XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN Họ tên sinh viên thực tập: NGUYỄN QUỐC HƯNG Tên luận văn: “Khảo sát điều kiện vệ sinh thú y và một số bệnh thường xảy ra tại một số hộ chăn nuôi heo ná
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN VỆ SINH THÚ Y VÀ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG XẢY RA TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI HEO NÁI THUỘC HUYỆN VŨNG LIÊM, MANG THÍT, LONG HỒ,
TỈNH VĨNH LONG
Họ và Tên sinh viên: NGUYỄN QUỐC HƯNG
Lớp : Bác Sĩ Thú Y 2003 Vĩnh Long Niên khóa : 2003 - 2008
Trang 2KHẢO SÁT ĐIỀU KIỆN VỆ SINH THÚ Y VÀ MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG XẢY RA TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI HEO NÁI THUỘC HUYỆN VŨNG LIÊM, MANG THÍT, LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Tác giả
NGUYỄN QUỐC HƯNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn
TS LÊ ANH PHỤNG
Tháng 06/2009
Trang 3XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: NGUYỄN QUỐC HƯNG
Tên luận văn: “Khảo sát điều kiện vệ sinh thú y và một số bệnh thường xảy ra tại một số hộ chăn nuôi heo nái thuộc huyện Vũng Liêm, Mang Thít, Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long”
Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa, ngày
Giáo viên hướng dẫn
T.S LÊ ANH PHỤNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thành kính công ơn:
Ông, bà, cha mẹ đã hết lòng lo lắng, an ủi động viên và tạo điều kiện cho con ăn học để có được như ngày hôm nay
Xin chân thành tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến
TS LÊ ANH PHỤNG đã tận tình, chỉ dạy và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận này
Xin chân thành cảm ơn:
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban chủ nhiệm Khoa, quý thầy cô Khoa Chăn Nuôi Thú Y Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập
Bộ môn Vi Sinh Truyền Nhiễm Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh
Ban Giám Hiệu Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Vĩnh Long
Xin chân thành biết ơn:
ThS NGUYỄN ĐA PHÚC cùng toàn thể các cô chú, anh chị cán bộ Chi Cục Thú Y Vĩnh Long đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập
Xin chân thành cảm ơn:
Toàn thể bạn bè lớp Bác Sĩ Thú Y Vĩnh Long 2003 đã giúp đỡ, động viên tôi vượt qua mọi khó khăn và cùng chia sẽ niềm vui trong suốt thời gian học tập ở trường
NGUYỄN QUỐC HƯNG
Trang 5TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Qua thời gian khảo sát điều kiện vệ sinh thú y và một số bệnh truyền nhiễm thường xảy ra tại một số hộ chăn nuôi heo nái thuộc huyện Vũng Liêm, Mang Thít, Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long Theo phương pháp hồi cứu (bằng phiếu điều tra) ở các hộ chăn nuôi nái từ 10 nái trở lên, từ tháng 9/2008 đến tháng 2/2009, chúng tôi có một số kết quả sau:
(1) Đặc điểm chung về chăn nuôi heo nái ở các địa phương, tỉnh Vĩnh Long
- Mục đích chăn nuôi nái theo hướng kiêm dụng là phổ biến (65%) và với
nguồn giống chủ yếu do tự nhân giống (65%) Vị trí chuồng trại cách khu dân cư ít nhất 500m chiếm tỷ lệ khá cao (57,5%), nhưng ít nằm trong khu quy hoạch (25%)
- Đa số chuồng nuôi heo nái có nền xi măng (85%), và mái chuồng bằng tole
(chiếm 65%) Nhưng việc có thực hiện hố sát trùng trước cổng đạt thấp (32,5%)
- Các hộ nuôi nái sử dụng thức ăn hỗn hợp trộn sẵn (62,5%) và một số hộ nuôi
cho ăn thêm thức ăn rau, cỏ tươi (25%), cùng với việc cung cấp nước uống bằng máng nước (57,5%), còn nhiều hơn dùng núm uống (42,5%)
(2) Đánh giá điều kiện vệ sinh thú y
- Các hộ nuôi heo nái có xây dựng tường bao quanh khu chăn nuôi (55%), có bố
trí kho chứa thức ăn riêng biệt (57,5%), và có khu vực chứa chất thải riêng (55%)
- Có thực hiện thường xuyên thu dọn chất thải (2 lần/ngày) đạt 90%, tiêu độc
sát trùng chuồng trại đúng quy định (80%), có hệ thống xử lý chất thải (hoạt động) (57,5%)
- Nguồn nước có xử lý trước khi sử dụng (97,5%), và tuân thủ nuôi theo lứa
tuổi (92,5%), cũng như có tẩy ký sinh trùng (77,5%)
(3) Tình hình dịch bệnh và các biện pháp xử lý khi có dịch bệnh xảy ra
- Tỷ lệ tiêm phòng vaccine trên heo nái: tụ huyết trùng (83,3%), dịch tả heo
(81,1%), phó thương hàn (81%), vaccine lở mồm long móng (56,7%) và PRRS (51,5%)
- Tỷ lệ heo nái mắc bệnh: bệnh viêm tử cung (11,6%), viêm vú (9,9%), tụ huyết trùng (1,5%), và phó thương hàn (1,5%), bệnh Leptospirosis (0,8%)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục Đích 1
1.3 Yêu Cầu 1
Chương 2 TỔNG QUAN 2
2.1 THIẾT KẾ CƠ SỞ CHĂN NUÔI 2
2.2 MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ CHUỒNG NUÔI 3
2.2.1 Nhiệt độ môi trường 4
2.2.2 Ẩm độ môi trường 4
2.2.3 Sự thông thoáng 5
2.2.4 Bụi 5
2.2.5 Khí độc trong chuồng nuôi 6
2.2.6 Vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi 7
2.3 NGUỒN NƯỚC DÙNG TRONG CHĂN NUÔI 8
2.3.1 Khái niệm 8
2.3.2 Một số yếu tố liên quan tính chất của nước 9
2.3.3 Vi sinh vật tồn tại trong nước 10
2.4 THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI 11
2.4.1 Vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi 11
2.4.2 Độc tố nấm mốc trong thức ăn chăn nuôi 12
2.5 NƯỚC THẢI TRONG CHĂN NUÔI 12
2.5.1 Các chất tạo mùi trong nước thải 13
2.5.2 Các loại vi sinh vật trong nước thải 14
2.6 BIỆN PHÁP TIÊU ĐỘC KHỬ TRÙNG 14
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 18
3.1 Thời gian và địa điểm 18
3.1.1 Thời gian 18
3.1.2 Địa điểm 18
3.2 Đối tượng khảo sát 18
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu khảo sát 18
3.4 Phương pháp nghiên cứu 18
3.4.1 Điều tra tình hình chăn nuôi và một số dịch bệnh trên heo tại hộ chăn nuôi 18
Trang 73.4.2 Đánh giá an toàn sinh học của hộ chăn nuôi 19
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 20
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 21
4.1 Đặc điểm chung về chăn nuôi heo nái ở huyện Vũng Liêm, Mang Thít, Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long 21
4.1.1 Mục đích, nguồn gốc, vị trí chuồng trại ở các hộ chăn nuôi heo nái 21
4.1.2 Thiết kế chuồng trại 26
4.1.3 Việc cung cấp thức ăn, nước uống 29
4.2 Đánh giá điều kiện vệ sinh thú y 32
4.2.1 Việc bố trí chuồng trại nuôi heo nái 32
4.2.2 Vệ sinh chuồng trại 37
4.2.3 Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học 41
4.3 Tình hình dịch bệnh và các biện pháp xử lý khi có dịch bệnh xảy ra 44
4.3.1 Tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm quan trọng 44
