TIÊU CHẢY TRÊN HEO DO CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC Ngoài ra, biểu hiện tiêu chảy còn xuất hiện khi heo bị viêm ruột do ngộ độc, viêm ruột do thức ăn, viêm ruột do ký sinh trùng, độc tố trong nấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH VÀ LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY
NGHI DO CORONAVIRUS TRÊN HEO TẠI ĐỒNG NAI
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN KIM HƯNG Ngành: DƯỢC THÚ Y
Niên khóa: 2004 – 2009
Tháng 09/2009
Trang 2KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ,TRIỆU CHỨNG, BỆNH TÍCH VÀ LIỆU PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY NGHI DO
CORONAVIRUS TRÊN HEO TẠI ĐỒNG NAI
NGUYỄN KIM HƯNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ Thú Y
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Để hoàn thành được cuốn luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực từ bản thân, tôi đã luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, đầy trách nhiệm và sự yêu thương của
TS Dương Duy Đồng và TS Nguyễn Tất Toàn
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến giám đốc công ty TNHH Kim Thu B.D.C – BSTY Đặng Thị Kim Thu, BSTY Đỗ Tiến Duy, BSTY Phạm Công Điền, BSTY Nguyễn Tiến Dũng, BSTY Nguyễn Thành Tài, BSTY Nguyễn Đức Vũ, KSCN Nguyễn Quốc Thăng, KSCN Nguyễn Thành Công, các anh chị trong công ty TNHH Kim Thu B.D.C, Bệnh viện Thú y trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, đã tạo điều kiện để tôi có môi trường thuận lợi để tiến hành đề tài
Xin bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy Cô trong trường Đại Học Nông Lâm – Tp HCM đã tận tình chỉ dạy để giúp em hiểu biết nhiều kiến thức chuyên môn và cuộc sống Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến những anh chị em trong lớp Dược Thú Y 30 thân thương đã động viên và giúp đỡ trong suốt những năm học
Tận đáy lòng, con xin cám ơn ba mẹ vì tất cả những gì con có ngày hôm nay đều do ba mẹ đã cho con
Nguyễn Kim Hưng
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài: “Khảo sát một số đặc điểm dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và liệu pháp
điều trị bệnh tiêu chảy nghi do Coronavirus trên heo tại Đồng Nai”
Thời gian: từ ngày 18/03/2009 đến ngày 30/06/2009
Địa điểm: tại một số trại chăn nuôi heo bị dịch tiêu chảy nghi do Coronavirus
gây ra trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Mục đích khảo sát: đề tài nhằm khảo sát một số đặc điểm dịch tễ, triệu chứng,
bệnh tích và liệu pháp điều trị bệnh tiêu chảy nghi do Coronavirus trên heo tại Đồng
Nai, từ đó có những thông tin và khuyến cáo về liệu pháp điều trị thích hợp cho người chăn nuôi
Phương pháp khảo sát: tiến hành lập phiếu điều tra trên mỗi trại khảo sát bị dich
tiêu chảy nghi do Coronavirus, dựa vào các tiêu chí có sẵn trong phiếu điều tra tiến
hành phỏng vấn các đặc điểm về dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, liệu pháp và hiệu quả điều trị, đồng thời cũng tiến hành mổ khám trên heo con theo mẹ để ghi nhận bệnh tích đại thể và lấy mẫu vi thể
Kết quả khảo sát:
Khảo sát về tình hình dịch tễ: bệnh tiêu chảy nghi do Coronavirus trên heo
không phụ thuộc nhiều vào các yếu tố về dịch tễ Tỷ lệ bệnh thấp trên đối tượng heo theo mẹ, cai sữa, mang thai và hậu bị ở những trại có nguồn nước được xử lý, có khoảng thời gian sát trùng là 1 lần/tuần, có khoảng cách với các trại gần kề >500 m Các yếu tố dịch tễ khác ít ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh
Khảo sát về triệu chứng lâm sàng: các triệu chứng lâm sàng đặc trưng của bệnh
tiêu chảy nghi do Coronavirus trên heo là: phân dạng lỏng, có mùi khó chịu, có màu
vàng, xanh, hoặc xám Trên heo thường bỏ ăn, ói mửa, heo theo mẹ thường tụ tập thành từng đám, nái nuôi con có thể mất sữa Tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết trên heo theo mẹ rất cao (từ 50 – 100%) Trên các đối tượng heo khác tỷ lệ bệnh thấp hơn và tỷ lệ chết rất thấp
Khảo sát về bệnh tích đại thể và vi thể: bệnh tích chủ yếu là trên dạ dày và ruột non như: xuất huyết, biểu mô bong tróc, bị bào mòn
Trang 5Khảo sát về kết quả điều trị: tại thời điểm khảo sát số trại chăn nuôi heo sử dụng phương pháp autovaccin và kháng thể thụ động (BoostStart) chiếm tỷ lệ cao nhất
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang tựa i
Cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Mục lục v
Danh mục các chữ viết tắt viii
Danh mục các hình ix
Danh mục sơ đồ ix
Danh mục các bảng x
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy trên heo con 3
2.1.1 Đặc điểm sinh lý heo con 3
2.1.1 Bệnh lý heo con 5
2.2 Bệnh tiêu chảy trên heo do vi trùng 7
2.2.1 Bệnh do Salmonella 7
2.2.2 Bệnh Hồng Lỵ ở heo 7
2.2.3 Bệnh đường ruột do tăng sinh 8
2.2.4 Viêm ruột do Campylobacter 8
2.2.5 Tiêu chảy do nhóm vi trùng đường ruột 8
2.2.6 Tiêu chảy do vi trùng khac 9
2.3 Bệnh tiêu chảy trên heo do virus 9
2.3.1 Bệnh do Rotavirus 9
2.3.2 Ảnh hưởng do Parvovirus 10
2.4 Tiêu chảy do các nguyên nhân khác 11
2.5 Tiêu chảy trên heo do Coronavirus 11
2.5.1 Bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm 11
2.5.1.1 Khái niệm 11
2.5.1.2 Lịch sử và phân bố địa lý 11
Trang 72.5.1.3 Căn bệnh 11
2.5.1.4 Truyền nhiễm học 11
2.5.1.5 Triệu chứng 13
2.5.1.6 Bệnh tích 14
2.5.1.7 Chẩn đoán 14
2.5.1.8 Phòng bệnh 14
2.5.2 Dịch tiêu chảy địa phương (PED) 15
2.5.2.1 Khái niệm 15
2.5.2.2 Sự phân bố địa lý 15
2.5.2.3 Căn bệnh 15
2.5.2.4 Truyền nhiễm học 16
2.5.2.5 Triệu chứng 17
2.5.2.6 Bệnh tích 18
2.5.2.7 Chẩn đoán 18
2.5.2.8 Phòng bệnh và điều trị 19
CHƯƠNG 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 20
3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát 20
3.1.1 Thời gian 20
3.1.2 Địa điểm khảo sát 20
3.2 Đối tượng khảo sát 20
3.3 Nội dung khảo sát 20
3.4 Vật liệu khảo sát 20
3.5 Phương pháp khảo sát 21
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 21
3.5.2 Phương pháp khảo sát tình hình dịch tễ 22
3.5.3 Phương pháp ghi nhận triệu chứng lâm sàng 22
3.5.4 Phương pháp ghi nhận bệnh tích đại thể 22
3.5.5 Phương pháp ghi nhận liệu pháp và hiệu quả điều trị 23
3.6 Chỉ tiêu theo dõi 23
3.7 Xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
Trang 84.1 Tình hình dịch tễ 25
4.1.1 Tình hình dịch tễ chung 26
4.1.2 Tình hình dịch tễ trên heo lứa tuổi theo mẹ 27
4.1.3 Tình hình dịch tễ trên heo cai sữa 29
4.1.4 Tình hình dịch tễ trên nái mang thai 30
4.1.5 Tình hình dịch tễ trên nái hậu bị 31
4.1.6 Tình hình dịch tễ trên các đối tượng khác 32
4.2 Triệu chứng lâm sàng 32
4.3 Bệnh tích 37
4.3.1 Bệnh tích đại thể trên heo con giai đoạn theo mẹ 37
4.3.2 Bệnh tích vi thể trên heo con giai đoạn theo mẹ 41
4.4 Liệu pháp điều trị 45
4.4.1 Autovaccin 45
4.4.2 Kháng thể thụ động 46
4.4.3 Bổ sung nước, muối khoáng 46
4.4.4 Kháng sinh 46
4.4.5 Các phương pháp khác 47
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ca-PEDV Môi trường nuôi cấy PEDV
E.coli Escherichia coli
FAO Food and Agriculture Organization
IFA Indirect Fluorescent Antibody
HEV Hemagglutinating encephalomyelitis virus
PEDV Porcine Epidemic Diarrhea Virus (Dịch tiêu chảy địa phương)
PI Post inoculation (sự cấy truyền)
