1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ tự hát của xuân quỳnh

63 1,5K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 383,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có rất nhiều cách định nghĩa, khái niệm về nhân vật văn học trong tác phẩm văn học, tiêu biểu như: “Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người một trong những dấu hiệu về s

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Chuyên ngành: Lý luận Văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS MAI THỊ HỒNG TUYẾT

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Vũ Thị Ngọc Thu

Trang 4

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Hình tượng nhân vật trữ tình

trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các

kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Vũ Thị Ngọc Thu

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6

6 Cấu trúc của khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 NHÂN VẬT VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ 7

1.1 Nhân vật văn học 7

1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học 7

1.1.2 Chức năng của nhân vật văn học trong tác phẩm văn học 9

1.1.3 Các loại nhân vật trong tác phẩm văn học 13

1.2 Nhân vật trữ tình trong thơ 15

1.2.1 Khái niệm 16

1.2.2 Đặc điểm của nhân vật trữ tình trong thơ 17

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ TỰ HÁT - XUÂN QUỲNH 20

2.1 Vấn đề “vai giao tiếp” của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân Quỳnh 20

2.2 Điểm nhìn và giọng điệu của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát -

Xuân Quỳnh .22

2.2.1 Điểm nhìn của nhân vật trữ tình 22

2.2.2 Giọng điệu của nhân vật trữ tình .28

2.2.2.1 Giọng điệu giãi bày, bộc bạch cùng những niềm trắc ẩn, âu lo 28

2.2.2.2 Giọng điệu của lời ru 30

Trang 6

2.3 Bảng tự thuật tâm hồn của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân

Quỳnh .32

2.3.1 Vẻ đẹp một tâm hồn nữ tính, hồn hậu, luôn da diết về khát vọng hạnh phúc đời thường 33

2.3.2 Người phụ nữ với những lo âu, khắc khoải không yên 39

2.3.3 Vẻ đẹp của một người phụ nữ thông minh, sắc sảo .40

2.4 Ý nghĩa khái quát của hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân Quỳnh 46

2.4.1 Khát quát cho nỗi niềm của người con gái trong tình yêu 46

2.4.2 Khái quát cho nỗi niềm của người mẹ 49

2.4.3 Khái quát cho nỗi niềm của người công dân 50

KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

chủ biên cho rằng: Dù nhân vật trữ tình mang nhiều đặc điểm liên quan giống cá tính, số phận tâm trạng nỗi niềm của tác giả song đó thực chất là một hình tượng được sáng tạo Nhờ vậy, ta thấy được vẻ đẹp nhân cách và thế giới nội tâm của người nghệ sĩ.

Thơ trữ tình là biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của nhà thơ Nhân vật trữ tình là một điểm tựa vững chắc để nhà thơ thể hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm Tìm hiểu nhân vật trữ tình trong thơ là một cách đánh giá tổng quát trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Đây là một trong những hướng tiếp cận tác phẩm có nhiều triển vọng mà tác giả khóa luận mong muốn được đóng góp vào trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy

1.2 Thơ Xuân Quỳnh được xem là đại diện cho tiếng nói tình yêu của người phụ nữ Việt Nam thời hiện đại Cuộc đời chị là cuộc đời của một người con gái gian truân, bất hạnh, sớm phải sống thiếu tình thương nên chị luôn khao khát được yêu thương và điều này thể hiện rất rõ trong thơ chị Xuân Quỳnh đến với thơ hoàn toàn tự nhiên, không một chút gượng ép, cái tài văn chương tự nảy nở khi chị còn

là một diễn viên múa đoàn văn công trung ương Ngòi bút sáng tác của nhà thơ lớn lên cùng những năm tháng và đã trở thành một trong những tên tuổi tiêu biểu trong

nền văn học hiện đại Việt Nam Lại Nguyên Ân trong bài viết Con người và nhà

thơ đã nói: “Có lẽ từ thời Hồ Xuân Hương qua các chặng đường phát triển, phải

đến Xuân Quỳnh nền thơ ấy mới thấy được một nữ sĩ tài năng và sự đa dạng của tâm hồn được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy, dạt dào và phong phú như

Trang 8

vậy” [12, 209] Ông đã khẳng định sự xuất hiện của Xuân Quỳnh trên thi đàn Việt

Nam như một dấu mốc quan trọng của lịch sử Từ Hồ Xuân Hương đến Xuân Quỳnh hơn một thế kỉ, vậy mà Xuân Quỳnh đã tiếp bước lời của bà chúa thơ Nôm nói lên những cảm xúc trong sâu thẳm tâm hồn một cách dồi dào và thẳng thắn để

tạo nên “một hiện tượng rất lạ trong nền thơ ca chúng ta”.

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, lo âu, vừa hồn nhiên tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng

về hạnh phúc bình dị, đời thường Cuộc đời cầm bút của chị cũng không dài nhưng không phải vì thế mà ảnh hưởng đến tên tuổi của chị Xuân Quỳnh được đông đảo bạn đọc biết đến với những tập thơ nổi tiếng như: Chồi biếc (1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Lời ru trên mặt đất (1978), Tự hát (1984), Bầu trời trong quả trứng (1984) đặc biệt chị còn được biết đến bởi chị là một cây bút bền bỉ trong sáng tác,

như Chu Nga nói: “Nếu nói Xuân Quỳnh là một chồi thơ, thì phải nói thêm, đấy là

một chồi thơ sắc biếc, một chồi thơ khỏe, tràn đầy sức sống và hứa hẹn một cây thơ vững chắc, xanh tươi Nói một cách khác, Xuân quỳnh đến với thơ một cách hồn nhiên, không chút cố tình, gượng ép; trong chị thực sự có một hồn thơ – đó là điều đáng quý nhất đối với những ai được gọi là thi sĩ.”

1.3 Tập thơ Tự hát được Xuân Quỳnh hoàn thành vào những năm cuối cuộc

đời Nó như một minh chứng cho một niềm khát khao chinh phục thế giới tình yêu

Đến với Tự hát, ta sẽ cảm nhận được những ước muốn cháy bỏng, tha thiết về một hạnh phúc rất đỗi đời thường, bình dị Tự hát đã thể hiện được cái nhìn giàu giá trị nhân văn, hiểu mình, hiểu đời của chị Đồng thời, Tự hát cũng đã mở ra cho bạn

đọc nhiều suy nghĩ, trăn trở về một tâm hồn thơ phụ nữ đầy nữ tính, tinh tế mà đó còn như là khúc ca của định mệnh, hát lên thật chân thành và cháy bỏng những khát vọng thầm lặng của trái tim người phụ nữ hồn hậu Như một định mệnh đã báo trước, bốn mươi năm sau – khi hồn thơ Xuân Quỳnh đang vào thời rộ nhất thì tiếng hát đó bỗng tắt lịm đi để mãi mãi trở thành huyền thoại chứa đựng bao nỗi tiếc nuối, xót xa trong lòng bạn đọc

Tự hát được Nhà xuất bản Tác phẩm mới phát hành tháng 9 năm 1984 gồm

ba mươi lăm bài thơ, hầu hết là những bài thơ tình ngọt ngào, đắm say Đó là một

Trang 9

tình yêu vô cùng đẹp và trong sáng Những bài trong tập thơ đã đi vào lòng người

và không thể vắng mặt trong hầu hết gia tài thơ của những lứa đôi yêu nhau như:

Tự hát, Thơ tình cuối mùa thu, Bàn tay em, Chỉ có sóng và em

Với riêng tập thơ Tự hát, Xuân Quỳnh đã trở thành một gương mặt quen

thuộc đối với bạn đọc và có một chỗ đứng xứng đáng trên thi đàn dân tộc Mỗi bài trong tập thơ như nốt nhạc ngân vang, làm thổn thức, rung động biết bao những trái tim đã yêu, đang yêu và sẽ yêu Đồng thời tập thơ cũng mang đến cho thơ ca Việt Nam đương đại một diện mạo mới của một thời đại mới