4.3.2 Thiệt hại do dịch bệnh trên heo nái trong năm 2008 48
4.3.3 Nhận thức về cách xử lý khi động vật bị bệnh hoặc chết 50
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Đề nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 8DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Sự định vị của bụi trên đường hô hấp heo 5
Bảng 2.2: Tác hại của khí ammonia, hydrogen sulfide trên heo 7
Bảng 2.3: Khả năng tồn tại của một số vi sinh vật trong không khí chuồng heo 8
Bảng 2.4: Ảnh hưởng của pH, Fe, NO2- nguồn nước đến heo 9
Bảng 2.5: Những vi khuẩn thường gặp trong thức ăn chăn nuôi 11
Bảng 2.6: Một số thành phần của nước thải chăn nuôi heo 13
Bảng 2.7: Các chất tạo mùi trong nước thải 13
Bảng 2.8: Những chất sát trùng thích hợp trong vệ sinh chuồng trại 17
Bảng 3.1 Danh sách các hộ chăn nuôi heo nái được điều tra 19
Bảng 4.1: Mục đích chăn nuôi, nguồn gốc heo, vị trí chuồng trại ở các hộ nuôi heo nái 21
Bảng 4.2: Đặc điểm thiết kế chuồng trại nuôi heo nái 26
Bảng 4.3: Việc cung cấp thức ăn, nước uống ở các hộ nuôi heo nái 29
Bảng 4.4 Việc bố trí chuồng trại nuôi heo nái 32
Bảng 4.5 Thực hiện vệ sinh chuồng trại chăn nuôi heo nái 37
Bảng 4.6 Tỷ lệ các hộ có thực hiện các biện pháp an toàn sinh học 41
Bảng 4.7: Tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm quan trọng 44
Bảng 4.8 Thiệt hại do dịch bệnh trên heo nái trong năm 2008 48
Bảng 4.9 Cách xử lý của các hộ nuôi khi heo nái bị bệnh hoặc chết 50
Trang 9DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.3: Việc cung cấp thức ăn, nước uống ở các hộ nuôi heo nái 29
Biểu đồ 4.4 Việc bố trí chuồng trại nuôi heo nái 33
Biểu đồ 4.5 Thực hiện vệ sinh chuồng trại chăn nuôi heo nái 38
Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ tiêm phòng một số bệnh truyền nhiễm quan trọng 45
Biểu đồ 4.8: Thiệt hại do dịch bệnh trên heo nái trong năm 2008 48
Biểu đồ 4.9 Cách xử lý của các hộ nuôi khi heo nái bị bệnh hoặc chết 51
Trang 10Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Phong trào chăn nuôi heo ngày càng phát triển đã đáp ứng được nhu cầu thực phẩm ngày càng lớn của xã hội và không chỉ phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước, các sản phẩm của ngành chăn nuôi heo cũng đã và đang tìm ra thị trường thế giới
Để đáp ứng đầy đủ những yếu tố đó, đòi hỏi những nhà chăn nuôi, những hộ chăn nuôi phải tích cực đầu tư và tìm những biện pháp hữu hiệu nhằm tăng năng suất, nâng cao chất lượng cho sản phẩm Muốn làm được điều đó, những nhà chăn nuôi phải quan tâm đến rất nhiều vấn đề, trong đó điều kiện ngoại cảnh, môi trường sống của gia súc, tiêu chuẩn vệ sinh và dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra đối với từng lứa tuổi heo là vấn đề rất quan tâm
Từ vấn đề này và được sự phân công của khoa chăn nuôi thú y Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh và sự hỗ trợ của chi cục thú y Vĩnh Long, dưới sự hướng dẫn của TS Lê Anh Phụng chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“ĐIỀU TRA ĐIỀU KIỆN VỆ SINH THÚ Y VÀ MỘT SỐ BỆNH TRUYỀN NHIỄM THƯỜNG XẢY RA TẠI MỘT SỐ HỘ CHĂN NUÔI HEO NÁI THUỘC HUYỆN VŨNG LIÊM, MANG THÍT, LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG”
1.2 Mục Đích
Đánh giá tình hình vệ sinh thú y tại hộ chăn nuôi heo nái và một số dịch bệnh thường hay xảy ra từ đó đánh giá được những yếu tố bất lợi của ngoại cảnh đối với cơ thể gia súc nhằm bảo vệ sức khỏe gia súc, tăng năng suất chăn nuôi, tạo ra những sản phẩm lành mạnh phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước và thị trường thế giới
1.3 Yêu Cầu
Lập phiếu điều tra và tổ chức phỏng vấn (bằng phiếu điều tra) về vệ sinh thú y
và bệnh truyền nhiễm thường xảy ra
Khảo sát, đánh giá tình trạng vệ sinh chuồng trại, thức ăn, vệ sinh phòng dịch,
xử lý chất thải, nước thải…tình hình dịch bệnh trên heo nái tại địa phương
Trang 11Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 THIẾT KẾ CƠ SỞ CHĂN NUÔI
Theo quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi heo an toàn tại Việt Nam (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2008): việc thiết kế xây dựng khu chăn nuôi phải chú ý các điểm sau:
- Vị trí xây dựng chuồng trại phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương
- Cách xa đường giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp, công sở, trường học, khu chế biến sản phẩm chăn nuôi, bệnh viện, khu chăn nuôi khác và xa hệ thống kênh mương thoát nước thải của khu vực
- Ở cuối và cách xa nguồn nước sinh hoạt, có nguồn nước sạch và đủ trữ lượng cho chăn nuôi Đảm bảo diện tích và điều kiện xử lý chất thải, nước thải theo quy định
- Xung quanh khu vực chăn nuôi cần có tường bao, hàng rào ngăn cách
- Ở các cổng ra vào của các khu chuồng và ở đầu mỗi dãy chuồng phải bố trí hố khử trùng Người và phương tiện vận chuyển trước khi vào khu chăn nuôi đều phải đi qua hố khử trùng
- Khu thay đồ, tắm rửa sát trùng riêng biệt cho khách tham quan, công nhân
- Trong khu chăn nuôi, ưu tiên bố trí khu chăn nuôi heo đực giống và nái nuôi con ở đầu hướng gió Chuồng nuôi cách ly, khu xử lý heo bệnh, chết, nhà chế biến hay nhà phân, bể chứa nước thải phải đặt ở cuối hướng gió
- Thiết kế chuồng nuôi cho các đối tượng heo khác phải tuân thủ theo quy định hiện hành
- Trong khu chăn nuôi heo cần trồng cây xanh và tạo các thảm cỏ để tăng cường khả năng chống nóng, góp phần cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi
Trang 12- Khu nuôi cách ly heo bệnh, khu nuôi tân đáo phải bố trí cách biệt và có hàng rào ngăn cách với khu chăn nuôi Khoảng cách giữa các khu chuồng, dãy chuồng phải được bố trí xây dựng hợp lý
- Bố trí khu nhà xưởng và công trình phục vụ chăn nuôi: kho chứa thức ăn, kho chứa thuốc thú y, thuốc sát trùng, kho chứa các dụng cụ chăn nuôi phải được bố trí riêng biệt với khu chăn nuôi
- Thường xuyên thay thuốc sát trùng ở cổng ra vào ít nhất ngày 1 lần Người và phương tiện vận chuyển trước khi vào khu chăn nuôi đều phải đi qua hố sát trùng
- Sát trùng chuồng trại vào các thời điểm: trước khi nuôi 5 ngày, sau mỗi đợt nuôi, khi chuyển đàn Phun thuốc sát trùng ở các lối đi và khu vực xung quanh chuồng
1 lần/ngày (nếu không có dịch bệnh) và mỗi ngày (nếu có dịch bệnh)
- Thu gom chất thải rắn hàng ngày vào hệ thống chứa, có nắp hay mái che bảo đảm không rò rỉ, không lưu giữ chất thải trên 24 giờ mà không có biện pháp xử lý