TGEV Transmissible Gastroenteritis Virus (Bệnh viêm dạ dày ruột
truyền nhiễm) wt-PEDV Type hoang dã của PEDV
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Các dạng phân tiêu chảy và hiện tượng phủ bông trên phân 34
Hình 4.2: Heo con theo mẹ tụ lại thành từng đám 35
Hình 4.3: Cơ thể heo con theo mẹ gầy còm, suy nhược, lông xù, da nhăn, khô, nhạt màu 36
Hình 4.4: Cơ thể nái đẻ gầy còm 36
Hình 4.5: Dạ dày căng phồng chứa nhiều thức ăn không tiêu 38
Hình 4.6: Thành ruột non mỏng, phồng to bên trong chứa dịch lợn cợn vàng, xanh 39
Hình 4.7: Xoang miệng và thanh quản heo con theo mẹ chứa nhiều dịch nhày 39
Hình 4.8: Hạch bẹn, mạch bạch huyết màng treo ruột sưng lớn 40
Hình 4.9: Thận sưng lớn, chứa nhiều dịch viêm, xuất huyết 40
Hình 4.10: Phổi viêm, hoá gan 41
Hình 4.11: Biểu mô dạ dày bong tróc, xuất huyết, viêm 42
Hình 4.12: Nhung mao tá tràng bị ăn mòn, xẹp đi; tuyến lierberkuhn bị hư hại, niêm mạc phồng to, xuất huyết trên đỉnh lông nhung 42
Hình 4.13: Không tràng xuất huyết, viêm phủ bề mặt, nhung mao bị cùn đi 43
Hình 4.14: Hồi tràng có lông nhung bị mòn, nốt bạch huyết hư, xuất huyết 43
Hình 4.15: Ống lượn thận tăng sinh, trương đục, bị hoại tử đông đặc xuất huyết vùng tuỷ 44
Hình 4.16: Phổi xuất huyết, xung huyết, viêm mô kẽ, viêm hoá gan đỏ 44
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Cơ chế tác động của virus viêm dạ dày ruột truyền nhiễm 13
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tỷ lệ bệnh trên đàn chưa mắc bệnh 11
Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm 21
Bảng 3.2: Số lượng các trại khảo sát trên các đối tượng 21
Bảng 4.1: Phân tích các yếu tố dịch tễ giữa các trại 25
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh chung 26
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên heo theo mẹ 28
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên heo cai sữa 29
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên nái mang thai 30
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên nái hậu bị 31
Bảng 4.7: Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiêu chảy nghi ngờ do Coronavirus 33
Bảng 4.8: Bệnh tích đại thể trên heo con giai đoạn theo mẹ 38
Bảng 4.9: Bệnh tích vi thể trên heo con giai đoạn theo mẹ 41
Bảng 4.10: Liệu pháp điều trị 45
Trang 12đối với người chăn nuôi heo nước ta là bệnh do Coronavirus
Theo Dachrit Nilubol (2009), dịch tiêu chảy do Coronavirus đã từng xảy ra
năm 2003 ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản; đến năm 2005 ở Philippin; năm 2007
ở Thái Lan và cuối năm 2008, đầu năm 2009 tại Việt Nam Dịch do Coronavirus để lại những hậu quả nghiêm trọng do Coronavirus có khả năng gây ra tiêu chảy cấp, dẫn
đến chết hàng loạt heo Theo Trần Thanh Phong (1996); Andreas Pospischil và ctv
(2002), Coronavirus gây bệnh chủ yếu là heo con theo mẹ, tử số có thể lên tới 100%
và có khả năng lây lan rất nhanh Hơn nữa, những heo con không chết thì cũng phải loại thải do hệ thống nhung mao đường ruột bị phá hại làm cho chậm lớn (Dachrit Nilubol, 2009) Tuy đây là một dịch bệnh mang tính chất thời sự nhưng ở nước ta lại chưa có thông tin đầy đủ về tình hình dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và liệu pháp điều
trị bệnh tiêu chảy nghi do Coronavirus trên heo Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự
chấp nhận của khoa Chăn Nuôi – Thú Y trường Đại Học Nông Lâm TP HCM, dưới
Trang 13sự hướng dẫn của TS Dương Duy Đồng và TS Nguyễn Tất Toàn, được sự giúp đỡ
của công ty TNHH KIM THU B.D.C chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát một số đặc
điểm dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và liệu pháp điều trị bệnh tiêu chảy nghi do
Coronavirus trên heo tại Đồng Nai”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
Đề tài nhằm khảo sát một số đặc điểm dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và liệu
pháp điều trị bệnh tiêu chảy nghi do Coronavirus trên heo tại Đồng Nai, từ đó có
những thông tin và khuyến cáo về liệu pháp điều trị thích hợp cho người chăn nuôi
Trang 14CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI NIỆM VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY TRÊN HEO CON
2.1.1 Đặc điểm sinh lý heo con
2.1.1.1 Hấp thu kháng thể ở heo sơ sinh
Theo Trần Thị Dân (2003), sự hấp thu kháng thể xảy ra tối đa ở giai đoạn 4 –
12 giờ sau khi bú Kháng thể có thể được phát hiện trong máu heo con vào 3 giờ sau khi sanh, hiệu giá kháng thể trong máu những heo con bú đủ sữa và hấp thu tốt kháng thể có thể gần bằng hiệu giá kháng thể trong máu heo mẹ ở 24 giờ sau khi sanh Khoảng 84 giờ sau khi sanh ruột heo con không còn hấp thu kháng thể Cơ chế này có thể giúp cho đường ruột heo con không hấp thu những chất gây bệnh Như vậy, heo con cần bú sữa mẹ để có thể sống sót ở giai đoạn sau
2.1.1.2 Năng lượng dự trữ của heo sơ sinh
Hai nguồn năng lượng chính vào lúc sanh và ngay sau khi sanh là năng lượng
dự trữ trong cơ thể và năng lượng từ sữa đầu Lần bú đầu tiên thường xảy ra lúc 20 –
30 phút sau khi sanh nên bất kỳ những bất thường trong thời kỳ điểm tạo sữa (2 ngày cuối thai kỳ) đều nguy hiểm cho heo sơ sinh (Trần Thị Dân, 2003)
2.1.1.3 Điều khiển sự dự trữ năng lượng cho cơ thể heo sơ sinh
Theo Trần Thị Dân (2003), ta nên cung cấp chất dinh dưỡng ngay sau khi sanh
để cải thiện sức sống cho heo con Glucose, lactose, acid oleic và dầu bắp đã được thử nghiệm với vài kết quả thành công Giữ ấm cho heo con là ưu tiên hàng đầu vì heo con
ít mỡ nâu và dự trữ năng lượng Ngoài ra, ta nên tập cho heo con ăn sớm do sức sản xuất sữa của heo nái không đủ cho heo con từ 8 – 10 ngày tuổi trở đi và khả năng tăng trưởng mô cơ bị ảnh hưởng bởi thành phần sữa của từng nái Tỷ lệ protein so với mỡ sữa tương đối thấp (9,2 – 10,4 g protein / MJ năng lượng thô) nên kích thích heo con tích tụ mỡ dưới da để dự trữ năng lượng và tạo lớp cách nhiệt dưới da Như vậy, sữa
Trang 15heo nái được dùng vào việc tạo mỡ nhiều hơn tạo nạc, nhất là trong 3 tuần đầu sau khi sanh Do đó, nên cho heo ăn giặm trong giai đoạn theo mẹ
2.1.1.4 Thay đổi bộ máy tiêu hóa khi cai sữa
Ở giai đoạn cai sữa, theo Hampson và Kidder (1986), thì nhung mao (để hấp thu chất dinh dưỡng) ngắn đi 75% trong vòng 24 giờ sau cai sữa và tình trạng ngắn này vẫn tiếp tục nhưng giảm dần cho đến ngày thứ 5 sau cai sữa Theo Trần Thị Dân (2003), vài enzyme tiêu hoá (lactase, glucosidase, protease) bị giảm nhưng maltase lại tăng, do đó khả năng khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của ruột cũng giảm.Thêm vào nữa, thức ăn thay thế sữa mẹ có thể khó tiêu hoá hơn sữa; do đó heo con giảm khả năng tiêu hoá, vi sinh vật ruột già dễ lên men nên giảm hấp thu nước ở đường ruột dẫn đến hậu quả heo bị tiêu chảy
2.1.1.5 Sinh lý của ruột non
Đơn vị chức năng của ruột non là nhung mao Nhung mao được bao phủ bởi các tế bào biểu mô hình trụ (gọi là tế bào ruột) Những tế bào này liên kết nhau bởi phức hợp mối nối rất phát triển Theo Trần Thị Dân (2003), tế bào biểu mô ruột được thay thế liên tục Tốc độ thay thế ở nơi đây xảy ra nhanh nhất so với các nơi khác trong cơ thể, kéo dài khoảng 3 – 4 ngày trên thú trưởng thành Tốc độ thay thế ở hồi tràng (đoạn cuối ruột non) nhanh hơn ở không tràng (đoạn giữa ruột non) vì nhung mao ở hồi tràng ngắn hơn Trên thú sơ sinh, thời gian thay thế khoảng 7 – 10 ngày Do
