1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xu hướng M&A trong ngành ngân hàng tại Việt Nam

38 341 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 380 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thế giới, hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp (M&A) được hình thành rất sớm và phổ biến, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh quyết liệt giữa các công ty với nhau. Hoạt động M&A đồng thời cũng tạo ra xu thế các công ty tập trung lại nhằm tận dụng giá trị cộng hưởng từ việc thống nhất, tập hợp các nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực, thương hiệu... Trong thị trường kinh doanh ngày nay, mặc dù tốc độ tăng trưởng luôn được duy trì ở mức cao song sức ép cạnh tranh và sự biến động không ngừng của thị trường khiến cho các công ty khó có thể dự đoán được sự thành công hay thất bại của mình. Được xem như một công cụ thực sự hữu hiệu, có tác động nhanh chóng và mạnh mẽ nhất, M&A được các công ty sử dụng để thay đổi cuộc chơi cạnh tranh khốc liệt này. Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, M&A đã xuất hiện và liên tục tạo ra các làn sóng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Mỗi làn sóng này đều chịu sự tác động của những chính sách kinh tế, quá trình sửa đổi và điều chỉnh luật và sự tiến bộ công nghệ, khoa học ứng dụng. Hoạt động M&A không chỉ dừng lại ở châu Âu, châu Mỹ, mà tiếp tục nhanh chóng tràn sang khu vực châu Á Thái Bình Dương. Theo thống kê sơ bộ, hoạt động này đang được chú trọng đẩy mạnh tại các nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Malaysia. Và Việt Nam cũng không thể nằm ngoài làn sóng phát triển này. Ở Việt Nam, hoạt động M&A được quan tâm từ khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời. Tuy nhiên, nó chỉ trở nên sôi động từ năm 2005 cùng với giai đoạn phát triển ban đầu của thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta tăng trưởng nóng đã sinh ra quá nhiều công ty hoạt động trong những lĩnh vực có tính cạnh tranh cao như: kế toán – kiểm toán, ngân – hàng tài chính, chứng khoán,… Trong suốt 5 năm từ 2005 -2009, M&A tại Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7,5%/năm. Đến năm 2010, Việt Nam có khoảng 500.000 doanh nghiệp đồng thời thu hút hơn nữa nguồn đầu tư nước ngoài và phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các loại thị trường… Đây chính là những cơ sở và điều kiện quan trọng để hoạt động M&A tại Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển và hình thành nên một thị trường M&A trong những năm tới. Thêm vào đó, giai đoạn 2005 – 2009 được biết đến với sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, hầu hết các công ty đều lâm vào tình trạng khó khăn, đặc biệt là các công ty trong ngành ngân hàng – tài chính thì thời điểm này là một thách thức lớn. Mua bán và sáp nhập được coi là một biện pháp cứu cánh cho các doanh nghiệp để vượt qua thời kỳ khủng hoảng này. Tuy nhiên thực hiện thế nào cho đúng để tránh mắc phải những sai lầm, giúp doanh nghiệp đi lên là một câu hỏi lớn đối với các nhà quản trị. Vậy để thị trường này phát triển một cách có hiệu quả và phát huy tối đa được những lợi ích mà nó đem lại thì vấn đề nghiên cứu M&A trong thời kỳ trước nhằm tìm hiểu những nguyên nhân thành công cũng như thất bại và rút ra được những giải pháp hoàn thiện nó là rất cần thiết. M&A diễn ra hầu hết trên tất cả các lĩnh vực, nhưng ngành ngân hàng - tài chính dường như đang chiếm một tỉ trọng khá lớn. Các tổ chức tài chính, các ngân hàng nước ngoài bằng công cụ M&A có cơ hội nhiều hơn để thâm nhập và thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam. Một thực tế là việc trở thành đối tác chiến lược thông qua mua cổ phiếu của các ngân hàng và mua lại phần vốn góp trong vốn điều lệ của các công ty chứng khoán là hành động có tầm chiến lược và là đầu cầu để chuẩn bị cho các bước tiếp sau – thâm nhập sâu hơn đồng thời tạo bàn đạp để thực hiện M&A tại các lĩnh vực khác. Bên cạnh đó, thị trường tài chính Việt Nam đã trở nên minh bạch hơn, thu hút được nhiều đầu tư trong nước và ngoài nước. Các giao dịch M&A được thực hiện dựa trên một hành lang pháp lý đã bước đầu được xác lập, góp phần thúc đẩy các giao dịch M&A phát triển, tạo điều kiện để xác lập giao dịch, địa vị pháp lý của các bên trong giao dịch và hậu quả pháp lý sau khi kết thúc giao dịch. Tuy nhiên, một thực trạng đang được đặt ra là số lượng các thương vụ M&A tại Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt là ngành ngân hàng nhưng những tài liệu, nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn mang tính chất sơ khai và chưa có tính hệ thống. Vì vậy, các nhà quản trị đang gặp khó khăn trong việc xác định hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp của mình. Đề tài nghiên cứu về M&A được coi là khá mới mẻ có thể. Do các thông tin về vấn đề này khá khan hiếm ở Việt Nam em nghĩ đề tài này là thực sự cần thiết và hy vọng sẽ đóng góp một phần vào sự phát triển của lĩnh vực M&A tại thị trường Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung trong thời kỳ hội nhập WTO.

