Với mục tiêu là đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ năm 1986 Đảng , Nhà nước và chính phủ Việt Nam đã có những chính sách nhằm phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực cho phát triển kinh tế . Việc xây dựng các chính sách kinh tế kết hợp với các chính sách ngoại giao đã trở một trong những việc được các cơ quan hết sức quan tâm. Và từ những nhu cầu thực tế đó thì từ năm 1993 Việt Nam đã xây dựng những khung chính sách cho việc thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA ) cho đầu tư phát triển kinh tế. Trải qua gần 17 năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc sử dụng ODA và tạo ra niềm tin cho các nhà tài trợ. Trong các nhà tài trợ song phương cho Việt Nam thì Nhật Bản là một trong những nước sớm nhất và có lượng vốn ODA cung cấp lớn nhất cho Việt Nam. Nhờ có vốn ODA của Nhật Bản mà chúng ta đã tạo ra một kênh huy động vốn lớn bổ sung cho ngân sách nhà nước, một nguồn vốn lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế. Việc sử dụng vốn ODA của Nhật Bản đã có những vai trò nhất định trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng... Tuy nhiên trong quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA của Nhật Bản vào Việt Nam đã xuất hiện nhiều những bất cập, tồn tại cần được giải quyết. Do đó cần có những nghiên cứu nhằm đánh giá lại những điều đã đạt được và chưa đạt được trong quá trình thu hút và sử dụng ODA, đặc biệt là công tác thu hút ODA của Nhật Bản vào Việt Nam. Xuất phát từ yêu cầu đó em đã chọn nghiên cứu đề tài: “Thu hút vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2006-2010: Thực trạng và giải pháp”, nhằm đưa ra những góc nhìn khái quát về thực trạng công tác thu hút ODA của Nhật Bản vào Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra những đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Với mục tiêu là đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển hiện đạitheo định hướng xã hội chủ nghĩa, từ năm 1986 Đảng , Nhà nước và chính phủ ViệtNam đã có những chính sách nhằm phát huy nội lực và tận dụng ngoại lực cho pháttriển kinh tế Việc xây dựng các chính sách kinh tế kết hợp với các chính sách ngoạigiao đã trở một trong những việc được các cơ quan hết sức quan tâm Và từ những nhucầu thực tế đó thì từ năm 1993 Việt Nam đã xây dựng những khung chính sách choviệc thu hút và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA ) cho đầu tư phát triểnkinh tế Trải qua gần 17 năm qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất địnhtrong việc sử dụng ODA và tạo ra niềm tin cho các nhà tài trợ Trong các nhà tài trợsong phương cho Việt Nam thì Nhật Bản là một trong những nước sớm nhất và cólượng vốn ODA cung cấp lớn nhất cho Việt Nam Nhờ có vốn ODA của Nhật Bản màchúng ta đã tạo ra một kênh huy động vốn lớn bổ sung cho ngân sách nhà nước, mộtnguồn vốn lớn cho xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế Việc sử dụng vốnODA của Nhật Bản đã có những vai trò nhất định trong quá trình thúc đẩy tăng trưởngkinh tế, xóa đói giảm nghèo, hoàn thiện cơ sở hạ tầng Tuy nhiên trong quá trình thuhút và sử dụng vốn ODA của Nhật Bản vào Việt Nam đã xuất hiện nhiều những bấtcập, tồn tại cần được giải quyết Do đó cần có những nghiên cứu nhằm đánh giá lạinhững điều đã đạt được và chưa đạt được trong quá trình thu hút và sử dụng ODA, đặcbiệt là công tác thu hút ODA của Nhật Bản vào Việt Nam Xuất phát từ yêu cầu đó em
đã chọn nghiên cứu đề tài: “Thu hút vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của Nhật Bản vào Việt Nam giai đoạn 2006-2010: Thực trạng và giải pháp”, nhằm đưa
ra những góc nhìn khái quát về thực trạng công tác thu hút ODA của Nhật Bản vàoViệt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra những đề xuất những giải pháp nhằm nângcao hiệu quả công tác này
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ODA
1 Giới thiệu chung về nguồn vốn ODA:
1 Khái niệm:
Khái niệm về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được Ủy Ban hỗ trợphát triển (DAC) chính thức đề cập đến vào năm 1969 Từ đó đến nay, đã có nhiềuđịnh nghĩa về ODA nhưng sự khác biệt giữa chúng không nhiều Ở đây, xin đưa ramột số khái niệm về ODA đã đưuọc các nhà tài trợ đề cập đến trong quá trình hỗ trợphát triển:
- Theo Ủy ban hỗ trợ phát triển (DAC): ODA là các khoản viện trợ không hoànlại, các khoản viện trợ có hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi của chính phủ các nước,các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, các tổ chức tàichính quốc tế dành cho chính phủ và nhân dân các nước đang và chậm phát triển