đó, khi tế bào biểu mô ruột bị của thú non bị hư hại, thời gian cần có để hồi phục thành ruột thường kéo dài hơn thú trưởng thành Tế bào ở nhung mao thì bắt nguồn từ sự phân chia của tế bào chưa biệt hoá ở mào ruột Tế bào mào ruột có khả năng phân tiết Khi tế bào này di chuyển từ mào ruột lên phía trên của nhung mao, chúng trưởng thành
để trở thành tế bào có khả năng hấp thu của nhung mao Như thế, nếu đỉnh nhung mao
bị hư hại, tế bào ruột với chức năng hấp thu bị mất và khi ấy sự phân tiết dịch chất trở nên chiếm ưu thế Khi tổn thương tế bào chưa trưởng thành ở mào ruột, sự thay thế tế bào nhung mao bị cản trở trầm trọng Tế bào nhung mao bị ngắn lại và hợp nhất nhau; tình trạng này gọi là bất dưỡng nhung mao Kết quả là giảm diện tích hấp thu ở màng nhầy ruột Ở thú bình thường, hấp thu nhiều hơn phân tiết Trên thú tiêu chảy, hoạt động phân tiết chiếm ưu thế, thú mất nước nhanh, mất chất khoáng và shock, sau cùng thú có thể chết
Trang 162.1.1.6 Sinh lý của ruột già
Về cơ thể học, ruột già khác ruột non ở chỗ: không có nhung mao nhưng có vi nhung mao, mào ruột thẳng và dài, nhiều tế bào hình ly (tạo chất nhày, nhất là khi mắc bệnh mãn tính), nhiều nốt bạch huyết và ở vài chỗ, mào ruột ăn sâu vào lớp dưới màng nhày nơi mà có nhiều mô bạch huyết, điều này được giải thích là do có nhiều vi sinh vật ở ruột già Trong khi ruột non là nơi tiết nước còn ruột già là nơi hấp thu nước bằng cách hấp thu Na+
2.1.2 Bệnh lý của tiêu chảy
Theo Trần Thị Dân (2003), tất cả các bệnh tiêu chảy đều có liên quan đến việc tăng số lượng của những chất ảnh hưởng đến áp lực thẩm thấu ở lòng ruột Khi ấy nước di chuyển từ gian bào vào dịch chất trong lòng ruột
2.1.2.1 Cơ chế của tiêu chảy
Theo Trần Thị Dân (2003), có 5 cơ chế của tiêu chảy như sau:
(1) Thú non ăn quá nhiều sữa hoặc chất thay thế sữa, khi ấy tiêu chảy do hấp thu kém Tuy ruột già có khả năng hấp thu một lượng nước gấp 3 – 5 lần lượng nước
đi vào ruột non nhưng khi lactose không được tiêu hoá ở ruột non và bị lên men ở ruột già thì hệ thống đệm ở ruột già không thể đủ để trung hoà acid, do đó pH trong ruột già giảm và ruột già không thể đảm bảo vai trò hấp thu nước, kết quả là thú tiêu chảy
(2) Giảm diện tích hấp thu ở ruột non Tình trạng này hay gặp trong bệnh tiêu chảy do thay đổi tính thẩm thấu, khi ấy tiêu hoá và hấp thu đều kém Chẳng hạn, virus gây bệnh viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGE) làm nhung mao bất dưỡng và hậu quả đưa đến tiêu chảy cũng giống như khi thú non ăn quá nhiều Tiêu chảy do kém tiêu hoá hay kém hấp thu có thể giảm đi nếu cho thú nhịn đói Trong trường hợp này, phân của thú có tính thẩm thấu cao, thể tích phân ít hơn so với khi tiêu chảy do phân tiết ion, và phân có thể acid do tiết H+ và Cl- Điều này giúp chẩn đoán phân biệt trong trường hợp tiêu chảy do phân tiết ion nhiều và tiêu chảy do kém tiêu hoá / hấp thu
(3) Tiêu chảy do phân tiết nhiều Các chủng E coli tiết độc tố đường ruột là
nguyên nhân thường gặp của loại tiêu chảy này Vi sinh này không thâm nhập vào cơ thể và không gây bệnh tích mô học ở màng nhày ruột non nhưng gây xáo trộn lớn về hoá học do 2 độc tố: độc tố chịu nhiệt và độc tố không chịu nhiệt
Trang 17(4) Tăng tính thấm của đường ruột cũng có thể xảy ra tiêu chảy Tăng tính thấm thường xảy ra trong các trường hợp mà hiện tượng viêm làm tổn thương tế bào ruột, gây mất tính hợp nhất của mối nối giữa các tế bào và gia tăng áp lực của lớp đệm trong thành ruột
(5) Xáo trộn về vận động cơ học của ruột ít được hiểu rõ Ngày nay, người ta biết rằng sự tăng vận động của ruột non ít đưa đến tiêu chảy Thay đổi về sự vận động
có thể xảy ra ở bệnh do độc tố của E coli và TGE Trong 2 trường hợp này, tăng vận
động chỉ góp phần vào tiêu chảy mà không là nguyên nhân
2.1.2.2 Hậu quả sinh lý của tiêu chảy
Theo Trần Thị Dân 2003 có 3 hậu quả sinh lý của tiêu chảy:
(1) Ảnh hưởng rõ rệt nhất là mất dịch ngoại bào (dịch nằm giữa các tế bào, nước của máu) Mất 15% làm xuất hiện triệu chứng lâm sàng như giảm huyết áp, tim đập nhanh, thú tím tái… và mất 30% sẽ gây chết Cung cấp dịch là biện pháp ưu tiên trong trị liệu bệnh tiêu chảy Sự thành công của truyền dịch qua đường miệng thay đổi tuỳ theo loại tiêu chảy Trong tiêu chảy do phân tiết khi nhiễm nội độc tố vi khuẩn, vận chuyển đồng hướng Na/glucose ở ruột không bị ảnh hưởng, như vậy cho uống dung dịch điện giải chứa glucose rất hữu hiệu Trong tiêu chảy nhẹ do virus, lớp màng nhày vẫn còn đủ chức năng để tiếp nhận dung dịch cho uống, nhưng dung dịch uống không hữu hiệu khi tiêu chảy nặng do virus
(2) Thay đổi nồng độ ion trong máu Toan huyết (giảm pH máu) trầm trọng do bởi nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu nhất là do mất HCO3- qua phân Tác động ý nghĩa nhất là tăng kali huyết Khi hàm lượng kali trong máu tăng thì nhịp tim giảm Tỷ
số giữa K+ ngoại bào và K+ nội bào thay đổi sẽ làm giảm hiệu thế nghỉ của màng tế bào, do đó hoạt động của cơ tim bị rối loạn và thú có thể chết
(3) Thay đổi do biến dưỡng Giảm glucose huyết thường xảy ra trong trường hợp tiêu chảy cấp tính trầm trọng vì thú biếng ăn, giảm hấp thu dưỡng chất, ức chế tân tạo đường và tăng thuỷ phân glycogen Khi ấy, thân nhiệt hạ thấp vì không đủ glucose trong việc tạo năng lượng ở các cơ quan, thú dễ bị nhiễm trùng
Trang 182.2 BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO DO VI TRÙNG
2.2.1 Bệnh do Salmonella (bệnh thương hàn heo)
Bệnh do vi trùng Salmonella cholerae suis thuộc họ Enterobacteriaceae, bắt màu gram âm, có kháng nguyên thân O là yếu tố 6, 7 và kháng nguyên lông H là c: 1, 5 S
cholerae suis sống thích hợp ở pH trong khoảng 4,5 – 9,0, dễ bị tiêu diệt bởi chất sát
trùng thông thường, nhạy cảm với chloramphenicol, neomycine
S cholerae suis gây thể bại huyết thường gặp trên heo cai sữa (gần 2 tháng tuổi)
với triệu chứng máu đỏ tím ở lỗ tai, chân, lưng và chết trong 24 – 48 h với tỷ lệ chết có
thể lên đến 100% Thể tiêu hoá do S.cholerae suis thường gây ra làm heo con bỏ ăn,
nằm tụm lại một chỗ, thường thấy tiêu chảy nếu có viêm dạ dày ruột thì có ói mửa,
tiêu chảy phân vàng rất hôi thối và thường chết sau 2 – 4 ngày Ngoài ra, S cholerae
suis gây thể sinh dục khiến nái sẩy thai 1 tháng trước khi đẻ hoặc sinh ra heo con chết,
hoặc gây viêm tử cung, sót nhau Bệnh tích đặc trưng do S.cholerae suis gây ra là viêm
dạ dày ruột, tạo mụn loét ở ruột già Việc dùng kháng sinh phối hợp với corticoid và tăng cường trợ lực, trợ sức có thể mang lại kết quả khả quan Ở nước ta, vaccin giải độc tố thương hàn, vaccin vi trùng, vaccin vi trùng – độc tố, là những vaccin thường được dùng để phòng bệnh
2.2.2 Bệnh Hồng Lỵ ở heo
Bệnh Hồng Lỵ là bệnh truyền nhiễm do Serpulina hyodysenteriae gây ra
Serpulina hyodysenteriae là xoắn khuẩn yếm khí, gram âm, dài 6 – 10 µm, đường kính
320 – 380 nm, mọc tốt trên môi trường thạch máu ngựa gây dung huyết β sau 48 giờ ủ
Serpulina hyodysenteriae nhạy cảm với sự khô hạn và pH < 6,0 và bị huỷ nhanh bởi