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ M&A VÀ CÁC XU HƯỚNG M&A 4

1.1 M&A là gì 4

1.1.1 Khái niệm M&A 4

1.1.1.1 Khái niệm 4

1.1.1.2 Sự khác nhau giữa mua bán và sáp nhập 5

1.1.2 Tại sao các tổ chức lại tham gia M&A ? 6

1.1.2.1 Thâm nhập vào thị trường mới 6

1.1.2.2 Giảm chi phí gia nhập thị trường 6

1.1.2.3.Chiếm hữu tri thức & tài sản con người 6

1.1.2.4 Giảm bớt đối thủ cạnh tranh trên thị trường 7

1.1.2.5 Giảm thiểu chi phí & nâng cao hiệu quả 7

1.1.2.6 Đa dạng hóa và bành trướng thị trường 7

1.1.2.7 Đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược thương hiệu 7

1.1.3 Các hình thức M&A 7

1.1.3.1 Trường hợp chủ thể tiến hành M&A đối với toàn bộ doanh nghiệp 7

1.1.3.2 Trường hợp hoạt động M&A diễn ra với một phần hoặc một bộ phận của doanh nghiệp 8

1.1.4 Những thương vụ M&A nổi tiếng thế giới 10

1.1.4.1 M& A trong khối tài chính ngân hàng 10

1.1.4.2 M&A trong khối ngành công nghệ 11

1.1.4.3 M&A trong khối ngành ôtô 12

1.2 Các xu hướng M&A trên thế giới và Việt Nam 14

1.2.1 Xu hướng M&A trên thế giới 14

1.2.1.1 Làn sóng đầu tiên 14

1.2.1.2 Làn sóng thứ hai 14

1.2.1.3 Làn sóng thứ ba 14

1.2.1.4 Làn sóng thứ tư 15

1.2.1.5 Làn sóng thứ năm 15

1.2.1.6 Làn sóng M&A gần đây nhất 15

1.2.2 Xu hướng M&A tại Việt Nam 16

1.2.2.1 Giai đoạn thứ nhất 1991-1998 16

1.2.2.2 Giai đoạn thứ hai 2003-2009 17

Trang 2

2.1.2 Những sức ép khi tham gia M&A 20

2.1.3 Những khó khăn cho ngân hàng khi tham gia M&A 21

2.1.4 Những thương vụ M&A nổi bật trong ngân hàng tại Việt Nam 23

2.1.2.1 Thương vụ HSBC- Bảo Việt 23

2.1.2.2 Thương vụ BIDV- PIB campuchia 23

2.1.2.3 Thương vụ tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (Ptrovietnam) góp vốn vào OceanBank 24

2.2 Xu hướng M&A trong ngành ngân hàng tại Việt Nam 24

2.2.1 Các xu hướng chính 24

2.2.1.1 Năm 1998 24

2.2.1.2 Giai đoạn cuối năm 2006 đầu năm 2007 24

2.2.1.3 Xu hướng vào năm 2010 26

2.2.2 Những thay đổi về quản trị công ty sau M&A trong ngành ngân hàng giai đoạn 2003-2010 26

2.2.2.1 Thay đổi về cơ cấu vốn 26

2.2.2.2 Thay đổi cơ cấu hội đồng quản trị 29

PHẦN KẾT LUẬN 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 3

Chữ tắt Tiếng Việt Tiếng Anh

HĐQT Hội đồng quản trị

Trang 4

BẢNG

Bảng 2.1: Bốn ngân hàng bị rút giấy phép hoạt động giai đoạn cuối 2006 đầu năm 2009 25Bảng 2.2- Tăng trưởng vốn góp của bên tham gia vốn vào M&A theo thời gian 27Bảng 2.3- Những thay đổi về số lượng thành viên HĐQT sau M&A 29

BIỂU

Biểu 1.1- Sáu làn sóng M&A chính trên thế giới 15Biểu 1.2- Số lượng và giá trị giao dịch M&A ở Việt Nam (giai đoạn 2003-2009, triệuUSD) 17

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết chọn đề tài nghiên cứu

Trên thế giới, hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp (M&A)được hình thành rất sớm và phổ biến, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thịtrường với sự cạnh tranh quyết liệt giữa các công ty với nhau Hoạt động M&Ađồng thời cũng tạo ra xu thế các công ty tập trung lại nhằm tận dụng giá trị cộnghưởng từ việc thống nhất, tập hợp các nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực,thương hiệu Trong thị trường kinh doanh ngày nay, mặc dù tốc độ tăng trưởngluôn được duy trì ở mức cao song sức ép cạnh tranh và sự biến động không ngừngcủa thị trường khiến cho các công ty khó có thể dự đoán được sự thành công haythất bại của mình Được xem như một công cụ thực sự hữu hiệu, có tác động nhanhchóng và mạnh mẽ nhất, M&A được các công ty sử dụng để thay đổi cuộc chơicạnh tranh khốc liệt này

Bắt đầu từ cuối thế kỷ 19, M&A đã xuất hiện và liên tục tạo ra các làn sóngcùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới Mỗi làn sóng này đều chịu sự tácđộng của những chính sách kinh tế, quá trình sửa đổi và điều chỉnh luật và sự tiến

bộ công nghệ, khoa học ứng dụng Hoạt động M&A không chỉ dừng lại ở châu Âu,châu Mỹ, mà tiếp tục nhanh chóng tràn sang khu vực châu Á Thái Bình Dương.Theo thống kê sơ bộ, hoạt động này đang được chú trọng đẩy mạnh tại các nền kinh

tế mới nổi như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản, Malaysia Và Việt Namcũng không thể nằm ngoài làn sóng phát triển này

Ở Việt Nam, hoạt động M&A được quan tâm từ khi Luật Doanh nghiệp 1999

ra đời Tuy nhiên, nó chỉ trở nên sôi động từ năm 2005 cùng với giai đoạn phát triểnban đầu của thị trường chứng khoán Việt Nam Đây là thời điểm nền kinh tế nước tatăng trưởng nóng đã sinh ra quá nhiều công ty hoạt động trong những lĩnh vực có tínhcạnh tranh cao như: kế toán – kiểm toán, ngân – hàng tài chính, chứng khoán,…Trong suốt 5 năm từ 2005 -2009, M&A tại Việt Nam cũng đã đạt được những kết quảnhất định Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7,5%/năm Đếnnăm 2010, Việt Nam có khoảng 500.000 doanh nghiệp đồng thời thu hút hơn nữanguồn đầu tư nước ngoài và phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các loại thị trường… Đâychính là những cơ sở và điều kiện quan trọng để hoạt động M&A tại Việt Nam có thểnhanh chóng phát triển và hình thành nên một thị trường M&A trong những năm tới

Trang 6

Thêm vào đó, giai đoạn 2005 – 2009 được biết đến với sự xuất hiện của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu, hầu hết các công ty đều lâm vào tình trạng khó khăn, đặcbiệt là các công ty trong ngành ngân hàng – tài chính thì thời điểm này là một tháchthức lớn Mua bán và sáp nhập được coi là một biện pháp cứu cánh cho các doanhnghiệp để vượt qua thời kỳ khủng hoảng này Tuy nhiên thực hiện thế nào cho đúng

để tránh mắc phải những sai lầm, giúp doanh nghiệp đi lên là một câu hỏi lớn đối vớicác nhà quản trị Vậy để thị trường này phát triển một cách có hiệu quả và phát huytối đa được những lợi ích mà nó đem lại thì vấn đề nghiên cứu M&A trong thời kỳtrước nhằm tìm hiểu những nguyên nhân thành công cũng như thất bại và rút ra đượcnhững giải pháp hoàn thiện nó là rất cần thiết