- Theo Ngân hàng thế giới (WB): ODA là một phần của tài chính phát triển chínhthức (ODF) trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phảichiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ
- Đối với Việt Nam: tại Điều 1 của Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợphát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định số 17/2001//NĐ-CP ngày 4 tháng 5năm 2001 của Chính phủ quy định: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được hiểu làhoat động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam với nhà tài trợ bao gồm chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chínhphủ hoặc liên quốc gia Hình thức cung cấp ODA bao gồm ODA không hoàn lại vàODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%
Trong thông tư số 06/2001/TT-BKH hướng dẫn thực hiện Quy chế quản lý và sửdụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức được Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành ngày
20 tháng 9 năm 2001 đã quy định yếu tố không hoàn lại của ODA vay ưu đãi:
Yếu tố không hoàn lại là tỉ lệ phần trăm giá trị danh nghĩa của khoản vay phảnánh mức độ ưu đãi của khoản vay ODA Yếu tố này được xác đinh dựa trên lãi suất,thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, số lần trả nợ trong năm và tỷ lệ chiết khấu Côngthức tổng quát để xác định yếu tố không hoàn lại đươc đưa ra như sau:
GE = 100% (1 )
GE: Yếu tố không hoàn lại (%)
R : Tỷ lệ lãi suất hàng năm
Trang 3A : Số lần trả nợ trong năm
d : Tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ: d= (1 + d’)1/a – 1
d’ : Tỷ lệ chiết khấu của cả năm
G : Thời gian ân hạn
M : Thời hạn cho vay
Như vậy, các khái niệm ODA được đưa ra có những điểm khác nhau vì được xét
ở dưới các giác độ khác nhau Tuy nhiên, có thể hiểu một cách chung nhất về ODA:
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là các khoản viển trợ hoàn lại và không hoàn lại, được tài trợ trong khuôn khổ hợp tác giữa các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia cho chính phủ và nhân dân các nước đang và chậm phát triển với mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân và phát triển bền vững.
Điều kiện để một nguồn vốn được coi là vốn ODA:
- Lãi suất thấp: dưới 3%/năm, trung bình thường là: 1-2 %/năm
- Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn dài: 25- 40 năm mới phải hoàn trảlại, thời gian ân hạn: 8-10 năm
- Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là25% của tổng số vốn ODA
2 Đặc điểm nguồn vốn ODA:
2.1 ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển
Đây là đặc điểm cơ bản của nguồn vốn ODA, được thể hiện ở tính chất ưu đãicao Không kể đến các khoản ODA không hoàn lại, các khoản ODA vốn vay cũngđược hưởng chế độ ưu đãi như: lãi suất thấp, thườn dưới 3%/năm; thời gian sử dụngvốn dài, thường từ 20-50 năm, trong đó thời gian ân hạn (không phải trả lãi) từ 5-10năm và thời gian chịu lãi suất với lịch trả nợ cũng đa dạng, gồm nhiều giai đoạn vàđược áp dụng những tỷ lệ trả nợ khác nhau theo từng giai đoạn
2.2 ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi
Bởi vì bao giờ cung có phần cho không là chủ yếu Còn phần cho vay chủ yếu làvay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản tín dụng rất nhiều (thường dưới 3%) và vaythương mại rất nhỏ Thời gian sủ dụng vốn dài, thường là từ 20-50 năm và để đượcxếp vào ODA, một khoản cho vay phải có một yếu tố tối thiểu là 25% viện trợ khônghoàn lại
2.3 ODA là nguồn vốn có nhiều ràng buộc:
Vì đi kèm với ODA bao giờ cũng có những ràng buộc nhất định về chính trị kinh
tế hoặc khu vực địa lý Nước nhận viện trợ còn phải đáp ứng các yêu cầu của bên cấpviện trợ như thay đổi chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế, thay đổi thể chế chínhtrị… cho phù hợp với mục đích của bên tài trợ
2.4 ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Vì khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nợ
Trang 4thương chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên
sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lâm vào vòng nợ nần do không cókhả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sảnxuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do
đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn đểtăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu
3 Phân loại ODA:
Có nhiều cách để phân loại ODA, dưới đây là 3 cách phổ biến nhất:
3.1 Theo nguồn hình thành: (có 2 loại)
● ODA song phương: là khoản viện trợ trực tiếp từ nước này sang nước kiathông qua việc kí kết hiệp định chính phủ
Viện trợ song phương chiếm tỷ trọng cao: trên 80% tổng vốn ODA toàn thế giới.(ODA của Nhật Bản vào Việt Nam là ODA song phương.)