nhiệt độ
Serpulina hyodysenteriae gây cho heo cai sữa chủ yếu ở cuối kỳ nuôi vỗ (6 – 12
tuần tuổi) và thỉnh thoảng ở nái mang thai hay nuôi con tiêu chảy Máu, chất nhày và những mảnh hoại tử xuất hiện lúc đầu trong phân màu vàng sau chuyển thành màu nâu
đỏ (màu chocolat) với nhiều chất nhày hơn Tỷ lệ bệnh có thể lên đến 75% và tỷ lệ chết khoảng 5 – 30% Gây bệnh tích viêm manh – kết tràng hoại tử xuất huyết, gây sung huyết và phù thủng màng treo ruột Thường dùng kháng sinh điều trị trong 5 – 7 ngày, vài tác giả đề nghị điều trị lên đến 15 ngày bằng tylosin, tiamulin, lincomycine,
Trang 19dimetridazole, furazolidon, carbadox…trong đó tiamulin dường như gặp sự đề kháng ít nhất và cho hiệu quả cao nhất
2.2.3 Bệnh đường ruột do tăng sinh
Bệnh đường ruột do tăng sinh là bệnh truyền nhiễm do Ileobacter intracellularis gây ra Ileobacter intracellularis là xoắn khuẩn, gram âm, dài 1,5 µm, chỉ mọc trên
môi trường tế bào đường ruột của chuột và tạo những khuẩn lạc nhỏ sau 7 – 14 ngày
và chỉ tạo những bệnh tích chuyên biệt khi thú mang trong đường tiêu hoá những vi
khuẩn khác như E.coli, Bacteroides vulgatus Ileobacter intracellularis gây tăng sinh
biểu mô chưa trưởng thành ở những hang của ruột Bệnh thường xảy ra trên heo cai sữa (6 tuần tuổi) với đặc điểm giảm trọng lượng, kém ăn, mệt mỏi, ói mửa, thiếu máu, phân có thể màu nâu đỏ, tiêu chảy từng hồi…da nhợt nhạt, thân nhiệt thấp (khoảng 37,80C) và có thể chết thình lình Có thể điều trị bằng kháng sinh như Tetracycline, Sulphonamide hay Tylosin Để phòng bệnh cần tăng cường sức đề kháng cho heo và kiểm soát chặt chẽ heo mới mua về
2.2.4 Viêm ruột do Campylobacter
Giống Campylobacter là phẩy khuẩn, gram âm Trên heo theo mẹ (3 ngày – 21 ngày tuổi), Campylobacter gây tiêu chảy loãng hoặc dạng kem chứa nhiều chất nhày đôi khi có máu Trên heo cai sữa, Campylobacter gây tiêu chảy mãn tính với nhiều
chất nhầy nhưng không có máu Bệnh thường không gây chết nhưng gây những thiệt
hại đáng kể về kinh tế Trên heo theo mẹ, Campylobacter làm ruột non đặc biệt vùng
hồi tràng dày lên, chứa nhiều chất nhày, hạch màng treo ruột viêm Nó làm nhung mao ruột chậm hoặc ngừng tăng trưởng Và trên heo cai sữa, gây viêm manh tràng – ruột già hoại tử xuất huyết Heo được điều trị bằng cách uống kháng sinh Neomycin, tetracycline, những aminoglycoside, macrolides, enrofloxacin Việc phòng bệnh cần chú ý đến nguồn thức ăn, nước uống để tránh vi trùng xâm nhập
2.2.5 Tiêu chảy do nhóm vi trùng đường ruột
2.2.5.1 Loài Escherichia coli
Escherichia gồm 4 loại kháng nguyên là O(hơn 160 loại), H (có khoảng 20 loại),
K (có hơn 100 loại) và kháng nguyên pili F (có 2 loại) Độc tố của Escherichia coli
gồm 2 độc tố: nội độc tố và ngoại độc tố Trong đó, nội độc tố gồm loại chịu nhiệt có Sta, Stb; loại không chịu nhiệt có LT1 và LT2 Ngoại độc tố làm tan huyết gây nên
Trang 20hiện tượng phù thủng E.coli có sẵn trong ruột nhưng chỉ gây bệnh khi sức đề kháng của con vật giảm sút Ở heo thường gặp 3 loại E.coli liên quan: loại sinh độc tố ruột ETEC (Enterotoxigenic E.coli) tiết ra độc tố ST và LT gây tiêu chảy trên heo sơ sinh
và cai sữa Loại gây bệnh đường ruột EPEC (Enteropathogenic E.coli) thường gặp trên heo lớn Loại gây bệnh phù thủng VETEC (Verotoxingenic E.coli) là loại độc tố
hướng mạch máu Để phòng bệnh có thể thử nghiệm chế autovaccin phục vụ tại địa phương với chủng bệnh của địa phương và dùng vaccin vi khuẩn vô hoạt Neocolipor
2.2.5.2 Giống Shigella
Gây bệnh kiết lỵ cho người và gia súc, chủ yếu là loài Shi.Shiga Khác với các
vi khuẩn đường ruột khác, chỉ cần 10 đến 100 vi khuẩn cũng đủ gây bệnh Shigella có
nội độc tố và ngoại độc tố Khi vi khuẩn bị ly giải, nội độc tố góp phần kích thích thành ruột Ngoại độc tố gọi là Shige toxin, không bền với nhiệt, tác động lên thành
ruột và hệ thần kinh trung ương biểu hiện gây tiêu chảy và gây tê liệt tử vong Shigella
làm tổn thương ruột già là nguyên nhân gây ra đau bụng quặng, đi tiểu nhiều lần, phân lẫn chất nhầy và máu Trường hợp nặng có thể bị hội chứng HUS (Hemolytic Uremic Syndrome) thiếu máu do tan huyết, giảm tiểu cầu và tiêu thận
2.2.6 Tiêu chảy do các vi trùng khác
Biểu hiện tiêu chảy còn có thể xuất hiện khi heo bị viêm ruột do Clostridium
spiroforme, tiêu chảy do cầu trùng,…
2.3 BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO DO VIRUS
2.3.1 Bệnh do Rotavirus
Rotavirus là một ARN virus 2 sợi, kích thước 75 nm Rotavirus có 2 protêin
chính trên bề mặt là VP4 và VP7 Rotavirus ổn định ở pH từ 3 – 9, bị bất hoạt ở 600C trong 30 phút, formaldehyde 3,7%, ethanol 70%, glutaraldehyde 2%, acidhypocloride
1% Rotavirus mọc tốt trên tế bào thận và gây bệnh tích tế bào, virus có khả năng
ngưng kết hồng cầu
Vật bị bệnh do Rotavirus lúc đầu thường suy nhược, kém ăn, có thể ói mửa Vài
giờ sau, heo tiêu chảy dữ dội, phân vàng với nhiều cụm bông nổi hay màu xám đậm Trong các ổ dịch, tỷ lệ chết trên heo theo mẹ cảm nhiễm có thể lên tới 33% Trên heo cai sữa cũng có thể cảm nhiễm nhưng không tiêu chảy hay chỉ tiêu chảy tạm thời Heo chết do mất nhiều nước, dạ dày đầy sữa và ruột non nở rộng với đầy dịch giống như
Trang 21kem, có sự thoái hoá những tế bào thượng bì ruột non khiến thành ruột bị mỏng, có sự hình thành những tế bào khổng lồ và sự kết dính nhung mao ruột Để điều trị, ta có thể cung cấp sữa, chất điện giải, chống phụ nhiễm Vaccin phòng bệnh chích bắp hay cho uống gồm nhóm huyết thanh A1, A2, Rotavirus người hay vaccin chứa protein virus
VP3 và VP7 từ serotype 4 và 5 để phòng cả hai serotype
2.3.2 Bệnh do Parvovirus
Parvovirus là một ADN virus, kích thước 22 nm, không vỏ bọc, chỉ có một
serotype và có khả năng ngưng kết hồng cầu Virus nhân lên trong tế bào nguyên phát thận heo (15 – 21 ngày tuổi), gây bệnh tích tế bào (tạo thể vùi trong nhân và làm tròn
tế bào) Có 3 kháng nguyên (ở Capside) quan trọng là VP1 (81 kDa), VP2 (66 kDa), VP3 (62 kDa) Kích thích cơ thể sinh kháng thể ngăn trở ngưng kết hồng cầu
Khi heo cảm nhiễm, nếu ở thời kỳ có mang thì chết phôi và heo nái chậm lên giống Nếu sự cảm nhiễm phôi sau 35 ngày của thai kỳ thì sự hoá gỗ có thể xảy ra ở một số phôi thai hay toàn bộ Nếu cảm nhiễm chậm hơn, sẽ sinh ra những heo con rồi chết ngay hoặc chết lúc sinh Trên nái triệu chứng xảy thai cũng thường xuất hiện
Ngoài ra, Parvovirus có thể gây hội chứng tiêu chảy sau khi cai sữa (trong phân chứa
nhiều virus) Bệnh tích thường thấy trên heo nái với phôi nhiều vùng bị hoại tử ở thành uterine; phôi chết; thai bị giảm kích thước, động huyết, thuỷ thủng Để phòng bệnh,
một vài vaccin vô hoạt được dùng như: Suvaxyn Parvo, Pig Parvovirus vaccin (Pitman
Moore) bằng acetylethyleneimine formalin, Parvovax hoặc vaccin nhược độc, vaccin tiểu phần dựa căn bản trên protein của capside VP1 Để chống lại bệnh, người ta có thể dùng phương pháp thô sơ bằng cách đưa vào heo nái khô trước khi phối một dịch phôi hay sản phẩm khác của thời kỳ để Người ta cũng khuyên cho nái khô tiếp xúc với những heo cai sữa
2.4 TIÊU CHẢY TRÊN HEO DO CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC
Ngoài ra, biểu hiện tiêu chảy còn xuất hiện khi heo bị viêm ruột do ngộ độc, viêm ruột do thức ăn, viêm ruột do ký sinh trùng, độc tố trong nấm mốc…đều có thể khiến heo bị tiêu chảy với các triệu chứng và bệnh tích riêng đặc trưng cho từng bệnh
Trang 222.5 BỆNH TIÊU CHẢY TRÊN HEO DO CORONAVIRUS
2.5.1 Bệnh viêm dày ruột truyền nhiễm (TGEV)
2.5.1.1 Khái niệm
Bệnh viêm dạ dày truyền nhiễm là bệnh truyền nhiễm trên heo do ARN virus gây ra với các triệu chứng ói mửa, tiêu chảy dữ dội và bệnh tích viêm dạ dày – ruột điển hình trên heo con dưới 1 tuần tuổi và tỷ lệ chết có thể đạt 100%
TGEV là ARN một sợi thuộc họ Coronaviridae Dạng hình cầu, kích thước 80
– 160 nm, có vỏ bọc với những tua glycoprotein dài 12 nm ở cực TGEV trưởng thành bằng cách nảy chồi Các dòng TGE đều có chung một kháng nguyên, nhưng kháng nguyên của TGE khác với PED, và VPP (virus ói mửa, suy nhược) Cả 3 virus (TGE, PED, VPP) đều có phản ứng chéo với virus PEF (viêm phúc mạc truyền nhiễm của mèo) và CVH229E (gây bệnh đường hô hấp người) Có 3 kháng nguyên quan trọng là nucleoprotein: “NP”, 47 kDa, glycoprotein vỏ bọc M hay E1, 28 kDa, glycoprotein tua gai của vỏ bọc S hay E2, 180 – 200 kDa E2 sinh miễn dịch mạnh nhất, sinh nhiều
kháng thể trung hòa Virus TGE khác virus CVRP (Coronavirus respiratoire du porc -
Coronavirus gây bệnh trên đường hô hấp) ở vài điểm kháng nguyên Virus nhạy cảm
với ether, đề kháng yếu ớt với nhiệt độ và tia cực tím Đề kháng với những yếu tố gây
vô hoạt (pH acid, muối mặn enzyme proteolytique) của dạ dày heo con (nhưng bị vô hoạt ở dạ dày thú trưởng thành) và rất ổn định ở nhiệt độ lạnh Virus có hiệu giá kháng thể rất cao ở tá tràng và không tràng Virus mọc tốt trên tế bào PK, tế bào tuyến giáp, dịch hoàn Theo Trần Thanh Phong (1996), thì với 82 lần cấy virus vẫn có thể gây bệnh trên heo con và cả heo lớn, với 154 lần cấy thì mất tính gây bệnh cho heo con
2.5.1.4 Truyền nhiễm học
Loài cảm thụ: heo nhà ở mọi lứa tuổi nhưng cảm thụ mạnh nhất và tử vong cao nhất là trên heo con theo mẹ 1 – 10 ngày tuổi Heo con 3 ngày tuổi có thể chứa lượng
Trang 23virus so với heo 3 tuần tuổi là gấp 100 lần Và cần lượng virus 1000 lần lượng virus gây bệnh cho heo con để gây bệnh cho heo trưởng thành Theo Trần Thanh Phong (1996), thì việc thống kê trên đàn chưa mắc bệnh bao giờ cho thấy:
dễ dàng cho đại phân tử protein IgG (immunoglobulin Gamma) mà còn cho sự cảm nhiễm virus vào những tế bào hình trụ trưởng thành của tế bào thượng bì ruột Virus lây lan trực tiếp do sự nuôi nhốt chung đụng thú bệnh, thú khoẻ và lây qua yếu tố trung gian truyền lây như: người tham quan, chó, mèo, chồn…Virus xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hóa – niêm mạc (qua sữa heo mẹ mắc bệnh)và cũng có thể qua đường hô hấp Theo Trần Thanh Phong (1996), cơ chế sinh bệnh của virus viêm dạ dày ruột truyền nhiễm như sau:
Trang 24Sơ đồ 2.1: Cơ chế sinh bệnh của virus viêm dạ dày ruột truyền nhiễm
Những nơi chứa mầm bệnh: ruột và phân trong đó phân là nguồn lây nhiễm chính Virus cũng có thể có trong sữa (heo nái nuôi con), chất ói mửa của heo bệnh Heo khỏi bệnh bài trùng trong 8 tuần và heo bải thải sau khi nhiễm 24 giờ Heo trưởng thành nhiễm trùng thầm lặng bài thải qua phân trong 100 ngày
2.5.1.5 Triệu chứng
Theo Trần Thanh Phong (1996), thời gian nung bệnh khoảng từ 12 giờ - 72 giờ
và tử số trên heo theo mẹ có thể lên tới 100% Heo biếng bú, có vẻ lạnh và tụ quanh
mẹ hay lò sưởi Heo con tiêu chảy cùng lúc với ói mửa Phân rất lỏng, tanh, vàng, có sữa không tiêu…khiến vật gầy sút rất nhanh (có thể 25% trọng lượng ngay từ ngày đầu) và thường chết sau 2 – 5 ngày Thân nhiệt heo gần như bình thường (phụ nhiễm
E.coli gần như 50% ca bệnh) Trên heo nuôi vỗ: triệu chứng không rõ nét, vật tiêu
chảy, ăn không ngon, chậm tăng trưởng, bệnh số và tử số thấp Trên heo nái: triệu chứng thường cũng không rõ nét, tử số rất thấp Trên heo nái cho sữa: có thể sốt, ói mửa, mất sữa, gầy sút Sự tiết sữa hầu như không bao giờ trở lại, do cạn sữa ngay sẽ
Đường miệng
Virus Æ Nhân lên trong tế bào Æ Giảm bề dày của lớp
nhung mao ruột (tá thượng bì
tràng, không tràng Làm ngắn nhung mao ruột
và hồi tràng) (=1/7 chiều dài bình thường)
Sự hình thành những tế bào Giảm hấp thu Å Giảm chất lượng Å ở tuyến Lieberkurn không
và chuyển hóa và số lượng enzyme trưởng thành
(như bêta galactosidase
ở ruột)
¾
chất điện giải
Trang 25dẫn đến hậu quả thiếu sữa, hạ đường huyết trên heo con và trên heo nái khô thì không
2.5.1.7 Chẩn đoán
Với biểu hiện tiêu chảy trên heo con theo mẹ, cần chẩn đoán phân biệt với: tiêu
chảy hoại tử xuất huyết ở ruột, có tính lẻ tẻ do Clostridium perfringens typ C (heo mẹ không bị), tiêu chảy do Rotavirus gây ra trên heo con, bê, cừu, dê, ngựa, thỏ, chó, chuột, mèo và người với tỷ lệ tử vong thấp hơn, tiêu chảy do E.coli thường trên heo 3
tuần tuổi và điều kiện vệ sinh kém (tử số và bệnh số thấp hơn TGE), đặc biệt là với PED vì rất khó phân biệt dựa trên phi lâm sàng
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm là: nuôi cấy virus với bệnh phẩm là phân hay chất chứa ở đường ruột, dùng các phản ứng huyết thanh học gặp một vài vấn đề tế nhị: phải mất 10 -15 ngày kháng thể TGE mới xuất hiện, lúc này heo con đã chết TGE
có phản ứng chéo với CVRP (Coronavirus respiratoire du porc) những đàn cảm nhiễm
<2 năm vẫn cho phản ứng dương Ngoài ra, có thể dùng các phản ứng: phản ứng trung hòa trên môi trường tế bào, phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động, phản ứng miễn dịch huỳnh quang, PCR,…
2.5.1.8 Phòng bệnh
Phải tăng cường quản lý, áp dụng các biện pháp như cùng vào cùng ra, môi trường chăn nuôi tốt, cách ly triệt để heo bệnh, hạn chế khách tham quan, để trống chuồng trong 3 tháng, đồng thời dinh dưỡng phải đầy đủ, hợp lý, cân bằng, nâng cao sức đề kháng, thức ăn đảm bảo vệ sinh Riêng đối với những heo con bị bệnh nên cung cấp nước muối sinh lý mặn hay ngọt bằng đường phúc mạc 50 – 100 ml/ngày, đảm
Trang 26bảo nhiệt độ môi trường, phòng chống phụ nhiễm vi trùng Để phòng vệ tốt trên heo con phải có kháng thể trong ruột non, về căn bản phải có kháng thể tại chỗ ngăn cản sự tấn công và kết dính virus vào niêm mạc Heo con nhận kháng thể từ sữa mẹ (sữa đầu) truyền sang trong những ngày tuần lễ đầu Điều này sẽ giúp niêm mạc ruột non chống lại sự tấn công của virus Một số tác giả cho rằng, nên cho heo nái tiếp xúc và ăn những ruột của heo con mắc bệnh (autovaccin), từ đấy sinh miễn dịch, giúp heo con để
ra phòng vệ tốt
2.5.2 Dịch tiêu chảy địa phương (Porcine Epidemic Diarrhea Virus – PEDV) 2.5.2.1 Khái niệm
Virus gây ra dịch tiêu chảy địa phương (Porcine Epidemic Diarrhea Virus –
PEDV) là virus thuộc họ Coronaviridae, có cùng kháng nguyên với các Coronavirus
khác trên heo như virus viêm dạ dày ruột truyền nhiễm (TGEV), và virus gây viêm não gây ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinating Encephalomyelitis Virus - HEV) Nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng sẽ phân biệt rất khó khăn với nguyên nhân gây tiêu chảy do PEDV hoặc TGEV
2.5.2.2 Sự phân bố theo địa lý
Dịch tiêu chảy địa phương lần đầu tiên được báo cáo tại Vương quốc Anh năm