Chọn đề tài: “Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh”, chúng tôi mong muốn có cái nhìn phong phú và toàn diện hơn về tư

tưởng cũng như phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh Đồng thời đó cũng là một tiếng nói góp phần vào việc khẳng định vị trí của Xuân Quỳnh trong nền văn học nước nhà Kết quả nghiên cứu về đề tài này sẽ giúp chúng tôi có hiểu biết sâu hơn,

nâng cao trình độ chuyên môn và giúp ích cho việc giảng dạy sau này.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xuân Quỳnh là một trong những nữ thi sĩ viết thơ tình hay nhất trong nền thơ

ca hiện đại Việt Nam sau 1975 Chị xứng đáng được coi là nhà thơ của tình yêu Chị viết về tình yêu vừa nồng nhiệt vừa táo bạo, tha thiết, đắm say lại hồn nhiên mà lắng sâu những suy tư Cuộc đời tuy không dài chỉ hơn bốn mươi năm với biết bao những khó khăn, thiếu thốn đè nặng lên đôi vai nhưng chị vẫn “kịp” mang đến cho nền thơ ca nước nhà một phong cách thơ rất đặc trưng của thế hệ mình, của giới mình

Tháng 6 năm 1987, trong cuộc gặp mặt của các nhà thơ Á – Phi ở Liên Xô,

Xuân Quỳnh phát biểu: “Người ta làm thơ đầu tiên là để tự thể hiện, là một hành

động khẳng định, rồi là một hành động khai sinh, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, nhu cầu nối liền mình với đồng loại, với các sinh vật, vũ trụ và thời gian” Xuân Quỳnh

nói “người ta” nhưng lại để tự khẳng định chính bản thân mình Chị đã đem đến cái bản ngã của một người đàn bà táo bạo và mãnh liệt trong tình yêu để tạo nên dấu ấn của một nhà thơ “bản năng”

Cùng với sự ra đời các sáng tác của Xuân Quỳnh là sự xuất hiện của các bài

Trang 10

viết nghiên cứu, phê bình về thơ chị, đặc biệt là mảng thơ về tình yêu Đây là mảng sáng tác thành công nhất trong kho tàng sáng tác khá phong phú và đa dạng của chị.

Về giọng điệu thơ Xuân Quỳnh, Chu Văn Sơn đã nhận xét:“Thơ Xuân

Quỳnh âu cũng là tự hát” Đó là lời tự hát về cuộc đời, về tình yêu Chị tìm đến thơ

như một thế giới thứ hai để giãy bày, tâm sự

Về đề tài thơ Xuân Quỳnh có nhiều bài viết đã nghiên cứu, tiêu biểu như:

Tác giả Lê Phong trong bài Người đàn bà yêu và làm thơ: “ bây giờ

Xuân Quỳnh đã đến với tình yêu riêng của mình, một tình yêu là sự hòa hợp của hai trái tim, nhưng trong sự nhận – cho của hai bên, dường như Xuân Quỳnh đã chọn hạnh phúc nghiêng về phía cho một cách vô tư và tin cậy” [6, 326].

Lưu Khánh Thơ – em gái của cố nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ,

người đã dành phần lớn thời gian để nghiên cứu thơ Xuân Quỳnh, trong bài Cảm

nhận về thơ Xuân Quỳnh đã khẳng định: “Thơ Xuân Quỳnh không có mạch thơ

nào thực sự bình yên đơn giản, thường có nhiều trăn trở, băn khoăn Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương” [6, 246].

Không chỉ dừng lại ở đó, thơ Xuân Quỳnh còn có những biến đổi theo thời

đại: “Xuân Quỳnh không phải chỉ là nhà thơ biết lắng nghe những rung động của

chính tâm hồn mình, chị muốn đi sâu vào hiện thực lớn để nghe tâm hồn thời đại”

[13, 2011]

Ở phương diện phong cách thơ cũng có rất nhiều bài đánh giá, nghiên cứu đáng quan tâm:

Nguyễn Thị Minh Thái lại khẳng định: “Thực ra thơ và đời Xuân Quỳnh chỉ

là một Thơ Xuân Quỳnh làm tôi bao giờ cũng liên tưởng đến một người đàn bà yêu đến hết và đến chết” [15, 562].

Đoàn Thị Đặng Hương trong Người đàn bà yêu và làm thơ cũng viết: “Đó

thực sự là một tâm hồn thơ rất đàn bà bởi đầy hi sinh cho cuộc đời và tình yêu” [6,

280].

Mai Quốc Liên là người đã nhận thấy cái tôi nhất quán trong thơ Xuân

Trang 11

Quỳnh: “ Chị là một nhà thơ hàng đầu trong thời đại của chúng ta đang sống,

một nhà thơ lớn, một nhà thơ đã đi hết cái tôi của mình một cách hồn nhiên, dung dị

và sâu lắng” [15, 585].

Nguyễn Thị Bích Ngọc trong Thơ tình Xuân Quỳnh đã đưa ra một đánh giá

vừa cụ thể vừa khái quát, rất sâu sắc và xác đáng: “Thơ Xuân Quỳnh là tứ thơ tự

biểu hiện và tình yêu chân chính là nơi tác giả bộc lộ mình một cách chân thành, tha thiết, sâu lắng nhất” [4, 97]

Mai Hương và Lưu Khánh Thơ trong bài Xuân Quỳnh cũng viết: “ Thơ

của chị nhiều khi như một lời trò chuyện tâm tình, khẽ khàng, nhỏ nhẹ, khiến người nghe phải gần lại mới thấy hết được những gì nhà thơ nói ẩn vào sau mỗi dòng thơ, Xuân Quỳnh luôn luôn nói thật, nói hết, nói đến tận cùng những tình cảm của mình Đôi khi tình cảm được thể hiện quá thật và khá lộ”.

Có nhiều bài nghiên cứu đã thể hiện mối quan hệ giữa nhân vật trữ tình và con người đời thực trong thơ của Xuân Quỳnh Qua đó, người ta thấy một nữ sĩ hồn hậu, chân tình, giàu yêu thương Đây là những gợi ý quý báu để chúng tôi triển khai

đề tài “Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của Xuân Quỳnh”.

Nhìn chung, qua những bài nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi nhận thấy hầu hết đó là những bài viết về tác giả và về thơ chị nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu về nhân vật trữ tình trong thơ chị Kế thừa gợi ý của những

nhà nghiên cứu, chúng tôi tập trung tìm hiểu nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát

của Xuân Quỳnh với hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu và tiếp tục khẳng định sự nghiệp thơ ca của nữ nhà thơ Xuân Quỳnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của

Trang 12

4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này tác giả khóa luận hướng tới các mục đích:

- Tìm hiểu về hình tượng nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của Xuân

Quỳnh

- Thấy được rõ hơn đặc điểm riêng của hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh so với hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ của các thi sĩ Việt Nam hiện đại

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu về đặc điểm, vai trò của nhân vật đặc biệt là nhân vật trữ tình trong tác phẩm văn học

- Khảo sát, tìm hiểu những đặc điểm riêng của nhân vật trữ tình trong tập thơ

Tự hát của nữ nhà thơ Xuân Quỳnh.

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được chia làm hai chương:

Chương 1: Nhân vật và nhân vật trữ tình trong thơ

Chương 2: Đặc điểm và vai trò của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát của Xuân

Quỳnh

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 NHÂN VẬT VÀ NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ

Văn học bắt nguồn từ cuộc sống, luôn lấy hiện thực để làm nguồn cảm hứng sáng tác và phản ánh chính hiện thực Tuy nhiên, đối tượng chung của văn học là cuộc đời nhưng trong đó con người luôn giữ một vị trí quan trọng, vị trí trung tâm Những sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, những bức tranh thiên nhiên, lời bình luận… đều góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng cho tác phẩm nhưng cái quyết định chất lượng tác phẩm văn học chính là việc xây dựng nhân vật Khi đọc một tác phẩm văn học, cái đọng lại sâu sắc nhất trong lòng mỗi độc giả chính là nhân vật trong truyện với số phận, tình cảm, cảm xúc, suy tư… Vì vậy, Tô Hoài đã có lí khi

cho rằng: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong

một sáng tác” [Tô Hoài (1997), Sổ tay viết văn, Nxb Tác phẩm mới, tr 127]

1.1 Nhân vật văn học

1.1.1 Khái niệm nhân vật văn học

Thuật ngữ “nhân vật” vốn được xuất phát từ một thuật ngữ trong tiếng Pháp

và có nguồn gốc La Tinh Lúc đầu người ta gọi bằng “Persona” – cái mặt nạ mà diễn viên đeo vào mặt và khi được miêu tả một cách nghệ thuật trong tác phẩm thì người ta gọi đó là nhân vật Nhân vật là phương tiện quan trọng nhất để thể hiện tư

tưởng, tình cảm của tác giả Chính vì thế mà B.Brecht nhận xét rằng: “Các nhân vật

của tác phẩm nghệ thuật không phải đơn giản là những bản dập của những con người sống mà là những hình tượng được khắc họa phù hợp với ý đồ tư tưởng của tác giả” [14, 18].