M&A diễn ra hầu hết trên tất cả các lĩnh vực, nhưng ngành ngân hàng - tàichính dường như đang chiếm một tỉ trọng khá lớn Các tổ chức tài chính, các ngânhàng nước ngoài bằng công cụ M&A có cơ hội nhiều hơn để thâm nhập và thịtrường tài chính – ngân hàng Việt Nam Một thực tế là việc trở thành đối tác chiếnlược thông qua mua cổ phiếu của các ngân hàng và mua lại phần vốn góp trong vốnđiều lệ của các công ty chứng khoán là hành động có tầm chiến lược và là đầu cầu

để chuẩn bị cho các bước tiếp sau – thâm nhập sâu hơn đồng thời tạo bàn đạp đểthực hiện M&A tại các lĩnh vực khác Bên cạnh đó, thị trường tài chính Việt Nam

đã trở nên minh bạch hơn, thu hút được nhiều đầu tư trong nước và ngoài nước Cácgiao dịch M&A được thực hiện dựa trên một hành lang pháp lý đã bước đầu đượcxác lập, góp phần thúc đẩy các giao dịch M&A phát triển, tạo điều kiện để xác lậpgiao dịch, địa vị pháp lý của các bên trong giao dịch và hậu quả pháp lý sau khi kếtthúc giao dịch

Tuy nhiên, một thực trạng đang được đặt ra là số lượng các thương vụ M&Atại Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt là ngành ngân hàng nhưng những tài liệu,nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn mang tính chất sơ khai và chưa có tính hệ thống

Vì vậy, các nhà quản trị đang gặp khó khăn trong việc xác định hướng đi đúng đắncho doanh nghiệp của mình

Đề tài nghiên cứu về M&A được coi là khá mới mẻ có thể Do các thôngtin về vấn đề này khá khan hiếm ở Việt Nam em nghĩ đề tài này là thực sự cầnthiết và hy vọng sẽ đóng góp một phần vào sự phát triển của lĩnh vực M&A tạithị trường Việt Nam nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung trong thời kỳhội nhập WTO

Trang 7

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích chính của đề tài nghiên cứu này là quan sát những thay đổi của cáchoạt động M&A của các công ty tại Việt Nam, thống kê những xu hướng M&A trongngân hàng tại Việt Nam nhằm chỉ ra một số yếu tố thay đổi nổi bật sau khi tiến hànhM&A và từ đó có cái nhìn tổng quan hơn về hoạt động M&A khá mới mẻ tại ViệtNam trong ngành ngân hàng nói riêng và trong nền kinh tế quốc dân nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu nghiên cứu những hoạt động M&A và xu hướng M&A trongngành ngân hàng và trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam Các số liệu và chỉ tiêu đượclấy trong nghiên cứu chủ yếu lấy từ giai đoạn năm 2003 – 2010

4 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần phụ lục, phần mở đầu và phần kết luận của đề tài thì nội dungcủa đề tài nghiên cứu bao gồm :

Chương 1 : Tổng quan về M&A, các xu hướng M&A

Chương 2 : Xu hướng M&A trong ngành ngân hàng tại Việt Nam

5 Phương pháp thu thập :

- Tổng hợp, phân tích, so sánh đánh giá dựa trên chủ yếu là số liệu thứ cấpbao gồm tổng hợp, thu thập các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên trên websitecủa các công ty tiến hành nghiên cứu và tại Sở giao dịch chứng khoán; thu thậpđược từ các nghiên cứu đã thực hiện trước đó, các bài báo, bài nghiên cứu tổng hợpqua các tạp chí, tập san, website trong và ngoài nước

Trang 8

CHƯƠNG 1 tổng quan về m&a và các xu hướng m&a

1.1 M&A là gì

Hoạt động sáp nhập và mua lại (M&A) được nghiên cứu từ nhiều góc độkhác nhau M&A có thể xem xét ở góc độ là chiến lược kinh doanh thông qua mởrộng thị trường hoặc hạn chế cạnh tranh M&A cũng có thể được xem xét dướiphương thức kinh doanh quốc tế Các nhà đầu tư khi muốn bước vào một thị trườngquốc tế, có thể lựa chọn bằng một dự án đầu tư hoàn toàn mới mẻ hoặc mua lại mộtphần hoặc toàn bộ một hoạt động kinh doanh hoặc một công ty đã tồn tại ở nước sởtại M&A cũng được nghiên cứu từ góc độ của hình thức tái cấu trúc công ty, bằngviệc rút vốn ra khỏi công ty (bán lại toàn bộ hoặc một phần công ty), hoặc mở rộnghoạt độngn (bằng việc mua lại hoặc sáp nhập) với một công ty khác

1.1.1 Khái niệm M&A

1.1.1.1 Khái niệm

Bản thân khái niệm này khi dịch ra Tiếng Việt cũng được sử dụng với nhiều

thuật ngữ khác nhau như sáp nhập & mua lại, mua bán doanh nghiệp, sáp nhập & thâu tóm, sáp nhập & hợp nhất Tuy nhiên, về cơ bản có một khái niệm chung được chia sẻ bởi các tài liệu về M&A đó là: hai thuật ngữ “merger” và “acquisition”

được sử dụng hoán vị cho nhau, được hiểu chung là có việc mua, bán, hợp nhất mộtphần hoặc toàn bộ tài sản, cổ phiếu của một công ty với một công ty khác, hoặc

nhiều công ty Sự khác biệt chính giữa merger & acquisition đó là: merger thường

được áp dụng đối với các giao dịch trong đó hai công ty có quy mô tương đương,tiến hành nhập vào thành một công ty mới Hình thức sáp nhập này được Patrick

Gaughan (2002) gọi là hợp nhất Acquisition lại diễn ra trong trường hợp một công

ty mua lại một phần hoặc toàn bộ công ty khác Rõ ràng hình thức sáp nhập haicông ty cùng quy mô trên thực tế hầu như không tồn tại Vì luôn có một công ty có

tiềm năng lớn hơn hoặc động cơ ẩn đằng sau là mua lại (một phần hay toàn bộ tài sản), chứ không phải chỉ đơn thuần là sáp nhập Đây cũng là một khó khăn trong

việc thực sự phân biệt giữa thương vụ sáp nhập hay mua lại.Và cũng giải thích cho

việc sử dụng M&A như là một thuật ngữ duy nhất Bên cạnh sáp nhập, mua lại, hợp

nhất, một thuật ngữ nữa cũng thường được nhắc đến khi nghiên cứu về M&A là

thâu tóm (takeover) Tuy nhiên, thâu tóm thường được sử dụng để đề cập đến các

Trang 9

giao dịch giữa các đối thủ cạnh tranh (hostile takeover), hoặc phân biệt giữa cácgiao dịch M&A thân thiện (friendly) hoặc không thân thiện (unfriendly).