- Thường xuyên phát quang cỏ dại, rắc vôi bột, tiêu độc, khử trùng chuồng trại, môi trường xung quanh, dụng cụ chăn nuôi, diệt côn trùng, chuột, hạn chế thấp nhất những điều kiện, môi trường có thể làm lây lan, phát tán mầm bệnh từ trong khu chăn nuôi ra ngoài và ngược lại
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2008): quy định vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật:
- Kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật Phải được nuôi cách ly trong thời gian từ 15-30 ngày tuỳ theo từng bệnh, tại khu nuôi cách ly trước khi cho nhập đàn
- Cơ sở chăn nuôi, con giống, thức ăn, nước uống phải được kiểm tra 2 lần/1năm
và phải đạt qui chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn quốc gia về vệ sinh thú y
2.2 MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ CHUỒNG NUÔI
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), bầu tiểu khí hậu chuồng nuôi là khoảng không khí bên trong chuồng nuôi, được hợp thành bởi các yếu tố vật lý bao gồm: nhiệt độ, độ ẩm, tia bức xạ, độ thông thoáng; các yếu tố hóa học bao gồm: thành phần các chất khí và bụi và các yếu tố sinh học (chủ yếu là các vi sinh vật) Các yếu tố này có quan hệ mật thiết và ảnh hưởng qua lại với nhau
Trang 132.2.1 Nhiệt độ môi trường
- Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004): ngoài yếu tố thời tiết, nhiệt độ trong chuồng nuôi bị ảnh hưởng bởi thiết kế chuồng nuôi, mật độ nuôi nhốt,
độ thông thoáng Nhiệt độ của bầu tiểu khí hậu tác động rất lớn đến sức khỏe, năng suất của vật nuôi
- Phản ứng của vật nuôi đối với nhiệt độ của môi trường được thực hiện thông qua quá trình điều hòa thân nhiệt
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004):
- Cảm nóng có thể xảy ra do nhiệt độ môi trường tăng cao (thay đổi thời tiết) do mật độ nuôi nhốt cao, hay độ thông thoáng kém làm cho sự thải nhiệt không hiệu quả Các quá trình biến dưỡng sẽ giảm, heo biếng ăn và giảm năng suất
- Trong mùa lạnh, sự tiêu tốn thức ăn sẽ tăng Nếu tình trạng nhiệt độ môi trường quá thấp kéo dài thì các biện pháp duy trì thân nhiệt ổn định có thể hoạt động không còn hiệu quả, dẫn đến tình trạng thân nhiệt hạ thấp heo có thể chết
2.2.2 Ẩm độ môi trường
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004):
- Ẩm độ không khí giữ vai trò rất quan trọng trong cân bằng nhiệt của cơ thể Không khí trong chuồng nuôi có ẩm độ cao hơn ngoài trời Ẩm độ trong chuồng nuôi phụ thuộc vào mật độ nuôi nhốt, thiết kế chuồng trại và tình trạng vệ sinh của chuồng nuôi
- Ẩm độ không khí cao quá (trên 90%) sẽ làm heo khó chịu, mất cảm giác ngon miệng và giảm khả năng tiêu hóa Do đó, tăng trọng, năng suất sản xuất và sức đề kháng của heo sẽ bị ảnh hưởng Ẩm độ tạo điều kiện cho các loại mầm bệnh tồn tại và phát triển nhanh, kết hợp với việc heo bị giảm sức đề kháng thì dịch bệnh sẽ rất dễ phát sinh Ẩm độ không khí cao tạo điều kiện cho các phản ứng phân hủy các chất hữu
cơ trên nền chuồng xảy ra nhanh, giải phóng các khí độc như NH3, H2S và các khí độc khác vào không khí
- Ẩm độ không khí dưới 50% làm da và niêm mạc bị khô, nứt, do đó rất dễ bị nhiễm trùng Đồng thời, lượng bụi trong không khí tăng cao do quá trình phát tán bụi
Trang 142.2.3 Sự thông thoáng
Sự thông thoáng trong chuồng nuôi được quyết định bởi cách thiết kế chuồng nuôi như: hướng chuồng nuôi, độ cao mái, chiều dài và rộng, chiều cao và số lượng cửa, hệ thống quạt được lắp đặt,… Sự thông thoáng trong chuồng nuôi rất quan trọng, tác động mạnh mẽ đến sức khỏe và năng suất sản xuất Sự lưu thông không khí trong chuồng nuôi tốt sẽ giúp loại bỏ được hơi ẩm, bụi, mùi hôi, các khí độc và vi sinh vật trong không khí Đồng thời, nó cũng cung cấp không khí sạch và phân phối không khí đồng đều (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Tuy nhiên, vào mùa lạnh, tốc độ gió trong chuồng nuôi lớn quá sẽ làm cho heo mất nhiều nhiệt, đặc biệt đối với heo non Ngoài ra, tốc độ gió cao còn làm tăng sự khuếch tán bụi và mầm bệnh
2.2.4 Bụi
Bụi trong chuồng nuôi có nguồn gốc từ cơ thể heo, thức ăn, chất lót chuồng, bề mặt cơ thể heo, phân và các nguồn khác như nền chuồng, tường, vách (Hartung, 1994) Phản ứng đầu tiên đối với bụi là sự gia tăng tiết dịch nhờn nhằm loại bỏ bụi khỏi đường hô hấp Ho cũng là một phản ứng ban đầu để loại bỏ bụi Tuy nhiên, sự tiếp xúc lâu dài với nồng độ bụi cao sẽ làm giảm số lượng các tế bào niêm mạc có lông, tăng số lượng tế bào tiết nhày Cuối cùng, các màng nhày bị teo và các tuyến nhờn bị suy kiệt Bụi có thể kết hợp lại tạo thành các hạt trong phổi, ảnh hưởng đến chức năng phổi Các tổn thương này sẽ dễ dàng dẫn đến sự nhiễm trùng thứ phát và gây viêm phổi mãn tính (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Bảng 2.1: Sự định vị của bụi trên đường hô hấp heo
Trang 15Triệu chứng chủ yếu trên heo trong môi trường không khí có hàm lượng bụi và
vi sinh vật cao là nhiễm trùng đường hô hấp Khi bụi trong không khí tăng cao, heo có biểu hiện ho, mổ khám bệnh tích cho thấy phổi có những tổn thương, nhiều heo mắc bệnh viêm màng phổi - viêm phổi cấp tính Tác hại của bụi trên heo chủ yếu kết hợp với ảnh hưởng của các khí độc và vi sinh vật Bụi và chất lót chuồng được coi là nguồn mang trùng Nhìn chung, hầu hết các bệnh gây ra do bụi và vi sinh vật trong không khí đều xảy ra sau một thời gian tiếp xúc kéo dài, rất khó xác định mối liên hệ giữa sự bắt đầu một bệnh nào đó với những nguyên nhân gây ra nó Tuy nhiên, các bệnh sơ phát
do vi khuẩn, virus, Mycoplasma sẽ trở nên trầm trọng hơn khi heo mắc bệnh sống
trong môi trường có hàm lượng bụi và vi khuẩn trong không khí cao (Nguyễn Thị Hoa
Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
2.2.5 Khí độc trong chuồng nuôi
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), các khí độc chủ yếu được sinh ra từ sự phân hủy các chất thải, chúng bốc lên và di chuyển nhờ gió Tuy nhiên, ẩm độ tương đối, nhiệt độ, tốc độ gió cùng hướng gió, và sự xáo trộn không khí đóng vai trò quan trọng trong việc khuếch tán, tác động đến ảnh hưởng của khí độc
Ammonia trong chuồng nuôi được sinh ra từ sự khử amin của protein trong chất thải Tác hại của ammonia thường kết hợp với bụi và vi sinh vật trong không khí Ammonia được hấp thu trên bụi, cùng với bụi được hít vào đường hô hấp gây kích ứng, mở đường cho các bệnh đường hô hấp và sự tấn công của vi sinh vật (Taiganides, 1992)
Theo Noren (1987), hydrogen sulfide là khí rất độc, sinh ra từ sự phân hủy yếm khí phân Cơ chế gây độc chủ yếu là:
