg supe lân + 300 kg KCl cho 1 ha Từ khi cây còn nhỏ (3-4
năm đầu) có thể dùng nước phân chuồng pha loãng (tỷ lệ 1:3) để tưới cho
cây Cách 2-3 tháng tưới 1 lần, mỗi lần tưới 5-10 lít nước phân cho mỗi cây
hoặc có thể thay thế 50-100 g urê/cây/năm, cây càng lớn, tán cây càng rộng
thì lượng phân bón càng tăng (Trần Thế Tục, 2004a) Sở nghiên cứu cây ăn
quả Phúc Kiến nghiên cứu tỷ lệ bón N:P:K có hiệu quả tốt với nhãn, nhận
thấy tỷ lệ 1:0,5:1 hoặc 1:1:2 là tốt nhất, sản lượng tăng rõ rệt Việc phun phân
bón qua lá cũng được tiến hành từ 4-6 lần mỗi vụ, các loại B, Mg, Zn thường
Tác giả N
(%)
p (%)
K (%)
Ca (%)
Mg (%)
S (%)
Fe (mg/kg)
Mn (mg/kg)
Zn (mg/kg)
Cu (mg/kg)
B (mg/kg)
Wong (2000) 1,21-
1,73
0,17- 0,25
0,52- 1,02
0,59- 1,33
0,09- 0,23 - - - - - -
Chen (1984) 1,4-
1,79
0,11- 0,19
0,89- 1,77
0,76- 1,12
0,24- 0,47 -
0,6- 0,8
1,5- 2,5
0,2- 0,3 - - - - - -
Wong & Kesta
(1991)
>1,7 0,12- 0,2
0,6- 0,8
1,5- 2,5
0,2- 0,3 - - - - - -
Menzel et al
(1990)
1,5- 1,8
0,14- 0,22
0,7- 1,1
0,6- 2,1
0,3- 0,5
Trang 33được áp dụng (Wong, 2000; Zhuang et al., 1995)
Ở Florida, Diczbalis (2002) khuyến cáo bón phân cho cây nhãn năm đầu
tiên là 113 g/cây/lần phân NPK (6-6-6) có kết hợp với phân vi lượng, cứ mỗi
4-6 tuần bón một lần Đạm bón cho cây phải có từ 20-30% nguồn gốc từ phân
chuồng được xử lý, duy trì lượng bón đến khi cây được 3 năm tuổi Hỗn hợp
phân bón lá: B, Mn, Mo, Zn, Mg, được phun từ 4-6 lần từ trước khi đậu
trái đến khi thu hoạch nhằm cải thiện phẩm chất trái (Mika et al., 1999)
Đối chiếu việc bón phân cho nhãn ở nước ta, người nông dân mới chú ý
đến đạm, chưa quan tâm đến các loại phân khác, liều lượng còn thấp nên đã
ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng trái nhãn (Nguyễn Như Hà, 2006)
Theo Lê Thanh Phong (2000), khi bón phân cho cây nhãn cần chú ý tình
trạng cây, tuổi cây và điều kiện đất đai mà có chế độ bón phân khác nhau
Cây 1-3 năm tuổi: mỗi năm bón cho mỗi gốc từ (100-300 g) N + (50-100 g)
P2O5 + (100-200 g) K2O Lượng phân này được chia đều làm 3-4 lần bón
trong năm, năm đầu nên pha phân vào nước tưới Cây trên ba năm tuổi: Cây
càng lớn lượng phân bón càng tăng, năm trúng mùa bón nhiều hơn năm thất
mùa, tổng lượng phân hàng năm bón cho mỗi gốc từ 400-500 g N, 150-200 g
P2O5 và 400-500 g K2O Số lần bón phân được chia như sau:
(1) Lúc tạo đọt trước khi ra hoa: Bón 1/3 N và 1/3 K2O
(2) Khi trái có đường kính 1 cm: Bón 1/3 N và 1/3 K2O
(3) Trước thu hoạch 1 tháng: Bón 1/3 K2O
(4) Ngay sau thu hoạch: Bón 1/3 N và 1/2 P2O5
Ngoài cung cấp đủ Đạm, Lân, Kali cho cây nhãn thì cần cung cấp thêm
hỗn hợp vi lượng để bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây có thể dùng hình