● ODA đa phương: là hình thức viện trợ ODA cho các nước đang phát triển thôngqua các tổ chức tài chính quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB) Ngân hàng phát triển châuÁ( ADB), Ngân hàng phát triển châu Mỹ (IDB), Quỹ phát triển châu Phi…
Nguồn ODA đa phương hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của các nước côngnghiệp phát triển
3.2 Theo hình thức hoàn trả: (có 3 loại)
● Viện trợ không hoàn lại: Nước nhận viện trợ không phải hoàn trả lại khoản vốn
3.3 Theo mục đích sử dụng: (có 2 loại)
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng kinh tế, xã hội và môi trường Đây là những khoản cho vay ưu đãi
- Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ,
xây dưng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư, phát triểnthể chế và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại
4 Các nhân tố ảnh hưởng tới ODA:
4.1 ODA gắn liền với chính trị:
Và là một trong những Phuong tiện để thực hiện ý đồ chính trị ODA cũng chịuảnh hưởng bởi các quan hệ sãn có của bên cấp viện trợ cho nước nhận viện trợ bởi sựtương hợp về thể chế chính trị, bởi quan hệ địa dư gần gũi Bên cấp viện trợ và cácnguồn vốn chính thức khác thường cấp viện trợ cho những người bạn về chính trị vàđồng minh quân sự mà không cấp viên trợ cho những đối tượng mà họ cho là kẻ thù
Trang 5Đó chính là tính chất địa lý-chính trị được thể hiện rất rõ trong viện trợ.
4.2 ODA gắn với điều kiện kinh tế:
Các nước viện trợ nói chung đều muốn đạt được những ảnh hưởng về chính trị ,đem lại lợi nhuận cho hàng hóa dịch vụ tư vấn trong nước Họ gắn quỹ viện trợ vớiviệc mua hàng hóa dịch vụ của nước họ như lad một biện pháp nhằm tăng cường khảnăng làm chủ thị trường xuất khẩu và giảm bớt tác động của viện trợ đối với cán cânthanh toán Mặt khác, nước nhận viện trợ còn phải chịu rủi ro của đồng tiền viện trợ.Nếu đồng tiền viện trợ tăng giá so với đồng tiền của các nước nhận được do xuất khẩuthì nước tiếp nhận sẽ phải trả thêm một khoản nợ bổ sung do chênh lệch tỷ giá tại thờiđiểm vay và thời điểm trả nợ Theo tính toán của các chuyên gia thì cho dù không đikèm theo điều kiện ràng buộc nào thì viện trợ vẫn đem lại lợi ích thương mại cho quốcgia viện trợ
4.3 ODA chịu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội:
ODA là một phần GNP của các nước tài trợ nên rất nhạy cảm với các dư luận xãhội ở các nước tài trợ Nhân dân các nước cấp viện trợ coi trọng tầm quan trọng của cả
số lượng và chất lượng của viện trợ, họ sẵn sàng ủng hộ viện trợ với điều kiện là việntrợ được sử dụng tốt Còn đối với các nước nhận viện trợ, nguy cơ ohuj thuộc viện trợnước ngoài, gánh nặng nợ nần là một thực tế khó tránh khỏi Do vây, các nước nhậnviện trợ cần phải rất thận trọng khi sử dụng ODA
5 Vai trò của ODA:
5.1 Bổ sung cho nguồn vốn đầu tư:
Các nước đang phát triển là những nước rất cần vốn cho đầu tư phát triển, vàviện trợ chính là một hình thức bổ sung cho nguồn vốn trong nước Vốn đầu tư có thểthu hút từ các nguồn ODA, FDI hoặc nguồn vốn tích lũy từ nội bộ nền kinh tế Trongđiều kiện nguồn vốn trong nước còn hạn hẹp thì nguồn vốn nước ngoài có tầm quantrọng đặc biệt Nguồn vốn ODA thường được các nước đang phát triển đầu tư cải thiện
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, xây dựng đương giao thông, phát triển năng lượng… vìđây là những ngành cần phải đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm nên tư nhân không có khảnăng đầu tư
Viện trợ còn thức đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và phát triển nguồn nhân lực Nhờ có viện trợ mà nước nhận tài trợ với cơ chế quản lý tốt sẽ tạo ra
được cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội vững chắc, giao thông thuận tiện, hệ thống pháp luật
ổn định, viện trợ là sự chuẩn bị cho vốn đầu tư trực tiếp được thu hút vào là điểu kiệncho FDI được sử dụng một cách hiệu quả
Viện trợ thúc đẩy đầu tư tư nhân: Ở những nước có cơ chế quản lý tốt thì viện trợ
nước ngoài không những không thay thế đầu tư tư nhân mà đóng vai trò như là namchâm hút đầu tư tư nhân theo tỷ lệ sấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với các nướcquản lý tốt thì viện trợ góp phần củng cố niềm tin cho khu vực tư nhân và hỗ trợ cácdịch vụ công cộng Viện trợ tăng với quy mô 1% GDP sẽ làm tăng đầu tư tư nhân trên
Trang 61,9% GDP Ở các nước có cơ chế quản lý tồi, viện trợ nước ngoài có thể khuyến khíchkhu vực Nhà nước tiến hành các khaonr đầu tư thương mại đáng ra do khu vực tư nhânthực hiện.