Có rất nhiều cách định nghĩa, khái niệm về nhân vật văn học trong tác phẩm văn học, tiêu biểu như:

“Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người một trong những

dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có đôi khi là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống với con người” [1, 249].

Trang 14

Nhân vật văn học là “con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm văn

học bằng phương tiện văn học… văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng… Nhân vật văn học là phương tiện để khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng

[19, 61 – 64]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nhân vật văn học “là một đơi vị nghệ thuật

đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người và chức năng này cũng mang tính lịch sử Nhân vật văn học còn có khả năng dẫn dắt độc giả vào các thế giới khác nhau của đời sống, thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người…” [4, 162].

Nhân vật văn học “là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những

dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học còn có thể là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống như con người…” [5, 1254].

Nhân vật văn học là khái niệm chung để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các phương tiện riêng của thế giới nghệ thuật ngôn từ Với bất cứ một tác phẩm văn học nào thì ta cũng đều bắt gặp nhân vật văn học bởi nhân vật văn học là hạt nhân trung tâm của tác phẩm văn học, tác phẩm sẽ không thể tồn tại vững vàng nếu không có nhân vật

Nhân vật trong tác phẩm văn học là con người, đó có thể là những nhân vật

không có tên như: nhân vật anh thanh niên, cô kĩ sư, bác lái xe trong Lặng lẽ Sa Pa

của Nguyễn Thành Long, nhân vật thằng bán tơ, một mụ nào trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du, những kẻ đưa tin, lính hầu, chạy hiệu thường thấy trong kịch…Đó

có thể là những nhân vật có tên tuổi như: Tấm, Cám, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mị Châu, Trọng Thủy, Đó có thể là những nhân vật được miêu tả đầy đủ các thông tin về tên, tuổi, quê quán, nghề nghiệp, ngoại hình, tính cách, chức danh, hoàn cảnh, cuộc sống, các mối quan hệ trong cuộc đời Tuy nhiên, các nhân vật này thường là các nhân vật trong các tác phẩm tự sự, kịch Nhân vật cũng có thể bị cắt bỏ hoàn toàn những điều đó mà chỉ tập trung vào tâm trạng, cảm xúc, nỗi niềm như nhân vật

Trang 15

trong thơ trữ tình hay nhân vật chỉ có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật trần thuật.

Nhân vật văn học cũng có khi không phải là con người như: con cóc trong

Cóc kiện trời, Dế Choắt, Chị Cốc trong Dế Mèn phiêu liêu kí của nhà văn Tô

Hoài… nhân vật văn học kiểu này thường hay xuất hiện trong loài truyện cổ tích về loài vật, truyện ngụ ngôn, truyện viết cho thiếu nhi Khái niệm nhân vật đôi khi được sử dụng một cách ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào trong tác phẩm

mà chỉ một hiện tượng nào đó nổi bật trong tác phẩm Có thể nói, nhân dân là nhân

vật chính trong của Chiến tranh và hòa bình của L.Tolstoi, thời gian là nhân vật

chính trong sáng tác của Chekhov, người nông dân, người trí thức tiểu tư sản là nhân vật chính trong các sáng tác của Nam Cao, chiếc quan tài là nhân vật chính

trong truyện Chiếc quan tài của Nguyễn Công Hoan Việc xây dựng các hình

tượng nhân vật trên của mình là nhân vật đã thể hiện cách nói bóng bẩy theo một ý nghĩa nhất định, bởi suy cho cùng nhân vật chính là hình thức thể hiện con người

Tóm lại, nhân vật văn học chính là con người trong tác phẩm văn học, là xương máu, là trái tim của nhân vật, qua đó nghệ sĩ thể hiện quan niệm của mình về cuộc đời và con người Nhân vật văn học có tính ước lệ vì vậy các nhà lí luận cũng cần chú ý và quan tâm Nhân vật văn học không giống với các nhân vật thuộc các loại hình nghệ thuật khác Ở đây nhân vật văn học được thể hiện bằng chất liệu riêng là ngôn từ Nhân vật văn học đòi hỏi người đọc phải vận dụng trí tưởng tượng, liên tưởng để xây dựng lại con người hoàn chỉnh trong tất cả các mối quan hệ của

nó Đã là tác phẩm văn học thì không thể thiếu nhân vật văn học bởi chính nó là hạt nhân của tác phẩm văn học

1.1.2 Chức năng của nhân vật văn học trong tác phẩm văn học

Như đã nói ở trên, tác phẩm văn học không thể tồn tại nếu thiếu nhân vật văn học Một trong những lí do phải kể đến chính là vai trò, chức năng của nhân vật văn học trong tác phẩm là vô cùng quan trọng:

 Nhân vật văn học là phương tiện thể hiện các tính cách, số phận con người

và các quan niệm về chúng Nhân vật dưới mọi hình thức đều có tính cách Tính cách của con người theo nghĩa chung nhất đó chính là sự thể hiện các

Trang 16

phẩm chất xã hội lịch sử của con người thông qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất tâm sinh lí của họ Tính cách chính là đặc điểm của nhân vật, là sự thể hiện ý chí, hành động của nhân vật Trong toàn bộ tác phẩm tính cách của nhân vật sẽ được miêu tả và hiển hiện một cách sắc nét trong tâm thức của bạn đọc Tính cách của nhân vật có sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng trong một con người cụ thể Tính cách cũng mang tính lịch sử vì vậy mà chức năng khái quát tính cách của nhân vật văn học cũng

có tính lịch sử Nhân vật văn học ở mỗi thời bao giờ cũng khái quát nét tính cách xuất hiện trong thời đó Trong xã hội nguyên thủy, thời cổ đại xa xưa thì con người cần khai phá đất đai, mở rộng bờ cõi, chinh phục thiên nhiên, tạo dựng giang sơn, chống giặc ngoại xâm, thì lập tức xuất hiện các nhân vật văn học thần thoại, nhân vật chức năng có khả năng vá trời như Nữ Oa, khả năng dựng cột để phân chia trời đất như thần trụ trời Sau đó lại xuất hiện các anh hùng có sức mạnh phi thường chống thiên tai như Sơn Tinh – Thủy Tinh, chống giặc ngoại xâm như Thánh Gióng

 Nhân vật văn học còn có chức năng là người dẫn dắt bạn đọc vào một thế giới đời sống Thế giới đó có thể là thế giới thực trong đời sống cũng có thể

là thế giới ảo Khi đọc thiên truyện Chuyện chức phán sự đền Tản Viên

trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, sự xuất hiện của nhân vật Ngô Tử Văn sẽ đưa bạn đọc đến một thế giới vừa như thực vừa như mơ với những chi tiết vừa hiện thực lại vừa kì ảo Thế giới đời sống trong thiên truyện vô cùng phong phú với sự sống, cái chết, với trần gian, cõi âm khiến cho bạn đọc cảm nhận được những điều đang tồn tại trong thế giới mình đang sống

và cả trong thế giới mình chưa từng sống Khi đọc các tác phẩm viết về nông thôn và nông dân của nhà văn Nam Cao, các nhân vật như Chí Phèo, Lão Hạc, thằng Lúng…đã vẽ nên một bức tranh hết sức sinh động, phản ánh chân thực cuộc sống tăm tối, cực nhục của người nông dân sau lũy tre làng trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 Đó là một xã hội tàn bạo đã hủy diệt cả thể ác lẫn linh hồn người nông dân lương thiện, đẩy họ vào cuộc sống cùng đường không lối thoát Đồng thời nhà văn cũng khẳng định bản chất lương thiện của

Trang 17

họ, ngay cả khi họ bị xã hội độc ác cướp mất cả hình hài và tính cách con người Như vậy, với chức năng này của nhân vật văn học thì dù người đọc không sống ở thời điểm, hoàn cảnh trong tác phẩm nhưng nhờ thông qua nhân vật bạn đọc vẫn có thể hòa mình vào trong tác phẩm để hiểu được bối cảnh tồn tại của tác phẩm.