thức bón phân qua lá như: Dùng urê, biphotphat kali (KH2PO4) hay các
nguyên tố vi lượng như B, Mg, Zn phun B vào thời kỳ hoa nở nhằm tăng
cường khả năng thụ phấn, thụ tinh, làm tăng tỷ lệ đậu trái (Chen, 1997) Các
loại khác có tác dụng thúc đẩy quá trình phát triển trái, giảm rụng trái Bón
phân qua lá thường tiến hành vào thời kỳ trái non (khoảng tháng 6 đến tháng
7) khi trái đạt kích thước 1 cm cho đến thu hoạch có thể phun 2-3 lần hoặc
nhiều hơn cách nhau 15 ngày/lần Bón phân qua lá (dùng B) thời kỳ ra hoa
không được phối hợp với thuốc trừ sâu, các loại khác có thể kết hợp được với
thuốc trừ sâu để phun trên lá (Trần Thế Tục, 2004a; Phạm Ninh Quí, 2010)
Cách bón phân: Bón phân sâu hay cạn, bón ở vị trí nào là căn cứ vào sự
phân bố của bộ rễ Bón phân vào nơi có nhiều rễ hút, thông thường là trong
phạm vi hình chiếu của tán cây và ở độ sâu 30-50 cm Để tránh sự thất thoát
phân nên cuốc rãnh vòng quanh và cách gốc cây 1-1,5 m, cho phân vào rãnh,
Trang 34lấp đất lại và tưới hoặc dùng cào 3 răng cào nhẹ đều trên mặt đất theo tán cây
rồi rãi phân, tưới nước (cào cách gốc 1-1,5 m) Cần lưu ý là không nên bón
phân trước mùa lũ đến, phải cắt phân trước khi lũ về ít nhất là 1 tháng vì bón
phân muộn, rễ còn non ngập nước dễ bị hư thối gây chết cây Riêng đối với
phân hữu cơ, bón bằng cách đào rãnh theo hình chiếu của tán rộng 30 cm sâu
30-50 cm, rải phân xuống và lấp đất Bón vào thời điểm sau thu hoạch (STH)
trái để chuẩn bị cho vụ sau nhằm giúp cây phục hồi sinh trưởng, phát triển
cành lá trở lại (Trần Thế Tục, 2004a; Lê Thanh Phong, 2000)
2.3.3.6 Xử lý ra hoa
Các giống nhãn được trồng phổ biến hiện nay tại Việt Nam là nhãn TDB,
XCV, E-Daw, nhãn Giồng và nhãn Lồng Trong đó nhãn XCV, nhãn Giồng và
nhãn Lồng ra hoa tự nhiên 01 vụ trong năm, có thể sử dụng thêm kỹ thuật tạo
stress nước, tưới tiêu và chế độ phân bón hợp lý để ra hoa đồng loạt Trong khi,
các giống nhãn TDB và E-Daw không ra hoa tự nhiên hoặc ra rất yếu nên phải
xử lý bằng cách khoanh cành và hóa chất để kích thích ra hoa (Bảng 2.3)
Bảng 2.3: Hình thức ra hoa của một số giống nhãn được trồng phổ biến hiện
nay ở Việt Nam
Để xử lý cho cây ra hoa đạt kết quả cao nhà vườn lột một miếng da từ
5-10 mm, sau đó buộc dây để nhánh không liền da được Biện pháp nầy đạt kết
quả cao nhưng phải tốn công cắt dây khi cành đã ra hoa (Trần Văn Hâu, 2009)
Hiện nay, để kích thích cho nhãn TDB, E-Daw, XCV ra hoa quanh năm, ở
một số vùng trồng nhãn trọng điểm như Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre,
Vĩnh Long, đã sử dụng hóa chất Chlorate kali với liều lượng 20-30 g/m
đường kính tán được áp dụng bằng phương pháp tưới vào đất giúp cho cây có
tỷ lệ ra hoa cao trong mùa nghịch Ngoài ra, phun Nitrate kali ở liều lượng 1%
