Điệp ngữ là biện pháp tu từ xuất hiện với tần số rất cao trong thơ Phạm Tiến Duật, góp phần tạo nên một nét riêng độc đáo cho nhà thơ - nhà thơ của Trường Sơn những năm chống Mỹ.. Sau m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ THỊ THƯƠNG
BIỆN PHÁP ĐIỆP NGỮ TRONG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
VŨ THỊ THƯƠNG
BIỆN PHÁP ĐIỆP NGỮ TRONG
THƠ PHẠM TIẾN DUẬT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học
THS.GVC LÊ KIM NHUNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng kính trọng, biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình tới ThS Lê Kim Nhung, người đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn em trong quá trình học tập, nghiên cứu
Em xin trân trọng cảm ơn các quý Thầy Cô trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Tác giả khóa luận
Vũ Thị Thương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lặp với bất kỳ khóa luận hay đề tài nghiên cứu khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018
Người thực hiện
Vũ Thị Thương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Đối tượng nghiên cứu 7
6 Phạm vi nghiên cứu 7
7 Phương pháp nghiên cứu 7
8 Bố cục khóa luận 8
NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 9
1.1 Biện pháp điệp ngữ 9
1.1.1 Định nghĩa 9
1.1.2 Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt 9
1.1.2.1 Điệp ngữ nối tiếp 9
1.1.2.2 Điệp ngữ cách quãng 9
1.1.2.3 Điệp đầu 10
1.1.2.4 Điệp đầu - cuối 10
1.1.2.5 Điệp cuối - đầu 10
1.1.2.6 Điệp hỗn hợp 11
1.1.2.7 Điệp theo kiểu diễn đạt 11
1.1.2.8 Điệp vòng tròn 12
1.1.3 Giá trị tu từ của điệp ngữ 12
1.2 Nhà thơ Phạm Tiến Duật 13
1.2.1.Cuộc đời và sự nghiệp 13
1.2.1.1 Cuộc đời 13
1.2.1.2 Sự nghiệp 14
1.2.2 Phong cách nghệ thuật 14
Trang 6CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI 17
2.1 Kết quả khảo sát thống kê, phân loại 17
2.2 Miêu tả 17
2.2.1 Điệp liên tiếp 17
2.2.2 Điệp cách quãng 18
2.2.3 Điệp đầu 19
2.2.4 Điệp đầu – cuối 20
2.2.5 Điệp cuối - đầu 20
2.2.6 Điệp nhan đề 20
2.2.7 Điệp hỗn hợp 21
2.3 Nhận xét sơ bộ kết quả khảo sát, thống kê, phân loại 22
CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA PHÉP ĐIỆP NGỮ TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 24
3.1 Điệp ngữ với việc phản ánh hiện thực cuộc sống và con người trong những năm kháng chiến chống Mỹ 24
3.1.1 Khắc họa hình ảnh con người trong thơ 24
3.1.1.1 Hình ảnh người lính 24
3.1.1.2 Hình ảnh những người con gái trên chiến trường 28
3.1.2 Điệp ngữ với việc khắc họa cảnh vật trong chiến tranh 30
3.1.2.1 Hình ảnh con đường ra trận 31
3.1.2.2 Những cảnh vật đậm tính chân thực của cuộc kháng chiến 33
3.1.2.3 Những hình ảnh mang tính biểu tượng 37
3.1.3 Điệp ngữ với việc khắc họa những sắc màu trong thơ 40
3.1.3.1 Màu trắng 40
3.1.3.2 Màu đen 41
3.1.3.3 Màu xanh 42
3.1.3.4 Màu vàng 43
3.1.4 Điệp ngữ với tác dụng thể hiện thời gian và không gian nghệ thuật 44
3.1.4.1 Thời gian nghệ thuật 44
3.1.4.2 Không gian nghệ thuật 48
Trang 73.2 Hiệu quả của điệp ngữ trong việc thể hiện phong cách tác giả 51
3.2.1 Thể hiện cách cảm nhận riêng của nhà thơ về con người và cuộc đời 52
3.2.1.1 Những triết lí sâu sắc về cuộc đời 52
3.2.1.2 Những chiêm nghiệm về sự sống, lòng yêu nước 54
3.2.1.3 Những trăn trở, suy tư về cuộc sống hiện tại, sau chiến tranh 55
3.2.2 Điệp ngữ với tác dụng tạo ra giọng điệu riêng của Phạm Tiến Duật 58
3.2.2.1 Giọng thơ mộc mạc, trẻ trung 58
3.2.2.2 Giọng thơ ngang tàng, đậm chất lính 60
KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ, ngược lại ngôn ngữ chính là phương tiện, chất liệu, đối tượng để nhà văn xây dựng hình tượng, tái hiện sinh động hiện thực cuộc sống trong tác phẩm, là phương tiện để chuyển tải
những tư tưởng, tình cảm của nhà văn trước cuộc đời Bakhtin trong “Mấy vấn đề
thi pháp của Đôxtôiépxki” khẳng định:“Ngôn ngữ chẳng những là phương tiện
miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả của văn học” [9, 190] Do vậy tiếp cận các tác
phẩm văn học cần thiết phải hiểu các yếu tố ngôn ngữ đã được nhà văn lựa chọn, sử dụng Từ các yếu tố ngôn ngữ bạn đọc liên tưởng và tưởng tượng để nắm được nội dung của tác phẩm Lí luận dạy học cũng đã khẳng định: tiếp nhận các tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ là con đường đến với tác phẩm ngắn nhất và khoa học nhất Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng
Việt” đã khẳng định: “Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ chính là các phương
tiện và biện pháp tu từ”
Vì vậy, việc tìm hiểu biện pháp điệp ngữ và hiệu quả tu từ của nó trong thơ
Phạm Tiến Duật giúp bồi dưỡng thêm năng lực cảm thụ thi ca từ góc độ ngôn ngữ
1.2 "Một thời đại trong thi ca", thơ hiện đại Việt Nam giai đoạn 1945 -1975
đã gặt hái được nhiều thành tựu Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, xã hội
Việt Nam có những biến động lớn tác động mạnh mẽ đến văn học nghệ thuật
Trong khoảng thời gian 30 năm, nền thơ Việt Nam phát triển cùng với sự đi lên của cách mạng Cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ là đề tài phong phú, tạo nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nhà nghệ sĩ nói chung và các nhà thơ nói riêng Nhiều cây bút trẻ được phát hiện, khẳng định từ cuộc sống sôi động
đó Bên cạnh những lớp nhà thơ có tên tuổi như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận thì đã có cả một thế hệ nhà thơ trẻ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ Đó là những gương mặt: Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khoa Điềm, Vũ Quần Phương, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Lâm Thị Mỹ Dạ Trong số các nhà thơ trẻ, không thể không nhắc tới Phạm Tiến Duật - một trong số những cây
Trang 9bút tiêu biểu có vị trí quan trọng trong nền thơ hiện đại những năm chống Mỹ, được tôi luyện, trưởng thành trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc Những sáng tác của Phạm Tiến Duật đã từng làm cho tuổi trẻ Việt Nam say mê, khâm phục Thơ
ông "là mối tình đầu của thơ ca chống Mỹ rất ấn tượng, đắm say" Ông đã có