 Nhân vật là phương tiện thể hiện tư tưởng, tình cảm, quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới Nhân vật văn học chính là sự kết tinh tâm hồn và tư tưởng của tác giả được gửi gắm thông qua tác phẩm để đến với bạn đọc Khi

đọc tiểu thuyết Số đỏ của ông vua phóng sự đất Bắc Vũ Trọng Phụng, sau

một hồi tiếp xúc với hệ thống nhân vật trong truyện như: vợ chồng Văn Minh, ông Typn, cô Tuyết, Xuân tóc đỏ… người đọc sẽ thấy được tư tưởng

mà Vũ Trọng Phụng gửi gắm qua thiên truyện: bản chất lố lăng, đồi bại của

xã hội thượng lưu thành thị những năm trước Cách mạng, chạy theo phong trào Âu hóa làm mất đi thuần phong mĩ tục truyền thống của dân tộc Việt Nam Một đám ma to tát nhưng rỗng tuếch, thiếu đi duy nhất một thứ cần có

đó chính là tình thương con người và đạo lí làm người Trong câu chuyện

Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, khi viết về nhân vật Tràng, đặt nhân vật vào

một tình huống vừa kì quặc, vừa oái oăm, vừa bi hài, nhưng nhà văn đã cảm thông, sẻ chia, đồng điệu cùng nhân vật để cất lên bài ca nhân bản mạnh mẽ, làm thiết tha lòng người về cái hạnh phúc đời thường Khi viết về nhân vật

bà cụ Tứ, Kim Lân cũng gửi gắm nỗi niềm riêng: trong khung cảnh đói khát, chết chóc thê thảm của đất nước những năm bốn nhăm ấy, những con người khốn khổ như bà cụ Tứ, họ đã biết yêu thương cưu mang, đùm bọc lẫn nhau, nương tựa vào nhau mà sống quả là đáng quý Chỉ có tình mẹ con, tình cảm

vợ chồng đầm ấm, chân thực mới giúp họ có sức mạnh vượt qua sự thật đắng cay, nghiệt ngã dằng dặc của mình Và bất kì ở hoàn cảnh nào, ngay cả khi

kề bên cái chết, họ vẫn vươn lên, khao khát hạnh phúc và tin vào cuộc sống tương lai Theo lời kể của Kim Lân, ông không muốn dìm người đọc vào cái đói, cái khổ Vì khi người ta nghĩ tới cái đói, cái khổ là chỉ muốn chết, cho nên dù trong tình huống bi thảm đến đâu cũng đừng hết hi vọng Hãy nghĩ về

Trang 18

cuộc sống tương lai mà sống cho ra người Đó là ý đồ xây dựng nhân vật theo chiều hướng tích cực của tác giả, đồng thời cũng là ý nghĩa nhân văn cao đẹp của tác phẩm Nhân vật người phụ nữ không tên tuổi kia là vợ anh cu Tràng Thân phận người vợ nhặt nhưng chị không bị xem thường, khinh mạt, ngược lại chị được đón nhận trong vòng tay yêu thương của những con người cùng khổ Chị đã đem lại âm thanh, sắc màu, hơi ấm cho ngôi nhà vẹo

vọ, hoang vắng, giá lạnh của hai mẹ con Tràng Hình ảnh của chị đã đem lại một ý nghĩa: Bên bờ vực của đói khát và chết chóc, con người chỉ có thể vươn lên, vượt qua khi được sống trong tình yêu thương của đồng loại Chỉ

có tình yêu thương mới đem lại hạnh phúc cho con người

 Nhân vật giúp tạo nên mối liên hệ giữa các sự việc trong tác phẩm khiến cho cốt truyện, kết cấu trở nên chặt chẽ, thống nhất và hoàn chỉnh Nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng nhất không thể thiếu trong mỗi tác phẩm cũng bởi vậy mà nhân vật sẽ là chìa khóa khám phá mọi cánh cửa trong tác phẩm của bạn đọc Nhân vật sẽ là một trục đường thẳng xuyên suốt từ đầu tới cuối tác phẩm còn các chi tiết, sự kiện sẽ là những gì quấn quanh vào con

đường đó Trong Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, từ đầu đến cuối là cuộc

đời, số phận, những ngã rẽ trong đường đời của nhân vật Chí Phèo: được bác

đi thả ống lươn nhặt được bên cái lò gạch cũ bỏ hoang sau đó mang về cho

bà góa mù nuôi, lớn lên thì đi ở cho nhà Lí Kiến, Bá Kiến, bị bà ba gọi lên bóp chân rồi lên nữa, Chí bị Bá kiến đánh ghen đẩy vào tù bảy, tám năm Sau

đó ra tù thì Chí trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, tay sai đắc lực cho Bá Kiến, Chí gặp Thị Nở muốn tìm hạnh phúc lứa đôi với Thị nhưng bị cự tuyệt,

Chí đến nhà Bá Kiến đâm chết hắn rồi cũng tự tử Tác phẩm Vợ chồng A

Phủ của Tô Hoài thì các tình tiết, sự việc cũng xoay quanh nhân vật chính là

Mị: Mị là người con gái của vợ chồng người nông dân hiền lành, lớn lên bị cướp về nhà thống lí Pá Tra để gạt nợ của bố mẹ Cuộc đời cô trở nên nhạt nhẽo, buồn tẻ, cơ cực từ đây Mị muốn ăn lá ngón tự tử nhưng không thành Những đêm tình mùa xuân cô như sống lại làm người và cũng muốn được đi chơi nhưng bị A Sử đánh và trói vào cột nhà A Sử bị đánh, rồi A Phủ bị bắt

Trang 19

trở thành nô lệ không khác gì Mị Vì làm mất con bò nên A Phủ bị đánh và trói vào giống Mị trước Trước sự việc đó, Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, hai người chạy sang Phiềng Sa nên vợ nên chồng… Như vậy, Chí Phèo và Mị chính là hai nhân vật chính trong hai câu chuyện trên Từ đầu đến cuối tác phẩm xoay quanh nhân vật chính vì vậy các sự việc, tình tiết, sự kiện trong chuyện có sự liên kết và thống nhất cho cốt truyện cũng như chủ đề, tư tưởng của thiên truyện.

1.1.3 Các loại nhân vật trong tác phẩm văn học

Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng Các nhân vật làm nên tên tuổi của nhà văn thường là những nhân vật có sự sáng tạo độc đáo, không lặp lại Tuy nhiên xét về mặt nội dung, cấu trúc, chức năng thì có thể thấy nhiều hiện tượng nhân vật văn học lăp lại, tạo thành các loại nhân vật Có thể dự vào các tiêu chí khác nhau mà phân chia thành các kiểu nhân vật khác nhau Trong khuôn khổ không cho phép của khóa luận, dưới đây chúng tôi xin đưa ra một số phương diện

cơ bản để phân chia nhân vật văn học

 Ở phương diện kết cấu của tác phẩm văn học thì nhân vật được phân chia ra làm: nhân vật trung tâm, nhân vật chính, nhân vật phụ

Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện Đó là con người liên quan đến các

sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài truyện của mình

Nhân vật chính trong Truyện Kiều là Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng Nhân

vật Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh… là những nhân vật chính trong

Lục Vân Tiên của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu Nhân vật Gregori Melekhov, Aksinia, Natalia là những nhân vật chính trong Sông đông êm đềm của nhà văn

nổi tiếng Nga Sôlôkhôp

Nhân vật trung tâm trong tác phẩm trước hết là nhân vật chính, tuy nhiên nhân vật trung tâm là nhân vật chính xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm về mặt ý nghĩa Đó là nơi quy tụ các đầu mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm Nhân vật trung tâm không chỉ tham gia xung đột truyện mà còn tham gia vào việc tổ chức, kết nối các xung đột, liên kết các nhân vật trong tác

Trang 20

phẩm Chẳng hạn như nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam, nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, nhân vật Lão

Hạc trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao Nhưng cũng có khi nhân vật trung tâm là nhân vật được nói đến chứ không phải là nhân vật chính trong tác phẩm

như nhân vật Hoàng Thượng trong Vi hành của Nguyễn Ái Quốc.