ở giai đoạn nhú mầm hoa giúp cho hoa ra tập trung (4 tuần sau khi khoanh
Giống nhãn Thời gian ra hoa đến
Nguyện và Nguyễn Bảo Vệ (2008);
Trang 35cành hay hóa chất) Thời gian từ khi khoanh cành đến khi ra hoa từ 30-35 ngày
và thu hoạch khoảng 5-5,5 tháng (Trần Văn Hâu, 2009)
2.3.3.7 Phòng trừ sâu bệnh
Nguyễn Thị Thu Cúc (2000), cần chú ý phòng trừ một số sâu bệnh hại
chính trên cây nhãn như:
- Sâu đục trái nhãn (Conogethes punctiferalis): Sâu có thể tấn công từ
khi trái còn rất non cho đến khi sắp thu hoạch Sâu hiện diện và gây hại đều
khắp trên các vùng trồng nhãn tại ĐBSCL, gây hại nặng tại Đồng Tháp (100%
vườn điều tra) và có thể tấn công đến 100% số cây trên vườn Tại Đồng Tháp
và Tiền Giang, sâu có thể làm thất thu năng suất đến 70% Sâu gây hại nặng
vào mùa nhãn tháng 12-1
- Bọ xít nhãn (Tessaratoma papillosa): Bọ xít là một đối tượng gây hại
quan trọng trên nhãn Khi mật số cao có thể gây hại đến 80-90% năng suất Cả
thành trùng lẫn ấu trùng đều chích hút đọt non, cuống hoa và trái, làm rụng
bông và trái Cành bị khô và vỏ trái nhãn thường bị đen Tại ĐBSCL, loài này
chủ yếu gây hại quan trọng trên giống nhãn Da Bò và thường xuất hiện với mật
số cao trên nhãn tại Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
- Bệnh thối trái (Phytophthora sp.): Bệnh thường gây hại nặng trong
mùa mưa hoặc trong những ngày có mưa dầm, sương mù nhiều, thiếu nắng
Bệnh gây hại trên cành, lá, hoa và các giai đoạn phát triển của trái từ nhỏ đến
chín, bệnh gây hại trên nhãn Long, nhãn TDB, đặc biệt gây hại rất nặng trên
nhãn Xuồng cơm trắng
- Dịch bệnh chổi rồng: Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh
(2016), bệnh chổi rồng xuất hiện phổ biến trên cơi đọt non của cây nhãn và
vào mùa nắng, đến nay vẫn chưa có nguyên cứu nào kết luận chắc chắn tác
nhân gây bệnh chổi rồng là sự hiện diện của Phytoplasma, vi khuẩn hay vi rút
nhưng đều khẳng định nhện lông nhung (Eryophyes dimocarpi) là môi giới
truyền bệnh chổi rồng trên nhãn và bệnh này không có khả năng lưu truyền
qua mắt ghép hay qua hạt Giống nhãn bị nhiễm nặng nhất là TDB, kế đến là
giống nhãn E-Daw, Vũng Tàu và Thạch kiệt có tính “nhiễm”, các giống nhãn
Xuồng cơm trắng, Cùi, Lồng Hưng Yên, nhãn lai NL1-19 có tính “nhiễm
trung bình”, giống nhãn Giồng, Sài Gòn và nhãn lai NL1-23 được đánh giá là
có tính “kháng trung bình”, trong khi giống nhãn XCV, Long và Super chưa
thể hiện triệu chứng bệnh ở điều kiện ngoài vườn sau 11 tháng thí nghiệm
2.3.3.8 Quá trình thu hoạch
Theo Vũ Công Hậu (1999), ở miền Bắc nhãn chín vào giữa tháng 7 cho
Trang 36đến hết tháng 8, còn ở miền Nam trái nhãn chín rãi rác hơn Cây nhãn thường
ra hoa nhiều đợt, tập trung vào hai đợt tháng 3, 4; chín vào tháng 7, 8 (chính