5.2 Chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực:
Cách mạng khoa học công nghệ đã tạo nên sự phát triển nhanh chóng ở nhiềunước Nhưng đây cũng là nguyên nhân làm tăng khoảng cách giữa các nước giàu vànghèo Tranh thủ các thành tựu khoa học-công nghệ hiện đại của các nước đang pháttriển là bước “đi tắt đón đầu” trong chiến lược phát triển của những nước đi sau Tuynhiên, chi phí để có thể tận dụng được những cơ hội này là rất lớn đối với ngân sáchhạn chế của những nước này Vì vậy, chuyển giao công nghệ thông qua hỗ trợ pháttriển là hình thức phù hợp và cần thiết để các nước đang và chậm phát triển nhanhchóng nắm băt được những công nghệ, kỹ thuật mới, tăng cường năng lực thể chế,phát triển nguồn nhân lực…
5.3 Góp phần cải thiện thể chế và cơ cấu kinh tế:
Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nước đang phát triển là chìa khóa
để tạo bước nhay vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp phần làm giảmđói nghèo Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dưỡng cải cách Khi các nước mongmnuoons cải cách thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết như
hỗ trợ thử nghiệm cải cách, trình diễn thí điểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinhnghiệm Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân
bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chungcủa viện trợ là lớn Ngược lại, ở những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đồngnhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cáchtốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xâydựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sựphát triển
Cơ chế quản lý tốt, ổn định kinh tế vĩ mô, Nhà nước pháp quyền và hạn chế thamnhũng sẽ dẫn đến tăng trưởng và giảm đói nghèo Tuy không có mối quan hệ về lượnggiữa viện trợ và chất lượng chính sách của nước nhận viện trợ nhưng trong một sốtrường hợp viên trợ vẫn có thể góp phần cải cách, thông qua các điều kiện đặt ra hoặcthông qua việc phổ biến ý tưởng mới
5.4 Xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội:
Viện trợ tác động tới tăng trưởng, từ đó tác động đến mục đích nâng cao mứcsống Đối với các nước có cơ chế quản lý tốt, khi viện trợ tăng lên khiến tốc độ tăngtrưởng của nền kinh tế tăng lên thì mức thu nhập của người lao động có xu hướngđược cải thiện, tỷ lệ đói nghèo được trực tiếp giảm xuống Tăng trưởng không loại bỏđói nghèo nhưng rõ ràng tăng trưởng có tác động lớn đến cait thiển các chỉ tiêu xã hội.Các cơ hội về y tế, chăm sóc sức khỏe hay giáo dục xuất hiện ngày một nhiều hơncùng với sự lớn dần lên của nền kinh tế Nếu một nước có cơ chế quản lý tốt thì khi
Trang 7viện trợ tăng lên sẽ kéo theo việc giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em Điều đó có nghĩa là cáctiêu chí xã hội có quan hệ chặt chẽ với thu nhập bình quân đàu người, hay nói cáchkhác nó có quan hệ chặt chẽ với viện trợ.