Nhân vật phụ là nhân vật giữ vị trí thứ yếu so với nhân vật chính trong diễn biến của cốt truyện, trong quá trình triển khai đề tài, thể hiện tư tưởng và chủ đề của tác phẩm Có nhiều loại nhân vật phụ Có loại nhân vật phụ ở bình diện thứ hai sau

nhân vật chính như Thúy Vân, Vương Quan, Kim Trọng trong Truyện Kiều

Những nhân vật này tuy không được khắc họa đầy đặn như nhân vật chính nhưng lại được tác giả miêu tả đậm nét, có cuộc đời, tính cách riêng Có những nhân vật phụ ở hạng thứ ba, chỉ thấp thoáng trong các tình tiết của tác phẩm như “mụ quản gia” hay “thằng bán tơ” trong tác phẩm

 Xét trên phương diện cấu trúc của hành động, nhân vật văn học được chia ra làm bốn loại: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách và nhân vật tư tưởng

Nhân vật chức năng là nhân vật thường xuất hiện trong tác phẩm để thực hiện chức năng cố định nào đó, nhân vật này không có đời sống tình cảm riêng tư, nội tâm và bản chất của nhân vật cố định từ đầu đến cuối tác phẩm như: nhân vật bụt, tiên xuất hiện để giúp đỡ con người Nhân vật ma, quỷ xuất hiện để cản trở cuộc sống của con người Nhân vật hề xuất hiện để mua cười, gây vui cho con người

Nhân vật loại hình: là nhân vật tập trung cao độ đặc điểm, bản chất của một loại người nhất định nào đó trong xã hội Như nhân vật Acpagong: thói keo kẹt, hà tiện, đề cao tiền bạc Nhân vật Sở Khanh đại diện cho một loại người: lừa bịp, tráo trợn… Trong nhân vật loại hình yếu tố loại được đề cao:

Loại keo kẹt: Acpagong, phú ông – Đến chết vẫn hà tiện

Loại lười biếng: nhân vật trong truyện Há miệng chờ sung

Loại khoác lác: con rắn vuông

Loại khoe khoang: nhân vật trong Lợn cưới áo mới

Trang 21

Nhân vật tính cách: là loại nhân vật có cá tính nổi bật trong đó tính cách của nhân vật có những biến động, đổi thay chứ không thuần nhất một chiều, bản thân tính cách của nhân vật đã chất chứa những mâu thuẫn nội tại chứa các thái cực đối

lập Nhân vật Đào trong Mùa lạc của Nguyễn Khải, nhân vật người đàn bà trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là những nhân vật như thế.

Nhân vật tư tưởng: là nhân vật được nhà văn xây dựng để thể hiện hệ ý thức

tư tưởng nào đó của tác giả như nhân vật Đường Tăng Tạ thể hiện tư tưởng của Ngô Thừa Ân: tư tưởng từ bi, bác ái trong đạo Phật Nhân vật Tôn Ngộ Không kết tinh

tư tưởng tự do, công lí của nhà văn

 Xét trên phương diện thể loại, văn học được chia làm ba loại thể chính đó là:

tự sự, trữ tình, kịch tương ứng với nó sẽ có ba kiểu nhân vật theo thể loại văn học: nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật thơ trữ tình

Nhân vật tự sự là những nhân vật ở trong các tác phẩm tự sự như: Huấn Cao,

viên quản ngục, thầy thơ lại trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân Nhân vật Tnú, cụ Mết, Mai, anh Quyết, thằng Dục… trong Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung Thành Nhân vật chú Năm, Chiến, Việt trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

Nhân vật thơ trữ tình là những nhân vật có mặt trong các bài thơ trữ tình như:

nhân vật “tôi” trong Vội vàng của Xuân diệu, nhân vật “ta – mình” trong Việt Bắc của Tố Hữu, nhân vật “tôi” trong thi phẩm Tôi yêu em của đại thi hào Puskin, …

Nhân vật kịch là những nhân vật xuất hiện trong các vở kịch như: nhân vật

Hăm lét, Cô-lô-đi-út, Pô-lô-đi-út, Ô-phê-li-a… trong tác phẩm kịch Hăm lét của

Sếch-xpia Nhân vật Trương Ba, vợ Trương Ba, anh hàng thịt trong vở kịch nổi

tiếng Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

Việc phân chia nhân vật trên các khía cạnh đó cũng chỉ mang tính chất tương đối, bởi không phải lúc nào cũng có ranh giới rạch ròi Đặc biệt càng về sau, nhất là văn học hiện đại khi thể hiện con người đa dạng, đa chiều và sinh động hơn ranh giới đó càng bị thu hẹp và có lúc không thể xác định được Dù thế nào thì nhân vật luôn có khả năng phản ánh và tác động đến đời sống, khả năng lôi cuốn, hấp dẫn người đọc và đây chính là điều quan trọng nhất

Trang 22

1.2 Nhân vật trữ tình trong thơ

Như đã nói ở trên, một tác phẩm văn học sẽ không thể tồn tại nếu thiếu đi hạt nhân là nhân vật Nó là một yếu tố quan trọng cốt lõi để duy trì sự sống cho tác phẩm văn học Cũng giống như thế, đối với một tác phẩm thơ trữ tình, nhân vật trữ tình là nòng cốt, là trung tâm của tác phẩm trữ tình

1.2.1 Khái niệm

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Nhân vật trữ tình là hình tượng nhà thơ

trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức của tác giả Nhân vật trữ tình là con

(một chùm thơ, toàn bộ trường ca hay toàn bộ sáng tác thơ) như một con người có đường nét hay một vai sống động có số phận cá nhân xác định hay có thế giới nội tâm cụ thể, đôi khi có cả nét vẽ chân dung 9 mặc dù không bao giờ đạt tới đặc điểm cuả một nhân vật như trong tác phẩm tự sự hay kịch” [4, 234].

Hiện có những tranh cãi về khái niệm nhân vật trữ tình Thông thường, người

ta xem nhân vật trữ tình là hình tượng khái quát như một tính cách văn học được xây dựng trên cơ sở lấy các sự thật của tiểu sử tác giả làm nguyên mẫu Đó là một

“cái tôi” đã được sáng tạo ra Ý kiến khác nhấn mạnh rằng cùng với hình tượng ấy, nhà thơ cũng thổ lộ tình cảm thật chân thành của mình trong những tình huống trữ tình, và người đọc không lầm khi tin những tình cảm ấy là thật Tuy vậy, không được đồng nhất giản đơn nhân vật trữ tình với tác giả, bởi trong thơ trữ tình nhà thơ

xuất hiện như “người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” ( Bê- lin- xki), nhà

thơ đã tự nâng mình lên trên đời thường cá biệt

Nhân vật trữ tình là chủ thể của phát ngôn Nhân vật trữ tình là người được tái hiện phần tinh thần, là một bản tự thuật về tâm hồn với những trạng thái nhân sinh: buồn, vui, yêu, ghét… Trong thơ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình sẽ chi phối giọng điệu chung của toàn bộ bài thơ Và trong một bài thơ trữ tình thường chỉ có một nhân vật trữ tình Tuy nhiên với những bài thơ có kết cấu đối đáp thì sẽ

có hai nhân vật trữ tình

Nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình là hai khái niệm tuy khác nhau nhưng lại rất dễ nhầm lẫn Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ

Trang 23

suy tư, cảm xúc Đó có thể là con người nhưng cũng có thể không phải là người như: một hiện tượng tự nhiên, cành cây, nhành cỏ, bông hoa, tiếng chim hót Trong thơ Tố Hữu ta bắt gặp những hình ảnh bà Bầm, bà Bủ, mẹ Suốt Trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận ngoài việc miêu tả cảnh thiên nhiên sông nước thì bên cạnh đó là dòng tâm trạng cô đơn, buồn chán, lẻ loi của nhân vật trữ tình

1.2.2 Đặc điểm của nhân vật trữ tình trong thơ

Bất kì một nhân vật trong thể loại văn học nào cũng có những đặc điểm nhận biết riêng và nhân vật trữ tình trong thơ cũng không nằm ngoài điều đó