Ở Việt Nam, M&A được hiểu và sử dụng một cách không đồng nhất, mộtphần do khó khăn trong việc tìm được thuật ngữ tương đồng về mặt ý nghĩa với

merger & acquisition Mặt khác, tuy được biết đên ở nước ta từ khoảng đầu những

năm 90 của thể kỷ XX với thương vụ nổi tiếng của Unilever mua lại thương hiệu

PS, song M&A vẫn chưa thật sự phổ biến, chưa thật đa dạng về lĩnh vực và hìnhthức Hầu hết các thương vụ M&A được diễn ra theo kiểu một doanh nghiệp mualại một phần tài sản của doanh nghiệp khác dưới dạng mua cổ phiếu, góp vốn đểgiành quyền sở hữu, tham gia chi phối về mặt quản trị đối với công ty bị mua Đây

là một tình huống thường dẫn đến những nhầm lẫn về khái niệm M&A

1.1.1.2 Sự khác nhau giữa mua bán và sáp nhập

Mặc dù mua bán và sáp nhập thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữquốc tế phổ biến là “M&A” nhưng hai thuật ngữ mua bán và Sáp nhập vẫn có sựkhác biệt về bản chất.Khi một công ty mua lại (tiếp quản) một công ty khác và đặtmình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán Dưới khíacạnh pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, bên mua đã “nuốt chửng” bênbán và cổ phiếu của bên mua không bị ảnh hưởng.Theo nghĩa đen thì sáp nhập diễn

ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại thành mộtcông ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ Loại hình này thường được gọi là

“Sáp nhập ngang bằng” Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch và cổ phiếucủa công ty mới sẽ được phát hành Trường hợp Daimler-Benz và Chrysler là một

ví dụ về sáp nhập: hai hãng Sáp nhập và một công ty mới (pháp nhân mới) ra đờimang tên DaimlerChrysler.Tuy nhiên trên thực tế hình thức sáp nhập ngang bằngkhông diễn ra thường xuyên do nhiều lý do Một trong những lý do chính là việctruyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mớisau khi sáp nhập Thông thường, một công ty mua một công ty khác và trong thỏathuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng hoạt độngnày là sáp nhập ngang bằng cho dù về bản chất là hoạt động mua bán

Một thương vụ mua bán cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bênđồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích cho cả hai công ty Nhưng khi bên bị muakhông không muốn bị thâu tóm thì sẽ được coi là một thương vụ mua bán Mộtthương vụ được coi là mua bán hay sáp nhập hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó đượcdiễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay hay bị ép buộc thâu tóm nhau Mặt

Trang 10

khác, ns còn là cách truyền tải thông tin ra bên ngoài cũng như sự nhìn nhận củaban giám đốc, nhân viên và cổ đông của công ty.

1.1.2 Tại sao các tổ chức lại tham gia M&A ?

1.1.2.1 Thâm nhập vào thị trường mới

Đây là một yếu tố quan trọng khi muốn mở rộng địa bàn kinh doanh, thêm mộtdòng sản phẩm hoặc mở rộng mạng lưới phân phối Ví dụ minh họa cho động cơ này làcác doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, thay vì việc gây dựng doanhnghiệp từ đầu với chi phí thành lập, chi phí cơ hội cao do mất thời gian xây dựng hệthống, triển khai mạng lưới phân phối v.v., có thể thực hiện chiến lược mua lại mộtdoanh nghiệp trong nước với hệ thống, con người sẵn có để đạt được mục tiêu

Doanh nghiệp trong nước muốn xâm nhập thị trường toàn cầu cũng có thểnghĩ đến M&A Trường hợp Lenovo mua lại bộ phận PC của IBM là một ví dụ Thịtrường thế giới đã biết đến IBM nên nếu mua lại, Lenovo sẽ rút ngắn được rất nhiềuthời gian để thị trường quốc tế biết tới mình;

1.1.2.2 Giảm chi phí gia nhập thị trường

Ở những thị trường có sự điều tiết mạnh của chính phủ, việc gia nhập thịtrường đòi hỏi doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều điều kiện khắt khe, hoặc chỉ thuậnlợi trong một giai đoạn nhất định, thì những công ty đến sau chỉ có thể gia nhập thịtrường đó thông qua thâu tóm những công ty đã hoạt động trên thị trường Điều nàyrất phổ biến đối với đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, đặc biệt là ngành ngân hàng, tàichính, bảo hiểm Theo cam kết của Việt Nam với WTO, nhà đầu tư nước ngoài chỉđược lập ngân hàng con 100% từ tháng 4/2007, lập chi nhánh nhưng không đượclập chi nhánh phụ, không được huy động tiền gửi bằng đồng Việt Nam từ ngườiViệt Nam trong 5 năm Công ty chứng khoán 100% nước ngoài chỉ được thành lậpsau 5 năm (2012) Như vậy, nếu các ngân hàng, công ty chứng khoán nước ngoàikhông muốn chạy sau trong việc cung cấp đầy đủ các dịch vụ và giành thị phầntrong giai đoạn phát triển mạnh của thị trường ngân hàng tài chính Việt Nam, thìtốt nhất là dùng chiến lược M&A

1.1.2.3.Chiếm hữu tri thức & tài sản con người

Để tiếp cận và có được một đội ngũ “nhân công có tri thức” với những bảnquyền, sáng chế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ luôn tìmcách theo đuổi M&A

Trang 11

1.1.2.4 Giảm bớt đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Chắc chắn số lượng đối thủ sẽ giảm đi khi có một vụ sáp nhập giữa các công

ty vốn là đối thủ của nhau trên thương trường

1.1.2.5 Giảm thiểu chi phí & nâng cao hiệu quả

Thông qua M&A các công ty có thể tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy môkhi nhân đôi thị phần, giảm chi phí cố định (nhà xưởng), chi phí nhân công, phânphối Các doanh nghiệp còn có thể bổ sung cho nhau về nguồn lực (đầu vào) và cácthế mạnh khác của nhau như thương hiệu, thông tin, bí quyết, dây chuyền côngnghệ, cơ sở khách hàng, hay tận dụng những tài sản mà mỗi công ty chưa sử dụnghết giá trị;

1.1.2.6 Đa dạng hóa và bành trướng thị trường

FPT là một ví dụ Từ một doanh nghiệp thành công trong lĩnh vực công nghệthông tin, FPT hiện đã mở rộng sang các lĩnh vực khác như truyền thông, giáo dụcđào tạo, phân phối, chứng khoán, bất động sản, ngân hàng…