1971 Sau đó, bệnh đã được phát hiện tại Bỉ, Canada, Hung-ga-ri, Đức, Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản Tuy thế, những trận dịch nghiêm trọng do PED hiếm khi xảy
ra ở Châu Âu thời điểm hiện tại, có thể là do đặc tính gây dịch bệnh của virus và có sự hiện diện miễn dịch trong sữa của heo mẹ để bảo vệ những heo lứa tuổi theo mẹ Những trận dịch xảy ra tại châu Á thì rất nghiêm trọng, gây ra những thiệt hại nặng nề
về kinh tế Cho tới nay, PEDV chưa được phát hiện tại Hoa Kỳ hoặc Nam Mỹ
2.5.2.3 Căn Bệnh
Virus gây tiêu chảy địa phương (PEDV) có nhiều hình thái khác nhau và có đường kính trong khoảng 90 – 190 nm Nó có một đám mây electron dày đặc tạo thành quầng ở trung tâm và chiếu ra giống hình cái gậy với chiều dài khoảng 20 nm Virus mẫn cảm với ether và chloroform và không gây phản ưng ngưng kết hồng cầu (trừ một
số giống đặc biệt) Virus có thể nhân lên tốt ở môi trường tế bào thận khỉ Virus phát triển độc lập với sự có mặt của trypsin trong môi trường nuôi cấy
Trang 27Serotype của PEDV được xác định từ những phân lập tại Châu Âu, Hàn Quốc,
và Trung Quốc là một chủng duy nhất là CV777 Trình tự của toàn bộ gen của chủng CV777 chỉ trong thời gian gần đây mới được xác định và đã tìm thấy có 28,033 nucleotide trong toàn bộ chiều dài (trừ các nucleotide thuộc chuỗi ở phía đuôi) Phân tích trình tự của các nucleotide khám phá một lỗ khung đọc nhỏ (open reading frame – ORF) nằm gần đầu 5 ' tận (nucleotide 99 đến 137), và hai đoạn ORFs lớn ít đoạn lặp, ORF1a (nucleotide 297-12650) và ORF1b (nucleotide 12605 đến 20641) Những trình
tự lặp lại của ORF1a và ORF1b có khả năng xảy ra ở một số điểm do sự xê dịch khung ribosome Và qua phân tích trình tự các acid amin cho thấy sự hiện diện của một số chức năng phụ bên trong protein giả định là ORF1 Hiện có sự khác nhau về phần chính bộ gen giữa những tế bào được sinh trưởng trong môi trường nuôi cấy (culture –adapter – ca-PEDV) và type virus hoang dã (wild type – wt-PEDV).So sánh trình tự liên kết các acid amin cho thấy là hầu hết các PEDV có liên quan chặt chẽ đến
Coronavirus gây bệnh trên người (human Coronavirus - HCoV) 229E và virus viêm
dạ dày ruột truyền nhiễm (TGEV) và có nhiều mối liên hệ xa cách tới virus viêm gan truyền nhiễm trên chuột (murine hepatitis virus) và virus viêm phế quản truyền nhiễm (infectious bronchitis virus)
Virus gây dịch tiêu chảy địa phương thì ổn định giữa pH 5,0 và 9,0 ở 4˚C và giữa pH 6,5 và 7,5 ở 37˚C và ở 60˚C trong 30 phút thì virus mất khả năng lây nhiễm, nhưng ổn định ở 50˚C Virus gây dịch tiêu chảy địa phương bị bất hoạt bởi hầu hết các thuốc sát trùng thông thường gồm cresol, NaOH (2%), formol (1%), natri carbonate (4% anhydrous hoặc tinh thể 10%, với 0,1% chất tẩy rửa), ionic và không phải là chất tẩy rửa ionic, mạnh iodophors (1%) trong phosphoric acid và những dung môi hoà tan lipid như chloroform
2.5.2.4 Truyền nhiễm học
Phương thức truyền lây PEDV tương tự như của TGEV, nhưng PEDV có xu hướng dễ lây nhiễm bệnh hơn Sự truyền lây qua phân- đường tiêu hoá là chủ yếu hoặc đây là con đường duy nhất của sự truyền nhiễm Hầu hết các trường hợp, sự mở đầu của sự nhiễm bệnh trên heo vào các trang trại heo dễ mẫn cảm để tạo thành những trận dịch của PEDV trong vòng 4 đến 5 ngày Virus cũng có thể lây nhiễm thông qua các yếu tố trung gian truyền lây như trang thiết bị và những phương tiện khác hoặc nhân
Trang 28sự Sau khi trở thành một ổ dịch bệnh, PEDV có thể biến mất, hoặc nó có thể tiếp tục tạo nên những dịch trên các trang trại nơi có đủ các lứa tuổi của heo đặc biệt khi heo mất dần sự miễn dịch có trong sữa khi bước vào giai đoạn cai sữa
Cơ chế sinh bệnh: thử nghiệm sự tiêm truyền dung dịch thu được từ trong sữa đầu của những heo có hiện diện CV777 của PEDV và cô lập virus sau 36 giờ tiêm truyền Giống như TGEV, sự sinh sản của PEDV trong tế bào chất lớp lông nhung của những tế bào đường ruột ở suốt đoạn ruột non Làm thoái hoá tế bào biểu mô khiến các lông nhung ngắn lại Tuy nhiên, những ảnh hưởng của TGE mạnh và đặc trưng hơn Toàn bộ chiều dài lông nhung của những tế bào đường ruột thì nhạy cảm với tác nhân gây nhiễm PEDV Theo Angela Stuedli và ctv (2002), sự lây nhiễm vào những tế bào đường ruột đã được quan sát rất sớm từ 12 đến 18 giờ sau tiêm truyền, với thời gian tối đa đạt được sự nhiễm là giữa 24 và 36 giờ sau tiêm truyền Nghiên cứu hướng lâm sàng trong những heo bị nhiễm ca-PEDV thì nhẹ hơn nhiều so với heo bị nhiễm wt-PEDV Các ca-PEDV có vài điểm lưu ý là tính độc ít hơn, sự sinh trưởng chậm hơn, và thay đổi bệnh lý trong mô cũng ít hơn Virus gây dịch tiêu chảy địa phương cũng đã được tìm thấy trong tế bào biểu mô của kết tràng trong những heo choai kể
cả trong thử nghiệm và tự nhiên xảy ra do PED Sự sinh sản của PEDV ở heo chưa được tìm thấy trong các tế bào bên ngoài đường tiêu hoá
2.5.2.5 Triệu chứng
Theo Matti Kiupel và ctv (2002), thì biểu hiện lâm sàng điển hình là tiêu chảy dạng lỏng và phủ bông trên phân, và có một mùi đặc trưng Những heo bị nhiễm bệnh thường ói mửa Trong những đàn có giống heo nhạy cảm, heo của tất cả các lứa tuổi
có thể bị ảnh hưởng, với tỷ lệ nhiễm bệnh có thể lên tới 100% Tiêu chảy dạng nước,
sự mất nước và rối loạn quá trình chuyển hoá các acid gây tỷ lệ chết 50 đến 80%, là những đặc tính điển hình của PED gây ra cho heo con lứa tuổi theo mẹ Trong khi nhiễm bệnh của heo cai sữa, heo choai và heo thịt có đặc trưng là tiêu chảy, biếng ăn, suy nhược, và một tỷ lệ bệnh cao nhưng tỷ lệ chết thấp (từ 1 đến 3%) Trong một vài trường hợp, dịch tiêu chảy địa phương có thể gây ra tiêu chảy liên tiếp cho những heo cai sữa trong thời gian đầu sau khi tách bầy Triệu chứng lâm sàng thì tương tự như TGE, nhưng tốc độ lây lan của dịch bệnh thường chậm hơn và tỷ lệ tử vong thấp hơn trên heo con, và dịch gây nặng hơn TGEV nếu dịch xảy ra vào giai đoạn cuối của thời
Trang 29kỳ vỗ béo của heo Tỷ lệ tử vong trên heo choai có thể từ 1 đến 3%, và trên heo thường xuyên có biểu hiện đau vùng bụng và có thể chết trong trường hợp cấp tính của giai đoạn đầu của tiêu chảy hay thậm chí trước khi dịch bùng phát Quá trình phục hồi sau khi nhiễm bệnh khoảng 7 đến 10 ngày
2.5.2.6 Bệnh tích
Các bệnh tích đại thể điển hình là sữa phủ lên dạ dày một lớp do dạ dày kém hấp thu Ruột non (tá tràng, không tràng, hồi tràng) chứa đầy dịch lỏng và hiện tượng thành tế bào rất mỏng do lớp niêm mạc bị bào mòn Chất chứa trong đường ruột thì được phủ bông Các bệnh tích vi thể thường gặp là tạo thành những không bào trong tế bào chất và sự bong tróc của các tế bào đường tiêu hoá và rút ngắn đáng kể và biến mất của lớp lông nhung là những đặc điểm rất đáng chú ý, nhưng ít nghiêm trọng hơn
so với bệnh tích do TGE, nhưng không tìm thấy bệnh tích ở kết tràng Những biến đổi
vi thể là điểm đặc trưng thường được thấy đầu tiên do sự biến mất của các tế bào ở các
cơ quan chết, lớp lông nhung nhỏ, và màng ngoài cùng Sau đó, các tế bào đã trở nên dẹt, những chức năng của tế bào bị mất, và các tế bào được đẩy vào trong xoang ruột
2.5.2.7 Chẩn đoán
Mẫu được dùng tốt nhất trong vòng 3 ngày kể từ ngày dịch tiêu chảy bùng phát Kính hiển vi điện tử thì được dùng rộng rãi để phát hiện những tiểu phần của