Theo Trần Đình Sử trong cuốn Lí luận văn học tập 2 – Tác phẩm và thể loại

văn học: “Nhân vật trữ tình trong thơ là nhân vật không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự hay nhân vật kịch Nhưng nhân vật trữ tình lại được hện lên cụ thể trong giọng điệu, cảm nghĩ, trong cách cảm, cách nghĩ.” [19, 271] Hay nói cách khác chính là thế giới nội tâm bên trong Nếu nhân

vật trữ tình trong thơ được miêu tả diện mạo, ngoại hình thì cũng chỉ nhằm làm nổi bật tình cảm, cảm xúc của nhân vật Các hành động nếu có thì cũng chỉ nhằm gợi

cảm xúc chứ không nhằm tạo ra xung đột Trong Từ ấy – Tố Hữu: nhân vật trữ tình

ở đây không hề có diện mạo, hành động, lời nói cụ thể nào mà chỉ được hiện lên thông qua giọng điệu vui mừng, phấn khởi khi đến với lí tưởng với cách mạng:

Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim

 Nhân vật trữ tình là một hiện tượng mang ý nghĩa khái quát Cảm xúc của nhân vật trữ tình tuy là cá nhân nhưng bao giờ cũng gắn với tình cảm chung

có ý nghĩa khái quát Như trong ca dao, dân ca có những bài ca than thân mở đầu bằng mô típ “Thân em” có khả năng ẩn chứa cảm xúc chung cho số phận người phụ nữ trong xã hội xưa:

Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm tử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

Ban đầu bài thơ là tiếng lòng của một cô gái trong xã hội phong kiến ý thức

Trang 24

về phẩm hạnh, danh dự của bản thân nhưng bị trà đạp, tước đoạt quyền tự quyết định hạnh phúc Sau đó, những cô gái khác rơi vào hoàn cảnh tương tự thấy câu hát

ấy giống với số phận của mình thì lại cất lên câu hát than thân về cuộc đời mình Và

cứ như thế, bài ca dao trên đã trở thành tiếng hát chung của các thế hệ cô gái trong

xã hội cũ

Nhân vật kịch thường nổi bật về tính cách và thường được chia thành nhiều tuyến nhân vật Một nhân vật kịch thường mang ít đặc tính thẩm mĩ nhưng lại là những đặc tính nổi bật Một vở kịch muốn hay, muốn thể hiện rõ xung đột kịch thì nhân vật kịch phải có tính cách nổi bật (hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc anh hùng, hoặc đê hèn ) và một vở kịch thường chia nhân vật ra thành các tuyến Mâu thuẫn xung đột kịch cũng chính là mâu thuẫn, xung đột của các tuyến nhân vật này

Trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi ngoài việc đó là cảm xúc cá nhân của

riêng nhà thơ thì đó còn là cảm xúc, nỗi lòng của toàn thể nhân dân đất Việt:

Sáng mát trong như sáng năm xưa Gió thổi mùa thu hương cốm mới Người ra đi đầu không ngoảnh lại Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.

 Nhân vật trữ tình là hiện thân, là con người “đồng dạng” của tác giả Tuy nhiên cũng có khi nhà thơ hóa thân vào một nhân vật, con người khác để nói

hộ tâm trạng, nỗi niềm của họ, tạo thành kiểu nhân vật trữ tình nhập vai Trong trường hợp này không nên đồng nhất nhân vật trữ tình và tác giả

Trong bài thơ Bầm ơi của Tố Hữu thì nhân vật trữ tình không phải là chính

tác giả mà là kiểu nhân vật trữ tình “ nhập vai” cụ thể ở đây là anh bộ đội Trong

Chân quê – Nguyễn Bính, nhân vật ít nhiều gắn bó với chuyện cá nhân của nhà

thơ nhưng lại không hoàn toàn đồng nhất với nhau vì nhà thơ là một con người thuộc phạm trù xã hội còn nhân vật trữ tình trong bài thơ lại thuộc về phạm trù nghệ thuật, nó chịu sự chi phối của quy luật sáng tạo Nó đã được lí tưởng hóa, nhào nặn để phù hợp với cảm xúc, tâm trạng của bài thơ Chính vì thế mà đây chính là sự khác biệt lớn giữa nhà thơ và nhân vật trữ tình

 Nhân vật trữ tình là nhân vật mang nhiều cảm xúc vào thời điểm xuất hiện

Trang 25

Nó có nhu cầu tâm sự, giãi bày Do thể loại trữ tình là thể loại bộc lộ cảm xúc, mỗi tác phẩm đều thể hiện một hoặc nhiều tâm sự nào đó Cũng bởi thế nhân vật của chủ thể loại này chính là chủ thể trữ tình thể hiện cảm xúc đó

Nhân vật trữ tình trong Chân quê mang tâm trạng khổ tâm, day dứt, lo lắng,

bất an trước sự thay đổi đột ngột của cô gái nhân vật trữ tình đã thể hiện thái

độ van lơn: “ Xin em em hãy giữ nguyên quê mùa”.

Còn nhân vật kịch là nhân vật hành động, qua hành động nhân vật bộc lộ tính cách của mình Do đặc điểm của thể loại kịch là một chuỗi các xung đột, xung đột được phát triển qua các giai đoạn cho nên nhân vật kịch phải hành động, hành động không ngừng để diễn tả những xung đột ấy Tính cách của nhân vật được hiểu dần qua trang phục, ngôn ngữ, cử chỉ và đặc biệt là chuỗi các hành động theo diễn biến của vở kịch Nhân vật kịch không thể chỉ đứng để kể về tính cách và diễn biến kịch

mà tất cả đều thông qua hành động Trong tác phẩm kịch Trưởng giả học làm sang, nhân vật trưởng giả qua chuỗi hành động của mình dần bộc lộ ra là một người

ngu ngốc, dốt nát, học đòi, đáng trê trách

Nhân vật trữ tình và tác giả có mối quan hệ khăng khít Dù ở vị trí là nhân vật trữ tình nhập vai hay trực tiếp thì nhân vật trữ tình luôn là một phương tiện đắc lực để truyền tải tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, quan điểm của tác giả đến bạn đọc qua những vần thơ Nhờ nhân vật trữ tình mà bạn đọc có thể biết được đôi nét về quê hương, cuộc đời, tuổi thơ của tác giả Đó cũng là những căn cứ để bạn đọc có thể hiểu đúng, hiểu sâu sắc một tác phẩm thơ hơn Từ đó định ra được giá trị của bài thơ cũng như tài năng của nhà thơ Đây cũng là một cách để người nghệ sĩ tự khẳng định tên tuổi và vị trí của mình trên thi đàn dân tộc

 Tiểu kết:

Tóm lại, trong giới hạn của chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày những nội dung cơ bản và khái quát nhất về nhân vật văn học và nhân vật trữ tình trong thơ Những khái niệm về nhân vật văn học và nhân vật trữ tình trong thơ chính là cơ sở để nghiên cứu, khám phá hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh Điều này chúng tôi xin được trình bày rõ hơn ở chương sau

Trang 26

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN VẬT

TRỮ TÌNH TRONG TẬP THƠ TỰ HÁT - XUÂN QUỲNH

Như đã nói ở trên, một tác phẩm văn học sẽ không thể tồn tại nếu thiếu sự có mặt của nhân vật Và tác phẩm thơ trữ tình cũng không ngoại lệ Dù là xuất hiện trực tiếp hay ẩn mình đi thì nhân vật trữ tình vẫn có những đặc điểm và vai trò quan trọng góp phần hình thành và khẳng định giá trị về mặt tư tưởng và nghệ thuật của một tác phẩm thơ trữ tình Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày những phương diện cơ bản, nổi bật nhất về đặc điểm cũng như vai trò của nhân vật trữ tình trong tập thơ

Tự hát của nữ nhà thơ Xuân Quỳnh.