những đóng góp không nhỏ trong việc mở đầu thơ chống Mỹ của những cây bút trẻ vào thập niên bảy mươi Trong cuộc thi thơ do báo Văn nghệ tổ chức 1969-1970, Phạm Tiến Duật là người duy nhất được trao giải nhất Phạm Tiến Duật được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001
1.3 Điệp ngữ là biện pháp tu từ xuất hiện với tần số rất cao trong thơ Phạm
Tiến Duật, góp phần tạo nên một nét riêng độc đáo cho nhà thơ - nhà thơ của Trường Sơn những năm chống Mỹ Thơ ông hồn nhiên, hóm hỉnh, giàu tính lạc
quan với những phát hiện thú vị, đầy chất lính Tìm hiểu “Biện pháp điệp ngữ trong
thơ Phạm Tiến Duật”, khóa luận mong muốn đóng góp tiếng nói khẳng định vẻ đẹp
và tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật, đồng thời cũng thấy được sự biến hóa linh điệu của ngôn từ tiếng Việt trong ngôn ngữ nghệ thuật Việc tìm hiểu hiệu quả biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ trong văn học cũng là việc làm cần thiết giúp hình thành kĩ năng lĩnh hội văn bản, góp phần đổi mới phương pháp đọc hiểu thơ nói chung trong trường phổ thông hiện nay, đồng thời làm giàu ngữ liệu để dạy tốt hơn môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
2 Lịch sử vấn đề
Năm 1964, đế quốc Mỹ leo thang bắn phá ra miền Bắc Cả dân tộc bắt đầu
ra trận Trong những năm tháng đó, xuất hiện rầm rộ đội ngũ nhà thơ trẻ Họ đã
“tắm” trong cuộc chiến đấu sôi động ở chiến trường, vừa đánh giặc, vừa làm thơ Nhiều sáng tác ra đời trong khói lửa và được khẳng định Nhìn chung, một
số sáng tác của các nhà thơ trẻ chưa được nghiên cứu khám phá một cách đầy
đủ Phạm Tiến Duật bắt đầu nổi tiếng ở tập thơ đầu tay Vầng trăng quầng lửa
(1970) nhưng cho đến nay, xuất hiện những công trình nghiên cứu về ông vẫn còn ít, chưa đồng bộ, rời rạc Tuy nhiên, có thể tổng hợp những bài nghiên cứu
về thơ Phạm Tiến Duật ở các góc độ như sau :
Trang 102.1 Dưới góc độ nghiên cứu văn học
Ngay sau khi Phạm Tiến Duật đạt giải nhất cuộc thi thơ trên báo Văn
nghệ năm 1969-1970, các tác giả như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Lê Đình Kỵ, Nhị
Ca đã có một loạt bài viết về ông Có thể kể đến bài viết đầu tiên về thơ Phạm
Tiến Duật là Giữa chiến trường nghe tiếng bom rất nhỏ (Nhị Ca) Nhị Ca cho rằng
độc giả được ấn tượng với chùm thơ được giải bốn bài bởi một phong cách thơ
“rất lạ”, lạ từ chất liệu thi liệu đến giọng điệu của Phạm Tiến Duật Không những
thế ông chỉ ra rằng, đây là một hồn thơ “được nuôi dưỡng bằng chất liệu sống
thực, tươi trẻ thở hết không khí mặt trận dữ dội và tự tin,…” Bên cạnh đó, qua
việc phân tích một số bài thơ tiêu biểu của tập Vầng trăng quầng lửa, Nhị Ca đã
có ý kiến nhận xét về những thành công và những hạn chế khá xác đáng Bài viết của Nguyễn Văn Hạnh in trên báo Văn nghệ số 363 ra ngày 25/9/1970 nhận xét:
“Thơ Phạm Tiến Duật là một hiện tượng rất đáng suy nghĩ” Nhìn chung các tác
giả đều có cùng nhận định “Phạm Tiến Duật là một hiện tượng lạ”
Sau một thời gian lắng xuống, khoảng 10 năm lại đây, trên diễn đàn Văn nghệ xuất hiện thêm một số bài phê bình của những nhà nghiên cứu trẻ về thơ Phạm Tiến Duật và vị trí của ông càng được khẳng định.Trần Mạnh Hảo trong bài
viết "Phạm Tiến Duật, con đường ấy không mòn" in trên báo Văn nghệ số 18 ra ngày 6/5/1995 nhận định: "Ông đã mang lại cho thơ Việt Nam một giọng điệu mới,
một hồn vía mới, một phong cách mới Hơn thế nữa, ông đã mang vào cho thi ca Việt Nam cả dãy Trường Sơn vĩ đại"
Trong “Văn học Việt Nam hiện đại – Tác giả, tác phẩm”, Lưu Khánh Thơ tuyển chọn, (NXB ĐHSP, 2006), tác giả trần Đăng Xuyền với bài viết “Phong cách
thơ Phạm Tiến Duật” đã có những nhận xét về thơ ông như sau: “Thơ Phạm Tiến Duật đưa người đọc đi vào giữa hiện thực của chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt nhất Thơ anh đã phản ánh được một phần không khí khẩn trương, dồn dập, khốc liệt, sôi động và hào hùng của những năm thang sôi sục đánh Mỹ” [10, 43]
Trang 11Còn ở “Nhà thơ Việt nam hiện đại”, nhiều tác giả (NXB KHXH, Hà Nội, 1984), cũng có những nhận xét xác đáng: “Phạm Tiến Duật không né tránh bất kỳ
loại chất liệu hiện thực nào, thơ anh không sợ sự thô ráp, bụi bặm, nó không cần một thủ pháp mỹ lệ hóa nào, lại hăm hở và táo bạo Phạm Tiến Duật cố ý chuyển tất cả những hiện thực ông đã trải qua vào thơ Thơ ông do vậy rất gắn bó với đời sống” [8, 531]
Với công trình nghiên cứu “Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại”, tác giả Mã Giang Lân (NXBGD, Hà Nội, 2000) lại nhận định: “Các nhà thơ trẻ từ thực tế
chiến tranh đã có nhiều tứ thơ độc đáo: Phạm Tiến Duật có “Vầng trăng và những quầng lửa”…” [6, 342]
““Bài thơ về tiểu đội xe không kính”, đáng yêu, có cái say sưa, khinh nhường nguy hiểm mà không có chút gì là phưu lưu mạo hiểm” [6, 293]
“Lửa đèn đã mở rộng chí tưởng tượng, đã đào sâu, nhào nặn hiện thực, làm nên tương lai” [6, 325]
Giáo trình “Văn học Việt nam hiện đại” (Tập 2) (Nguyễn Văn Long chủ biên, NXB ĐHSP) cho rằng: “Thơ của Phạm Tiến Duật được coi như “Một bảo
tàng tươi sống” về Trường Sơn (Đỗ Trung Lai) trong những năm chống Mỹ” [7,
đó đã làm tăng thêm sự lan tỏa của thơ anh” [2, 27]
Trang 12Cuốn “Thơ ca cách mạng Việt Nam – giai đoạn 1945-1975” (Những tác
giả, tác phẩm dùng trong nhà trường) do hai tác giả Nguyễn Giao Cơ và Hồ Quốc
Nhạc tuyển chọn (NXB Đồng Nai) nhận xét như sau: “Tiếng thơ của người chiến sĩ
hoạt động trên tuyến đường Trường Sơn cất lên hào hùng, trẻ tráng và hồn nhiên kỳ
lạ Thơ Phạm Tiến Duât thể hiện hình ảnh thế hệ thanh niên trong cuộc chiến tranh chống Mỹ qua từng hình tượng cô gái thanh niên xung phong, anh bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn…” [1, 139]
Hiện nay trên các báo điện tử cũng đăng một số bài viết của các nhà nghiên
cứu về thơ Phạm Tiến Duật như: Đặng Tiến (Đồng chí, Từ Núi Đôi đến Trường
Sơn), Nguyễn Văn Thọ (Phạm Tiến Duật – đấy là một con đường), Lê Thị Thanh
Bình (Nhà thơ Phạm Tiến Duật),…
2.2 Nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ
Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết: “Vầng trăng quầng lửa - tập thơ đầu tay
của Phạm Tiến Duật” đã chỉ ra bản chất yếu tố ngôn ngữ khẩu ngữ trong thơ Phạm
Tiến Duật ở các phương diện: đề tài, giọng điệu – kết cấu hình thức, ngôn ngữ,…
Tác giả Đỗ Trung Lai trong “Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật” đã nhận