virus trong mẫu phân heo bị tiêu chảy Tuy nhiên, xác định hiện diện Coronaviruses
có trong phân là rất khó khăn bởi vì những phần của virus thì không dễ để tìm thấy nếu các bông trên phân bị mất hoặc là không thể nhìn thấy rõ ràng Kính hiển vi điện tử không phải là một kỹ thuật có độ nhạy cao, và không thể phân biệt với PEDV và TGEV Ngược lại, kỹ thuật ELISA có một độ nhạy cao hơn nhiều so với dùng EM (kính hiển vi điện tử) và cũng có thể cho phép phân biệt giữa TGEV và PEDV Dùng
kỹ thuật ELISA, kháng nguyên của PEDV có thể được tìm thấy trong đoạn trực tràng trên những heo được cấy virus trong thí nghiệm cho đến lúc 11 ngày sau tiêm truyền Việc kiểm tra kháng nguyên bằng ELISA bằng cách sử dụng dòng đơn tính hoặc kháng thể đa dòng cho phép có thể phát hiện PEDV trong những đàn bị nhiễm dịch và các trường hợp tiêu chảy trong các trang trại chăn nuôi, nơi chỉ có một số lượng virus quá nhỏ, không thể phát hiện được bằng bất kỳ phương pháp nào khác Gần đây, các báo cáo của nhà nghiên cứu cho thấy kỹ thuật RT - PCR có thể được sử dụng cách
Trang 30tương tự kỹ thuật ELISA để phân biệt giữa TGE từ PEDV và là kỹ thuật có độ nhạy cao Những kháng thể chống lại PEDV có thể được tìm thấy trong huyết thanh của heo trong tự nhiên hoặc trong các thử nghiệm về PED Kháng thể được phát hiện bằng thí nghiệm ELISA sau 7 ngày nuôi cấy và bằng kỹ thuật IFA giữa 10 và 13 ngày nuôi cấy Những mẫu huyết thanh được ghép nối nên được kiểm tra, và các mẫu nên được lấy lại từ 2 đến 3 tuần sau khi dịch tiêu chảy bùng phát Kháng thể sinh ra sẽ tồn tại hơn một năm trong huyết thanh trên những heo bị nhiễm
2.5.2.8 Phòng bệnh và điều trị
Việc điều trị phụ thuộc vào các triệu chứng của tiêu chảy bao gồm truyền nước
để giảm sự mất nước, và giảm sự cho ăn, đặc biệt là ở heo lớn Đồng thời, áp dụng chặt chẽ các biện pháp vệ sinh để ngăn sự truyền lây PEDV vào trang trại Những heo mang trùng của dịch bệnh gây ra thì có nguy cơ cao nhất, và dịch bệnh cũng có thể lây lan do sự đi lại của con người giữa các nơi bị nhiễm bệnh Dùng phân chứa PEDV gây
tác động trên những nái mang thai để kích thích đáp ứng miễn dịch có trong sữa và
làm giảm tỷ lệ tử vong trên heo con theo mẹ Có thể loại bỏ mầm bệnh bằng cách di chuyển những con heo sau cai sữa ngay tức khắc đến một nơi khác ít nhất là 4 tuần Gần đây, ảnh hưởng của kháng thể thụ động từ lòng đỏ trứng gà (yolk immunoglobulin – IgY) có khả năng chống lại PEDV đã được khảo sát trên những heo theo mẹ Sự tác động của IgY đã được chứng minh là giảm tử vong và tăng tỷ lệ sống
ở heo sau khi bị tiếp xúc với PEDV Điều này cho thấy khả năng IgY chống lại PEDV
và có thể là một thuốc phòng bệnh đa năng tương tự như các biện pháp kích thích để sinh đáp ứng miễn dịch có trong sữa
Trang 31CHƯƠNG 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM KHẢO SÁT
3.1.1 Thời gian: từ ngày 18/03/2009 đến ngày 30/06/2009
3.1.2 Địa điểm
Các trại chăn nuôi heo đã từng hoặc đang bị bệnh dịch tiêu chảy cấp nghi ngờ do
Coronavirus gây ra trên heo trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2008 đến tháng 6
năm 2009 trong địa bàn tỉnh Đồng Nai
3.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT
Những con heo thuộc các các trại chăn nuôi heo đã từng hoặc đang bị dịch tiêu
chảy nghi ngờ do Coronavirus gây ra
3.3 NỘI DUNG KHẢO SÁT
¾ Phiếu điều tra mẫu
¾ Dụng cụ lấy mẫu: dao mổ (cán số 4), kéo cắt mô, kẹp mô, găng tay y tế, khẩu trang (face mask), ủng, áo blouse
¾ Dụng cụ chứa mẫu: ice chest để giữ mẫu từ nơi lấy đến tủ bảo quản mẫu Ngoài ra còn có: bọc xốp để đựng mẫu đại thể, chai thủy tinh nhỏ (thể tích khoảng 15ml) chứa formol 10% để bảo quản mẫu vi thể
¾ Dụng cụ bảo quản mẫu: tủ đựng mẫu phải luôn duy trì ở nhiệt độ –200C
¾ Máy chụp hình: để chụp lại bệnh tích đại thể và vi thể
¾ Kính hiển vi: để xem bệnh tích vi thể
Trang 32Các trại được khảo sát là những trại đã hoặc đang bị dịch tiêu chảy nghi ngờ do
Coronavirus gây ra Ở mỗi khu vực, chúng tôi đã khảo sát 5 trại heo có cơ cấu đàn lớn
(>200 nái), 5 trại có cơ cấu đàn trung bình (50 – 200 nái) và 5 trại có cơ cấu đàn nhỏ
(<50 nái) Đối với mỗi trại ở từng khu vực khảo sát, chúng tôi tiến hành điều tra các
vấn đề có liên quan như dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích và liệu pháp điều trị bệnh tiêu
chảy nghi ngờ do Coronavirus trên heo
Số lượng các trại khảo sát trại trên từng đối tượng heo được thể hiện qua bảng
sau:
Bảng 3.2: Số lượng các trại khảo sát trên từng đối tượng
Đối tượng
Heo theo
mẹ
Heo cai sữa
Heo choai
Heo thịt
Nái hậu
bị
Nái khô
Nái mang thai
Nái nuôi con
Nọc
Trang 33Trên đối tượng nái hậu bị, nái khô và nọc có số trại khảo sát thấp vì ở trên 45 trại chúng tôi tiến hành khảo sát, thường là trên các trại có cơ cấu đàn nhỏ (<50 nái) và trung bình (50 – 200 nái), nuôi không đầy đủ các giai đoạn của heo
3.5.2 Phương pháp khảo sát tình hình dịch tễ
¾ Lập phiếu điều tra (phụ lục A)
¾ Gặp gỡ các chủ trại hoặc nhân viên quản lý trại
¾ Tiến hành phỏng vấn nhân viên quản lý trại hay cán bộ kỹ thuật phụ trách trại dựa theo những tiêu chí có sẵn trong mẫu điều tra Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu thông tin từ những người am hiểu tình hình ở các trại mà chúng tôi khảo sát
¾ Tổng hợp các thông tin về tình hình dịch tễ từ các phiếu điều tra và tiến hành xử lý thống kê bằng phần mềm Minitab version 14
3.5.3 Phương pháp ghi nhận triệu chứng lâm sàng
¾ Phỏng vấn chủ trại, cán bộ quản lý trại hoặc những người am hiểu tình hình của trại theo những tiêu chí có sẵn trong phiếu điều tra
¾ Tiến hành khảo sát những trại đang xảy ra dịch tiêu chảy nghi do
Coronavirus trên heo
¾ Chụp hình những trại có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng
3.5.4 Phương pháp khảo sát bệnh tích đại thể và vi thể
¾ Nếu được sự chấp thuận của một số trại, chúng tôi tiến hành mổ khám để ghi nhận bệnh tích đại thể và vi thể
¾ Chụp hình những bệnh tích đại thể đặc trưng
¾ Mẫu vi thể: chúng tôi tiến hành lấy khoảng 0,5 cm3 các bệnh phẩm như:
dạ dày, tá tràng, không tràng, hồi tràng và các cơ quan có bệnh tích đặc trưng như phổi, thận, các hạch…Vùng cắt mẫu là vùng có các bệnh tích đặc trưng, cố định bằng formol 10% Sau đó, chúng tôi gửi mẫu bệnh phẩm đến khoa giải phẫu bệnh lý, bệnh viện Từ Dũ thành phố Hồ Chí Minh để làm tiêu bản vi thể và mẫu tiêu bản vi thể được đọc tại bệnh viện thú y trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh
Trang 343.5.5 Phương pháp khảo sát liệu pháp và hiệu quả điều trị
¾ Phỏng vấn chủ trại, cán bộ quản lý trại hoặc những người am hiểu tình
hình của trại
3.6 CHỈ TIÊU THEO DÕI
- Tình hình dịch tễ của bệnh tiêu chảy nghi ngờ do Coronavirus:
¾ Ảnh hưởng của sự bổ sung chế phẩm đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo của từng lứa tuổi sử dụng chế phẩm bị bệnh / tổng số heo của
lứa tuổi sử dụng chế phẩm) x 100
¾ Ảnh hưởng của nguồn nước sử dụng đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo của từng lứa tuổi xử lý nguồn nước bị bệnh / tổng số heo
của lứa tuổi xử lý nguồn nước) x 100
¾ Ảnh hưởng của cơ cấu đàn đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo trong từng lứa tuổi của từng cơ cấu đàn bị bệnh / tổng số heo