• Kích ứng màng nhày, gây phù niêm mạc đường hô hấp và tích lũy K2S, Na2S
• Ức chế các cytochrome oxidase làm rối loạn các chuyển hóa tế bào, cuối cùng
là tác động lên thần kinh trung ương
Hydrogen sulfide còn kết hợp với Fe2+ trong hemoglobin làm mất khả năng vận chuyển oxy của hợp chất này Triệu chứng trúng độc là lừ đừ, thở khó, tím da và co giật Ẩm độ không khí cao sẽ phát huy tác hại của khí H2S (Noren, 1987)
Trang 16Bảng 2.2: Tác hại của khí ammonia, hydrogen sulfide trên heo
Khí độc Nồng độ tiếp xúc trong
50 ppm Giảm năng suất và sức khỏe, tiếp xúc lâu
dễ viêm phổi và các bệnh đường hô hấp
100 ppm Hắt hơi, chảy nước bọt, ăn không ngon Ammonia
Trên 300 ppm, tiếp xúc lâu Thở gấp, thở không đều, co giật
20 ppm, tiếp xúc liên tục Sợ ánh sáng, ăn không ngon, có biểu
hiện thần kinh không bình thường
Hydrogen
sulfide
Trên 200 ppm Phổi bị thủy thủng, khó thở, bất tỉnh, chết
(Nguồn: Barker và ctv, 2000)
2.2.6 Vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi
Vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi có nguồn gốc chủ yếu từ cơ thể hay các chất tiết từ heo, chất thải, thức ăn, và chất lót chuồng Số lượng vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi có thể từ một trăm đến vài ngàn trong một lít không khí Trên
80% vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi là các cầu khuẩn Staphylococcus và
Streptococcus Chúng có nguồn gốc từ đường hô hấp trên và da Ngoài ra, có khoảng
1% là nấm mốc và nấm men, 0,5% là coliforms có nguồn gốc từ phân (Hartung, 1994)
Số lượng vi sinh vật không khí chuồng nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố: mật độ nuôi nhốt, tuổi của heo, độ thông thoáng, nhiệt độ, ẩm độ và hàm lượng bụi Trong không khí, vi sinh vật có thể tồn tại riêng lẻ hay kết hợp với nhau Bụi có chứa rất nhiều vi sinh vật Các vi khuẩn kết hợp với bụi sẽ bám trên các bề mặt nền vách chuồng, trên da lông, hay trên niêm mạc của heo
Trang 17Bảng 2.3: Khả năng tồn tại của một số vi sinh vật trong không khí chuồng heo
(%)
Nhiệt độ (0C)
Thời gian tồn tại (phút)
Nhìn chung, hầu hết các bệnh do bụi và vi sinh vật trong không khí gây ra là các bệnh hô hấp mãn tính, do tiếp xúc trong một thời gian dài Các bệnh truyền nhiễm
do vi khuẩn, virus, Mycoplasma sẽ trở nên trầm trọng hơn do nồng độ cao của bụi hay
vi sinh vật trong không khí (Muller và Wieser, 1987)
2.3 NGUỒN NƯỚC DÙNG TRONG CHĂN NUÔI
2.3.1 Khái niệm
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004), nước là thành phần tham gia cấu tạo cơ thể sinh vật Trong cơ thể sống, nước chiếm khoảng 52 – 75%, nước ở dạng liên kết hóa học tham gia vào cấu tạo tế bào, làm dung môi cho các phản ứng trong tế bào, tham gia quá trình biến dưỡng và tạo sức căng cho tế bào Nước là thành phần chính của các dịch thể, tham gia hấp thu và bài tiết các chất, giữ vai trò quan trọng trong quá trình điều hòa thân nhiệt
Nước cũng là môi trường dễ dàng bị ô nhiễm do chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải chăn nuôi, nhất là sự ô nhiễm nước ngầm Đặc biệt, nước
Trang 18nước và tìm các biện pháp phòng chống ô nhiễm nước trong chăn nuôi là rất cần thiết (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Vì nước chiếm khoảng 52 – 75% trọng lượng cơ thể, do đó, uống nước quan trọng hơn ăn, stress có thể xảy ra khi heo không được cung cấp đủ nước Thiếu nước uống có thể dẫn đến giảm ăn, giảm tăng trọng, giảm năng suất
2.3.2 Một số yếu tố liên quan tính chất của nước
2.3.2.1 pH
Theo tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong chăn nuôi 10 TCN 680 – 2006, pH của nước được phép sử dụng ở khoảng 5,0 – 8,5 pH của nước thiên nhiên bị ảnh hưởng lớn bởi nồng độ CO2 được tạo ra từ sự phân giải các chất hữu cơ, chất mùn, quá trình quang hợp
pH tăng do nhiễm bẩn các acid, các chất kiềm, các muối vô cơ hoặc các muối sulfur kim loại
Do nước chứa nhiều H2S, đất chứa nhiều muối nhôm thì pH giảm
Bảng 2.4: Ảnh hưởng của pH, Fe, NO2- nguồn nước đến heo
Yếu tố ảnh hưởng Mức giới hạn Sử dụng cho heo
(ppm) Cao hơn (chỉ sự ô nhiễm phân) Hại sức khỏe
(Nguồn: Alberta, 1993)
2.3.2.2 Sắt (Fe)
Sắt được chứa hầu hết trong các loại đất, tồn tại chủ yếu ở dạng không hòa tan, oxide sắt hay carbonate sắt Tuy nhiên, trong điều kiện có nhiều khí CO2 trong nước, sắt sẽ được hòa tan
Người và heo không bị nguy hiểm khi uống nước có sắt, nhưng sắt có thể làm cho nước uống có vị tanh làm mất cảm giác ngon miệng và thay đổi màu sắc Cho tới nay vẫn chưa có một thông báo chính thức nào về liều gây ngộ độc do sắt trong nước
Trang 192.3.2.3 Nitrite (NO 2 - )
Nitrite là dạng trung gian của quá trình chuyển hóa các hợp chất chứa nitơ như: sản phẩm của quá trình oxy hóa ammonia, sản phẩm của quá trình khử nitrate Các quá trình này xảy ra trong tự nhiên, trong hệ thống cung cấp nước và nước thải (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Trong máu, nitrite kết hợp với hemoglobin tạo methemoglobin, ngăn cản sự vận chuyển oxy Triệu chứng của methemoglobinemia biểu hiện như sau: ngạt thở (thở hổn hển, mõm tái xanh), lòng trắng mắt có màu hơi xanh, run rẩy, vận động thiếu phối hợp, không đứng được và thường sẽ chết (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
2.3.2.4 Nhu cầu oxy hóa học (COD – Chemical Oxygen Demand)
Nhu cầu oxy hóa học là lượng oxy (đơn vị mg O2/l) cần thiết để oxy hóa các hợp chất hữu cơ trong một thể tích nước nhất định
COD được dùng để đánh giá mức độ ô nhiễm của nước và nước thải, được dùng để đánh giá nhanh hàm lượng BOD (Biological Oxygen Demand – Nhu cầu oxy sinh học) Nếu phần lớn chất hữu cơ trong nước dễ bị phân hủy sinh học thì giá trị COD sẽ gần bằng BOD, ngược lại, giá trị COD sẽ thấp hơn BOD một cách đáng kể nếu nước chứa nhiều chất hữu cơ khó phân hủy (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
2.3.3 Vi sinh vật tồn tại trong nước
Các yếu tố ảnh hưởng đến thành phần hệ vi sinh vật nước, gồm: hàm lượng muối và các chất hữu cơ, pH, độ đục, nhiệt độ và các nguồn nhiễm khuẩn
Nguồn gốc của các vi sinh vật trong nước có thể là:
• Các vi sinh vật trong nước thật sự
• Các vi sinh vật nhiễm vào nước từ các chất thải, từ đất, từ không khí
Vi sinh vật trong nước có khả năng sử dụng những chất dinh dưỡng có nồng độ rất thấp Chúng sống tự do hay bám vào các chất rắn Thành phần vi sinh vật trong nước cũng rất đa dạng, trong nước còn có các loại nấm (chủ yếu là nấm men) sống hoại sinh, ký sinh trên các động thực vật nước