2.1 Vấn đề “vai giao tiếp” của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân

Quỳnh

Khi đề cập đến vấn đề vai giao tiếp là nói đến văn học là phương tiện giao tiếp giữa người với người Nhân vật trữ tình trong thơ – với tư cách là chủ thể phát ngôn xuất hiện với vai gì thì sẽ tạo thành vai giao tiếp của nhân vật Lúc đó, nhân vật trữ tình sẽ giao tiếp với thế giới, với người đọc và với chính mình

Trong quá trình khảo sát tập thơ Tự hát của nữ sĩ Xuân Quỳnh, chúng tôi đã

nhận thấy nhân vật trữ tình trong tập thơ xuất hiện với rất nhiều vai nhưng tập trung chủ yếu là vai người vợ, người mẹ và hầu hết nhân vật trữ tình trong tập thơ này là nhân vật trữ tình trực tiếp – là hiện thân của chính tác giả

Năm 1973, Xuân Quỳnh đã tìm thấy hạnh phúc thực sự của mình bên chàng

Vũ Với chị, điều đó như một sự hồi sinh, chị đã tìm được một tâm hồn đồng điệu, một cung đàn để nâng tiếng hát bay cao, bay xa Cuộc sống mới với biết bao thiếu thốn, khó khăn bởi những bộn bề lo toan cơm áo gạo tiền cùng sự e ngại của gia đình, bè bạn Cũng có nhiều khi không thể tránh được những lúc giận dỗi, trách móc, bất hòa nhưng với một tình yêu của một trái tim chân thành, họ đều vượt qua thử thách để có một mái nhà yên ấm, hạnh phúc:

Trong tay anh, tay của em đây Biết lặng lẽ vun trồng gìn giữ

Trang 27

Trời mưa lạnh tay em khép cửa

Em phơi mền, vá áo cho anh

( Bàn tay em)

Trong vai người vợ, nhân vật trữ tình bộc lộ rõ nét tình yêu qua những hành động, cử chỉ nhỏ bé: vun trồng, gìn giữ, khép cửa, phơi mền, vá áo cho người mình yêu thương Những việc làm đó tuy giản dị, bình thường nhưng nó lại thể hiện

sự chăm chút, chu đáo, một tình yêu thật lớn lao Nó hiện lên hình ảnh của một người vợ tảo tần, chịu thương chịu khó hết lòng vì người chồng, vì hạnh phúc gia

đình Mẹ Vũ – bà Vũ Thị Khánh viết trong Xuân Quỳnh – người vợ, người mẹ đã

khẳng định: “Tình yêu và sự chăm sóc chu đáo Quỳnh giúp cho Vũ rất nhiều trong

đời sống và trong công việc Tôi vẫn nói với nhà tôi là Vũ viết được nhiều, được tốt như thế tất nhiên phải do tài năng, nhưng nói chung phải nhờ tình yêu thương và tài đảm đang của Xuân Quỳnh đã có mặt trong đời của Vũ vào những năm gian nan, lận đận nhất Những năm đó, không phải chỉ đơn thuần là kiếm kế sinh nhai mà còn

là xác định hướng đi trong cuộc đời, lấy lại niềm tin vào bản thân mình” [12, 287].

Trong vai của một người vợ, nhân vật trữ tình cũng biết quan tâm, sẻ chia, thậm chí hi sinh là những phẩm chất tốt đẹp luôn hiển hiện trong trái tim người phụ nữ:

Khi anh ngủ em muốn thành bài hát Hát ru lời của mẹ ngày xưa

Làm hạt bụi dưới chân anh bước Làm mái nhà che những cơn mưa

( Thương về ngày trước)

Người phụ nữ đó luôn luôn làm tròn trách nhiệm của một người vợ hiền Hình ảnh đó trong chị hiện lên với những vẻ đẹp truyền thống và hiện đại, giản dị như những phẩm hạnh đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam Tấm lòng và tình yêu của chị dành cho người chồng đã được Vũ ca ngợi, biết ơn và càng thêm trân trọng tình yêu đó Cũng giống như bao người phụ nữ khác, trong vai trò của một người

mẹ, nhân vật trữ tình cũng đã thể hiện vô cùng xúc động Chị có rất nhiều bài thơ hay, cảm động về tình mẫu tử Chị yêu thương con bằng tấm lòng của một người

mẹ, một người phụ nữ đã sống, đã trải, đặc biệt là trong hoàn cảnh của khói lửa

Trang 28

chiến tranh, phải giữ gìn, nuôi dưỡng con thơ giữa hiểm nguy, loạn lạc:

Ngủ đi nào ngủ à ơi

Đây dòng sữa chát những mùi đạn bay

( Bài ru em bé trên đường chạy giặc)

Là một người mẹ, chị cũng có những ao ước lạ lùng và hết sức đẹp đẽ:

Nếu giấc mơ là ngôi nhà cửa mở Thì mẹ sẽ vào che chở cho con

( Dải đất thuộc về tôi)

Chị là một người mẹ hết lòng vì con, yêu thương con vô điều kiện, luôn dành tất cả cho con Đặc biệt trong cương vị là một dì ghẻ nhưng chị vẫn được các con

yêu thương, kính trọng và chúng tự nguyện gọi là mẹ Trong Chùm thơ xuân tặng

ba con nhỏ - PSG TS Lưu Khánh Thơ đã nhận định: “Chùm thơ này đã nâng bản

năng làm mẹ lên thành nghệ thuật làm mẹ” [Tạp chí văn học và tuổi trẻ số 4

(2012), Nxb Giáo dục Việt Nam – Bộ Giáo dục và đào tạo, tr 3]

Trong vai của người vợ, người mẹ, nhân vật trữ tình đã thể hiện trực tiếp, gián tiếp nỗi lòng, tình cảm của mình đối với những người thân yêu Việc lựa chọn vai giao tiếp của nhân vật trữ tình như trên là rất hợp lí bởi nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Quỳnh thường là người phụ nữ hay chính là hóa thân của tác giả Điều này đã giúp chị lựa chọn điểm nhìn và giọng điệu phù hợp nhất cho mục đích của mình đồng thời mang lại hiệu quả cao cho sự diễn đạt

2.2 Điểm nhìn và giọng điệu của nhân vật trữ tình trong tập thơ Tự hát - Xuân

Quỳnh

2.2.1 Điểm nhìn của nhân vật trữ tình

Điểm nhìn trần thuật của nhân vật là một trong những yếu tố thuộc phương

diện nghệ thuật của một tác phẩm văn học Điểm nhìn là “vị trí người kể dựa vào để

quan sát, cảm nhận, trần thuật đánh giá các nhân vật và sự kiện” [19, 104] Điểm

nhìn sẽ góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm cũng như tên tuổi của người nghệ sĩ Vì vậy, việc tìm hiểu điểm nhìn thực chất là tìm hiểu một kiểu số phận, một phương thức tiếp cận của nhà văn đối với hiện thực cuộc sống

Trong cuốn Lí luận văn học tập 2 của tác giả Trần Đình Sử (chủ biên) ông

Trang 29

chia ra nhiều loại điểm nhìn: điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong, điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian Đối sánh lí thuyết đó cùng với việc khảo sát tập

thơ Tự hát của Xuân Quỳnh, chúng tôi nhận thấy trong tập thơ này tác giả đã sử

dụng nhiều điểm nhìn nhưng chủ yếu là ba điểm nhìn cơ bản: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn thời gian và điểm nhìn không gian

Xuất phát từ đặc điểm của thơ trữ tình là bộc lộ thế giới cảm xúc, nội tâm của con người, Xuân Quỳnh đã thật hợp lí khi lựa chọn điểm nhìn bên trong là điểm nhìn chủ đạo cho tập thơ tình hay nhất của mình:

Một ngày đường từ miền đất trung du Tôi chỉ gặp bụi bay và nắng gắt Sang thu rồi gió vẫn nồng da mặt Tiếng ve nào còn sót trong lùm cây

( Hoa dại núi Hoàng Liên)

Với điểm nhìn bên trong, nhân vật trữ tình trong bài thơ đã sử dụng cách xưng hô ngôi thứ nhất “tôi” Tuy nhiên, ngôi thứ nhất cũng có thể chấp nhận khi nhân vật xưng “em”:

Em từ nhà đi tới ngã tư Gặp đèn đỏ trước hàng đinh thứ nhất Chờ sang đường – đèn xanh vừa bật

Em lại quay về Thành phố mùa đông.