trong lứa tuổi của từng cơ cấu đàn) x 100
¾ Ảnh hưởng do khoảng thời gian sát trùng đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo của từng lứa tuổi ở các khoảng thời gian sát trùng bị bệnh / tổng số heo của từng lứa tuổi ở các khoảng thời gian sát trùng) x 100
¾ Ảnh hưởng do nguồn gốc khi tăng đàn đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo của từng lứa tuổi có nguồn gốc tăng đàn khác nhau bị bệnh / tổng số heo của từng lứa tuổi có nguồn gốc tăng đàn khác nhau) x 100
¾ Ảnh hưởng do khoảng cách giữa các trại heo đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo của từng lứa tuổi ở các khoảng cách khác nhau bị bệnh / tổng số heo của từng lứa tuổi ở các khoảng cách khác nhau) x 100
¾ Ảnh hưởng giữa các vùng chăn nuôi đến
tỷ lệ bệnh (%) = (số heo của từng lứa tuổi ở các trại thuộc từng khu vực bị bệnh / tổng
số heo của từng lứa tuổi ở các trại thuộc từng khu vực) x 100
- Triệu chứng lâm sàng của bệnh tiêu chảy nghi ngờ do Coronavirus
Tỷ lệ bệnh (%) = (tổng số heo bị bệnh / tổng số heo) x 100
Tỷ lệ chết (%) = (tổng số heo bị chết / tổng số heo) x 100
Tỷ lệ tử vong (%) = (tổng số heo bị chết / tổng số heo bị bệnh) x 100
Trang 35- Bệnh tích của bệnh tiêu chảy nghi ngờ do Coronavirus
Tỷ lệ bệnh tích (%)= (số mẫu có biểu hiện đặc trưng/tổng số mẫu khảo sát) x 100
- Phương pháp và hiệu quả điều trị trên bệnh tiêu chảy nghi ngờ do Coronavirus
Hiệu quả điều trị (%) = (số heo khỏi bệnh / tổng heo điều trị) x 100
3.7 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Minitab version 14 và Microsoft office excell
2003
Trang 36CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 TÌNH HÌNH DỊCH TỄ
Kết quả phân tích các yếu tố dịch tễ giữa các trại trong quá trình khảo sát được
trình bày qua bảng sau:
Bảng 4.1: Phân tích các yếu tố dịch tễ giữa các trại
Các yếu tố dịch tễ P Loại thức ăn sử dụng (tự trộn, hỗn hợp, bổ sung kháng sinh, bổ sung
Nguồn nước sử dụng (xử lý hoặc không xử lý) 0,048 Quy mô chăn nuôi (<50 nái, 50 – 200 nái, >200 nái) 0,014
Vệ sinh sát trùng (1 tuần/ lần, 2 tuần/lần hoặc >2 tuần/lần) 0,015
Nguồn gốc khi tăng đàn (nhập từ ngoài, tự nhân giống hoặc vừa nhập từ
Cách xử lý phân nước thải (Biogas, ao cá, bán phân tươi, phơi khô, cách
Cách tiêm phòng và phối giống (nhờ thú y, tự tiêm phòng, phối trực tiếp,
Vaccin sử dụng (dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, E coli hoặc
Cách trại chăn nuôi heo gần kề (<100 m, từ 500 – 1000 m hoặc >1000 m) 0,000
Bố trí chuồng nuôi/ công trình phụ gần nơi nguy cơ nhiễm mầm bệnh
(khoảng cách gần: <30 m) (gần ao có nước thải, gần hố phân, gần cống
rãnh vệ sinh, cửa ra vào là một, cửa ra vào khác hoặc gần nơi có nguy cơ
như trại heo khác, nhà vệ sinh người, cống rãnh, lò mổ…)
0,367
Trang 37Qua bảng 4.1, chúng tôi thấy rằng các yếu tố: loại thức ăn sử dụng, nguồn nước
sử dụng, quy mô chăn nuôi, vệ sinh sát trùng, nguồn gốc khi tăng đàn và cách trại chăn nuôi gần kề có sự khác biệt có ý nghĩa (P<0,05) Kết quả này được sử dụng để phân
tích sự ảnh hưởng đến bệnh tiêu chảy nghi do Coronavirus trên các giai đoạn của heo
Trang 38xử lý; trại có khoảng thời gian sát trùng là 1 tuần/lần ảnh hưởng tới tỷ lệ bệnh từ 0 – 20% của tỷ lệ bệnh chung (trung bình của toàn trại) của bệnh tiêu chảy nghi ngờ do
Coronavirus gây ra Theo chúng tôi, các trại có khoảng cách với các trại gần kề 500 –
1000 m có tỷ lệ bệnh thấp vì đây là một khoảng cách khá xa để hạn chế sự lây lan của mầm bệnh Tỷ lệ bệnh thấp ở các trại đã xử lý nguồn nước là do heo ở các trại khi sử dụng nguồn nước đã được xử lý sẽ giúp heo tránh được một số mầm bệnh, một số hoá chất hại có sẵn trong nước vì thế cơ thể heo ở những trại mà nguồn nước đã được xử lý
sẽ có sức đề kháng cao hơn đối với nhiều bệnh so với những heo tương đồng, có sự quản lý và chăn nuôi ở những môi trường tương đồng mà nguồn nước không được xử
lý Tuy vậy, trong quá trình khảo sát chúng tôi chỉ thấy 6,67% hộ chăn nuôi có xử lý nguồn nước nhưng đến 93,33% hộ chăn nuôi không xử lý nguồn nước vì thế chúng tôi
đề nghị cần có những nghiên cứu cụ thể về lợi ích kinh tế của việc sử dụng những phương pháp xử lý nguồn nước thích hợp để mang lại những hiệu quả kinh tế thiết thực cho hộ chăn nuôi Tỷ lệ bệnh cũng thấp ở những trại có khoảng thời gian sát trùng
là 1 tuần/lần, theo chúng tôi là khi sát trùng thường xuyên với khoảng thời gian thích hợp sẽ làm giảm lượng vi sinh vật gây bệnh cho heo và khoảng cách giữa các lần sát trùng kéo dài dẫn đến mầm bệnh có điều kiện phát triển, nếu heo bị suy giảm sức đề kháng tỷ lệ dịch bệnh sẽ cao hơn Các yếu tố còn lại ảnh hưởng không rõ rệt trên 3 khoảng tỷ lệ bệnh từ 20 – 40%, từ 40 – 60%, từ 80 – 100% Còn tỷ lệ bệnh từ 60 – 80% là ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhất
4.1.2 Tình hình dịch tễ trên heo lứa tuổi theo mẹ
Tỷ lệ bệnh (%) trên heo theo mẹ được chia ra thành 4 khoảng (50 – 62,5; 62,5 – 75; 75 – 87,5; 87,5 – 100) vì trong quá trình khảo sát chúng tôi thấy rằng tỷ lệ bệnh thấp nhất trên heo theo mẹ khoảng 50% và tỷ lệ bệnh cao nhất trên heo theo mẹ là 100% Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên heo lứa tuổi theo mẹ được thể hiện qua bảng sau đây:
Trang 39Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên heo theo mẹ
Tỷ lệ bệnh trên heo theo mẹ (%)
Qua bảng 4.3, chúng tôi thấy rằng tỷ lệ bệnh tiêu chảy trên heo lứa tuổi theo mẹ
nghi ngờ do Coronavirus gây ra từ 50 – 62,5 % ở các trại có khoảng cách với trại heo
gần kề trong khoảng 500 – 1000 m hoặc ≥ 1000 m vì khi những trại chăn nuôi gần nhau (khoảng cách giữa các trại <500 m), thì mầm bệnh dễ dàng di chuyển từ trại này qua trại khác qua các yếu tố trung gian truyền lây Vì vậy khi xảy ra dịch tiêu chảy mầm bệnh gây bệnh tiêu chảy dễ dàng chuyển cho trại kế cận nên tỷ lệ bệnh trên những trại này sẽ cao hơn so với những trại mà khoảng cách giữa các trại xa hơn (khoảng cách >500 m) Còn các yếu tố còn lại đều có ảnh hưởng không rõ rệt đến các mức độ của bệnh Và tỷ lệ bệnh trên heo theo mẹ tập trung chủ yếu ở tỷ lệ 80 – 100% Điều này phù hợp với những ghi nhận về tỷ lệ bệnh tiêu chảy trên heo theo mẹ do
Coronavirus gây ra của Trần Thanh Phong (1996), Anan Lertwiali (2008), Dachrit
Nilubol (2009); Matti Kiupel và ctv (2002)
Trang 404.1.3 Tình hình dịch tễ trên heo cai sữa
Qua khảo sát, chúng tôi thấy rằng sự ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên heo cai sữa được thể hiện qua bảng sau đây:
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của các yếu tố dịch tễ đến tỷ lệ bệnh trên heo cai sữa
Tỷ lệ bệnh trên heo cai sữa (%)
Qua bảng 4.4, chúng tôi thấy rằng tỷ lệ bệnh tiêu chảy trên heo cai sữa nghi ngờ
do Coronavirus gây ra từ 0 – 20% ở các trại có cơ cấu đàn trung bình (50 – 200 nái) và
lớn (>200 nái); được xử lý nguồn nước; có khoảng cách với trại gần kề >1000 m và được vệ sinh sát trùng 1 tuần/lần Kết quả này thì khá giống với sự ảnh hưởng của các yếu tố đến tỷ lệ bệnh trung bình của trại Các yếu tố còn lại có ảnh hưởng không rõ ràng đến các mức độ của bệnh Tỷ lệ bệnh trên heo cai sữa tập trung chủ yếu ở tỷ lệ 20 – 60% và 80 – 100%