Tóm lại, viện trợ đã và đang có hiệu quả Tuy nhiên, nguồn vốn ODA chỉ pháthuy hết vai trò của nó khi có một cơ chế quản lý tốt, một thể chế lành mạnh và mộtmôt trường chính trị hoàn thiện Nếu không chẳng những ODA không phát huy vai tròcủa nó mà còn đem lại gánh nặng nợ nần cho đất nước
Việt Nam là một nước đang phát triển, hiện đang mong muốn nhận được nhiềunguồn ODA và quản lý sử dụng ODA thật hiệu quả phục vụ cho phát triển đất nước.Việt Nam cần nhận thức rõ được vai trò của ODA, các điều kiện để ODA phát huy vaitrò của nó để từng bước hoàn thiện công tác thu hút, quản lý và sử dụng ODA
Trang 8CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ODA CỦA NHẬT BẢN
VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2010
I Giới thiệu chung về nguồn vốn ODA Nhật Bản:
1 Mục tiêu cấp ODA cho Việt Nam của Nhật bản:
Thứ nhất: Vị trí và tầm quan trọng của Việt Nam trong ASEAN sẽ là nhân tố
quan trọng cho sự phát triển nhiều mặt của Nhật Bản:
Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Nam Á Việt Nam nằmtrên các tuyến giao thông biển ở khu vực Tây Thái Bình Dương có nhiều cửa ngõthông thương ra biển, những hải cảng lớn như Hải Phòng, Cam Ranh, Đà Nẵng, VũngTàu… đều rất có ý nghĩa lớn về mặt quân sự, có thể được xem như một yếu tố tácđộng đến chiến lược an ninh của Nhật Bản Trong tương lai không xa Việt Nam sẽ lànước đóng vai trò quan trọng về mặt chính trị và kinh tế trong khu vực châu Á
Một mặt chính phủ Nhật Bản khẳng định mục tiêu chủ yếu trong chính sách đốingoại của Nhật Bản là góp phần vào hòa bình và phát triển kinh tế trên toàn thế giớinhưng không thể phủ nhận được rằng chính nhân tố hòa bình, ổn định chính trị và pháttriển kinh tế ở khu vực này rất quan trọng đối với sự phát triển của Nhật Bản ASEAN
là một thể chế khu vực có vai trò then chốt trong chính sách châu Á của Nhật Bản.Nhật Bản cũng đã khẳng định Việt Nam đóng vai trò then chốt trong ASEAN Vì thếthúc đẩy quan hệ với Việt Nam cũng sẽ giúp cho Nhật Bản xích lại gần hơn với Asean
Và ngược lại mối quan hệ giữa Nhật Bản và ASEAN đã được đẩy mạnh thì nó cũng cóảnh hưởng tới mối quan hệ song phương giữa hai nước: “hướng tới xây dựng một đốitác chiến lược vì hoà bình, phồn vinh ở Châu Á” (Trích lời Thủ tướng Nguyễn TấnDũng nhân dịp tới thăm Nhật Bản tháng 10/2006)
Thứ hai: Nhật Bản muốn gây dựng vị thế trên trường quốc tế:
Trên thực tế, các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là các cường quốc kinh tếluôn cố gắng tạo thanh thế, mở rộng ảnh hưởng của mình trên chính trường thế giới,tìm kiếm, lôi kéo sự ủng hộ của các nước phát triển chậm hơn trong các vấn đề có tínhchất quốc tế Trong cuộc chạy đua tìm kiếm đồng mình, viện trợ ODA là một trongnhững biện pháp tỏ ra rất hiệu quả Chẳng hạn như, phần lớn viện trợ ODA của Mỹ làdành cho đồng minh Ixraen
Nhật Bản cũng là một cường quốc kinh tế, việc gây dựng và khẳng định vị thếcủa mình ngày một được coi trọng và tăng cường Sự ảnh hưởng của Trung Quốc cũngkhiến Nhật phải vùng lên tạo thế cân bằng Điều này cho thấy tham vọng và mục đíchcủa Nhật Bản là thiết lập một trật tự thế giới mới trên cơ sở tạo lập được niềm tin và sựđồng tình ủng hộ của các nước mang tính cách mạng theo ý muốn của họ
Trang 9Thứ ba: Nhật Bản đang nhìn Việt Nam như 1 thị trường đầy tiềm năng:
Trong con mắt của các nhà đầu tư Nhật Bản, Việt Nam là thị trường có triểnvọng đứng thứ tư toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ Mặt khác vì tỉ lệrủi ro thấp của Nhật Bản khi đầu tư vào Việt Nam: "Việt Nam được nhiều nhà đầu tưcoi là nơi để phân bổ rủi ro Các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư Nhật Bản rất chú ýtới yếu tố này vì Việt Nam đang nổi lên là một nơi thay thế đầu tư khá lý tưởng do kếthợp được cả các yếu tố khác như nguồn lao động có kỹ năng, chi phí nhân công thấp,môi trường đầu tư được cải thiện, không có khủng bố, có nhiều chính sách ưu đãi vàkhuyến khích đầu tư…" (Trích lời ông TaiHui - Trưởng bộ phận nghiên cứu kinh tếkhu vực Đông Nam Á của ngân hàng Standard Chartered)
Báo Nihon Keizai ngày 21/8/1995 từng nêu lên 7 thế mạnh của Việt Nam: lực