xét về sự thành công trong việc sử dụng ngôn ngữ đời thường trong thơ Phạm Tiến
Duật: “Trước Phạm Tiến Duật không phải chưa có người đưa những chi tiết thực
vào thơ Nhưng có thể nói, chưa ai làm được một cách ồ ạt và thành công như vậy…” [4, 523]
Tác giả Mã Giang Lân trong “Nhận xét ngôn ngữ thơ hiện đại Việt Nam” đã
có những nhận xét chung về ngôn ngữ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mỹ trong đó có Phạm Tiến Duật như sau: “Đây là thời kỳ chuyển hóa giữa
cái cũ và cái mới Khi thơ có tác dụng thiết thực tới cuộc sống, có ý thức gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của nhân dân thì ngôn ngữ thơ thực sự là ngôn ngữ của nhân dân,…” [1, 17]
Tác giả Trần Đăng Xuyền trong “Phong cách thơ Phạm Tiến Duật” cũng đã
khảo sát, phân tích và làm nổi bật phong cách riêng của Phạm Tiến Duật và khẳng
định: “Phạm Tiến Duật là nhà thơ trẻ trong thời kỳ chống Mỹ tiêu biểu cho khuynh
Trang 13hướng mở rộng cánh cửa nghệ thuật để ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày, ngôn ngữ xô
bồ của đời sống vào thơ” [4, 581]
Ngoài ra, có thể kể tới một số luận văn, khóa luận nghiên cứu về ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật:
Nguyễn Quang Đại, Hiệu quả sử dụng các yếu tố ngôn ngữ của phong cách
hội thoại trong thơ Phạm Tiến Duật, Khóa luận tốt nghiệp, trường ĐH Sư phạm Hà
Nội 2, 2007
Nguyễn Thị Ngọc, Mạch lạc trong thơ Phạm Tiến Duật, Luận văn thạc sĩ
Ngôn ngữ học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, 2015
Nguyễn Hồng Thanh, Thơ Phạm Tiến Duật nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật,
Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, ĐH Sư phạm Hà Nội 2, 2015
Nguyễn Thị Thung, Phong cách thơ Phạm Tiến Duật, Luận văn thạc sĩ, trường
ĐH Sư phạm, ĐH Thái Nguyên, 2008
Trần Thị Vân, Đặc điểm nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật, Luận văn thạc sĩ
khoa học Ngữ văn, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 2003
Từ các bài viết trên có thể thấy thơ ca Phạm Tiến Duật đã được nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở những nhận xét khái quát hoặc minh họa Một số khóa luận nghiên cứu sâu về tính khẩu ngữ trong ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật ở góc độ từ, câu, kết cấu, mạch lạc Việc nghiên cứu về riêng điệp ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa được quan tâm
Với đề tài “Biện pháp điệp ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật”, chúng tôi hy vọng sẽ
góp thêm tiếng nói khẳng định hiệu quả nghệ thuật của biện pháp điệp ngữ nói chung, đóng góp nghệ thuật của nhà thơ Phạm Tiến Duật nói riêng trên con đường phát triển thơ ca Việt Nam hiện đại
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận hướng đến một số mục đích:
- Góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp và phong cách của nhà thơ Phạm Tiến Duật - "ngọn lửa đèn" của một thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ
- Thấy được hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ trong việc biểu đạt tứ thơ, góp phần khẳng định những giá trị thẩm mỹ cao cả và lâu bền của thơ trữ tình cách mạng nói chung và thơ Phạm Tiến Duật nói riêng một cách cụ thể trong quá trình đổi mới văn học
- Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét các kiểu điệp từ ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật
- Vận dụng các phương pháp phân tích phong cách học để phân tích hiệu quả
tu từ của phép điệp từ ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật, đồng thời rút ra những kết luận cần thiết
5 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp điệp ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật
6 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung khảo sát, thống kê việc sử dụng phép điệp ngữ chủ yếu trong các tập thơ:
- Thơ một chặng đường, Nxb Hội nhà văn, 2014-2015
- Ở hai đầu núi, Nxb Hội nhà văn, 2014-2015
- Vầng trăng quầng lửa, Nxb Hội nhà văn, 2014-2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp thống kê, phân loại
7.2 Phương pháp phân tích
Trang 15Chương 2: Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại
Chương 3: Hiệu quả nghệ thuật của phép điệp ngữ trong thơ Phạm Tiến Duật 3.1 Điệp ngữ với việc phản ánh hiện thực cuộc sống và con người trong những năm kháng chiến
3.2 Điệp ngữ với việc thể hiện phong cách tác giả
Kết luận
Trang 16NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Biện pháp điệp ngữ
1.1.1 Định nghĩa
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Việt”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1997, đã định nghĩa:
“Điệp ngữ (còn gọi là lặp) là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích
nhấn mạnh ý, mở rộng nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những xúc cảm trong lòng người đọc, người nghe” [5, 93]
Định nghĩa cho thấy:
- Điệp ngữ là phép tu từ ngữ nghĩa
- Điệp ngữ được các nhà sử dụng một cách có chủ định Đó là việc sử
dụng các phương tiện ngôn ngữ theo hướng lặp lại từ hay cụm từ nhằm tạo hiệu quả tu từ (nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo nghĩa mới bất ngờ giàu màu sắc tu từ học, tạo ra tính nhạc cho lời thơ, lời văn, đem lại thẩm mĩ cho người đọc người nghe)
1.1.2 Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt
Kế thừa có bổ sung quan điểm phân loại các kiểu điệp từ ngữ của tác giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú (đã trình bày ở mục trước), chúng tôi chú ý đến những kiểu điệp sau:
1.1.2.1 Điệp ngữ nối tiếp
Điệp ngữ nối tiếp là dạng điệp trong đó có những từ ngữ được lặp lại trực tiếp đứng bên nhau, nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng tiến VD:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang,
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng;
Đây mùa thu tới - mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng.” (Đây mùa thu tới – Xuân Diệu)
1.1.2.2 Điệp ngữ cách quãng
Trang 17Điệp ngữ cách quãng là điệp ngữ trong đó những từ được lặp lại đứng
cách xa nhau nhằm gây một ấn tượng nổi bật và có tác dụng âm nhạc cao
VD:
“Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng.”