( Trời trở rét)

Việc sử dụng điểm nhìn bên trong cùng với cách xưng hô “tôi”, “em” giúp cho nhân vật trữ tình có thể bộc lộ trực tiếp, chân thực thế giới tâm hồn của chính mình, để cho câu chuyện mà Xuân Quỳnh kể trở nên gần gũi hơn, kết quả chân thực hơn và có sức thuyết phục hơn Cũng bởi vậy mà nó dễ đi vào lòng người hơn Với điểm nhìn bên trong này, nữ sĩ Xuân Quỳnh có thể nhìn thấy cuộc đời và con người

ở những góc độ khác nhau, lúc đứng gần, trực tiếp tham gia vào câu chuyện nhưng

có lúc lại đứng ngoài, đứng xa quan sát với tư cách như một người kể chuyện, lúc đối thoại trực tiếp với nhân vật trữ tình, lúc lại đối thoại nội tâm, lúc hỏi, lúc bàn luận

Trang 30

Ngoài ra, Xuân Quỳnh còn sử dụng điểm nhìn thời gian trong tập thơ với hai loại điểm nhìn thời gian đó là điểm nhìn thời gian đời tư, chiêm nghiệm và điểm nhìn thời gian dự cảm.

Điểm nhìn thời gian đời tư, chiêm nghiệm là điểm nhìn thời gian hồi tưởng, hoài niệm, suy ngẫm về những điều đã qua trong quá khứ của nhân vật trữ tình Xuân Quỳnh với một trái tim đa sầu đa cảm, nhiều suy tư, trăn trở mà đôi khi chính bản thân chị cũng không thể tìm được trả lời Những hoài niệm dù đã qua nhưng vẫn hiện hữu đâu đó trong tâm trí, đó có thể là niềm vui cũng có thể là nỗi buồn mà bất chợt một lúc nào đó con người ta lại nhớ về Trong dòng hồi ức đó, Xuân Quỳnh chợt nhớ về một thời trăng tròn mười sáu nhiều mơ mộng, hồn nhiên:

Ngày ấy nào anh đã có em đâu!

Tuổi mười sáu ghi nhiều nhật kí Những làng phố, những tình yêu trẻ

Có dòng nào trong đó nhắc tên em?

( Thương về ngày trước)

Tuổi mười sáu với biết bao những mơ ước, những vô tư trong sáng của Xuân Quỳnh đã trôi đi vớ khá nhiều biến động “Ngày ấy”, ngày mà anh và em đều độ tuổi mười sáu – độ tuổi đẹp nhất của tuổi trẻ, em không hề biết nơi nào đó có anh và cũng như em, anh cũng không hề biết sự hiện hữu của em trên cõi đời này Tuy

“ngày ấy” và hiện tại là một khoảng cách rất xa nhưng nó vẫn chợt hiện về với những kỉ niệm đẹp như nó vừa diễn ra hôm qua Thời gian của sự hồi tưởng là không giới hạn và cũng không thể phân biệt được tính chất của những chuyện trong dòng hồi tưởng đó Và khi đang dạo bước trên con phố quen thuộc thì nhân vật trữ tình lại nhớ về kí ức phố huyện của “ngày xưa” :

Đến phố huyện lại nhớ về phố huyện Phố huyện nào anh ở ngày xưa Phố huyện nào anh ở những chiều mưa Tiếng vó ngựa về đâu rồi phố huyện

( Phố huyện)

Hình ảnh “phố huyện” của “ngày xưa” cũng đã để lại những kí ức đẹp nhất

Trang 31

trong lòng của nhân vật trữ tình Bởi vậy mà khi đi xa hay ở ngay trên con phố đó nhưng nhộn nhịp và sầm uất hơn mà lòng người vẫn xốn sang, bồi hồi nhớ về ngày trước Nơi đó, đã từng là nơi có anh, có những chiều mưa lạnh, có tiếng vó ngựa vọng vang

Với điểm nhìn thời gian đời tư, chiêm nghiệm, nhân vật trữ tình có thể suy nghĩ về tất cả mọi thời điểm đã qua trong cuộc đời cùng những kỉ niệm, kí ức đã hằn sâu trong tiềm thức mà thời gian lúc này chỉ khắc sâu thêm sự hoài niệm mênh mông Cũng điểm nhìn thời gian này, văn chương cho phép con người hồi tưởng tối

đa tất cả những gì xảy ra trong quá khứ với những xúc cảm đậm tính cá nhân

Điểm nhìn thời gian dự cảm là điểm nhìn thời gian mà trong tâm thức của con người luôn tồn tại sự dự cảm, phán đoán về một điều gì đó trong tương lai hoàn toàn mang tính chất chủ quan Đây cũng là điểm nhìn có thể phản ánh khá chân thực những rung cảm tinh tế trong tâm hồn của nhân vật trữ tình, về khả năng dự cảm những điều không hiện hữu ở hiện tại và cũng chưa từng xảy ra trong quá khứ Trong Xuân Quỳnh, những dự cảm về sự chia li, tan vỡ luôn luôn thường trực:

Ngày mai tôi xa rồi Biết bao giờ trở lại

Ôi thành phố tôi yêu Giữa một trời nắng dải

( Gửi lại thành phố nắng)

Khi bước chân xa “thành phố tôi yêu”, lòng người không khỏi dâng lên một nỗi buồn li biệt về sự trôi chảy của thời gian, sự cách trở địa lí mà không “biết bao

giờ trở lại” “Ngày mai” sẽ cuốn tôi vào cuộc đời khác và “thành phố nắng” mãi là

nơi lưu giữ những kỉ niệm đẹp trong cuộc đời tôi Cũng thời điểm “ngày mai” trong

bài thơ Nếu ngày mai em không làm thơ nữa, Xuân Quỳnh đã để nhân vật trữ tình

của mình thể hiện rất rõ nỗi dự cảm về một bước ngoặt của cuộc đời:

Ôi trời xanh – xin trả lại vô tận Trời không xanh trong đáy mắt em xanh

Và trong anh không thể còn anh Nếu ngày mai em không làm thơ nữa

Ngày đăng: 30/08/2018, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Duy Anh (Chủ biên) (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí
Tác giả: Tạ Duy Anh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2000
2. Lại Nguyên Ân (1997), “Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình” – Tác phẩm và dư luận, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm giọng mới thích hợp với người thời mình” – "Tác phẩm và dư luận
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
3. Ngân Hà (2001), Nữ sĩ Xuân Quỳnh - cuộc đời kể lại, Nxb văn hóc thông tin 4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2013 – táibản), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sĩ Xuân Quỳnh - cuộc đời kể lại", Nxb văn hóc thông tin4. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2013 – tái bản), "Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Ngân Hà
Nhà XB: Nxb văn hóc thông tin4. Lê Bá Hán
Năm: 2001
5. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Chủ biên) (2004), Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học bộ mới
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
6. Vân Long (2001), Xuân Quỳnh – Thơ và đời, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh – Thơ và đời
Tác giả: Vân Long
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 2001
7. Nhóm tri thức Việt (2016), Xuân Quỳnh – Thơ và đời, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh – Thơ và đời
Tác giả: Nhóm tri thức Việt
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2016
8. Lã Minh Luận (Chủ biên) (2010), Ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn 10, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn 10
Tác giả: Lã Minh Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
9. Lã Minh Luận (Chủ biên) (2010), Ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn 11, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn 11
Tác giả: Lã Minh Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
10. Lã Minh Luận (Chủ biên) (2010), Ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn 12, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ôn tập, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn 12
Tác giả: Lã Minh Luận (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
11. Đông Mai (2008), Xuân Quỳnh – một nửa cuộc đời tôi, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh – một nửa cuộc đời tôi
Tác giả: Đông Mai
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2008
12. Thao Nguyễn (Tuyển chọn) (2013), Xuân Quỳnh – Sóng mãi mãi còn nổi sóng, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh – Sóng mãi mãi còn nổi sóng
Tác giả: Thao Nguyễn (Tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2013
16. Hoài Thanh – Hoài Chân (1998 – Tái bản), Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học
17. Lưu Khánh Thơ – Đông Mai (Tuyển chọn) (2000), Xuân Quỳnh – cuộc đời và tác phẩm, Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh – cuộc đời và tác phẩm
Tác giả: Lưu Khánh Thơ – Đông Mai (Tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2000
18. Thùy Trang (Sưu tầm và tuyển chọn) (2015 – Tái bản), Xuân Quỳnh – Tác phẩm và lời bình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh – Tác phẩm và lời bình
Nhà XB: Nxb Văn học
19. Trần Đình Sử (Chủ biên), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam (2011), Lí luận văn học, Tập 2, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học, Tập 2
Tác giả: Trần Đình Sử (Chủ biên), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2011
20. Vũ Kim Xuyến (Tuyển chọn và biên soạn) (2000), Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình
Tác giả: Vũ Kim Xuyến (Tuyển chọn và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w