lượng lao động cần cù, chịu khó và có trình độ văn hoá cao, tài nguyên thiên nhiêngiàu có như dầu lửa, khí đốt, than, quặng, sắt, bô xít, nền nông nghiệp đầy tiềm năng,
bờ biển dài, tiềm năng nguồn du lịch phong phú, được kích thích bởi tốc độ tăngtrưởng nhanh của các nước châu Á xung quanh, tình hình chính trị ổn định
Như vậy, nếu nhìn tổng thể về nội lực của Việt Nam thì chúng ta sẽ thấy nhữngyếu tố cơ bản mang lại lợi thế không nhỏ cho Nhật Bản khi đầu tư Sự ưu tiên củaNhật Bản đối với Việt Nam trước hết xuất phát từ lợi ích của Nhật Bản bởi vì ODAgiữ vai trò “mở đường” và tạo “cử chỉ thân thiện”, để sau đó Nhật Bản thực hiện chínhsách xúc tiến thương mại và đầu tư trực tiếp FDI Qua ODA, các doanh nghiệp NhậtBản có thể tiếp cận nhanh hơn đến Việt Nam qua các hợp đồng xây dựng dự án cụ thể,nhà đầu tư Nhật Bản cũng đến Việt Nam dễ dàng hơn vì cơ sở hạ tầng phát triển
Thứ tư: Việt Nam và Nhật Bản có nhiều tiếng nói chung và điểm tương đồng:
Con người, đất nước Việt Nam và Nhật Bản đều cần cù, chịu khó, tiết kiệm vàtinh thần phấn đấu vươn lên, có lối sống cộng đồng chặt chẽ, có nhiều đặc điểm vănhoá hàng nghìn năm cùng tồn tại trong điều kiện văn minh nông nghiệp lúa nước, cùngtiếp thu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, và tâm lý tương tự
Có giả thiết cho rằng, sở dĩ, Nhật Bản luôn là đối tác viện trợ hàng đầu cho ViệtNam là vì, một góc độ nào đó xuất phát từ mối bang giao mềm mỏng và nhân hoà củachúng ta trong chiều dài lịch sử với Nhật Bản, không hẳn là phải chờ đến những nămgần đây khi hai nước hướng tới mục tiêu trở thành đối tác chiến lược của nhau Nhànghiên cứu Chương Thâu đặt vấn đề: liệu mối quan hệ “đồng văn đồng chủng” từ hơn
100 năm trước dường như vẫn còn đó dấu ấn, nhiều tình cảm tốt đẹp đã ăn sâu trongnếp nghĩ của người dân hai nước ODA bản chất là tiền đóng thuế của nhân dân nướctài trợ thông qua cơ quan Chính phủ Nhật Bản và người dân Việt Nam ở các vùng quêđang được hưởng lợi trong việc sử dụng các công trình công cộng xây dựng bằngODA Ngài Izuki Ikuo - Tổng lãnh sự Nhật Bản tại Việt Nam cũng bày tỏ “người dânNhật Bản theo dõi các dự án ODA rất chặt chẽ Chúng tôi sẽ theo dõi hiệu quả của các
dự án để xem cuộc sống của người dân ở vùng mà dự án đầu tư đượccải thiện như thế
Trang 10nào và giải thích cho người dân đóng thuế ở Nhật Bản” Tất nhiên, điều này cần cóthời gian và những luận cứ khoa học để khẳng định.
2 Chính sách ODA Nhật Bản tại Việt Nam:
Tháng 11-1992, Chính phủ Nhật Bản là nước phát triển đầu tiên tuyên bố nối lạiviện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam, góp phần khai thông mối quan hệcủa Việt Nam với các tổ chức tài chính quốc tế chủ chốt
Từ đó đến nay, mặc dù nền kinh tế Nhật Bản có những thời điểm gặp khó khăn,nhưng Chính phủ Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam
Chính sách ODA của Nhật Bản chủ yếu được thực hiện thông qua 2 tổ chức làNgân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Cơ quan hợp tác và phát triển NhậtBản (JICA) được thành lập vào tháng 10 năm 1999 trên cơ sở việc sát nhập hai tổ chứcQuỹ hợp tác Kinh tế Hải ngoại Nhật Bản (OECF) và Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu NhậtBản (JEXIM) Đây là, một tổ chức chuyên cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi dài hạn,chủ yếu cho các nước đang phát triển một cách phù hợp với chính sách kinh tế vĩ mô
và chiến lược liên kết, hợp tác kinh tế quốc tế của Nhật Bản JBIC và JICA là tổ chứcxúc tiến hợp tác quốc tế và trực tiếp tổ chức thực hiện tài trợ thông qua việc triển khaicác dự án hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực tręn các lĩnh vực cho các nước đangphát triển
2.1 Chính sách cơ bản về ODA của Nhật Bản:
● Hỗ trợ tinh thần tự lực của các nước phát triển
● Tăng cường an ninh, an toàn cho con người
● Đảm bảo sự công bằng
● Tận dụng kinh nghiệm, chuyên môn
● Hợp tác với cộng đồng quốc tế.
2.2 Về lĩnh vực ưu tiên:
ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam trước đây nhằm vào 5 lĩnh vực ưu tiên:
● Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng thể chế, trong đó chú trọng hỗ trợ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
● Hỗ trợ cải tạo và xây dựng các công trình điện và giao thông.
● Hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nhất là phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn
và chuyển giao công nghệ mới tại các vùng nông thôn.
● Hỗ trợ phát triển giáo dục và y tế.
● Hỗ trợ bảo vệ môi trường.
Từ năm 2007, có một điểm khác biệt trong cơ chế nhận hỗ trợ ODA so với chínhsách ODA cũ là các dự án nhận hỗ trợ sẽ được lựa chọn thông qua đối thoại, chứkhông phải theo yêu cầu như trước đây và khoản hỗ trợ được hoạch định ngay tại nướcnhận ODA nhằm sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả Do vậy, chính sách ODAmới của Nhật Bản ưu tiên hỗ trợ hàng đầu vào 3 lĩnh vực sau :
Trang 11● Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Để thực hiện mục tiêu này, Nhật Bản sẽ tập
trung hỗ trợ vào lĩnh vực cải cách kinh tế như hoàn thiện môi trường đầu tư, hỗ trợphát triển kinh tế tư nhân, nâng cấp kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, điện lực, côngnghệ thông tin, đào tạo nguồn nhân lực, cải cách doanh nghiệp Nhà nước
● Cải thiện đời sống dân cư và các lĩnh vực xã hội
● Hoàn thiện thể chế, pháp luật: Nhật Bản sẽ hỗ trợ Việt Nam cải cách hành
chính, trong đó có cải cách chế độ công chức thông qua việc sử dụng kinh nghiệm vàcác công nghệ tiên tiến của Nhật Bản
2.3 Về cơ chế vay vốn ODA của Nhật Bản:
ODA Nhật Bản được chia ra làm 2 loại đó là ODA song phương và ODA đaphương Trong đó, ODA song phương bao gồm viện trợ (Grants) và tín dụng (Loans).Cho vay song phương do Bộ Tài Chính NB( MOF) xây dựng chính sách còn chínhsách viện trợ không hoàn lại thuộc quản lý của Bộ Ngoại Giao( MOFA) Ngoài ra,việc cung cấp vốn đầu tư cho các dự án ở các nước đang phát triển do tổ chức pháttriển quốc tế NB( JAIDO) thực hiện ODA đa phương được thực hiện thông qua kênhcác tổ chức quốc tế mà Nhật Bản đóng góp vào như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàngPhát triển châu Á
2.4 Về thời hạn và điều kiện vay vốn ODA của Nhật Bản:
ODA cung cấp với lãi suất rất thấp Ví dụ, các khoản vay trong năm tài chính
1998 có tỷ lệ lãi suất trung bình 1,3% với thời gian đáo hạn trung bình cho một dự ánvay là 23 năm rưỡi Thêm vào đó, có thể gia hạn thêm từ 7 - 10 năm sau Việt Nam làmột trong các nước nằm ở khu vực ưu tiên cấp ODA hàng đầu của Nhật ( khu vựcchâu Á chiếm 80% tổng số ODA Nhật cấp)
2.5 Về thể thức cho vay:
● Triển khai theo dự án:
- Dự án vay vốn (Project Loans): chủ yếu cung cấp để đầu tư mua sắm máy móc,thiết bị, thuę vận hành, tư vấn kỹ thuật và các nhu cầu khác có liên quan
- Cho vay để thực hiện trợ giúp kỹ thuật, chuyển giao công nghệ (Engineeringservices loans- E/S)
- Cho vay thông qua trung gian tài chính hay còn gọi là theo quy trình 2 bước(Two-step loans): cung cấp vốn vay cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động tronglĩnh vực sản xuất công nghiệp hoặc nông nghiệp
● Loại phi dự án (không có dự án riêng):
- Cho vay nhập khẩu hàng hóa (Commodity Loans): cung cấp cho các nước đangphát triển đang thiếu ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa
- Cho vay để tiến hành tái cơ cấu lại ngành, lĩnh vực
- Cho vay theo chương trình định hướng vào lĩnh vực then chốt
2.6 Quy trình xin vay và triển khai dự án:
Các dự án vay ODA được thực hiện qua một số bước như sau: Chuẩn bị (xây
Trang 12dựng) dự án; Nộp hồ sơ xin vay; Thẩm định dự án; Thỏa thuận, thống nhất giữa các bên vềnội dung hợp đồng vay; Triển khai dự án; Kết thúc, đánh giá dự án hoặc điều chỉnh.