1.1.2.7 Đa dạng hóa sản phẩm và chiến lược thương hiệu

Unilever là một ví dụ điển hình về sử dụng chiến lược M&A để đa dạng hóa

và phát triển thương hiệu Uniliver sở hữu rất nhiều thương hiệu nổi tiếng trong một

số lĩnh vực như Lipton và Slim Fast (thực phẩm và đồ uống); Axe, Dove, Lifebuoy,Lux, Pond’s, Rexona, Close-up, Sunsilk và Vaseline; Comfort, Omo, Radiant,Sunlight, Surf (quần áo và đồ vật dụng)… Tập đoàn này đã phải trải qua nhiều năm

để sở hữu nhiều thương hiệu như thế Năm 1972, tập đoàn mua lại chuỗi nhà hàngA&W ở Canada Năm 1984, hãng mua lại thương hiệu Brooke Bond của nhà sảnxuất trà PG Tips Năm 1987, Unilever đâu tư vào thị trường chăm sóc da bằng việcmua lại Chesebrough-Ponds Hai năm sau, Unilever tiếp tục mua lại mỹ phẩmCalvin Klein, Fabergé và Elizabeth Arden Năm 1996, Unilever mua Công tyHelene Curtis Industries để tăng cường sức mạnh của mình trong thị trường dầu gộiđầu Năm 2000, Unilever thâu tóm Công ty Best Foods của Mỹ để tham gia vào lĩnhvực thực phẩm và đồng thời đẩy mạnh hoạt động trong khu vực Bắc Mỹ

Trang 12

hoạt động sáp nhập (merger) nhưng theo pháp luật Việt Nam, hiện tượng này đượcgọi là “hợp nhất doanh nghiệp”.

Sáp nhập doanh nghiệp

Trong trường hợp Công ty B sáp nhập vào Công ty A nhưng không tạo ra mộtpháp nhân mới, B chuyển toàn quyền và nghĩa vụ sang A và chấm dứt sự tồn tại saukhi sáp nhập, thì được Luật Doanh nghiệp Việt Nam định nghĩa là “sáp nhập”

Rõ ràng, sự phân biệt hai khái niệm trên mang tính tương đối vì trên thực tế,các hiện tượng trên vẫn có thể được hiểu như sau: Công ty A “mua lại” hay “thâutóm” Công ty B Sau khi mua được, Công ty A quyết định sự tồn tại của Công ty B

và của chính mình: Công ty B “bị thâu tóm” đương nhiên chấm dứt sự tồn tại còn A

có hai sự lựa chọn, hoặc giải thể chính mình và thành lập pháp nhân mới (Công tyC) hoặc giữ nguyên pháp nhân A Thực chất, đây chỉ là sự lựa chọn về hình thức vàthủ tục pháp lý

1.1.3.2 Trường hợp hoạt động M&A diễn ra với một phần hoặc một bộ phận của doanh nghiệp

- Tham gia mua cổ phần khi doanh nghiệp tăng vốn điều lệ hoặc đấu giá pháthành cổ phiếu ra công chúng Đây là hình thức thâu tóm một phần nhưng đủ đểtham gia định đoạt quyền sở hữu và quản trị theo mục tiêu chiến lược của bên mua.Rất nhiều tỷ phú Nga đã thành công từ chiến lược này khi Nga tư hữu hóa doanhnghiệp nhà nước vào đầu thập niên 90 Một số doanh nghiệp Việt Nam cũng thànhcông nhờ chiến lược này ở giai đoạn đầu của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệpnhà nước

- Mua gom cổ phiếu để giành quyền sở hữu và chi phối cũng là một chiếnlược được nhiều doanh nghiệp thực hiện Tại Việt Nam, nửa cuối năm 2008, khi thịtrường chứng khoán sụt giảm và nhiều doanh nghiệp niêm yết có giá trị vốn hóathấp đã trở thành mục tiêu bị thu gom Cách thức thu gom có thể mua dần trên thịtrường giao dịch hoặc qua giao dịch thỏa thuận (đây là cách phổ biến tại Việt Nam);công khai chào thầu; lôi kéo cổ đông bất mãn (proxy fights); thương lượng tựnguyện với Ban điều hành

- Hoán đổi/chuyển đổi cổ phiếu (stock swap) thường diễn ra đối với nhữngcông ty có mối liên hệ chặt chẽ với nhau như trong cùng một tập đoàn như trong cáctrường hợp Công ty Cổ phần Đầu tư Dầu khí Việt Nam (PVD Invest) PVDI vàoTổng Công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PVD), Công ty Kinh Đô(KDC) và Công ty Kinh Đô Miền Bắc (NKD) hoặc hai công ty con của Sông Đà 6

Trang 13

(SD6) là Công ty Sông Đà 6.04 (S64) và Sông Đà 6.06 (SSS) sáp nhập vào công ty

mẹ theo hình thức hoán đổi cổ phiếu Đối với những trường hợp này, nói chung vấn

đề quan trọng nhất là định giá để đảm bảo lợi ích của các cổ đông của các bên còn

về chiến lược kinh doanh hoặc các thủ tục pháp lý thường không xảy ra vấn đề lớn

- Mua lại một phần doanh nghiệp hoặc tài sản cũng là một cách để thực hiệnchiến lược M&A Ví dụ cho hình thức này là thương vụ Công ty xi măng Holcim đãmua lại nhà máy xi măng Cotec của Tập đoàn Cotec Trên thế giới, hình thức nàykhá phổ biến đang được nhiều doanh nghiệp trong nền kinh tế đang nổi (emergingeconomies) tiến hành đề vươn ra thị trường toàn cầu Một trong những thương vụkhá đình đám là hãng máy tính Lenovo của Trung Quốc đã mua lại mảng kinhdoanh máy tính cá nhân của Tập đoàn IBM Trong trường hợp này, doanh nghiệp đithâu tóm chỉ mua một phần hoặc một bộ phận tài sản của doanh nghiệp bán màkhông tham gia sở hữu tại doanh nghiệp bán Phần bán đi có thể là tài sản hữu hình(nhà xưởng, máy móc, đất đai…) hoặc vô hình (thương hiệu, bản quyền, đội ngũnhân sự, kênh phân phối…) được tách ra khỏi công ty bán Đối với bên bán, việcchia tách doanh nghiệp đã có sự điều chỉnh của pháp luật

- Mua lại một dự án bất động sản được tiến hành khá phổ biến tại Việt Nam,đặc biệt đối với những doanh nghiệp đầu tư phát triển bất động sản Thực chất, bấtđộng sản cũng được coi là một loại tài sản và về lý thuyết sẽ được thực hiện như phần