vụ) và nhãn ra hoa vào tháng 7, 8; chín vào tháng 11, 12 (nghịch vụ)
Từ khi cây ra hoa cho đến khi trái chín trung bình khoảng 3-4 tháng, tùy
thuộc vào giống nhãn Khi chín, vỏ trái không đổi màu rõ rệt mà vỏ trái
chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu sáng vàng, vỏ trái từ xù xì hơi dày
chuyển sang mỏng và nhẵn Đồng thời vỏ trái mềm do vỏ mỏng hơn, thịt trái
nhiều nước hơn, có mùi thơm, vị ngọt và hạt chuyển sang màu nâu đen hoàn
toàn (Nguyễn Danh Vàn, 2008; Nguyễn Minh Thuỷ, 2010) Nhãn nên được
thu hái vào những ngày nắng ráo, buổi sáng hoặc chiều mát, tránh thu hái vào
buổi trưa Khi hái nên dùng kéo cắt cành nhẹ nhàng, tránh làm trái bầm giập
rất dễ bị nhiều loại nấm tấn công gây thối trái trong thời gian bảo quản Phải
thu hoạch đúng độ chín, không nên để trái quá chín trên cây vì phẩm chất sẽ
giảm và không bảo quản được lâu Sau khi hái cần tỉa bỏ những trái bị sâu
bệnh gây hại, trái nhỏ, trái bị bầm giập rồi mới cho vào sọt, thùng giấy để vận
chuyển đến nơi tiêu thụ
2.3.4 Sử dụng màng phủ trong canh tác cây ăn trái
Màng phủ nông nghiệp hiện nay được nông dân sử dụng rộng rãi trong
canh tác cây trồng, đặc biệt là trong trồng rau Tuy nhiên đối với cây ăn trái,
để tăng hiệu quả của biện pháp xiết nước xử lý ra hoa mùa thuận và mùa
nghịch trên chôm chôm, cần áp dụng biện pháp phủ mặt liếp bằng tấm bạc
Phủ bạt nylon cho cây theo dạng mái nhà nhằm tạo độ nghiêng cho nước thoát
nhanh và phủ kín cả tầng rễ ngoài bờ mương, ở giữa mặt liếp dùng cây chống
lên sao cho tấm bạc cách mặt liếp 0,8-1,0 mét tạo sự thoáng khí mặt liếp, tránh
đọng nước sau khi mưa (Hình 2.1) Thời gian phủ bạt khoảng 30-60 ngày,
trong suốt thời gian này cần theo dõi độ sốc của cây (Nguyễn Tiến Huyền và
ctv., 2013; Trần Văn Hâu, 2009)
Hình 2.1 Phủ bạt liếp trồng cây ăn trái gây khô hạn
Trang 37Theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Hâu (2008), phủ gốc cho cây
sầu riêng Sữa hạt lép bằng plastic ở thời điểm trước khi thu hoạch 25 ngày đã
làm giảm ẩm độ đất ở độ sâu 0-20 cm (22,64%) và 20-40 cm (21,71%), làm
giảm hàm lượng nước trong cơm (63,04%), đặc biệt là không bị nhão cơm và
cháy múi
2.3.5 Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của phương pháp
nhân giống vô tính và tuổi cây đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
Việc ghép nhãn trên gốc vải cho tới nay chưa có tài liệu nào công bố
Tuy nhiên ở Lục Ngạn - Bắc Giang có một nông dân đã có sáng kiến ghép cải
tạo nhãn lên vải và đã thành công Đã xác định được 3 giống nhãn thích hợp
có thể ghép lên vải Thiều là nhãn chín sớm địa phương Lục Ngạn, nhãn
Hương Chi và nhãn chín muộn Hà Tây (Ngô Thế Dân, 2011) Theo