Trang 20Vi sinh vật chỉ danh ô nhiễm nước
Vi sinh vật chỉ danh ô nhiễm nước là những vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hóa động vật máu nóng và người Trong những điều kiện bình thường, chúng không gây bệnh
Các vi sinh vật chỉ danh ô nhiễm nước thường dùng:
• Nhóm coliforms và Clostridium perfringens
• Streptococci và Enterococci từ phân
2.4 THỨC ĂN TRONG CHĂN NUÔI
Theo Nguyễn Bạch Trà (2003), trong chăn nuôi heo, để sử dụng thức ăn đạt hiệu quả cần nắm vững 2 vấn đề:
9 Vai trò của các chất dinh dưỡng và nhu cầu dinh dưỡng của từng giống, từng nhóm heo
9 Đồng thời phải hiểu rõ giá trị thành phần dinh dưỡng của từng loại thức
ăn nhằm đảm bảo chất lượng phù hợp với yêu cầu từng loại heo, tiết kiệm thức ăn
Ẩm độ thức ăn có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của hệ sợi, sự sản sinh bào tử,
sự nảy mầm của bào tử nấm mốc
2.4.1 Vi sinh vật trong thức ăn chăn nuôi
Hệ vi sinh vật có trong thức ăn chăn nuôi luôn biến đổi cả về số lượng và chất lượng, nó tùy thuộc vào thành phần dinh dưỡng, công nghệ chế biến, chất liệu bao bì
và quá trình sử dụng
Bảng 2.5: Những vi khuẩn thường gặp trong thức ăn chăn nuôi
STT Họ vi khuẩn Giống vi khuẩn đại diện
5 Enterobacteriaceae Coliforms, Salmonella
6 Bacillaceae Bacillus, Clostridium
(Nguồn: Gedek, 1974; trích dẫn bởi Trần Thị Hạnh, 1996)
Trang 212.4.2 Độc tố nấm mốc trong thức ăn chăn nuôi
Độc tố nấm mốc đầu tiên được biết đến là ergotin, một chất gây độc thần kinh
do loài nấm mốc Claviceps purpurea sản sinh Có nhiều loại độc tố gây bệnh cho người và heo, nhưng độc tố aflatoxin mang tính chất độc hại nhất, do loài Aspergillus
flavus sản sinh (Claude Moreau, 1980)
Thức ăn bị nhiễm độc tố nấm mốc gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng trong chăn nuôi, điển hình là vụ gây chết 100.000 con gà tây ở Anh vào năm 1960 – 1961
Theo Đậu Ngọc Hào (1996), độc tố nấm mốc có thể làm cho heo chậm lớn, tiêu chảy, viêm gan và hư thận Nếu sử dụng liều lượng thấp và kéo dài, nó có thể gây nên bệnh ung thư
Các độc tố nấm mốc đều gây ra các ảnh hưởng sau:
Tăng chi phí thức ăn
Giảm trọng lượng
Tăng tỷ lệ chết
Dễ gây mẫn cảm với các bệnh truyền nhiễm do gây sự suy giảm miễn dịch
Gây ỉa chảy, chậm lớn, còi cọc, xù lông, vàng da, viêm da, sảy thai, giảm
tỷ lệ đẻ, gây chết phôi, gây chết hàng loạt
Tồn dư chất độc trong mô bào gây nguy hại cho người tiêu dùng
2.5 NƯỚC THẢI TRONG CHĂN NUÔI
Nước thải trong các cơ sở chăn nuôi heo là phần nước thải ra từ khu chăn nuôi
do việc làm vệ sinh chuồng trại, máng ăn máng uống, nước dùng tắm rửa heo hàng ngày Thành phần nước thải chăn nuôi heo biến động rất lớn, phụ thuộc vào quy mô đàn heo, phương thức dọn vệ sinh, kiểu thiết kế chuồng Trong nước thải, nước chiếm
75 – 95%, phần còn lại là các chất hữu cơ, vô cơ và mầm bệnh (Nguyễn Thị Hoa Lý, 2004)
Tính chất nguy hiểm của nước thải tùy thuộc vào nguồn tiếp nhận nước thải và khả năng làm sạch nước thải trong tự nhiên
Trang 22Bảng 2.6: Một số thành phần của nước thải chăn nuôi heo
(Nguồn: Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
2.5.1 Các chất tạo mùi trong nước thải
Nước thải chăn nuôi thường có mùi hôi thối do các chất tạo mùi có sẵn trong
nước, hoặc do vi sinh vật tạo thành từ các vật chất hữu cơ Nước thải càng thiếu oxy
thì các chất tạo mùi hình thành càng nhiều
Bảng 2.7: Các chất tạo mùi trong nước thải
hay sự thủy phân urê Nước ngầm có nồng độ ammonia thấp do bị hấp thu bởi các hạt
đất, do đó, nó không thấm qua đất mà hay bị oxy hóa để tạo ra sản phẩm cuối cùng là
nitrate Mặc dù không gây chết, ammonia có thể làm cho heo dễ mắc bệnh và chậm
phát triển (Taiganides, 1992)
Hydro sulfur là khí rất độc, sinh ra từ sự phân hủy của các vi khuẩn kỵ khí lưu
huỳnh trong phân, nước tiểu Khí này có mùi trứng thối, được nhận ra ở nồng độ 1
ppm trở lên (Norén, 1987)
Trang 232.5.2 Các loại vi sinh vật trong nước thải
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004):
- Trong nước thải của các trại chăn nuôi heo có nhiều loại vi sinh vật gây bệnh,
điển hình là nhóm vi trùng đường ruột với các loài điển hình như: E coli, Salmonella,
Shigella, Proteus
- Vi trùng gây bệnh đóng dấu heo tồn tại trong nước thải 92 ngày, Brucella là 74 – 108 ngày, Salmonella là 3 – 6 tháng, Leptospira là 3 – 5 tháng, virus LMLM là 2 – 3
tháng
- Các loại vi khuẩn có nha bào như Bacillus anthracis tồn tại 10 năm,
Clostridium tetani tồn tại và còn khả năng gây bệnh 3 – 4 năm
- Trong nước thải còn có trứng giun sán của các loài điển hình là Fasciola
hepatica, Fasciola gigantica, Ascaris suum, Trichocephalus dentatus,… có thể phát
triển đến giai đoạn gây nhiễm sau 6 – 28 ngày, ở nhiệt độ và khí hậu nước ta thì chúng tồn tại được 2 – 5 tháng
Vệ sinh sát trùng được tiến hành ở nhiều giai đoạn và trên nhiều đối tượng trong suốt quá trình chăn nuôi (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Chọn chất sát trùng phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tế Thông thường, vì
Trang 24là các yếu tố quyết định sự thành công của việc sát trùng (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Các biện pháp tiêu độc khử trùng
Theo Lê Anh Phụng (1996):
+ Tiêu độc cơ giới: Bao gồm thu dọn phân, rác, rơm độn chuồng, chôn thức ăn thừa, cọ rửa dụng cụ, nền chuồng, nạo vét cống rãnh, tiêu độc cơ giới cần thực hiện trước và sau các biện pháp tiêu độc khác
+ Tiêu độc vật lý: ánh sáng mặt trời diệt được nhiều mầm bệnh trên dụng cụ trong chuồng trại
+ Tiêu độc hóa học: dùng rộng rãi trong thú y Tác động của hóa chất phụ thuộc hai yếu tố: nồng độ chất diệt trùng, thời gian tác động
+ Tiêu độc sinh học: dựa trên quá trình lên men của vi sinh vật trong phân chuồng làm nhiệt độ đống phân lên đến 70-750C kéo dài 10-15 ngày sẽ tiêu diệt phần lớn mầm bệnh
Hố sát trùng tại chuồng nuôi
Việc sử dụng các hố sát trùng chỉ thật sự đạt hiệu quả khi người chăn nuôi mang các loại ủng chống nước và ngâm chân mang ủng sạch trong dung dịch sát trùng sâu 15 cm trong ít nhất 1 phút Các chất sát trùng thích hợp cho các hố sát trùng là phenol, cresol, và iodophors (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Dung dịch sát trùng trong hố cần được thay thường xuyên Trong trại lớn nên thay dung dịch sát trùng mỗi ngày, hay thậm chí mỗi buổi nếu thấy có sự nhiễm bẩn (chất hữu cơ) nhiều Ở các cơ sở chăn nuôi nhỏ có thể thay dung dịch 3 ngày/lần Trong trường hợp giày dễ bị dính đất cần có hố chứa dung dịch sát trùng loãng để rửa giày trước khi bước sang hố sát trùng (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Hố sát trùng phương tiện vận chuyển