(Ca dao Việt Nam)
1.1.2.3 Điệp đầu
Điệp đầu là dạng điệp trong đó từ được lặp lại đứng ở đầu câu
VD:
“Mai về Miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa, tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre, trung hiếu chốn này”
(Viếng lăng Bác – Viễn Phương)
1.1.2.4 Điệp đầu - cuối
Điệp đầu - cuối là kiểu điệp trong đó các từ được điệp đứng ở đầu và cuối câu thơ, đoạn thơ hoặc bài thơ
VD:
“Tre xanh, xanh tự bao giờ
Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh”
(Tre xanh - Nguyễn Duy)
1.1.2.5 Điệp cuối - đầu
Điệp cuối - đầu là kiểu điệp trong đó các từ được điệp lại ở cuối câu thơ trước và đầu câu thơ sau
Trang 18VD:
“Cảnh khuya như vẽ người chƣa ngủ
Chƣa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”
“Làm trời trời phải có sao
Làm sông sông cứ dạt dào phù sa
Làm đất đất phải nở hoa
Làm tôi buồn cái người ta vẫn buồn
Từ đâu mà nước có nguồn
Mà kim đã chỉ phải luồn vào nhau
Đã trầu là phải có cau
Từ đâu mà phải vàng thau rạch ròi
Đã cho thì không được đòi
Đã biển phải biết sông ngòi làm nên.”
(Về lại chốn xưa - Đồng Đức Bốn)
1.1.2.7 Điệp theo kiểu diễn đạt
Điệp theo kiểu diễn đạt là kiểu điệp nhằm diễn tả một dụng ý nào đó của tác giả
VD:
“Ƣớc gì anh hóa ra hoa,
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn
Ƣớc gì anh hóa ra chăn,
Để cho em đắp, em lăn cùng giường
Ƣớc gì anh hóa ra gương
Để cho em cứ ngày thường em soi.”
Trang 19(Ca dao)
1.1.2.8 Điệp vòng tròn
Điệp vòng tròn là một dạng điệp ngữ có tác dụng tu từ lớn Chữ cuối câu trước được láy lại thành chữ ở đầu câu sau và cứ thế làm cho câu văn, câu thơ liền nhau như đợi sóng, diễn tả một cảm giác triền miên
VD:
“Thu về gọi gió heo may
Heo may lá đã vàng cây ngô đồng
Ngô đồng thả lá theo sông
Sông ơi, có thấp thỏm mong thu về.”
(Biến tấu ca dao - Đỗ Bạch Mai)
1.1.3 Giá trị tu từ của điệp ngữ
“Giá trị tu từ” (màu sắc tu từ, sắc thái tu từ) là khái niệm phong cách học chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực
từ Nói cách khác đó là khía cạnh biểu cảm - cảm xúc của ý nghĩa của từ (diễn đạt những tình cảm, sự đánh giá những ý định), bên cạnh khía cạnh sự vật lôgic của ý nghĩa [4, 57-58]
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, giá trị tu từ của điệp ngữ được thể hiện ở một số phương diện sau
- Nhờ biện pháp điệp ngữ, câu văn tăng tính nhạc, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa tình cảm, cảm xúc nào đó làm nổi bật những yếu tố ngôn ngữ quan trọng; làm cho lời văn thêm sâu sắc, tha thiết, có sức thuyết phục mạnh
VD: “Dưới bóng tre xanh của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền văn hóa lâu đời Dưới bóng tre xanh,
đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang”
(Tre Việt Nam – Thép Mới)
- Chức năng tu từ học của điệp ngữ được phát hiện ra trong mối quan hệ qua
lại với ngữ cảnh Đó là việc gây ra một phản ứng trực tiếp có màu sắc biểu cảm -
Trang 20cảm xúc ở phía người nghe (người đọc): ngạc nhiên, vui mừng, bực bội sợ hãi… khi
mà người nói nói ra
VD:
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi?