McConchie et al (1994), có thể tạo ra cây lai giữa nhãn và vải khi cây vải là
cây mẹ Điều này tạo ra tiềm năng có thể kết hợp một số đặc tính tốt của cây
nhãn vào bộ gene của cây vải Ví dụ như khả năng đậu trái, theo
Subhadrabandhu and Stern (2005), một phát hoa nhãn có thể cho 50-100 trái,
trong khi đó một phát hoa vải chỉ cho 5-30 trái
Theo Trần Văn Khởi (2001), khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện
pháp nhân giống và kỹ thuật phân bón đến một số đặc điểm thực vật học của
cây nhãn Kết quả thí nghiệm cho thấy các cây con được nhân giống vô tính
(chiết và ghép) từ dòng HC4 và ở các công thức phân bón khác nhau tương
đối ổn định và không có sự khác biệt so với cây mẹ về một số chỉ tiêu chính
như số lá chét/lá kép, dài lá chét, tỷ lệ thịt trái, độ Brix và chiều cao trái Tuy
nhiên, lại có sự khác nhau giữa các cây con và dòng mẹ về chỉ tiêu khối lượng
trái, chiều rộng lá chét Ở công thức áp dụng mức phân bón cao hơn, cây sinh
trưởng tốt hơn thì các chỉ tiêu này có xu hướng cao hơn Một nghiên cứu của
Nguyễn Văn Nghiêm và ctv (2010), khi sử dụng ba loại gốc ghép khác nhau,
gồm nhãn Lồng, nhãn Nước và nhãn Thóc, giống cành ghép là nhãn Lồng Kết
quả cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ ghép sống, tỷ lệ xuất vườn
và sự sinh trưởng của cành ghép sau khi ghép Tuy nhiên, theo Yetisir and Sari
(2003); Karaca et al (2012) cho rằng gốc ghép có ảnh hưởng đến năng suất và
chất lượng trái khi nghiên cứu trên cây dưa hấu Ngoài ra, Rugini et al (2005)
cũng công bố kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của gốc ghép đến sự
sinh trưởng và chất lượng trái của cây cherry
Tại Bangladesh, khi sử dụng mắt ghép cây chôm chôm (Nephelium
lappaceum L.), một loài cây cùng họ với nhãn và vải, ghép trên các gốc ghép
khác nhau: ghép trên chính nó, ghép trên gốc vải và ghép trên gốc nhãn Kết
quả đạt được cho thấy khi ghép chôm chôm lên chính nó cho kết quả tốt nhất
Trang 38ở các chỉ tiêu theo dõi như: thể tích tán cây, tỷ lệ sống, chiều cao của gốc ghép
và mắt ghép, đường kính của gốc ghép và mắt ghép (Hossain et al., 2008)
Theo Trần Văn Hâu và Nguyễn Bảo Vệ (2004), khi nghiên cứu ảnh
hưởng của gốc ghép đến đặc tính sinh trưởng, ra hoa và phẩm chất trái của cây
ghép xoài Cát Hòa Lộc Gốc ghép của các giống xoài như Cát Chu, Thơm,
Châu Hạng Võ làm tăng cường sự sinh trưởng của mắt ghép, gốc ghép giống
xoài Thanh Ca làm giảm sự sinh trưởng Tác giả đã kết luận gốc ghép khác
nhau không làm ảnh hưởng đến chất lượng trái xoài Cát Hòa Lộc Theo Reddy
et al (2003), tại Ấn Độ, các gốc ghép khác nhau rõ ràng có ảnh hưởng đến sự
sinh trưởng và năng suất của giống xoài ‘Alphonso’- một giống xoài đơn phôi