Theo Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa (2004):
Phương tiện vận chuyển heo và các sản phẩm có liên quan cùng với người lái
xe có thể là phương tiện cơ giới truyền lây mầm bệnh Để đạt hiệu quả sát trùng cần bảo đảm sự thiết kế, xây dựng, cách sử dụng hố sát trùng phù hợp cho việc tiếp xúc
Trang 25của bề mặt các bánh xe trong dung dịch sát trùng trong một khoảng thời gian đủ để tiêu diệt mầm bệnh
Khi thiết kế hố sát trùng cần chú ý: kích thước hố phải đủ lớn, hố phải được làm bằng vật liệu chống thấm, chống rò rỉ
Có thể dùng iodophors tương đối an toàn cho môi trường do chúng dễ trung hòa, và thường không độc đối với người và vật nuôi Khi thấy dung dịch bị đục, có nhiều chất hữu cơ thì thay nước, hoặc sau cơn mưa lớn thì phải pha thêm thuốc sát trùng
Một số hóa chất dùng tiêu độc
Chlorine và hypochlorite được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước thải vì có tính sát trùng mạnh, khử mùi, làm kết tủa các chất hoá học, khử màu và xử lý cyanide Iodophor được dùng như một chất tẩy uế, tiêu diệt được vi khuẩn không bào tử, vi khuẩn lao, hầu hết các virus và nấm mốc
Phenolic sát trùng nền, sàn, tường, đồ dùng trong nhà
Ammonium bậc bốn sát trùng các dụng cụ đựng thức ăn, hay kệ Sát trùng các đối tượng không bị ô nhiễm nặng hay để rửa sạch các đối tượng sát trùng trước khi áp dụng các phương pháp tiệt trùng hữu hiệu Diệt tảo
Glutaraldehyde sát trùng dụng cụ phẫu thuật
Formaldehyde dung dịch 4% được dùng sát trùng tường, sàn
Hydrogen hydroxide (HP) tiêu diệt vi khuẩn, làm sạch vết thương, khử mùi nước thải (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004)
Trang 26Bảng 2.8: Những chất sát trùng thích hợp trong vệ sinh chuồng trại
phenol
Dẫn xuất nhựa than Cl2
+ bậc bốn
Ghi chú: + thích hợp ± hạn chế trong một số trường hợp - không thích hợp
(Nguồn: Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị Kim Hoa, 2004) Một vài chất sát trùng có tính ăn mòn, độc hại, gây kích ứng và có thể gây ung
thư nên cần đọc kỹ các chỉ dẫn về thuốc và cách sử dụng Khi sử dụng các chất có tính
acid hay kiềm mạnh, cần đeo găng cao su và mặt nạ (Nguyễn Thị Hoa Lý và Hồ Thị
Kim Hoa, 2004)
Trang 27Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
3.1 Thời gian và địa điểm
3.1.1 Thời gian
Từ 09/2008 – 02/2009
3.1.2 Địa điểm
Huyện Vũng Liêm, Mang Thít, Long Hồ - Tỉnh Vĩnh Long
3.2 Đối tượng khảo sát
Hộ chăn nuôi heo có từ 10 nái trở lên Tổng số 40 hộ
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu khảo sát
9 Đặc điểm chung về chăn nuôi heo nái
Mục đích, nguồn gốc, vị trí chuồng trại
Thiết kế chuồng trại
Việc cung cấp thức ăn, nước uống
9 Đánh giá điều kiện vệ sinh thú y
Bố trí chuồng trại
Vệ sinh chuồng trại
Thực hiện các biện pháp an toàn sinh học
9 Tình hình dịch bệnh, tỷ lệ tiêm phòng và các biện pháp xử lý khi có dịch bệnh xảy ra trên heo nái
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra tình hình chăn nuôi và một số dịch bệnh trên heo tại hộ chăn nuôi
Chọn hộ chăn nuôi để điều tra: lược trên danh sách thống kê của cơ quan thú y, thống kê hộ chăn nuôi heo qui mô 10 heo nái trở lên
Tiến hành khảo sát và ghi nhận số lượng, qui mô của hộ chăn nuôi phương thức
Trang 28khi có dịch bệnh xảy ra bằng cách dùng phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp chủ hộ chăn nuôi: người điều tra hỏi và chủ hộ chăn nuôi trả lời rồi ghi vào phiếu điều tra
Đánh giá việc thực hiện tiêm phòng dịch bệnh Tham khảo hồ sơ lưu trữ của ban ngành Xã, Huyện, chi cục thú y Vĩnh Long để có sự đối chiếu
3.4.2 Đánh giá an toàn sinh học của hộ chăn nuôi
Dựa vào qui trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi heo an toàn tại Việt Nam số 1506/QĐ-BNN-KHCN ngày 15 tháng 05 năm 2008 xây dựng phiếu điều tra
về điều kiện vệ sinh gia súc
Khảo sát trực tiếp tại các hộ chăn nuôi, từ cơ sở các phiếu điều tra thu thập được sẽ tiến hành phân tích và đánh giá về thực trạng vệ sinh gia súc tại các hộ chăn nuôi
Bảng 3.1 Danh sách các hộ chăn nuôi heo nái được điều tra
nái (con)
I Vũng Liêm
15 Nguyễn Văn Sương Trường Hội, Trung Nghĩa 10
Trang 2916 Ngô Văn Bé Trường Hội, Trung Nghĩa 10
7 Hồ Văn Công Hiền Phước Lộc A, Bình Phước 60
8 Nguyễn Văn Tiếng Phước Tường B, Bình Phước 11
3.5 Phương pháp xử lý số liệu
Trang 30Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm chung về chăn nuôi heo nái ở huyện Vũng Liêm, Mang Thít, Long
Hồ, tỉnh Vĩnh Long
4.1.1 Mục đích, nguồn gốc, vị trí chuồng trại ở các hộ chăn nuôi heo nái
Kết quả được trình bày qua bảng 4.1 và được minh họa qua biểu đồ 4.1
Bảng 4.1: Mục đích chăn nuôi, nguồn gốc heo, vị trí chuồng trại ở các hộ nuôi heo nái
ĐỊA PHƯƠNG KHẢO SÁT Vũng Liêm
(18 hộ)
Mang Thít (13 hộ)
Long Hồ (9 hộ)
Tổng cộng (40 hộ) Chỉ tiêu khảo sát
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%) Sản xuất con
trại Nằm trong khu
Mật độ nuôi đạt quy định
Trang 31Biểu đồ 4.1: Mục đích chăn nuôi, nguồn gốc heo, vị trí chuồng trại ở các hộ nuôi
heo nái
Mục đích chăn nuôi heo nái
Kết quả trình bày qua bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy, mục đích chăn nuôi của các
hộ nuôi heo nái theo hướng kiêm dụng chiếm tỷ lệ cao nhất (65%), so với sản xuất thịt (22,5%), và sản xuất con giống (12,5%) Kết quả cho thấy mục đích sản xuất của các
hộ chăn nuôi heo nái theo hướng kiêm dụng (vừa sản xuất giống, vừa sản xuất thịt) là phổ biến (65%) điều này nói lên việc chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa (chỉ sản xuất giống hoặc thịt) tại Vĩnh Long còn kém phát triển, không dám đầu tư chuyên sâu Theo nhận định của chúng tôi, quy mô chăn nuôi ở các hộ nuôi heo nái là chưa lớn, có đến 95% hộ chăn nuôi từ 10 con - 50 con nái, chỉ có 2 hộ là nuôi với quy mô trang trại (chiếm tỷ lệ 5%) (số liệu thu thập từ phiếu điều tra)
Trong chuyên môn hóa sản xuất con giống: ở huyện Vũng Liêm chiếm tỷ lệ cao nhất (16,7%), so với Long Hồ (11,1%), Mang Thít (7,7%) Tuy nhiên qua xử lý thống
kê, sự khác biệt giữa các địa phương là không có ý nghĩa (với P > 0,05)
Trong sản xuất thịt thì huyện Vũng Liêm cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (16,7%), so với Long Hồ (11,1%), Mang Thít (7,7%) Tuy nhiên qua xử lý thống kê, sự khác biệt