đã đề cập ở trên về mua một phần hoặc tài sản doanh nghiệp Tuy nhiên, đối với cácdoanh nghiệp phát triển các dự án bất động sản, thuật ngữ “nhà đầu tư thứ cấp” đã trởnên phổ biến hơn là M&A Trong lĩnh vực này, một số doanh nghiệp có thế mạnh vàtiềm lực để lấy được những dự án lớn nhưng khi triển khai thì chia nhỏ ra “bán lại”cho các nhà đầu tư thứ cấp để phát triển Thực tế cũng đã diễn ra một số hiện tượngtranh chấp như vụ Tập đoàn Bảo Sơn (chủ đầu tư), Công ty D&T (nhà đầu tư thứcấp) với khách hàng cá nhân mua bất động sản thuộc dự án của Bảo Sơn.Như vậy,trong những trường hợp này các bên tham gia nếu không chặt chẽ ngay từ đầu về cáchình thức M&A sẽ có thể gây ra những tranh chấp phức tạp sau này

- Mua nợ cũng là một cách thức tiến hành M&A gián tiếp Khi một doanhnghiệp mất khả năng thanh khoản và không thể trả nợ, chủ nợ có thể tìm một doanhnghiệp có khả năng tài chính mua lại phần nợ với giá thỏa thuận Doanh nghiệpmua nợ trở thành chủ nợ mới và có thể thỏa thuận để chuyển đổi khoản nợ thànhvốn cổ phần và thực thi quyền sở hữu Trường hợp này thường diễn ra đối với chủ

nợ cũ là ngân hàng Thay vì để cho doanh nghiệp phá sản, cách tốt nhất là ngân

Trang 14

hàng bán nợ với mức giá thấp hơn giá trị khoản nợ Doanh nghiệp mua nợ nhìnchung hướng tới việc chuyển đổi khoản nợ thành cổ phần để can thiệp cứu doanhnghiệp hơn là kỳ vọng nhận trả nợ

1.1.4 Những thương vụ M&A nổi tiếng thế giới

1.1.4.1 M& A trong khối tài chính ngân hàng

Lướt qua tất cả các lĩnh vực, chúng ta có thể nhận định rằng, ngân hàng làngành có hoạt động M&A diễn ra sôi động nhất Đầu tiên phải kể đến hai đại giangân hàng, ABN Amro của Hà Lan và  Barclays PLC của Anh Hai đại gia này đãchính thức sáp nhập với nhau với trị giá hơn 91 tỷ USD Đây được coi là thương vụsáp nhập lớn chưa từng thấy trong lịch sử ngành ngân hàng châu Âu nói riêng vàtrong ngành công nghiệp tài chính toàn cầu nói chung Theo thoả thuận sáp nhậpnày, tập đoàn mới có tên gọi Barclays PLC, có đặt trụ sở chính đặt tại Amsterdam(Hà Lan) có khoảng 47 triệu khách hàng trên toàn cầu với ban điều hành mới gồm

10 thành viên từ Barclays và 9 thành viên từ ABN Amro Điều này cũng có nghĩaBarclays sáp nhập với ABN Amro sẽ tạo ra một trong những tập đoàn ngân hànglớn nhất thế giới tính theo số vốn thị trường Không dừng lại ở đó, ngân hàng ABNAmro còn tiếp tục sáp nhập với Liên minh Ngân hàng Hoàng gia Scotland RBS,Stantander của Tây Ban Nha và Fortis của Bỉ - Hà Lan Thương vụ này có tổng giátrị 101 tỷ USD Tiếp đến là Unicredit SPA - một ngân hàng nổi tiếng bậc nhất củaItalia đã mua lại các ngân hàng Societe Generale SA và Capitalia SpA gây xôn xao

dư luận

Tại khối ngành ngân hàng Mỹ, tham vọng đứng đầu ngành ngân hàng nội địacủa Mỹ là động lực khiến Bank of America mua lại Merrill Lynch với giá 50 tỷUSD Cuộc sáp nhập này đã cho ra đời tập đoàn tài chính hùng mạnh nhất thế giới.Theo đó, Bank of America đã trở thành ngân hàng thương mại lớn nhất tại Mỹ tínhtheo lượng tiền gửi và lượng vốn hóa thị trường và là ngân hàng thành viên thuộctập đoàn bảo hiểm tiền gửi Mỹ(FDIC) Qua đây, Bank of America thu tới 90% lợinhuận từ thị trường nội địa nước Mỹ Mục tiêu của ngân hàng là luôn đứng đầu tạingành ngân hàng nội địa Mỹ và ngân hàng này đã làm được điều đó thông qua hàngloạt thương vụ thâu tóm trong đó có việc mua lại chi nhánh ngân hang ABN Amrotại Bắc Mỹ và tập đoàn ngân hàng tài chính Lasalle với trị giá 21 tỷ đô la Mỹ, mualại lại đại gia thẻ tín dụng MBNA với giá 35 tỷ Có thể coi đây là thương vụ mua lạiMerril Lynch có tính lịch sử trên thị trường tài chính Mỹ trong bối cảnh kinh tếnước này đang đối mặt với rất nhiều khó khăn như hiện nay

Trang 15

Bên cạnh đại gia Bank of America, thương vụ mua lại nổi tiếng trong giớingân hàng trong thời gian gần đây phải kể đến thương vụ mua lại của Wells-Fargovới ngân hàng Wachovia với giá trị 15,1 tỷ đô la Mỹ Sau khi vượt qua được đối thủCitigroup trong thương vụ cạnh tranh mua lại Wachovia, Wells Fargo đã nâng tầmcủa mình lên ngang hàng với các đối thủ ngân hàng lớn khác tại Mỹ như JP MorganChase và Bank of America Theo đó, ngân hàng này sẽ có tài sản 1.420 tỷ đô la vàtrở thành ngân hàng lớn thứ ba của Mỹ.

Tiếp theo phải kể đến thương vụ sáp nhập thành công trong ngành ngân hàngNhật bản khi Mitsubishi UFJ Financial group là kết quả của sự sáp nhập giữa hai ngânhàng UFJ Holding và Mitsubishi Tokyo Financial group Đại ngân hàng này đã chínhthức được thành lập và đi vào hoạt động vào 01/10/2005 Mitsubishi UFJ Financialgroup giờ đã trở thành một trong những tập đoàn tài chính hùng mạnh nhất thế giới có

số vốn lên tới 1.770 tỷ USD với 40 triệu khách hàng, vượt qua ngân hàng Citigroupcủa Mỹ về giá trị tài sản Các nhà phân tích cho rằng việc sáp nhập này thể hiện sự hồiphục của ngành ngân hàng Nhật Bản sau thời gian nợ nần chồng chất. 