Cũng theo tác giả trên, sử dụng gốc ghép là giống xoài ‘Muvandan’ hoặc
‘Bappakai’ có tác dụng làm tăng sự sinh trưởng của xoài ‘Alphonso’, trong khi
đó sử dụng gốc ghép là giống xoài ‘Vellaikulamban’ có tác dụng làm lùn
nhánh ghép giống xoài ‘Alphonso’ Trong nghiên cứu trên, tác giả không trình
bày về vấn đề gốc ghép có làm ảnh hưởng đến chất lượng của trái hay không
Tại Đông Nam Tây Ban Nha, gốc ghép trên xoài thường được sử dụng là của
giống xoài đa phôi Gomera 3 đã được nghiên cứu có ảnh hưởng tốt nhất đến
sinh trưởng và năng suất của nhánh tháp (Zuazo et al., 2006) Ngoài ra, nhiều
thí nghiệm tại nhiều nơi trên thế giới đã chứng minh ảnh hưởng mạnh mẽ của
gốc ghép đến sự sinh trưởng, năng suất và sự hấp thu dinh dưỡng của nhánh
ghép (Kurian et al., 1996; Nartvaranant et al., 2003)
Phạm Thị Hương (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép chanh
Volka (Citrus volkameriana) đến sự sinh trưởng và năng suất của giống cam
Đường Canh tại Hà Nội, đây là một loại cam không hạt, phẩm chất thơm
ngon, chín gần vào dịp tết Cam Đường Canh được ghép trên gốc chanh Volka
trồng bằng hạt và bằng cách giâm cành cho thấy trên gốc chanh Volka hữu
tính cam Đường Canh sinh trưởng khỏe hơn trên chanh Volka vô tính nhưng
trên gốc chanh Volka vô tính cam Đường Canh có tỷ lệ đậu trái và cho năng
suất cao hơn so với cam Đường Canh ghép trên gốc chanh Volka hữu tính
Về tuổi cây, cây ở các độ tuổi khác nhau thì năng suất của chúng khác
nhau là đương nhiên Theo Tiến sĩ Marc Eric từ đại học Penn State của Hoa
Kỳ, trong tài liệu giảng dạy môn học “Forest Resources Management” có đề
cập đến vấn đề này, theo tác giả, tuổi cây rừng càng cao tuổi thì năng suất
(khối lượng gỗ) sẽ càng tăng (Eric, 2016) Tuổi cây khác nhau thì sẽ có các
chế độ chăm sóc khác nhau, nhằm đạt được năng suất tốt nhất Trong các tài
liệu về kỹ thuật chăm sóc cây ăn trái, các tác giả thường chia cây ăn trái ra làm
hai giai đoạn để chăm sóc (Thái Hà và Đặng Mai, 2016) Giai đoạn đầu là giai
đoạn tăng trưởng, giai đoạn sau là giai đoạn cây kinh doanh Giai đoạn tăng
Trang 39trưởng tính từ lúc mới trồng đến chuẩn bị có vụ trái đầu tiên Giai đoạn kinh
doanh từ vụ trái đầu tiên trở đi Năng suất thì chắc chắn là khác nhau khi tuổi
cây khác nhau nhưng chất lượng trái có khác nhau khi tuổi cây khác nhau thì
vẫn còn là một câu hỏi Theo kinh nghiệm của một số nhà vườn, những cây
cam vụ đầu tiên mới cho trái thì trái sẽ to và vỏ dày hơn so với cây lớn tuổi
Trên cây măng cụt cũng cho kết quả tương tự, trái măng cụt ở những cây càng
lâu năm thì ăn càng ngon Giả thuyết đặt ra là các tuổi cây khác nhau sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng của trái nhãn Vì vậy, qua khảo sát sẽ phần nào làm rõ
câu hỏi trên