Tỷ lệ%
Chỉ tiêu khảo sát
Trang 32Trong sản xuất kiêm dụng (vừa sản xuất giống, vừa sản xuất thịt) theo thứ tự từ cao xuống thấp ta có: Mang Thít (84,6%) > Long Hồ (77,8%) > Vũng Liêm (44,4%) Qua xử lý thống kê, sự khác biệt giữa các địa phương là có ý nghĩa (với P < 0,05)
Theo nhận định của chúng tôi thì Vũng Liêm có các hộ chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa đạt tỷ lệ cao nhất về sản xuất thịt (38,9%), và cả sản xuất giống (16,7%), so với Mang Thít và Long Hồ Về mặt địa lý: Vũng Liêm giáp với Mang Thít, Tam Bình, Trà Ôn và Tỉnh Bến Tre do đó có thị trường tiêu thụ con giống rộng lớn Huyện nằm trên trục giao thông cũng thuận tiện cho việc vận chuyển, và có ưu thế trong việc trồng lúa nước tạo nhiều phụ phẩm phục vụ chăn nuôi
Mục đích chăn nuôi heo nái tại 3 huyện Vũng Liêm, Mang Thít, Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long chủ yếu là chăn nuôi phục vụ cho nhu cầu tại chỗ, cung cấp nhu cầu con giống, sản phẩm thịt trong địa phương, chưa đi sâu sản xuất chuyên môn hóa
Nguồn gốc con giống
Qua bảng 4.1 chúng tôi nhận thấy, nguồn heo giống phục vụ chăn nuôi chủ yếu
do các hộ chăn nuôi tự cung cấp (chiếm tỷ lệ 65%) (mua tinh heo tại địa phương hay dùng heo nọc để phối giống), một phần là mua từ ngoài tỉnh (35%) (chủ yếu mua tinh heo từ ngoài tỉnh để gieo tinh nhân tạo) Nhà chăn nuôi đã biết đầu tư cải tạo giống địa phương (chủ yếu qua truyền tinh nhân tạo) tạo đàn heo lai cho năng suất cao và bán được giá Bên cạnh đó, một số hộ chăn nuôi còn mua con giống tốt từ Thành Phố Hồ Chí Minh về nuôi, việc mua giống từ ngoài tỉnh (không đảm bảo an toàn về dịch bệnh), sẽ du nhập dịch bệnh vào tỉnh gây khó khăn trong việc kiểm soát dịch bệnh Theo điểm C khoản 1 điều 12 của Pháp lệnh thú y 2004 (Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, 2004): con giống phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng giống vật nuôi, không mang mầm bệnh truyền nhiễm, đã được kiểm dịch và áp dụng các biện pháp phòng bệnh bắt buộc
Ở từng địa phương, nguồn heo giống do các hộ chăn nuôi tự nhân giống cũng chiếm tỷ lệ cao: Vũng Liêm (61,1%), Mang Thít (69,2%), Long Hồ (66,7%) Qua xử
lý thống kê, sự khác biệt giữa các địa phương là không có ý nghĩa (với P > 0,05) Theo nhận định của chúng tôi, việc tự nhân giống trong chăn nuôi là rất tốt vì giảm thiểu việc nhu nhập dịch bệnh vào khu chăn nuôi, thông qua việc nhập con giống nếu các biện pháp cách ly, quản lý không được đảm bảo
Trang 33Bên cạnh đó, nguồn heo giống do các hộ chăn nuôi mua từ ngoài tỉnh chiếm tỷ
lệ thấp: Vũng Liêm (38,9%), Mang Thít (30,8%), Long Hồ (33,3%) Qua xử lý thống
kê, sự khác biệt giữa các địa phương là không có ý nghĩa (với P > 0,05)
Nhà chăn nuôi heo chủ yếu nuôi các giống heo như: heo ngoại (Yorkshire, Landrace, Duroc), và heo lai (lai giữa heo địa phương với các nhóm heo ngoại) Trong
đó heo lai chiếm tỷ lệ cao nhất (69,7%), và kế đó là heo ngoại (30,3%) (số liệu tổng hợp từ phiếu điều tra)
Vị trí chuồng trại cách khu dân cư ít nhất 500m
Kết quả được trình bày qua bảng 4.1 cho thấy vị trí chuồng trại cách xa khu dân
cư (chiếm tỷ lệ 57,5%), cao hơn so với chuồng trại còn gần khu dân cư (42,5%) Kết quả điều tra cho thấy hộ chăn nuôi làm chuồng trại gần khu dân cư, là không tốt cho vấn đề về môi trường, và không đảm bảo được an toàn dịch bệnh Theo điểm a khoản
2 điều 12 của pháp lệnh thú y 2004 (Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, 2004): địa điểm của cơ sở chăn nuôi phải theo quy hoạch, cách xa khu dân cư, công trình công cộng, đường giao thông chính, nguồn gây ô nhiễm Theo quy trình chăn nuôi heo tốt, an toàn tại Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008) có quy định: vị trí xây dựng chuồng trại phải cách xa đường giao thông, khu dân cư, khu công nghiệp, công
sở, trường học, khu chế biến sản phẩm chăn nuôi, bệnh viện, khu chăn nuôi khác và xa
hệ thống kênh, mương thoát nước thải của khu vực
So sánh giữa các địa bàn, vị trí chuồng trại có cách xa khu dân cư được xếp theo thứ tự: Mang Thít (61,5%), Vũng Liêm (55,5%), Long Hồ (55,5%) Qua xử lý thống kê, cho thấy không có sự khác biệt giữa các địa phương (với P > 0,05) Theo nhận định của chúng tôi, nhiều hộ chăn nuôi heo nái đã có hiểu biết về việc xây dựng chuồng trại cách xa khu dân cư
Vị trí chuồng trại nằm trong khu đã được quy hoạch của địa phuơng
Qua bảng 4.1 cho thấy chỉ có một tỷ lệ thấp (25%) hộ chăn nuôi có chuồng trại nằm trong khu đã được quy hoạch Việc quy hoạch khu vực chăn nuôi của tỉnh gặp nhiều khó khăn do không có sự quy hoạch ban đầu (tại Vĩnh Long đã quy hoạch vùng trọng điểm trong chăn nuôi là ở Vũng Liêm), các hộ chăn nuôi còn sản xuất nhỏ lẻ,
Trang 34khó khăn trong phòng chống dịch bệnh Theo điểm a khoản 1 điều 7 của Nghị định 33 của Chính Phủ (2005) (quy định chi tiết thi hành 1 số điều của pháp lệnh thú y) có quy định: địa điểm chăn nuôi phải theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt
So sánh giữa các địa bàn thì Vũng Liêm có 38,9% số hộ chăn nuôi có nằm trong khu quy hoạch, cao hơn so với Mang Thít (15,3%), và Long Hồ (11,1%) Tuy vậy qua xử lý thống kê, sự khác biệt là không có ý nghĩa giữa các địa phương (với P > 0,05)
Mật độ nuôi đạt quy định (diện tích tối thiểu 2 m 2 /nái)
Theo công ty Merial có khuyến cáo, diện tích nuôi cho heo nái tối thiểu 2 m2/ nái Như thế theo khuyến cáo thì tất cả (100%) số hộ khảo sát thực hiện tốt về mật độ nuôi Qua phiếu điều tra chúng tôi nhận thấy ở Vũng Liêm diện tích trung bình cho một heo nái là 5 m2/con, Mang Thít là 9 m2/con, Long Hồ là 7 m2/con Các hộ chăn nuôi này thường xây dựng chuồng với diện tích rộng cho heo vận động, thoáng mát, và thường có mục đích khác là khi cần dùng chuồng đó để nuôi heo con đẻ ra
Theo Nguyễn Lương (1987) mật độ nuôi có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe gia súc, sự lây lan dịch bệnh Mật độ nuôi heo nái càng lớn thì các cá thể càng gần nhau tạo điều kiện thuận lợi cho lây lan bệnh tật Không những thế mật độ cao kéo theo những tình hình có hại cho sức khỏe của thú như: ô nhiễm không khí, diện tích sống thu hẹp, dễ bị kích động, do đó việc truyền lây càng được dễ dàng