Sàn giao dịch hứng khoán New York NYSE (Mỹ) đã mua Euronext với giá14,3 tỷ USDI;hai công ty bảo hiểm nhân thọ hàng đầu tại anh là Resolution vàFriends Provident cũng sáp nhập lại với nhau với trị giá 8,3 tỷ bảng Anh cùng nằmtrong các vụ mua lại và sáp nhập nổi tiếng khác trên thị trường tài chính thế giới

1.1.4.2 M&A trong khối ngành công nghệ

Bên cạnh ngành ngân hàng, các lĩnh vực khác cũng không chịu đứng yên Công

ty Antel - nhà cung cấp dịch vụ wifi đứng trong lớp 10 tại Mỹ đã sáp nhập vào Công tyTPG Capital và Goldman Sachs với trị giá 27,5 tỷ USD; Tập đoàn Thomson (Canada)

đã mua hàng tin Reuters (Anh) với giá trên 17 tỷ USD;  Tập đoàn Rio Tinto (Anh Atralia) đã mua Công ty thép Alcan(Canada) với giá 38,1 tỷ USD

-Tập đoàn Sony đã sáp nhập vào Công ty Truyền thông AB L.M Ericsson

từ tháng 9/2001 Tại thời điểm đó, Ericsson đang bị Nokia cho ra rìa Không thểngồi một bên khi thị phần đang dần rơi vào tay đối thủ cạnh tranh Nokia.Ericsson buộc phải tự tìm lối thoát cho mình Theo đó,  những người đứng đầucủa Ericsson đã nghĩ tới hình thức M&A như một phương thức cứu cánh chohãng Còn đối với Sony, với tham vọng mở rộng và bành trướng lĩnh vực kinhdoanh, đã hướng tới kết hợp với Ericsson như mục tiêu và kỳ vọng mới Có lẽnhờ thế mà hai ý tưởng lớn gặp nhau Sự sáp nhập giữa công nghệ điện thoạiEricsson và khả năng chinh phục khách hàng của Sony không tránh khỏi sự tò

Trang 16

mò trong giới kinh doanh Nhưng, kết quả thật như mong muốn, thương hiệuSony Ericsson đã và đang được lòng người tiêu dùng.

Việc hợp tác thương hiệu giữa Apples Ipod và HP là trường hợp được cho làngược đời điển hình Bởi HP vốn đã là một thương hiệu mạnh, có uy tín và lịch sửphát triển lâu đời với quy mô khổng lồ, trong khi đó, Apple là một công ty trẻ tuổi.Hai thương hiệu này dường như không thể có sự hòa hợp khi tiến tới việc kết hợpvới nhau Nhưng, họ đã chứng minh sự sáp nhập của mình là hoàn toàn có cơ sở.Một công ty lâu đời với đầy kinh nghiệm với một công ty trẻ của sáng tạo, phá cách

về hình thức cũng như công nghệ Kết quả của sự sáp nhập lịch sử này là sự tăngcường sức mạnh thương hiệu và các chiến lược marketing rất đáng chú ý

Một thương vụ M&A khác mang lại hiệu quả đầu tư mạnh mẽ và tầm nhìnchiến lược là Tập đoàn Oracle mua Công ty Siebel, nhà cung cấp phần mềm CRM(customer relation manager - quản lý quan hệ khách hàng) Bởi khi đó, họ hợp nhất

để triển khai và tăng cường khả năng tích hợp các ứng dụng và dữ liệu giữa các sảnphẩm, hỗ trợ tối đa trong quản lý và hỗ trợ khách hàng tốc độ hơn Và nhờ có chiếnlược này mà Oracle đã giành được thị phần từ tay đối thủ SAP

Gần đây dư luận thế giới đặc biệt chú ý đến thương vụ hợp tác của hai đạigia trong ngành công nghệ của Mỹ là Microsoft và Yahoo Sau hơn một năm rưỡiđàm phán, cuối cùng thì hai gã khổng lồ cũng đạt được một thỏa thuận chung đườngkéo dài 10 năm, mà mục tiêu hiển nhiên là nhắm vào kẻ thù chung Google, hãngđang kiểm soát tới 65% thị phần tìm kiếm trực tuyến Việc hợp tác giữa hai đại gianày được nhiều người mong ngóng từ lâu, phút chót cũng thành hiện thực Trongmột thập kỷ tới, Yahoo.com và Bing.com sẽ vẫn duy trì thương hiệu của mình, songcác kết quả tìm kiếm trên Yahoo.com sẽ có một dòng chú thích đi kèm là "đượccung cấp bởi Bing" Đổi lại, Yahoo sẽ chịu trách nhiệm thu hút các nhà quảng cáolớn về cho cả hai công cụ tìm kiếm Microsoft sẽ trả cho Yahoo 88% doanh thu màhãng này kiếm được từ các lượt tìm kiếm trên Yahoo Gã khổng lồ phần mềm cũng

có quyền tích hợp công nghệ tìm kiếm của Yahoo vào trong nền tảng tìm kiếm Websẵn có của mình Mục đích của liên minh này không gì khác là tấn công mạnh mẽhơn nữa vào một thị trường mà bấy lâu nay Google vẫn là bá chủ

1.1.4.3 M&A trong khối ngành ôtô

-Thương vụ Chrysler – Fiat :Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tếđang diễn ra như giọt nước làm tràn ly đã gây ra những ảnh hưởng nặng nề đối vớikhối ngành ôtô trên thế giới Do đó, việc hợp tác mua lại và sáp nhập là một xuhướng tất yếu trong bối cảnh khó khăn chung của khối ngành này

Trang 17

Một trong những thương vụ hợp tác mua lại thành công trong thời gian quaphải kể đến việc Fiat – hãng sản xuất ôtô của Ý đã mua lại cổ phần của hãng sảnxuất ôtô lớn thứ ba của Mỹ là Chrysler sau khi hãng này đệ đơn xin bảo hộ phá sản.Đơn xin phá sản của Chrysler và thỏa thuận của hãng xe này với Fiat được giớiquan sát xem là diễn biến có tác động quan trọng đối với toàn ngành công nghiệpôtô của thế giới, bao gồm cả các đối thủ và các nhà cung cấp của Chrysler Theo đó,Chrysler đã bất ngờ công bố đã đạt được thỏa thuận sáp nhập với Fiat, trong đóhãng xe của Ý ban đầu sẽ nắm giữ 20% cổ phần trong Chrysler Thỏa thuận nàycũng cho phép Fiat được nắm giữ lượng cổ phần lên tới 35% trong Chrysler nếuhãng xe Italy này đầu tư vào hoạt động tại thị trường Mỹ và chuyển giao công nghệsản xuất xe kích thước nhỏ cho Chrysler Ngoài ra, một khi Chrysler đã hoàn tấtviệc thanh toán các khoản vay đã được cấp cho Bộ Tài chính Mỹ, Fiat cuối cùng cóthể sở hữu cổ phần 51% trong Chrysler.

Lý do quan trọng nhất để hãng xe lớn nhất Italia mong muốn bắt tay vớiChrysler không gì khác là để có cầu nối thâm nhập vào thị trường Mỹ Với nội lựcvốn có, thông qua Chrysler, Fiat thừa sức tạo nên điều bất ngờ trên thị trường Mỹ.Những mẫu xe Fiat rất muốn đưa vào Mỹ hiện nay là mẫu xe nhỏ ăn khách Fiat 500

và một số mẫu Alfa Romeo mới Các mẫu xe này nếu có mặt tại Mỹ chắc chắn sẽrất đắt hàng bởi giá rẻ, tiết kiệm nhiên liệu và kiểu dáng hấp dẫn Tuy nhiên, Fiatnhận thấy rằng những mẫu xe của mình sẽ bán chạy hơn nếu được lắp ráp và sảnxuất tại Mỹ

Về phần mình, Chrysler cũng thu được không ít lợi ích nếu bắt tay với gãkhổng lồ của Ý Ngoài những nguồn lợi về tài chính giúp Chrysler vượt qua khủnghoảng, hãng xe Mỹ này còn nhận được sự trợ giúp về mặt công nghệ trong côngcuộc chinh phục khách hàng khó tính tại Châu Âu

-Thương vụ Volkswagen – Porsche : Khối ngành ôtô Châu Âu trong thời

gian qua cũng không kém phần nhộn nhịp trong các thương vụ mua lại và sáp nhập.Ngoài việc khối ngành ôtô Đức đang xem xét việc mua lại phân nhánh Opel của

GM tại Châu Âu, với khuynh hướng thành công nghiêng về hãng Magna củaCanada thì hiện khối ngành ôtô của Châu Âu cũng nhận được thông tin vui về thỏathuận sáp nhập giữa hai đại gia ôtô của Đức là Volkswagen và Porsche Theo đó,tính đến năm 2011, hai hãng sẽ về chung một mái nhà và trở thành một trong nhữngthương hiệu ôtô lớn nhất tại Châu Âu

Trang 18

Nhà sản xuất xe lớn nhất châu Âu - Volkswagen và Porsche công bố họ đãđạt được thỏa thuận sáp nhập hoạt động để trở thành một tập đoàn xe hơi nhất thểhóa dưới sự lãnh đạo của Volkswagen Theo thỏa thuận này, cho đến cuối năm

2009, Volkswagen sẽ mua 42% cổ phần của Porsche Cuộc sát nhập này sẽ tạo nênmột tập đoàn khổng lồ sở hữu 10 thương hiệu danh tiếng có doanh số gần 6.4 triệu

xe và hơn 400,000 công nhân viên Quá trình được thực hiện theo giai đoạn và dựkiến hoàn tất vào năm 2011

Điều thú vị ở chỗ, chính Porsche mới là công ty trong mấy năm gần đây đã nỗlực để giành quyền kiểm soát Volkswagen và Porsche cũng đã sở hữu 51% cổ phầncủa tập đoàn Đức khổng lồ, thậm chí còn đặt mục tiêu đưa con số này lên 75%. 

Tuy nhiên, cùng lúc,  Porsche cũng nợ gần 10 tỉ euro (khoảng 14 tỉ USD) doảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện hành, dẫn đến sự ra đi của PorscheCEO  Wendelin Wiedeking và buộc công ty phải tìm kiếm sự giúp đỡ từVolkswagen

1.2 Các xu hướng M&A trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Xu hướng M&A trên thế giới

Trên thế giới, các hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp(M&A) được hình thành rất sớm và phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trườngvới sự cạnh tranh quyết liệt giữa các công ty với nhau, đồng thời cũng tạo ra xu thếtập trung lại để thống nhất, tập hợp nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực,thương hiệu Lịch sử phát triển của M&A trên thế giới cho đến nay đã chứng khiến

6 làn sóng M&A chính, bắt đầu từ cuối thế kỷ 19

1.2.1.1 Làn sóng đầu tiên

Diễn ra ở Mỹ và Châu Âu, làn sóng này tạo ra hiện tượng sáp nhập ngang,với sản phẩm là một số tập đoàn độc quyền và kết thúc vào những năm 1903-05 khithị trường chứng khoán đi xuống

1.2.1.2 Làn sóng thứ hai

Bắt đầu từ cuối những năm 1910 khi Bộ luật chống độc quyền ở Mỹ bắtđầu có hiệu lực Lúc này hoạt động M&A tập trung vào sáp nhập theo chiều dọc.Làn sóng thứ hai kết thúc vào năm 1929 khi thị trường chứng khoán Mỹ rơi vàokhủng hoảng

1.2.1.3 Làn sóng thứ ba

Bắt đầu vào những năm 1965 và kết thúc vào năm 1973, tuy nhiên không cócác giao dịch thực sự lớn trong giai đoạn này

Trang 19

1.2.1.4 Làn sóng thứ tư

Bắt đầu vào năm 1978 và kết thúc vào năm 1989 Đây là kết quả của nhữngthay đổi về môi trường như luật chống độc quyền, rỡ bỏ các rào cản đối với thịtrường tài chính, các thị trường và sản phẩm tài chính mới, tiến bộ về công nghệ vàkhoa học ứng dụng Có khá nhiều vụ thâu tóm đối thủ cạnh tranh đã diễn ra tronggiai đoạn này

Nguồn: Boston Consulting Group, Dragon Capital (2009)

Biểu 1.1- Sáu làn sóng M&A chính trên thế giới

1.2.1.5 Làn sóng thứ năm

Bắt đầu vào năm 1993, cùng với hiện tượng bùng nổ kinh tế với sự ra đờicủa Internet và công nghệ thông tin Trong giai đoạn này, giá trị giao dịch M&A đạtcon số cao nhất, gấp 5 lần so với làn sóng thứ tư Cũng trong thời gian này, thịtrường M&A Châu Á bắt đầu nổi lên

1.2.1.6 Làn sóng M&A gần đây nhất

Bắt đầu vào giữa năm 2003, với hoạt động M&A trở nên sôi động ở cả Mỹ,

EU, và Đông Á Đặc điểm nổi bật của làn sóng thứ sáu này là hoạt động M&Axuyên quốc gia Làn sóng thứ sáu này dường như kết thúc vào cuối năm 2008, khithị trường tài chính Mỹ rơi vào khủng hoảng, bắt đầu cho cuộc khủng hoảng tàichính toàn cầu lớn nhất từ sau Đại suy thoái sau Thế chiến II

Ngày đăng: 31/08/2018, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w