2.4 Bảo quản đông lạnh rau quả
2.4.1 Kỹ thuật bảo quản đông lạnh trái nhãn
Bảo quản đông lạnh là kỹ thuật tốt nhất để duy trì và ổn định chất lượng
trái cây trong khoảng thời gian dài (Trần Đức Ba và ctv., 2006; Nguyễn Văn
Mười, 2007; Quách Đĩnh và ctv., 1996; Nguyễn Xuân Phương, 2004)
Hình 2.2: Quy trình đông lạnh nhãn (Trần Đức Ba và ctv., 2006)
Trang 40Nhãn đông lạnh là sản phẩm từ trái nhãn chín tươi đem đông lạnh nhanh
-400C ÷ -450C và bảo quản ở nhiệt độ -180C Qui trình công nghệ đông lạnh
nhãn được trình bày ở Hình 2.2
2.4.1.1 Điều kiện kỹ thuật sản phẩm đạt tiêu chuẩn cấp đông
- Nhiệt độ quá lạnh của sản phẩm phải thấp: tqi<-100C (cần tảng nồng độ
phân tử của dịch bào sản phẩm)
- Quá trình đóng băng sản phẩm phải xảy ra cùng lúc trong tế bào và
ngoài gian bào để hạn chế sự chuyển nước từ trong tế bào ra gian bào
- Kích thước của sản phẩm phải nhỏ khoảng 5x5x5 cm3 hoặc 3x5x5 cm3
- Vận tốc đối lưu của môi trường khí v=3+5m/s và lỏng v=1 m/s
- Nhiệt độ của môi trường truyền lạnh (khí, lỏng hoặc bằng bảng phẳng
kim loại tiếp xúc) phải ≤-300C
2.4.1.2 Yêu cầu kỹ thuật về nguyên liệu
- Nhãn phải tươi nguyên, không mềm úng, meo mốc, sâu Trái không bị
nổ, có lỗ, vết héo, cuống phải còn xanh Hình dạng trái phải đồng đều theo cỡ
nhỏ hay to Màu sắc chín của nhãn: nhãn chín có màu nâu sáng, màu vàng tùy
theo giống, mặt quả nhẵn, nắn bằng tay quả mềm, vỏ quả mỏng Lượng nước
trong quả nhãn cao Độ chắc của thịt trái: thịt trái nhãn mềm dễ làm cho nhãn
nhũn mềm khi rã đông Do vậy phải chọn nhãn vừa chín tới, trái săn chắc, màu
sắc nâu xanh hoặc vàng xanh Đây chính là những yêu cầu của trái nhãn khi
đông lạnh xuất khẩu đạt năng suất cao Có thể sử dụng nhãn có độ chín
90-95% Tuyệt đối không sử dụng nhãn quá chín so với độ chín kỹ thuật
- Chọn và phân loại: Khi nhập kho nguyên liệu nhãn đã được lựa chọn kỹ
những quả không đạt chất lượng bị loại bỏ từ bên ngoài kho, vặt cuống, cành
và lá sạch sẽ Trước khi đưa vào sản xuất thì nhãn được lựa chọn theo tiêu
chuẩn trên và phân loại theo cấp hạng, độ chín ngay tại kho, những trái không
đạt tiến hành xác định cấp hạng rồi sắp xếp theo khối lượng và độ chín Hiện
nay, việc phân hạng có hai loại: Loại 1: 55-75 trái/kg (13,3-18 g/trái); Loại 2:
76-80 trái/kg (12,5-13,2 g/trái)
- Ngâm nước sát trùng: Lựa chọn, phân loại tiến hành rửa trong nước sát
trùng chlorine nồng độ 30 ppm trong 5 phút để làm sạch đất cát hay chất bẩn
bám trong nhãn và khử vi trùng, vi sinh vật qua khâu này bị tiêu diệt rất nhiều
vì chlorine với nồng độ này có tính sát khuẩn nhưng không ảnh hưởng tới
phẩm chất cũng như hình dạng bên ngoài của nhãn
- Rửa nước sát trùng lần 2: Rửa lại nguyên liệu bằng nước sát trùng lần 2