Mái tóc em đây hay là mây là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm đông”
(Người con gái Việt Nam - Tố Hữu)
Trong một phát ngôn nhất định, điệp ngữ thường được dùng như một phương tiện tăng cường lôgic - cảm xúc nghĩa của phát ngôn
- Trong văn nghệ thuật, điệp ngữ mới phát huy được đầy đủ khả năng
tu từ học của mình ở khả năng tạo hình, mô phỏng âm thanh, diễn tả những sắc thái khác nhau của tính chất: vui mừng, ngạc nhiên, lo âu, bực tức
1.2 Nhà thơ Phạm Tiến Duật
1.2.1.Cuộc đời và sự nghiệp
1.2.1.1 Cuộc đời
Phạm Tiến Duật sinh ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ Cha ông là nhà giáo, dạy chữ Hán và tiếng Pháp, còn mẹ làm ruộng, không biết chữ Năm 1964 tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Hà Nội, nhưng sau đó ông quyết định lên đường nhập ngũ, ngừng lại nghề giáo của mình Trong thời gian này, ông sống và chiến đấu chủ yếu trên tuyến đường Trường Sơn Đây cũng là thời gian ông sáng tác rất nhiều tác phẩm thơ nổi tiếng Năm 1970, sau khi đạt giải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ, Phạm Tiến Duật được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam
Chiến tranh kết thúc, ông về làm việc tại Ban Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam Ông sống ở Hà Nội, là Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn Việt Nam Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, được tặng Giải thưởng Nhà nước
về Văn học nghệ thuật năm 2001, Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2012
Trang 21Ngày 19 tháng 11 năm 2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký lệnh tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật
Ngày 4 tháng 12 năm 2007, vào khoảng 8:50, ông mất tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 vì căn bệnh ung thư phổi
1.2.1.2 Sự nghiệp
Ông đóng góp chủ yếu là tác phẩm thơ, phần lớn thơ được sáng tác trong thời kỳ ông tham gia quân ngũ Nhiều bài thơ của ông đã được phổ nhạc thành bài hát trong đó tiêu biểu nhất là “Trường Sơn đông, Trường Sơn tây”
Những tập thơ chính:
Vầng trăng quầng lửa (thơ, 1970), nổi tiếng nhất với tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”
Ở hai đầu núi (thơ, 1981)
Vầng trăng và những quầng lửa (thơ, 1983)
Thơ một chặng đường (tập tuyển, 1994)
Nhóm lửa (thơ, 1996)
Tiếng bom và tiếng chuông chùa (trường ca, 1997)
Tuyển tập Phạm Tiến Duật (in xong đợt đầu ngày 17-11-2007, khi Phạm Tiến Duật đang ốm nặng)
Ông được ca tụng là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”, “cây săng lẻ của rừng già”, “nhà thơ lớn nhất thời chống Mỹ” Thơ ông thời chống Mỹ từng được đánh giá là “có sức mạnh của một sư đoàn”
1.2.2 Phong cách nghệ thuật
Thơ Phạm Tiến Duật vừa có chất trẻ trung, hóm hỉnh, tinh nghịch của tuổi
trẻ vừa có cái ngất ngưởng, ngang tàn, phóng túng của người lính Một số bài thơ
của Phạm Tiến Duật có cái giọng điệu tranh luận say sưa, sôi nổi của tuổi trẻ
“không có kính không phải vì xe không có kính”, nhiều bài thơ có cái chất tinh
nghịch, hóm hỉnh rất có duyên (Tình yêu nói ở sông Đà) Cái giọng điệu “ngất
ngưởng”, ngang tàng trong những năm chống Mỹ hiện rõ theo cái nhịp lắc lư của chiếc xe không kính (Bài thơ về tiểu đội xe không kính) Sau chiến tranh, giọng
Trang 22điệu ấy ẩn mình trong những câu thơ: “Cửa vẫn cửa, tường vẫn tường, thế
thế…”(Tình yêu nói ở sông Đà)
Thơ Phạm Tiến Duật vừa tinh tế tài hoa trong cảm xúc, vừa giàu suy
tưởng liên tưởng, giàu sức gợi đem lại khoái cảm thẩm mỹ cho người đọc Phạm
Tiến Duật là người tài hoa trong cảm xúc: “Cam Xã Đoài mọng nước - Giọt vàng
như mật ong - Bổ cam ngoài cửa trước - Hương bay vào nhà trong” (Mùa cam trên đất Nghệ) Ông là người thông minh, có những phát hiện tinh tế (Cái cầu) Sự tinh
tế trong quan sát của Phạm Tiến Duật gắn liền với năng lực liên tưởng Như trong
bài “Lửa đèn”: “Quả ớt như ngọn lửa đèn dầu - Chạm đầu lưỡi chạm vào sức
nóng ” từ việc tác giả phát hiện chi tiết hình ảnh những trái cây như những ngọn
đèn, cùng với sức gợi của thơ đã nâng lên thành những khái quát sâu sắc, có sức
vang động sâu xa trong lòng người đọc: “Mạch đất ta dồi dào sức sống - Nên
nhành cây cũng thắp sáng quê hương.”
Thơ Phạm Tiến Duật thể hiện rất rõ khuynh hướng khám phá cái đẹp của cuộc sống chiến trường, cái đẹp của cuộc sống sôi động Thơ ông vẫn có sức khái quát cao mặc dù giàu chi tiết “ngổn ngang”, đưa người đọc đi thẳng vào giữa hiện thực của cuộc chiến tranh, đến những nơi gian khổ, nóng bỏng, ác liệt, sôi động, dồn dập và hào hùng của những năm tháng sục sôi đánh Mỹ Ông đã được
chứng kiến tận mắt cảnh trong đêm tối "tàn lá đầy trời như mưa tuyết màu đen" (Những mảnh tàn lá) Cảnh "xe đi trong tầm bom rơi" giữa một vùng rừng "ngổn
ngang cây đổ", nhìn thấy "hố bom dày như lỗ hà ăn chân" ở ngã ba Đồng Lộc Ấy
là nơi "Mười bẩy trận bom Mỹ dội một ngày" (Tiếng cười của đồng chí coi kho),
ấy là "nơi túi bom bay mù bụi đỏ" (Niềm tin có thật) Tuy nhiên, thơ ông cũng đã
hoà nhập thực sự với những con người mang trong mình dòng máu chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giàu lòng lạc quan, tha thiết yêu đời, sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn
Thơ Phạm Tiến Duật sử dụng nhiều ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày Thơ như lời nói vì sử dụng nhiều khẩu ngữ Ngôn ngữ thơ bạo mà không thô, đẽo gọt mà
không uốn éo,… Trong một số bài có những từ nếu đứng riêng thì rất tục (Nhớ)
Trang 23nhưng đọc lên vẫn không thấy ngượng ngùng vì ông biết đưa vào đúng lúc, biết dùng những chữ “thanh” nuôi chữ “thô”
*Tiểu kết:
Trong chương này, chúng tôi đã đi tìm hiểu những tiền đề lý thuyết liên quan đến đề tài, làm cơ sở cho việc khảo sát điệp ngữ trong thơ của Phạm Tiến Duật Về biện pháp điệp ngữ, chúng tôi tìm hiểu về khái niệm, các kiểu điệp ngữ, giá trị tu từ của điệp ngữ Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Phạm Tiến Duật, chúng tôi tìm hiểu những đóng góp mới mẻ của tác giả cho nền văn học Việt Nam đương thời Đặc biệt chúng tôi cũng quan tâm nghiên cứu những quan điểm, cách nhìn nhận của ông về con người và cuộc sống Điều này đã góp phần tạo nên phong cách, cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn Đây cũng chính là những cơ sở lí luận
để chúng tôi nghiên cứu đề tài này
Trang 24CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI 2.1 Kết quả khảo sát thống kê, phân loại
Chúng tôi tiến hành khảo sát 97 bài thơ của Phạm Tiến Duật được tập hợp
trong “Phạm Tiến Duật, Thơ một chặng đường, Ở hai đầu núi, Vầng trăng quầng
lửa” (Nxb Hội nhà văn, 2014-2015) và một số bài thơ khác Có thể thấy, mặc dù
các bài thơ có dung lượng dài ngắn khác nhau, nội dung khác nhau, nhưng biện pháp tu từ điệp ngữ xuất hiện ở hầu hết các bài thơ thuộc đối tượng khảo sát Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thống kê được 504 trường hợp nhà thơ sử dụng phép tu từ điệp ngữ Có thể khái quát việc sử dụng điệp ngữ của Phạm Tiến Duật qua bảng thống kê sau:
2.2 Miêu tả
2.2.1 Điệp liên tiếp
Trong 504 trường hợp Phạm Tiến Duật sử dụng điệp ngữ đã thống kê, điệp liên tiếp được sử dụng trong 20 trường hợp (chiếm 4%) Cả 20 trường hợp đều là kiểu loại điệp liên tiếp không biến đổi
VD:
“Để gió cuốn đi rồi tình nhớ với tình xa
Tất cả cạn dần chỉ còn mơ ước
Trang 25Ngày đoàn tụ ôi vẹn tròn đất nước
Cầu mong, cầu mong, em hát khúc cầu mong”
“Ngọn lửa ơi, lòng lửa tốt vô cùng
Lửa sinh ra người, lửa sinh ra trái tim rực cháy
Lửa làm bóng tối xa ra và mặt người gần lại
Ngọn lửa nào thân bằng lửa bếp, bạn bè ơi!”