Qua phân tích các chỉ tiêu trên chúng tôi nhận thấy: mục đích chăn nuôi heo nái theo hướng kiêm dụng (vừa sản xuất giống, vừa sản xuất thịt) là phổ biến (chiếm 65%) Nguồn heo giống chủ yếu do các hộ chăn nuôi tự nhân giống (chiếm 65%) Vị trí chuồng trại cách khu dân cư ít nhất 500m chiếm tỷ lệ khá cao (57,5%), và mật độ nuôi heo nái đạt quy định (diện tích tối thiểu 2 m2/con nái) được các nhà chăn nuôi thực hiện tốt (100%) Tuy nhiên vị trí chuồng trại có nằm trong khu đã được quy hoạch chưa cao (25%)
Trang 354.1.2 Thiết kế chuồng trại
Kết quả điều tra được trình bày qua bảng 4.2 và được minh họa qua biểu đồ 4.2
Bảng 4.2: Đặc điểm thiết kế chuồng trại nuôi heo nái
ĐỊA PHƯƠNG KHẢO SÁT Vũng Liêm
(18 hộ)
Mang Thít (13 hộ)
Long Hồ (9 hộ)
Tổng cộng (40 hộ) Chỉ tiêu khảo sát Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Xi măng 16 88,9 10 76,9 8 88,9 34 85 Nền
Biểu đồ 4.2 Đặc điểm thiết kế chuồng trại nuôi heo nái Nền chuồng
Kết quả được trình bày qua bảng 4.2 cho thấy có đa số (85%) hộ chăn nuôi heo
chỉ tiêu khảo sát
Tỷ lệ%
Trang 36nái sử dụng nền xi măng chiếm đa số (85%) vì: sức dẫn nhiệt khá, không hút nước, nền đủ cứng giữ không quá láng làm heo trợt chân, kinh phí đầu tư thấp hơn nền lưới sắt nên nhà chăn nuôi rất ưa chuộng, nhưng vào ban đêm hoặc vào mùa lạnh có mưa, heo nái dễ bị cảm lạnh Nền lưới sắt tốn chi phí hơn rất nhiều so với nền xi măng, nhưng có thuận lợi hơn vì dễ vệ sinh, dọn rửa nhanh, ít lưu giữ mầm bệnh lâu trên nền tạo điều kiện phòng bệnh tốt, đây là phương thức chăn nuôi tiên tiến, thích hợp của các
hộ chăn nuôi với qui mô công nghiệp hoặc bán công nghiệp
Các địa phương khảo sát cũng cho thấy việc sử dụng nền xi măng chiếm tỷ lệ rất cao như: Vũng Liêm (88,9%), Mang Thít (76,9%), và Long Hồ (88,9%) Qua xử lý thống kê, sự khác biệt là không có ý nghĩa giữa các địa phương (với P > 0,05)
Trong sử dụng nền lưới sắt ở các địa phương: Vũng Liêm (chiếm11,1%), Mang Thít (23,1%), và Long Hồ (11,1%) Qua xử lý thống kê, sự khác biệt cũng không có ý nghĩa giữa các địa phương (với P > 0,05)
kế hệ thống phun nước trên mái nhằm làm giảm nhiệt độ trong chuồng Ở các địa phương việc sử dụng mái tole rất phổ biến: Vũng Liêm (61,1%), Mang Thít (61,5%), Long Hồ (77,%) Qua xử lý thống kê, sự khác biệt giữa các địa phương không có ý nghĩa (với P > 0,05)
Sử dụng mái lá: vật liệu có sẵn, rẻ tiền, ít dẫn nhiệt, tuy nhiên phải thay mới định kỳ Hiện ít hộ chăn nuôi thực hiện, cho thấy xu hướng tiến bộ ở các hộ chăn nuôi heo nái là sử dụng mái chuồng bằng tole là phổ biến So sánh việc sử dụng mái lá ở các địa phương: Vũng Liêm (38,9%), Mang Thít (38,5%), Long Hồ (22,2%) Qua xử
lý thống kê, sự khác biệt giữa các địa phương không có ý nghĩa (với P > 0,05)
Trang 37Có hố sát trùng ở cổng
Qua bảng 4.2 cho thấy số hộ khảo sát có hố sát trùng trước cổng chuồng trại chiếm tỷ lệ thấp (32,5%), trong khi có 67,5% hộ chăn nuôi không có thực hiện (khoảng 2/3 số hộ nuôi heo nái) Số hộ chăn nuôi khảo sát không có hố sát trùng trước cổng (67,5%) là nguy cơ cao cho sự xâm nhập của mầm bệnh bất cứ thời điểm nào thông qua con người (yếu tố trung gian truyền lây sinh vật) và phương tiện vận chuyển (yếu tố trung gian truyền lây không sinh vật) Theo quy trình thực hành chăn nuôi tốt cho chăn nuôi heo an toàn tại Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2008) có quy định: ở các cổng ra vào của các khu chuồng trại và ở đầu mỗi dãy chuồng phải bố trí hố khử trùng, người và phương tiện vận chuyển trước khi vào trại đều phải đi qua các hố khử trùng Theo điểm đ khoản 1 điều 7 (Nghị định 33 của Chính phủ, 2005): có hố sát trùng cho người và phương tiện vận chuyển trước khi vào khu chăn nuôi
So sánh giữa các địa phương: Ở Vũng Liêm các hộ có hố sát trùng chiếm tỷ lệ thấp nhất (27,8%), kế đó là Long Hồ (33,3%), và cao nhất là Mang Thít (38,4%) Nhưng qua xử lý thống kê không có sự khác biệt giữa các địa phương (với P > 0,05)
Qua phân tích các chỉ tiêu trên chúng tôi nhận thấy: đa số hộ chăn nuôi heo nái
sử dụng nền xi măng (85%), và mái chuồng bằng tole được các nhà chăn nuôi ưa chuộng (chiếm 65%) Tuy nhiên nền lưới sắt chưa được chú trọng (15%), và mái chuồng bằng lá cũng ít được sử dụng (35%) Bên cạnh đó, các nhà chăn nuôi heo nái
có thực hiện hố sát trùng trước cổng chưa được quan tâm đúng mức (32,5%)
Trang 384.1.3 Việc cung cấp thức ăn, nước uống
Kết quả điều tra được trình bày qua bảng 4.3 và được minh họa qua biểu đồ 4.3
Bảng 4.3: Việc cung cấp thức ăn, nước uống ở các hộ nuôi heo nái
ĐỊA PHƯƠNG KHẢO SÁT Vũng Liêm
(18 hộ)
Mang Thít (13 hộ)
Long Hồ (9 hộ)
Tổng cộng (40 hộ) Chỉ tiêu khảo sát
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Số
hộ
Tỷ lệ (%)
Biểu đồ 4.3: Việc cung cấp thức ăn, nước uống ở các hộ nuôi heo nái
Thức ăn, nước uống có thể đóng vai trò là yếu tố trung gian truyền lây phổ biến
vì đa số bệnh truyền nhiễm của thú nuôi lây lan qua đường tiêu hóa Các chất bài tiết của thú bệnh, đất, nước, dụng cụ chứa đựng hoặc chế biến, các động vật khác và côn trùng đều có thể nhiễm mầm bệnh vào thức ăn, nước uống (Nguyễn Lương, 1987)
chỉ tiêu khảo sát
Tỷ lệ %
Trang 39Việc cung cấp thức ăn tinh (hỗn hợp)
Thức ăn là yếu tố quan trọng được đặt lên hàng đầu, chi phí thức ăn chiếm tỷ lệ lớn nhất trong cơ cấu giá thành sản xuất, quyết định hiệu quả kinh tế chăn nuôi, sự thành công hay thất bại của nhà chăn nuôi Thức ăn cũng là yếu tố nguy cơ làm truyền lây dịch bệnh bằng đường tiêu hóa (Nguyễn Lương, 1987)
Qua bảng 4.3 chúng tôi nhận thấy tỷ lệ các hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp trộn sẵn (chiếm tỷ lệ 62,5%), cao hơn so với tỷ lệ các hộ sử dụng thức ăn hỗn hợp tự trộn (37,5%)
Thức ăn hỗn hợp trộn sẵn có ưu điểm: chất lượng ổn định, không tốn công pha trộn nhưng giá cao Thức ăn hỗn hợp trộn sẵn ở các hộ chăn nuôi heo nái thường ở dạng dập viên (thức ăn hỗn hợp trộn sẵn dạng bột ít được sử dụng), rất thuận tiện trong chăn nuôi hiện nay và là xu hướng được các hộ chăn nuôi heo nái ưa chuộng So sánh giữa các địa phương việc sử dụng thức ăn hỗn hợp trộn sẵn: Mang Thít (69,3%), Long
Hồ (66,7%), Vũng Liêm (55,5%), không có sự khác biệt giữa các địa phương về thống
Hồ (33,3%), thấp nhất là Mang Thít (30,7%) Tuy nhiên qua xử lý thống kê sự khác biệt là không có nghĩa giữa các địa phương (với P > 0,05) Qua quá trình điều tra thực
tế chúng tôi nhận thấy các hộ chăn nuôi nái tận dụng phụ phẩm từ trồng trọt như: cám, gạo, củ khoai, hạt đậu nành, thức ăn thừa của người… trộn làm thức ăn cho heo, nhằm làm giảm giá thành sản xuất trong chăn nuôi