Trong đó, riêng khâu thẩm định dự án gồm 3 bước như sau:
- Sàng lọc sơ bộ: Hồ sơ dự án xin vay vốn (theo mẫu JBIC hướng dẫn) gửi đến JBIC sẽ
được phân loại thành 3 loại A, B, C phù hợp với tiêu chí bảo vệ môi trường mà JBIC đưa ra
- Xem xét, phân tích đánh giá kỹ các yếu tố liên quan đến môi trường đối với
từng loại dự án đă phân loại
- Khẳng định sự phù hợp của dự án liên quan đến các vấn đề môi trường, có 2
phương diện đánh giá cơ bản mà dựa trên đó hệ thống các tiêu chí được thiết lập baogồm: môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội
Việc tìm hiểu bản chất đích thực của nguồn vốn ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng để một mặt tiếp nhận và sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất mang lại lợi ích cho Việt Nam, mặt khác tránh được sự lệ thuộc hay phải đánh đổi những lợi ích mà chúng ta không đáng phải đánh đổi với Nhật Bản Vậy, thực trạng việc tiếp nhận ODA Nhật Bản của Việt Nam như thế nào và chúng ta
đã có được những thành tựu gì cũng như những vấn đề gì còn vướng mắc? Phần II và III sau đây viết sẽ đề cập đến vấn đề này.
II Quy mô và cơ cấu nguồn vốn ODA Nhật Bản:
1 Quy mô:
Việt Nam là một trong những thị trường thu hút được rất nhiều vốn ODA Hiện
nay có 28 nhà tài trợ song phương, 23 tổ chức tài trợ ODA đa phương trong đó có 24
nhà tài trợ cam kết ODA thường niên (úc, Bỉ, Canađa, Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp,Đức, Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lux-xem-bua, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Tây BanNha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thái Lan, Anh, Hoa Kỳ, Ailen, ), 4 nhà tài trợ không cam kếtODA thường niên (Áo, Trung Quốc, Nga, Singapore) mà cam kết ODA theo từng dự án
cụ thể Dưới đây là bảng 10 nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam giai đoạn 1993-2006:
Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam giai đoạn
1993-2006 (Đơn vị: Triệu USD) Nhà tài trợ Số lượng vốn cam kết
Trang 13Nhìn trên bảng số liệu ta thấy Nhật Bản là nước viện trợ cho lớn nhất cho ViệtNam ODA Nhật Bản tăng dần ngay cả trong những năm nền kinh tế Nhật Bản gặpkhó khăn nhất, và trong ba năm trở lại đây, 2006, 2007,2008 Nhật Bản luôn là nướctài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Từ 1992-2007 đạt khoảng 13 tỷ USD, chiếmkhoảng 30 % tổng khối lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho ViệtNam, trong đó viện trợ không hoàn lại khoảng 1,5 tỷ USD Ngày 31-3-2009, với sốtiền 900 triệu USD cho tài khóa 2008 được ký đã nâng tổng số tiền cam kết của cácnhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 lên con số 6 tỷ USD (so với 5 tỷ USD của năm2007) Với con số này, ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam năm 2008 vừa qua đã đạtmức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay.
Viện trợ phát triển chính thức ODA Nhật Bản cho Việt Nam
Đơn vị: tỷ Yên
(Nguồn: Bộ kế hoạch và Đầu tư)
Trang 142.Cơ cấu:
2.1 Theo loại hình viện trợ:
Bảng cơ cấu ODA Nhật Bản theo loại hình viện trợ tính đến năm 2003
Tín dụng ưu đãi của Nhật được thực hiện dưới hai hình thức:
- Tín dụng theo dự án
- Tín dụng phi dự án
Tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số ODA Nhật Bản( 87.3%)
Tư tưởng chủ đạo của ODA Nhật Bản là nhấn mạnh đến yếu tố làm chủ và chủđộng của nước tiếp nhận viện trợ, và do vậy Nhật Bản tập trung cho các khoản tíndụng ưu đãi hơn là viện trợ Chính phủ Nhật cho rằng nghĩa vụ trả nợ sẽ tạo động lựcmạnh hơn cho những nỗ lực tăng cường ý thức tự lực cánh sinh
Cho đến nay thì Nhật Bản đã cùng hợp tác với các nhà đầu tư của ta để xây dựngnhững dự án như: Dự án xây dựng cầu Bãi Cháy, dự án cầu Cần Thơ, dự án xây dựngnhà ga hành khách Quốc Tế sân bay Tân Sơn Nhất, xây dựng đường cao tốc Đông TâySài Gòn, dự án đường hầm Hải Vân, dự án phát triển cơ sở hạ tầng qui mô nhỏ chongười nghèo, Dự án nhà máy nhiệt điện Phả Lại, dự án nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, dự
án cải thiện môi trường nước Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, dự án mở rộng cảngCái Lân, dự án nâng cấp quốc lộ số 5, dự án mạng lưới thông tin liên lạc nông thônmiền Trung Việt Nam, dự án nhà máy nhiệt điện Ô Môn