(Bếp lửa nhà mình)
- Điệp cách quãng một ngữ VD:
“Bóng em lồng bóng suối trong veo
Lúc ấy lòng anh biết mấy tự hào
Tự hào vì có em ở đây, tự hào vì đất nước
Ở đây màu hồng xiết bao thân thuộc
Xao xuyến lòng anh, xao xuyến bạn
(Cô bộ đội ấy đã đi rồi)
- Điệp cách quãng một câu VD:
“Bác ra đi không mang theo gì cả…
… Anh bạn dững bên nhắc nhớ cho tôi
Xưa nay những chuyến đi của Người
Vẫn thường không mang theo gì cả
Thuốc lá trên bàn, sách chông trên giá
Và trái đất này đã biết bao nơi
Vẫn còn nguyên hơi ấm chân Người
Bác ra đi không mang theo gì cả”
(Bác ra đi)
Trang 26“Yêu cái cầu vồng khi trời nổi gió
Bắc giữa trời cao, vệt xanh vệt đỏ,
Dưới gầm cầu vồng nhà máy mới xây
Trời sắp mưa khói trắng hơn mây
Yêu cái cầu tre bắc qua sông máng
Mùa gặt con đi đón mẹ bên cầu:
Lúa hợp tác từng đoàn nặng gánh
Qua cầu tre, vàng cả dòng sâu
…
Yêu hơn, cả cái cầu ao mẹ thường đãi đỗ
Là cái cầu này ảnh chụp xa xa;
Mẹ bảo: cầu Hàm Rồng sông Mã
Con cứ gọi: cái cầu của cha”
(Cái cầu)
- Điệp đầu là một ngữ: Ngữ được điệp nằm ở các câu thơ liên tiếp hoặc
ở đầu các câu thơ cách quãng VD:
“Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi có những ngọn đèn thắp trong kẽ lá
…
Giặc muốn cướp đi
Giặc muốn cướp lửa tim ta đấy”
(Lửa đèn)
Trang 272.2.4 Điệp đầu – cuối
Có 8 trường hợp điệp đầu – cuối (chiếm 1.5 %)
Căn cứ vào cách thức sử dụng từ ngữ, chúng tôi chia làm hai tiểu loại nhỏ:
- Điệp đầu - cuối một từ, có thể đứng ở đầu và cuối câu thơ hoặc đầu và cuối khổ thơ VD:
“Khi em ngồi nhớ anh ngày chủ nhật thẳm sâu
Anh đang lội bùn, trong rừng đầy lá mục
Lúc em ngồi với học sinh là lúc
Anh đứng đỉnh đèo gió thổi mênh mông”
(Một giờ và mười phút)
- Điệp đầu – cuối một ngữ, có thể đứng ở đầu và cuối câu thơ hoặc đầu và cuối khổ thơ VD:
“Thành phố trở thành của tôi Này sóng sông Lam
Này gió phi lao cách một vùng biển thổi
Cô gái ấy xa rồi vẫn còn ngân giọng nói
Thành phố ấy trở thành của tôi.”
(Gửi về Vinh, thành phố dọc đường)
2.2.5 Điệp cuối - đầu
Kiểu điệp này có 5 phiếu (chiếm 1%) VD:
“Nhớ trưa đỉnh đèo ta đứng ngẩn ngơ
Nhìn mây trắng chân trời ngỡ biển
Biển Đông thì xa, biết ta nhìn chẳng đến
Nhưng em vui anh kể chuyện em nghe”
(Cô bộ đội ấy đã đi rồi)
2.2.6 Điệp nhan đề
Có 35 phiếu khảo sát sử dụng điệp lại nhan đề bài thơ (chiếm 7%) Căn cứ vào cách thức điệp nhan đề, có thể chia thành các tiểu loại sau:
- Điệp hoàn toàn nhan đề ở câu thơ đầu trên
VD: Bài thơ “Cô bộ đội ấy đã đi rồi”
Trang 28“Cô bộ đội ấy đã đi rồi
Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy
Em gái đi, các anh ở lại
Biết đến bao giờ mới được gặp nhau”
- Điệp nhan đề ở các câu thơ khác nhau trong bài thơ
VD: Bài thơ “Những bông hoa không hỏi”
“Cũng như em, những bông hoa không hỏi
Những bông hoa chỉ nở để trả lời
Có yêu không hoa không hề hỏi thế
Hoa chỉ đẹp vô cùng để rạng rỡ thôi.”
2.2.7 Điệp hỗn hợp
Xuất hiện nhiều kiểu điệp trong một đoạn thơ hoặc bài thơ Có 23 phiếu (chiếm 4.5%) VD:
“Anh đi trong rừng, lá vỗ trên cao,
Gió bốn bề cây; cây ngả nghiêng chào,
Lay bóng đậm gió thổi vào đốm nắng
Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng
Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay;
Cây bồng bênh cười vui suốt ngày,
Thân thẳng cây chò, cành ngang cây bứa;
Cây nhựa trắng là cây si, cây sữa,
Nhựa vàng cây dọc, nhựa đỏ cây nò,
Cây nứa mọc đứng, cây giang mọc bò,
Cây tầm gửi mọc ngồi đỏng đảnh,
Cây lim uy nghi, sa nhân ma mỏng mảnh,
Dạ hương của đêm, mắc cỡ của ngày
Da bàn tay thường chạm với da cây,
Khuôn mặt người chạm vào mặt lá.”
(Đi trong rừng)
Trang 292.3 Nhận xét sơ bộ kết quả khảo sát, thống kê, phân loại
Qua khảo sát thống kê phân loại phép điệp ngữ trong 97 bài thơ của Phạm Tiến Duật chúng tôi có một số nhận xét sơ bộ như sau:
- Biện pháp tu từ điệp ngữ xuất hiện ở hầu hết các bài thơ thuộc đối tượng khảo sát Việc chú trọng sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ đã làm cho thơ Phạm Tiến Duật có sức hấp dẫn, độc đáo riêng Bên cạnh việc sử dụng điêu luyện các kiểu điệp truyền thống, nhà thơ đã có những sáng tạo mới, sử dụng phép điệp linh hoạt tạo ra những hiệu quả đặc biệt cho ngôn ngữ thơ
Có thể thấy rõ điều này qua từng kiểu điệp ở kết quả thống kê Đặc biệt là cách thức phối hợp ngôn từ trong kiểu điệp hỗn hợp của tác giả
- Kết quả thống kê cho thấy, trong tất cả các kiều điệp ngữ, điệp cách quãng được tác giả sử dụng nhiều nhất, có 331 trường hợp (chiếm 65%), tiếp theo là điệp đầu (chiếm 17%) Điệp cuối – đầu sử dụng ít nhất (chiếm 1%)
- Cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
Các yếu tố ngôn ngữ được Phạm Tiến Duật sử dụng trong phép điệp rất
đa dạng và linh hoạt
- Có thể là từ đơn hoặc từ ghép: VD1:
“Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo”
(Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây)
VD2:
“Trên đầu ta thay những mảnh trời xanh
Bằng những mảnh trời xanh thăm thẳm khác
Cảnh vật đổi làm lòng ta khao khát
Nơi ta qua và nơi gọi ta đi.”
(Chúng ta đi đường dài)
- Trong các trường hợp sử dụng điệp ngữ ngữ điệp có thể được giữ nguyên cũng có thể biến đổi trật tự từ, có thể lặp lại một từ hoặc một cụm từ:
Trang 30Ðông sang tây không phải đường thư
Ðường chuyển đạn và đường chuyển gạo
Ðông Trường Sơn, cô gái "ba sẵn sàng" xanh áo
Tây Trường Sơn bộ đội áo màu xanh.”
(Trường Sơn đông - Trường Sơn tây)
- Về mặt từ loại
Phạm Tiến Duật sử dụng hầu hết các từ loại trong tiếng Việt để tổ chức phép điệp trong thơ của mình như: danh từ, động từ, tính từ, phụ từ, số từ,…
VD:
“Những cái cầu ơi, yêu sao yêu ghê,
Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ,
Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió
Con kiến qua ngòi bắc cầu lá tre.”
(Cái cầu)
Nhìn chung, việc sử dụng điệp ngữ đều nhằm dụng ý nghệ thuật tạo ra hiệu quả biểu đạt cao, vừa nhấn mạnh đối tượng thông báo, vừa thể hiện những cảm xúc mãnh liệt của tâm hồn thi sĩ
Trong 97 bài thơ thuộc đối tượng khảo sát có tới 35 bài thơ điệp nhan đề Đó
là một dụng ý nghệ thuật của tác giả trong việc định hướng nội dung khi tiếp cận một bài thơ Nó không chỉ nhấn mạnh chủ đề tư tưởng mà đó còn là nguồn cảm hứng dạt dào, những rung động sâu sắc trong tâm hồn thi sĩ Nhan đề có thể điệp hoàn toàn ở câu thơ đầu tiên hay những câu thơ khác trong bài, cũng có thể lặp lại yếu tố trong nhan đề ấy Xét cho cùng dù điệp theo hình thức nào đi nữa đó cũng là nỗi ám ảnh, là xúc cảm về nỗi suy tư triền miên của nhà thơ trước cuộc đời
Trang 31CHƯƠNG 3: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA PHÉP ĐIỆP NGỮ
TRONG THƠ PHẠM TIẾN DUẬT 3.1 Điệp ngữ với việc phản ánh hiện thực cuộc sống và con người trong những năm kháng chiến chống Mỹ
“Cái kích thích nếu xuất hiện nhiều lần sẽ có khả năng gây sự chú ý” (Cù
Đình Tú) Bản chất của phép điệp ngữ là sự lặp lại có ý thức một hoặc một vài yếu
tố ngôn ngữ nhằm nhấn mạnh nội dung biểu đạt – đó là thế giới tâm trạng, cảm xúc,
ý nghĩ của chủ thể trữ tình được bộc lộ bởi những đối tượng cụ thể, khách quan của hiện thực cuộc sống như: con người, cảnh vật, thời gian, không gian,… xoay quanh chủ thể trữ tình Phạm Tiến Duật nhờ sử dụng biện pháp điệp ngữ mà các đối tượng
cụ thể ấy được nhấn mạnh, giàu giá trị biểu cảm và có sức hấp dẫn hơn Do vậy, việc tìm hiểu các yếu tố này chính là chìa khóa để khám phá sâu sắc thế giới tinh thần của chủ thể trữ tình
3.1.1 Khắc họa hình ảnh con người trong thơ
Trong thơ Phạm Tiến Duật con người xuất hiện rất đông đảo - những con người mang trong mình dòng máu của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, giàu lòng lạc quan, tha thiết yêu đời trong hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ hiểm nguy
3.1.1.1 Hình ảnh người lính
Sử dụng nhiều điệp ngữ, Phạm Tiến Duật khắc họa nên rõ nét hình tượng người lính - hình tượng trung tâm trong thơ kháng chiến của Phạm Tiến Duật (kể cả những tác phẩm viết sau 1975) nói riêng và thơ trẻ chống Mỹ nói chung Biểu hiện
ở điệp từ “anh” xuất hiện trong các bài thơ trong nỗi lòng xúc động, cảm phục của
người đọc:
“Trời thêm xanh và nắng thêm cao,
Rừng bỗng gió và tóc anh gió thổi,
Anh đi xuyên ngày, anh đi xuyên tối,
Xe không mui cây cối đến quây quần
…
Trang 32Em không kể gì nỗi vất vả đã qua,
Chỉ niềm vui kia chẳng thể nào giấu nổi,
Anh đi xuyên rừng và tóc anh gió thổi,
Hạnh phúc ở đằng kia, phía trước, rất gần thôi!”
(Một đoạn thư riêng)
Điệp từ “anh” và những điệp khúc “Anh đi xuyên”, “Anh đi dọc” thể hiện khí
phách của người chiến sĩ: dũng cảm, hiên ngang Điệp ngữ mạnh kết hợp với những
từ “ngày”, “tối”, “rừng” càng làm rõ hơn nỗi niềm người lính Bài thơ là lời kể về
những ngày trên chiến đường Trường Sơn “Xe không mui cây cối đến quây quần”, cũng thể hiện niềm tin về một: Hạnh phúc ở đằng kia, phía trước, rất gần thôi! Hai tiếng“đồng chí” cũng được điệp lại nhiều lần như một tiếng gọi thiêng
liêng của cả một thế hệ cầm súng, một thế hệ dàn hàng "gánh đất nước trên vai"
Điệp khúc “Đồng chí coi kho” (Tiếng cười của đồng chí coi kho) ngân lên bằng tất
cả tình thương, sự thông cảm, xót xa của những con người có cùng chung chí hướng:
“Đồng chí coi kho ơi
Đừng nói nữa bởi vì tôi
Ôm đồng chí đã khôn cầm nước mắt
…
Đồng chí coi kho cười ha hả
Chẳng biết có tiếng cười nào
Vang hơn tiếng cười trong hang đá.”
Có thể nói, với việc điệp lại những danh từ chỉ tên riêng, đại từ, các từ xưng hô, Phạm Tiến Duật đã góp một tiếng thơ chân thực, sâu sắc trong việc hoàn thiện bức chân dung về người chiến sỹ trong chiến tranh Họ còn rất trẻ, nhưng tuổi đời của
họ không ngăn cản ý thức trách nhiệm với Tổ quốc Chiến tranh, bom rơi, đạn nổ nhưng họ hiểu vì sao phải chiến đấu Đất nước này còn đến mai sau phụ thuộc vào chính thế hệ những người cầm súng ấy
Trang 33Biện pháp điệp ngữ cũng góp phần làm bật lên hình ảnh những con người anh hùng của thời đại từ nhiều phương diện, nhiều góc độ Có khi họ là những tập
thể - các điệp từ “ta”, cũng có khi là những cá nhân – điệp từ “anh”, “em”, chiến
sỹ Nhưng dù thế, người chiến sỹ Trường Sơn vẫn ngời sáng phẩm chất anh bộ đội giải phóng Đọc thơ Phạm Tiến Duật, hình ảnh anh bộ đội lái xe, những người lính công binh, những anh pháo thủ, người lính coi kho, trên tuyến đường Trường Sơn
gây ấn tượng thật đặc biệt Đó là Ngãng (Ngãng thân yêu), là chú Lư phố Khách
(Chú Lư phố khách), những anh hùng lái xe mặc kệ mặt lấm, tóc phủ trắng vì đất
bụi, phì phèo châm điếu thuốc, rất ung dung và cũng rất yêu đời, có vẻ hơi ngất ngưởng, bất cần một chút :
“Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.”
(Bài thơ về tiểu đội xe không kính)
Những câu thơ gần với câu văn xuôi như kể lại một câu chuyện rất đỗi bình thường và với những người chiến sỹ ấy đó cũng là chuyện bình thường thật vì nó
diễn ra hàng ngày, hàng giờ: “Không có kính, ừ thì có bụi, Không có kính, ừ thì
ướt áo” Một thứ hiện thực trần trụi, nóng bỏng hơi thở cuộc sống được khắc họa
qua điệp từ “Không có kính” Trên cái nền hiện thực ấy, tư thế anh người lính lái xe hiện lên thật rõ nét qua một loạt điệp từ “Nhìn” Họ là những con người bình
thường nhưng rất anh dũng Dù khó khăn, khốc liệt là vậy nhưng những tiểu đội lái
xe độc đáo có một không hai ấy vẫn ung dung trên đường ra mặt trận Những người lính lái xe hoàn toàn chủ động trước hoàn cảnh Chân dung người chiến sỹ lái xe Trường Sơn trở nên vừa lớn lao, vừa gần gũi Họ hiểu những khó khăn nơi chiến trường là lẽ đương nhiên Là người trong cuộc, nhà thơ viết về cái khổ không phải
để kể khổ mà nói đến như một lẽ thường tình Xe không có kính thì "Bụi phun tóc
trắng như người già", rồi "Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời" là điều không tránh
khỏi Song, điều quan trọng chính là tinh thần vượt lên gian khổ, khó khăn Điệp
Trang 34ngữ “ừ thì” như một ngụ ý bộc lộ không lên gân, không hô khẩu hiệu, không sử thi
hoá người chiến sỹ, chân dung người cầm lái hiện lên thật gần gũi, bình dị Chiến
tranh có thể tàn phá đời sống vật chất nhưng làm sao phá được "lòng dân ta yêu
nước thương nhà" (Đất nước - Nguyễn Đình Thi) Tinh thần lạc quan, bình tĩnh, tự
tin, nêu cao tinh thần trách nhiệm, gan góc trên đường ra tiền tuyến là đặc điểm nổi bật ở những người chiến sỹ lái xe này
Không những thế, điệp ngữ khắc họa hình ảnh những con người luôn
mang trong mình niềm tin mãnh liệt, khát vọng sống và tình yêu thiết tha:
“Những đồng chí công binh lầm lì
Mùi bộc phá trộn vào trong tiếng hát
Trên áo giáp lấm đầy đất cát
Lộp độp cơn mưa bi sắt đuối tầm
Hun hút đường khuya rì rầm rì rầm
Tiếng mạch đất hai miền hoà làm một
Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Mọc qua quầng lửa mọc lên cao.”
(Vầng trăng và những quầng lửa)
Những người lính công binh đối diện với gian lao, thậm chí là cái chết cận kề, tận mắt chứng kiến cảnh "cơn mưa bi sắt" nhưng họ vẫn vượt lên bằng tinh thần
"tiếng hát át tiếng bom" Điệp lại hai lần nối tiếp: rì rầm rì rầm – gợi âm thanh và“vầng trăng” “mọc qua quầng lửa”- hình ảnh biểu tượng của ánh sáng hòa bình,
trong trẻo, độc lập, tự do; điệp ngữ một lần nữa cho thấy rõ hơn, nhấn mạnh hơn
một niềm tin mãnh liệt về một đoạn đường tương lai còn dài phía trước Để “Chúng
ta cùng đi qua đường dài”
Chất lãng mạn cũng là một điểm đặc nổi bật trong hình tượng
người lính đã được Phạm Tiến Duật thể hiện Điệp ngữ được sử dụng nhiều trong thơ ông cũng vì thế mà thể hiện tràn trề cảm xúc, đầy ắp nhớ thương giữa con người
Trang 35với con người Những vùng làng giữa rừng Trường Sơn không khỏi làm họ xúc động, cái cập kênh trò chơi thuở nhỏ chẳng thể nào quên:
“Anh đi núi biếc trập trùng
Non xa mấy dải, một vùng quân đi
Thấy núi nổi lúc xuống khe
Thấy non sa xuống ấy khi lên đèo
Theo từng bậc núi anh trèo
Cập kênh vẫn cập kênh theo đường dài
Cái cập kênh ở vườn sau
Đã thay anh nói những câu tâm tình
Gỗ hồng làm ghế một thanh
Một đầu cập, để lại kênh một đầu”
(Cái cập kênh)
Hay hình ảnh người chiến sỹ lái xe bị thương phải nằm viện mà trằn trọc nhớ
"trăng", nhớ "bến", nhớ "lưng đèo " (Nhớ), nghe em hát dù "nhịp với phách nghe
chừng sai cả" nhưng lòng vẫn "thương em, thương em, thương em biết mấy" và
còn nữa tuổi trẻ với tình yêu đôi lứa, với những niềm hạnh phúc giản dị Điệp ngữ trong những trường hợp trên đặc biệt là có những lúc lặp ba lần trong một câu thơ
(Thương em) không phải là cách nói khéo, tiện miệng, mà đó là kết quả của sự cảm
thông sâu sắc của người trong cuộc, của một cuộc tình đơn phương trong mịt mù bom đạn, tử biệt sinh ly, một tình yêu giữa một thời kỳ thơ ca còn hay né tránh tình cảm yêu đương riêng tư để tập trung vào ca ngợi nghĩa vụ công dân của mọi người khi tổ quốc lâm nguy Mang trong mình trái tim đầy cảm xúc, hình tượng người lính trở thành một trong những hình tượng đẹp nhất trong thơ kháng chiến của Phạm Tiến Duật
3.1.1.2 Hình ảnh những người con gái trên chiến trường
Bên cạnh người lính, điệp ngữ còn tái hiện hình ảnh những người con gái trong chiến trường: