1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát ngôn có vị từ trao nhận trong tiếng việt

93 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 756,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỰ HIỆN THỰC HÓA CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA VỊ TỪ TRAO NHẬN TRONG PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT .... Có thể kể đến đến một số nghiên cứu của: Trương Vĩnh Ký 1883, Lê Văn Lý xuất bản lần đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

THIỀU THU LINH

PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ TRAO NHẬN

TRONG TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

THIỀU THU LINH

PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ TRAO NHẬN

TRONG TIẾNG VIỆT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS ĐỖ THỊ HIÊN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài “Phát ngôn có vị từ trao nhận trong tiếng Việt” là

công trình nghiên cứu của riêng tôi Ngữ liệu khảo sát là hoàn toàn chính xác Những kết quả nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô cùng sâu sắc tới TS.Đỗ Thị Hiên, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này cùng các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Ngôn ngữ, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 cùng bạn bè và gia đình đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình học tâp và nghiên cứu Bước đầu đi vào thực tế nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để công trình được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 8

4 Đối tương, phạm vi nghiên cứu 8

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

6 Phương pháp nghiên cứu 9

7 Đóng góp khóa luận 9

8 Cấu trúc của khóa luận 9

NỘI DUNG 11

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 11

1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu 11

1.1.1 Bình diện kết học (ngữ pháp) 11

1.1.2 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa) 13

1.1.3 Bình diện dụng học 15

1.2 Câu và phát ngôn 18

1.3 Tiểu kết 19

Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ TRAO NHẬN VÀ PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ TRAO NHẬN TRONG TIẾNG VIỆT 20

2.1 Khái quát về vị từ trao nhận 20

2.1.1 Khái niệm 20

2.1.2 Đặc trưng 21

2.1.3 Phân loại 24

2.1.4 Các thủ pháp xác định diễn tố của vị từ trao nhận 25

2.2 Khái quát về phát ngôn có vị từ trao nhận 31

2.2.1 Khái niệm 31

Trang 6

2.2.2 Cấu trúc ngữ pháp 32

2.2.3 Cấu trúc ngữ nghĩa 35

2.3 Tiểu kết 36

Chương 3 SỰ HIỆN THỰC HÓA CẤU TRÚC NGỮ PHÁP VÀ NGỮ NGHĨA CỦA VỊ TỪ TRAO NHẬN TRONG PHÁT NGÔN TIẾNG VIỆT 37

3.1 Khả năng hiện diện của các thành tố 37

3.1.1 Khả năng hiện diện đầy đủ 38

3.1.2 Khả năng hiện diện không đầy đủ 38

3.2 Khả năng hiện thực hóa của các thành tố trong vài trò chức vụ cú pháp 40 3.2.1 Chu tố 40

3.2.2 Diễn tố 42

3.2.3 Vị từ trung tâm 45

3.3 Tiểu kết 48

KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUỒN NGỮ LIỆU

PHỤ LỤC

Trang 7

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhà ngôn ngữ học B.Whorf đã từng nói: “Thực chất của ngôn ngữ là tìm

hiểu nghĩa” [12, tr.7] Mà thực chất ngữ nghĩa của ngôn ngữ chính là mặt biểu hiện

của lời nói trong hiện thực giao tiếp Thật vậy, ngôn ngữ là một vấn đề thu hút được

sự chú ý của rất nhiều tác giả Đây là chủ đề khiến các nhà nghiên cứu mất rất nhiều thời gian để đi sâu tìm hiểu tính chất bên trong và bên ngoài của ngôn ngữ thế giới nói chung và ngôn ngữ Việt Nam nói riêng Nếu như trước đây, câu chỉ được nghiên cứu ở mặt cấu trúc ngữ pháp thì nay nó được tìm hiểu trên cả bình diện: ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ dụng Trong những năm gần đây thì việc nghiên cứu câu trên ba bình diện ngày càng được chú ý đầu tư Nắm bắt xu thế đó, công trình

nghiên cứu lần này chúng tôi đặc biệt chú ý đến vị từ trao nhận trong tiếng Việt xét

trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng

Phát ngôn chứa vị từ trao nhận xuất hiện khá nhiều trong đời sống Đã có vô vàn các cuộc tranh luận khác nhau về vị từ trao/nhận theo phương thức khác nhau ở những đối tượng khác nhau, từ những hoạt động đơn giản với những vật dụng bình thường đến những nghi thức trang trọng hay các phần thưởng cao quý Thực tế đó cho thấy vị từ trao/ nhận được phản ánh một cách sinh động trong ngôn ngữ qua hàng loạt các vị từ khác nhau mà trong nghiên cứu này chúng tôi gọi chung là nhóm

vị từ trao/ nhận

Vị từ trao nhận là vị từ vốn có cấu trúc phức tạp vì nó đòi hỏi ba diễn tố đi kèm (người trao, người nhận, vật trao hoặc nhận) Khi đi vào phát ngôn, làm trung tâm của phát ngôn sẽ tạo ra các phát ngôn có cấu trúc phức tạp đòi hỏi phân tích kĩ lưỡng Hơn nữa, việc nghiên cứu nhóm vị từ này rất nhiều điểm lí thú cả về cách thức tri nhận, mô tả sự tình lẫn đặc điểm tâm lý, văn hóa, xã hội của mỗi cộng đồng ngôn ngữ khi thực hiện hoặc diễn tả các cuộc trao/ nhận

Trên thực tế thì đây cũng là nhóm vị từ có số lượng lớn Nhóm vị từ trao nhận cũng có sự chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình giao tiếp Chức năng và vai trò của một vị từ trong cấu trúc vị từ – tham thể đã được đề cập khá nhiều mang tính

Trang 9

phổ quát cao nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu cụ thể về nhóm vị từ trao nhận một cách cụ thể và thấu đáo

Đồng thời, phát ngôn chứa vị từ trao nhận là vấn đề mà chưa có công trình

nghiên cứu chuyên sâu nào tiếp cận Chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu Phát

ngôn có vị từ trao nhận là một vấn đề cần được khai phá

Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu: Phát ngôn có vị từ trao

nhận trong tiếng Việt làm đề tài cho khóa luận này

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu của câu trên ba bình diện

Câu là một đơn vị cơ bản của ngôn ngữ Cách đây 2000 năm, Aristotle là người đi tiên phong với các công trình nghiên cứu từ thời cổ đại Trong những thập

kỉ cuối thế kỉ 20, ngôn ngữ học đã có chuyển biến rõ rệt với những cách nhận thức khác nhau Chuyên ngành này đã xem xét câu là kết quả của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ và câu đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa con người với nhau Do vậy, khác với ngôn ngữ truyền thống, ngôn ngữ học hiện đại đã nghiên cứu câu trên cả ba bình diện (ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng) Đây là khuynh hướng có đóng góp quan trọng với ngôn ngữ học hiện đại Đồng nhất với quan điểm

của Cao Xuân Hạo cho rằng “Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn từ trong đó có cả ba

bình diện đều được thể hiện” [4, tr.19)

2.2 Lịch sử nghiên cứu vị từ

Vị từ là một vấn đề quan trọng của ngôn ngôn ngữ học nói chung và ngữ pháp chức năng nói riêng Vị từ chiếm phần lớn trong cấu trúc và chức năng của câu nên được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu Vị từ là một thành tố gây được sự chú

ý cho các nhà ngôn ngữ trên thế giới cũng như Việt Nam Tuy nhiên, việc nhìn nhận

về vị từ lại tồn tại nhiều quan điểm khác nhau

Đại biểu phải nhắc tới đầu tiên là L.Tesnière với cuốn Eléments de syntax

structural (Các yếu tố của cấu trúc cú pháp) (1969) Theo ông, vị từ chính là cái

yếu tố trung tâm, cốt lõi của bắt buộc cần có của câu Xung quanh nó là các diễn tố làm bổ ngữ, có nhiệm vụ bổ sung ý nghĩa, làm sáng rõ nội dung mà người viết

Trang 10

muốn đạt tới, và quyết định mặt lượng cũng như mặt chất của câu Đồng thời nó

còn quy định đến cấu trúc cú pháp của câu Ông từng phát biểu “cấu trúc cú pháp

xoay quanh vị từ và các diễn tố làm bổ ngữ cho nó Chủ ngữ chẳng qua là một trong các bổ ngữ đó” [4, tr.81 – 82] Hơn nữa, chủ ngữ cũng được coi là một thành

phần nòng cốt trong câu Theo tác giả, xét cho cùng thì bổ ngữ cũng nằm trong

thành phần bổ sung ý nghĩa cho vị từ

Người kế tiếp L.Tesnière là C.J.Fillmore trong bài viết Tác dụng của cách

(1968), ông nhấn mạnh khi xem xét mối liên hệ giữa vị từ và tham tố, cho thấy

được một điều là vị từ là cốt lõi, là yếu tố trung tâm và các tham tố (tham thể) xoay

quanh sẽ thể hiện mặt nghĩa hay vai nghĩa trong hoàn cảnh cụ thể Theo ông, vị từ

và tham thể là cái biểu thị nội dung sự tình của câu Do vậy, C.J Fillmore cũng quan tâm đến vấn đề cấu trúc nghĩa của câu Trong đó các tham tố như ông trình bày gồm các vai nghĩa: tác thể, đối thể, thụ thể…đến các tác giả sau này đang không ngừng hoàn thiện các vai nghĩa do ông đề ra

Cuối cùng phải kể tới S.C.Dik là một nhà ngôn ngữ học đề cao trong cấu trúc

ngữ pháp, ngữ nghĩa của câu Theo ông, “các đơn vị có tính nội dung (đơn giản như

động từ, tính từ, danh từ) được xử lí theo những vị từ cở bản theo quy tắc của Bach (1986)” [24, Tr.29] Nhà nghiên cứu S.C.Dik cũng khẳng định vai trò của vị từ

trong cấu trúc câu (cấu trúc ngữ pháp và cấu trúc ngữ nghĩa) Cùng với hai tác giả trên, S.C.Dik cũng cho rằng vị từ là trung tâm còn chủ ngữ, bổ ngữ là các vai nghĩa được gán với tham tố của vị từ Từ đó, ông đưa đánh giá về vai trò của vị từ trong việc xác định thành phần câu, tức là lựa chọn CN và BN sẽ được mã hóa ở động từ dưới dạng thức khác nhau (chủ động – bị động) với những lựa chọn của hai thành phần này khác nhau đã được ấn định trước

Mô hình cấu trúc ngữ nghĩa của S.C.Dik đã đề ra gồm có kết cấu vị ngữ hạt nhân và vị ngữ mở rộng Kết cấu vị ngữ hạt nhân là trọng tâm, lại được chia thành

vị từ và các tham tố Kết cấu vị ngữ mở rộng lại tạo nên từ vị ngữ hạt nhân cộng thêm tham tố Ông đưa ra nhận xét: vị từ là yếu tố quyết định đến đặc điểm tham tố trong câu

Trang 11

Trên đây là những trình bày cơ bản về tình hình nghiên cứu vị từ trên thế giới, tại Việt Nam, phạm trù vị từ cũng được nghiên cứu từ rất sớm Có thể kể đến đến

một số nghiên cứu của: Trương Vĩnh Ký (1883), Lê Văn Lý (xuất bản lần đầu 1968),

Nguyễn Kim Thản (1977), Nguyễn Thị Quy (2002), Cao Xuân Hạo,…Quan điểm

của các nhà nghiên cứu được kết tụ thành hai khuynh hướng chính:(1) coi vị từ là một phạm trù từ loại và (2) coi vị từ là một phạm trù chức năng [20, tr.29]

Tiêu biểu cho khuynh hướng thứ nhất phải kể đến hai tác giả với công trình

Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam của Lê Văn Lý, chuyên luận Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản Các tác giả này đều cho rằng vị từ là một phạm trù từ loại

được tạo bởi động từ và tính từ Động từ và tính từ mang đặc điểm giống nhau và cần phải phân biệt với danh từ

Khuynh hướng thứ hai phải kể hai chuyên luận gần đây Kết trị của động từ

tiếng Việ của Nguyễn Văn Lộc Nhưng đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là

tác giả Cao Xuân Hạo, trong một bài viết của mình ông đã phê phán cách nhìn của Châu Âu với tiếng Việt Ông có sự phân biệt rõ ràng giữa khái niệm động từ và tính

từ để giúp cho những người Châu Âu có cách hiểu sâu sắc về ngôn ngữ dân tộc ta Theo ông, những đơn vị ngôn ngữ thường được gọi là tính từ và động từ xếp một

nhóm gọi là vị từ Tiếp đến, Nguyễn Thị Quy có ảnh hưởng sâu sắc từ nghiên cứu của người thầy Cao Xuân Hạo Theo Nguyễn Thị Quy tác giả cũng đồng tình với

quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước cho rằng vị từ đều là sự cụ thể hóa của

động từ và tính từ Như vậy, cả hai thầy trò Cao Xuân Hạo đều xem xét vị từ trên phương diện chức năng tự mình làm thành một vị ngữ và trung tâm ngữ pháp

Điểm qua một số công trình nghiên cứu trên, có thể nhận thấy vị từ có vai trò trên cả hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa Đặc biệt, kết hợp của nó thông qua các tiêu chí với mục đích rõ ràng Bằng chứng cho thấy, đến nay chưa có công trình nào phân tích, nghiên cứu sâu sắc theo hướng nghiên cứu này, điều quan trọng nó lại là

vị từ trao nhận Do vậy, đây là dấu hỏi cho sự hoàn thiện ở những công trình nghiên cứu sau này Đó cũng là điều mà chúng tôi gửi gắm tới độc giả trong công trình nghiên cứu lần này

Trang 12

2.3 Lịch sử nghiên cứu vị từ trao nhận

Vị từ trao nhận là một trong các nhóm từ vựng cơ bản của ngôn ngữ Chúng nằm trong số những yếu tố ngôn ngữ dễ tiếp nhận và là tiền đề để hình thành nên các đơn vị ngữ nghĩa khác Là nhóm từ có số lượng tương đối nhiều trong tiếng Viêt

Chúng tôi xin điểm qua một số nghiên cứu về vị từ trao nhận của một số tác

giả như: Nguyễn Kim Thản (23), Trần Văn Thư (22), Lâm Quang Đông (13), Cao

Xuân Hạo,…Và gần đây nhất trong luận án của TS Đỗ Thị Hiên, với công trình

“Phát ngôn có vị từ ba diễn tố trong tiếng Việt” tác giả đã tìm hiểu và đưa ra 8 loại

vị từ trong tiếng Việt và vị từ trao nhận là một tiểu loại nằm trong đó

Trong Động từ trong tiếng Việt, Nguyễn Kim Thản (1977) có đề cập tới động

từ phát nhận rồi ông tiếp tục chia chúng thành hai tiểu loại là : động từ ban phát và động từ tiếp nhận Tác giả dựa trên tính chất chi phối của động từ đưa ra các ví dụ thử nghiệm và dạng cải biến của mỗi thành tố N1, N2 Tiếp đó, ông dựa trên đặc

điểm ngữ pháp của chúng mà làm rõ một điều rằng: cả hai nhóm động từ này đều

đòi hỏi có hai bổ ngữ đi kèm, theo công thức sau:

N1 – V – N2 – N3 Nếu như động từ trao đòi hỏi có hai danh từ: một là danh từ sự thay đổi về chủ

sở hữu (từ chủ sở hữu ban đầu sang chủ sở hữu mới) và một là biểu thị người tiếp nhận đối tượng vừa nói trên Đằng sau mỗi động từ ban phát ấy đi kèm với phó động từ cho đặt trước N2, N3

Đối với động từ nhận cũng mang đặc điểm ngữ pháp cơ bản giống với ban

phát, khác ở chỗ nó có sự xuất hiện của hư từ của Đồng thời, cả hai loại này đều

đều có sự thay đổi trật tự giữa N2, N3 tùy thuộc vào yêu cầu tu từ học về nhịp điệu

của câu Từ đó nhận thấy một điều là ông cũng tìm ra một số nhóm từ khác: đòi, đòi

hỏi, hạch sách… cũng có thể tạm xếp vào nhóm động từ tiếp nhận

Điều này cho thấy nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản đã mở ra một bước đi

đầu tiên trong nghiên cứu các VTBDT nói chung và VTTN nói riêng Mặc dù vậy tác giả chỉ mới đề cập tới vị từ trao nhận ở động từ mà chưa xem xét ở tính từ Cũng

Trang 13

như tác giả chưa đi nghiên cứu tới phân tích nội dung sâu bên trong của các động từ

ấy như thế nào Trong đề tài này nghiên cứu này chúng tôi sẽ giúp tác giả phần nào hoàn thiện cái ‘khung xương’ (hình thức) đã vẽ ra bằng lớp thịt đầy đủ hơn (nội dung), tức làm rõ cả phần nội dung và hình thức cũng như mối quan hệ ngữ pháp và ngữ nghĩa của chúng

Đại diện thứ hai cho khuynh hướng này có thể kể đến tác giả luận văn Thạc sĩ

của Trần Văn Thư với công trình Vị từ ngữ trị ba trong tiếng Việt Đây có thể coi là

người đi tiên phong trong tìm hiểu, khảo sát, phân tích, đánh giá và làm rõ các vị từ ngữ trị ba (chúng tôi xin được gọi là VTBDT) Nhìn một cách tổng quát luận văn của tác giả đã phát hiện ra 12 nhóm vị từ và lần lượt đi giải thích khái niệm, phân loại và chứng minh bằng những ví dụ cụ thể tiêu biểu nhất cho mỗi loại Cũng như xem xét khả năng hiện thực hóa của vị từ ngữ trị ba trong câu, trong văn bản có đầy

đủ hay không từ đó đưa ra những nhận xét về tác dụng của các trường hợp này Đáng chú ý trong luận văn này là đề cập tới nhóm vị từ tiếp nhận và ban phát cũng

là một vấn đề liên quan mật thiết với đề tài nghiên cứu của chúng tôi Phát ngôn có

vị từ trao nhận trong tiếng Việt Tuy nhiên, đây cũng chỉ là luận án mà mang tính

khái quát khá cao, bên cạnh những đóng góp to lớn những cũng tồn tại những thiếu xót mà hi vọng chúng tôi tiếp tục hoàn thiện những mảnh ghép mà luận văn trên chưa đạt tới

Thứ ba, đó là luận án Ngữ văn của TS.Đỗ Thị Hiên với đề tài Phát ngôn có vị

từ ba diễn tố trong tiếng Việt Trong khóa luận này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu,

phân tích, khảo sát và cụ thể hóa các phát ngôn trong tiếng Việt và chia các vị từ thành 8 tiểu loại, vị từ trao nhận là một nhóm vị từ thuộc công trình nghiên cứu này Đây là nghiên cứu đi vào khái quát các phát ngôn có vị từ ba diễn tố nhưng chưa đi sâu vào phân tích cụ thể trong phát ngôn có vị từ trao nhận Là tiền đề quan trọng đối với nghiên cứu của chúng tôi

Ngoài ra phải kể đến công trình nghiên cứu chuyên sâu về VTBDT đó là

chuyên luận Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với nhóm từ trao/tặng trong tiếng

Việt của Lâm Quang Đông (2008) Điều dễ nhận thấy nhất trong cuốn sách này là

Trang 14

tác giả đã đề cập tới một trong số rất nhiều vị từ ba diễn tố đó là nhóm vị từ

“trao/tặng” Tác giả đã lần lượt đi tới phân tích các vai nghĩa và lớp nghĩa cũng như đặc trưng của tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của vị từ trao/tặng Ông cũng xác định rõ một sự tình trao/ tặng đảm bảo đầy đủ các thành tố:” người trao/tặng, người nhận và vật trao/tặng” [13, tr.104] Mỗi sự tình sẽ tương ứng với mỗi ý nghĩa nhất định Những vai nghĩa đều được xem xét rõ ràng, phổ biến nhưng cũng có

trường hợp một tham thể có thể mang nhiều vai nghĩa như: tác thể, thụ thể, nghiệm

thể, đối thể, đích, tiếp thể, người tiếp nhận…Đồng thời, đưa ra ý kiến co rằng nhóm

vị từ này là nhóm tam tri (ba tham thể bắt buộc) và được gọi là vị từ tam trị với nghĩa chúng có kết trị ba Cũng như các lớp nghĩa được thể hiện ra sao trong từng trường hợp cụ thể để từ đó thấy rõ được từng vai nghĩa ở những lớp nghĩa khác nhau sẽ cho ta cách hiểu sâu sắc hơn về vị từ trao/tặng

Một nét nổi bật nữa là ở chuyên luận này Lâm Quang Đông chú trọng làm nổi bật được sự so sánh đối chiếu về mặt lí thuyết, phân tích ngữ liệu cụ thể cho thấy sự khác biệt giữa ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, nhất là trong vị từ trao tặng

Và so sánh giữa vị từ trao/tặng với số lượng tham thể ít hơn ba, nhiều hơn ba

và với một số vị từ khác như: mua, nhảy, đào Đồng thời, cũng xác định danh giới của Chu tố, Phi tham thể, Cảnh huống trong cấu trúc nghĩa biểu hiện không hoàn

toàn rõ ràng Có thể thấy hướng nghiên cứu này là thấu đáo, thuyết phục Trong chuyên luận này tác giả chỉ mới tập trung diễn giải lí thuyết của nhóm vị từ trao/tặng mà chưa đi sâu phân tích ngữ liệu thật rõ ràng, đây là tiền đề để chúng tôi tiếp tục triển khai với nhóm từ nhận trong tiếng Việt

Trong khóa luận, chúng tôi hướng tới đi sâu nghiên cứu một cách kĩ lưỡng hơn những khía cạnh, góc độ, cách nhìn nhận cụ thể về vị từ trao nhận trong tiếng Việt để giúp bạn đọc thấy được các giá trị bản chất cấu trúc của nó trong tiếng Việt nói riêng và ngôn ngữ nói chung

Trang 15

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu các vị tố trao nhận xét trên ba bình diện các ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng để làm rõ đặc trưng của vị từ trao nhận trong tiếng Việt Phân tích, chứng minh đặc trưng thông qua ví dụ minh họa cụ thể

- Bên cạnh đó cho thấy đặc trưng cấu trúc của phát ngôn có vị từ trao nhận trong tiếng việt trong ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng

4 Đối tương, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các phát ngôn có vị từ trao nhận trong tiếng Việt

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ngữ liệu được chúng tôi tập trung khảo sát trong giới hạn giai đoạn văn học 1930-1945 (lãng mạn và hiện thực) đã thu thập được hơn 500 ngữ liệu để phân tích, chứng minh

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của công trình nghiên cứu này được cụ thể hóa thành những luận điểm sau:

- Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài: khái niệm về ba bình diện câu, khái niệm vị từ trao nhận, phát ngôn có vị từ trao nhận, cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc ngữ nghĩa, cấu trúc đề - thuyết, chu tố, diễn tố, vị từ trung tâm và cấu trúc thông tin

- Thống kê, phân loại các phát ngôn có vị từ trao nhận trong tiếng Việt (các phát ngôn có vị từ trao và vị từ nhận)

- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ pháp của nhóm vị từ trao nhận và vai trò của vị từ trao nhận trong cấu trúc cú pháp

- Phân tích và mô tả đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm vị từ trao nhận trong cấu trúc vị từ – tham thể Đặc biệt, xem xét, phân tích các vai nghĩa của các tham thể trong cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm vị từ này

- Phân tích khả năng hiện thực hóa cấu trúc ngữ nghĩa trong phát ngôn có vị từ trao nhận Từ đó rút ra kết luận về vai trò vận dụng của các vị từ trao nhận trong quá trình hiện thực hóa ở lời nói

Trang 16

6 Phương pháp nghiên cứu

- Thủ pháp phân tích miêu tả: phương pháp này sử dụng nhằm phân tích

những ngữ liệu mà chúng tôi thống kê để có thể hiểu được nhiều khía cạnh khác

nhau của vấn đề đồng thời giải thích, làm sáng tỏ chức năng của ba bình diện

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: khi nghiên cứu các vị từ trao nhận chúng

tôi luôn đặt trong ngữ cảnh nhất định, trong đơn vị câu Vì vậy chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn làm sáng tỏ các chức năng của các từ vị tố trao nhận trên ba bình diện

Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như:

- Thủ pháp thống kê, phân loại: chúng tôi đã sử dụng trong quá trình thu thập

và xử lí các từ chưa vị từ trao nhận

- Thủ pháp so sánh đối chiếu: để làm nổi bật những nét tương đồng và khác

biệt của các từ chứa vị từ trao nhận

7 Đóng góp khóa luận

- Về lí luận: khóa luận làm rõ lý thuyết về ba bình diện kết học, nghĩa học,

dụng học và các lý thuyết để thấy được chức năng của nhóm từ vị từ trao nhận xét trên ba bình diện

- Về thực tiễn: khóa luận nghiên cứu giúp cho bạn đọc có hình dung cụ thể về

chức năng của các từ chứa vị từ trao nhận có thể sử dụng các từ đó cho văn chương cũng như đời sống hằng ngày

8 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của

khóa luận được trình bài gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Ở chương này chúng tôi tập trung trình bày lí thuyết về ba bình diện kết học, nghĩa học, dụng học và lý thuyết về câu và phát ngôn Đó là cơ sở để chúng tôi khảo sát phân loại ở chương 2

Chương 2: Khái quát về vị từ trao nhận và phát ngôn có vị từ trao nhận trong tiếng

Trang 17

Trong phần này chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm về vị từ trao nhận và phát ngôn chứa vị từ trao nhận ở bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa

Chương 3: Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của vị từ trao nhận trong phát ngôn tiếng Việt

Với phần này chúng tôi sẽ phân tích để thấy được khả năng hiện diện và hiện thực hóa của các phát ngôn có vị từ trao nhận

Trang 18

NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Lí thuyết ba bình diện nghiên cứu câu

Ngữ pháp hình thức, dường như chỉ quan tâm đến mặt hình thức cũng như các đơn vị ngôn ngữ của câu Mục đích cuối cùng của câu là giúp con người có thể trao đổi, giao tiếp với nhau, câu đi vào thực tế sử dụng sẽ như thế nào chứ không phải chỉ trên lí thuyết Từ những hạn chế trên, ngữ pháp chức năng, đúng như tên gọi của

nó, đã khắc phục được tình trạng này, đó là xem xét ngôn ngữ trên ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Điều này được minh họa trong lý thuyết tín hiệu học của Ch.W Morris (1938) từng đưa ra:

Kết học: nghiên cứu về mặt hình thức bên ngoài và quan hệ của các tín hiệu Nghĩa học: nghiên cứu hình thức và nội dung tín hiệu mà chúng biểu thị Dụng học: tìm hiểu cách sử dụng của tín hiệu

Kế thừa quan điểm này mà các nhà nghiên cứu sau này đã thống nhất và xem xét câu trên ba bình diện: ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Do vậy, họ cho rằng ngôn ngữ học là một hệ thống tín hiệu của ngôn ngữ

1.1.1 Bình diện kết học (ngữ pháp)

1.1.1.1 Các thành phần câu

Thành phần trong câu là một đặc trưng nổi bật của bình diện kết học Việc tìm hiểu các thành phần câu (khái niệm, tiêu chí xác định thành phần câu) đã được nghiên cứu từ lâu, song mỗi thành phần sẽ tương ứng với chức năng ngữ pháp riêng cho mình Mặc dù đã có rất nhiều kiến giải nghiên cứu liên quan đến vấn đề này nhưng các tác giả vẫn chưa có đáp án thống nhất về khái niệm và liệt kê các thành phần câu theo tiêu chí cụ thể nào cả Theo quan niệm thuần túy, trong tiếng Việt bao

gồm các thành phần: thành phần chính, thành phần phụ của câu, thành phần phụ

của từ và thành phần biệt lập Tuy nhiên, chúng tôi đồng tình với ý kiến của hai nhà

nghiên cứu Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp cho rằng là thành phần câu

là những từ bắt buộc phải có trong câu để đảm bảo tính trọn vẹn về nghĩa của câu

Trang 19

Tức là sẽ không có đầy đủ bốn thành phần trên của câu nói trên Tiếp theo, để phân loại câu trong tiếng Việt một cách cụ thể, chi tiết chúng tôi xin chia thành bốn kiểu sau:

- Thành phần chính của câu: là những thành phần bắt buộc không thể thiếu trong câu Đó là chủ ngữ và vị ngữ Chủ ngữ bao giờ cũng giữ vai trò quan trọng nhất Vị ngữ có chức năng giải thích ý nghĩa cụ thể cho câu

- Thành phần phụ của câu: trạng ngữ, vị ngữ phụ, khởi ngữ

- Thành phần phụ của từ: là bổ sung ý nghĩa cho thực từ (danh từ, động từ hay tính từ)

- Thành phần biệt lập: hô ngữ, liên ngữ ,

1.1.1.2 Các kiểu cấu tạo câu

Bên cạnh việc nghiên cứu thành phần câu, kết học còn đi sâu nghiên cứu các kiểu cấu tạo câu Như đã trình bày ở trên, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều dựa tiêu chí cấu trúc C – V nòng cốt để đưa ra căn cứ phân biệt các kiểu câu và bao gồm

ba kiểu câu chính: câu đơn, câu phức và câu ghép

- Câu đơn được cấu tạo bởi hai thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ làm nòng cốt trong câu đơn thường

- Câu ghép là câu có hai thành phần C – V nòng cốt trở lên Trong đó, mỗi nòng cốt độc lập tạo nên vế câu riêng nhưng lại có sự liên kết với nhau để tạo nên một cấu trúc câu trọn vẹn

- Câu phức: cũng có hai thành phần C – V nòng cốt trở lên nhưng có một vế làm nòng cốt chính trong câu và vế còn lại có đảm nhiệm vai trò làm thành phần câu, bổ sung làm rõ ý nghĩa câu

Xung quanh những cách phân chia trên còn tồn tại những luồng ý kiến khác nhau: coi chúng là câu ghép vì có hai kết cấu C – V, coi chúng là câu đơn vì mặc dù

có hai kết cấu C – V nhưng chỉ có một vế đảm nhiệm vai trò nòng cốt Sự phân chia trên cũng giống với sự phân chia của thành phần câu, tưởng chừng đã rạch ròi, rõ ràng nhưng lại là vấn đề gây nhiều bất đồng trong giới nghiên cứu

Trang 20

Quan điểm của chúng tôi thống nhất chia theo kết cấu C – V và do vậy trong khóa luận này, nếu một kết cấu C – V là câu đơn thường, có hai kết cấu C – V nằm ngoài nhau, độc lập là câu ghép và trường hợp còn lại sẽ là câu phức nếu: một vế làm nòng cốt và vế còn lại đảm nhiệm là bất kì thành phần nào trong câu

Bình diện kết học đóng vai trò là hình thức trong câu nên khi đi vào phân tích ngữ liệu của từng phát ngôn thì đây là một căn cứ để chúng tôi xác định đúng các thành phần trong vị từ trao nhận Đây là vấn đề liên quan trực tiếp tới quá trình nghiên cứu của chúng tôi

1.1.2 Bình diện nghĩa học (ngữ nghĩa)

1.1.2.1 Nghĩa sự việc

Nghĩa miêu tả của câu (hay nghĩa sự việc, nghĩa biểu hiện, nghĩa mệnh đề)

Là phản ánh sự việc, hiện tượng, sự vật, hành động, trạng thái, ngoài thực tế khách quan Mỗi câu thường ứng với một sự việc Nội dung phản ánh hiện thực được gọi là sự việc (sự tình) Các sự tình lại được chia thành hai phần: nội dung và các nhân tố tham gia vào sự tình (còn gọi là tham tố) Hay nói cách khác, câu là đơn

vị ngôn ngữ nhỏ nhất để thể hiện chức năng truyền đạt thông tin Cụ thể hơn, khi giao tiếp người nói bao giờ cũng gửi gắm vào trong đó một thông tin thuộc về sự vật, hiện tượng diễn ra trong hiện thực khách quan tới người nghe nhằm mục đích

cụ thể nào đó Mỗi câu thường đề cập tới một sự tình Sự tình ấy có thể thuộc về vấn đề tự nhiên, xã hội, con người cũng có thể liên quan đến vật chất và tinh thần Các yếu tố tạo nên một sự tình gồm cái cốt lõi của sự tình được cụ thể hóa thành vị

từ trung tâm, yếu tố tham gia xoay quanh vị từ đó là tham thể Tóm lại, vấn đề cần tập trung làm rõ là thuật ngữ: vị từ, tham thể

a Vị từ

Vị từ là cái trung tâm cốt lõi của sự tình Chúng ta không nên có sự nhầm lẫn

giữa nghĩa học của tín hiệu học với nghĩa học thông thường Bởi nghĩa học của tín hiệu học quan tâm tới những nội dung khá mơ hồ tuân theo quy tắc đúng, sai của logic Còn đối với nghĩa học thường thì chỉ quan tâm, căn cứ tới nội dung miêu tả của câu thì mới có thể kết luận là nó đúng hay sai Về bình diện này được chia

Trang 21

thành hai bộ phận: nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái Chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau

b Tham thể (tham tố)

Nếu vị từ là yếu tố trung tâm thì tham thể chính là phần xung quanh, bao quanh vị từ trung tâm ấy Để biểu thị một nội dung trọn vẹn, vị từ cần các tham thể xoay quanh, mỗi tham thể tương ứng với một chức năng ngữ pháp cụ thể Căn cứ vào chức năng ngữ pháp mà tham thể được chia thành hai loại: diễn tố và chu tố

Diễn tố là những thực thể xoay quanh vị từ mà sự có mặt của chúng là do vị từ đòi

hỏi Ngược lại, Chu tố là những yếu tố xuất hiện trong sự tình nhưng sự có mặt của

nó là do hoàn cảnh, tình huống quy định chứ không phải do VT bắt buộc đòi hỏi Chúng thường biểu thị ý nghĩa về thời gian, địa điểm, nguyên nhân…

Như vậy, nghĩa miêu tả là vấn đề trực tiếp liên quan đến nghiên cứu của chúng tôi Vai nghĩa, cũng có những quan điểm khác nhau Cho nên việc diễn đạt ý nghĩa của từng phát ngôn cũng sẽ khác nhau

1.1.2.2 Nghĩa tình thái của câu

Đây là thành phần nghĩa đóng vai trò quan trọng không kém so với nghĩa miêu

tả Là thành phần nghĩa luôn tồn tại trong câu như Cao Xuân Hạo từng khẳng

định:“nội dung của bất kỳ phát ngôn nào cũng chứa đựng nghĩa tình thái” [12,

tr.98] Đó là phần nghĩa trên nhiều phương diện, được đề cập ở phương diện: bày tỏ thái độ, quan hệ của người nói đối với người nghe hay sự đánh giá của người nói với hiện thực nhắc tới trong câu Theo ngôn ngữ học hiện nay chia thành hai loại:

tình thái từ của hành động phát ngôn và tình thái từ của lời phát ngôn

+ Tình thái từ của hành động phát ngôn: là nghĩa tình thái mà thông qua hành

động nói, người nói thể hiện ý định, mục đích, thái độ đối với nội dung câu Phát

ngôn nào cũng hướng tới một mục đích nhất định

+ Tình thái từ của lời phát ngôn: biểu thị thái độ, cách đánh giá của người nói

đối với người nghe và được phân chia thành hai loại: tình thái khách quan và tình

thái từ chủ quan

Trang 22

Tóm lại, cả hai thành phần nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái là hai thành phần tạo nên ngữ nghĩa của câu Nhưng trong khóa luận này, chúng tôi chỉ xin xem xét phát ngôn dưới cấu trúc nghĩa miêu tả của các VTTN (Vị từ trao nhận) để từ đó thấy được khả năng hiện thực hóa ở bình diện ngữ dụng

1.1.3 Bình diện dụng học

Bình diện ngữ dụng là bình diện nghiên cứu mối quan hệ giữa câu với người

sử dụng, giữa câu với việc sử dụng câu trong một tình huống giao tiếp cụ thể nhằm

phát hiện ra những ý nghĩa mới tiềm ẩn trong câu Ở bình diện này, câu không còn hiện hữu ở trạng thái đứng yên mà chuyển sang trạng thái chuyển động vì câu bao

giờ cũng gắn với thực tiễn

Ngoài nghĩa sự việc và nghĩa tình thái còn một phần liên quan đến tình huống

sử dụng hay còn gọi là ngữ dụng học Đồng thời, ngữ dụng học quan tâm đến nhiều

vấn đề như: khái niệm, cấu trúc đề – thuyết, cấu trúc tin, sự hiện thực hóa cấu trúc

ngữ nghĩa trong phát ngôn… nhưng trong phạm vị khóa luận này, chúng tôi xin

trình bày: cấu trúc đề – thuyết và cấu trúc tin bởi nó liên quan mật thiết tới khóa

luận này

1.1.3.1 Cấu trúc đề – thuyết

a Quan niệm về cấu trúc đề – thuyết

Hiện nay có hai quan điểm về vấn đề này, đi tiên phong cho quan niệm này là Cao Xuân Hạo Ông đã áp dụng một cách triệt để cấu trúc này trong công trình

Tiếng Việt – Sơ thảo Ngữ pháp chức năng (1991) Trong đó cấu trúc đề và thuyết

được hiểu: đề là điểm khởi đầu, là cơ sở, là tiền đề cho triển khai nội dung câu ở phần thuyết

Nhưng các nhà Việt ngữ học lại có quan điểm khác, cho rằng cấu trúc đề –

thuyết là cấu trúc thông báo trên câu Cấu trúc này tồn tại song song cùng với cấu trúc chủ vị trong câu vì thuộc hai bình diện khác nhau Đây cũng là vấn đề mà chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu để làm rõ được vai trò, vị trí, chức năng và sự hiện thực hóa cụ các vị từ trao nhận trong từng hoàn cảnh cụ thể

b Các thành phần trong cấu trúc đề - thuyết

Trang 23

Thành phần chủ yếu chính là phần đề và thuyết

- Phần đề (Đ): tức sự vật, hiện tượng là cái mà cả người nghe và người nói đã biết trong câu

- Phần thuyết (T): là sự giải thuyết cho cái được nhắc đến ở phần đề

Ngoài ra, cấu trúc đề – thuyết còn có các thành phần khác: khung đề và minh

Theo tác giả Trần Kim Phượng [21] câú trúc Đ – T gồm năm tiêu chí để xác

định, dựa vào đó mà chúng tôi có thể xác định một cách chính xác các phát ngôn có

vị từ trao nhận Cụ thể:

- Tiêu chí về phương tiện: dựa vào các hư từ thì, là, mà Thì đánh dấu phần đề,

là đánh dấu phần thuyết mà nằm ranh giới Đ – T, mà lại nằm giữa ranh giới Đ – T

- Tiêu chí về ý nghĩa chức năng (nội dung): Nếu như Đ nêu ra đối tượng thì phần T nêu lên nội dung về đối tượng đó

- Tiêu chí về vị trí: căn cứ này dễ nhận biết nhất, phần Đ đứng trước và T đứng sau, ít khi thay đổi cho nhau

- Tiêu chí về từ loại: Do biểu thị sự vật, hiện tượng nên phần Đ bao giờ cũng biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ hay đại từ

- Tiêu chí lược bỏ: cấu trúc Đ – T là thành phần không thể lược bỏ giống như cấu trúc chủ vị, còn những phần khác như khung đề, minh xác ngữ có thể bỏ được

1.1.3.2 Cấu trúc thông tin

a Quan niệm về cấu trúc thông tin

Về cấu trúc này, phải nhắc đến V Mathesius là người đầu tiên dề xuất lí

thuyết phân đoạn thực tại Theo ông, phân đoạn thực tại trong câu tức là việc phân

tích lời nói hay phát ngôn đều dựa trên nguyên lí thông tin, đánh giá vai trò của các thành tố cấu tạo nên tổng thể của câu

Trang 24

Trong câu, bình diện ngữ dụng là phức tạp hơn hẳn so với hai bình diện còn lại Ở hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa đều tồn tại những phát ngôn ngay cả khi

nó thuộc trường hợp biệt lập, tách khỏi hoàn cảnh giao tiếp Đó là nghĩa, còn về cấu trúc thông tin lại gắn bó chặt chẽ với hoàn cảnh giao tiếp Do vậy, muốn nắm được nội dung câu cần gắn cấu trúc thông tin ở hoàn cảnh cụ thể Từ những lí thuyết trên chúng tôi thấy rằng cấu trúc thông tin gồm có: thành phần tin cũ và thành phần tin mới

b Các thành phần cấu trúc thông tin

Về tên gọi các thành phần của cấu trúc thông tin có rất nhiều tác giả đưa ra

nhiều cách gọi khác nhau: Nguyễn Minh Thuyết, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc

Thêm…cùng một số tác giả khác nhưng trong nghiên cứu lần này chúng tôi xin

được sử dụng thuật ngữ: tin cũ (TC) và tin mới (TM)

- TC là thành phần thông tin mà người nói và người nghe đã biết từ trước

- TM là phần thông tin mà lần đầu tiên đưa vào trong cuộc giao tiếp tại một thời điểm nói TM thường mang nội dung thông tin quan trọng, trọng tâm mà người nói muốn diễn đạt

- Căn cứ vào vai trò cú pháp: theo cấu trúc tin là thành phần không thể thiếu

và chúng đảm nhiệm vai trò không thể thiếu trong câu

- Căn cứ vào vị trí: theo vị trí thông thường TC – TM, tức là TC đứng trước,

TM đứng sau, trường hợp ngược lại là rất ít

- Dấu hiệu hình thức: thông qua các từ ngữ phân chia giữa TC vàTM: hư từ, ngữ điệu, khả năng lược bỏ,

Trang 25

Như vậy, trên bình diện ngữ dụng học là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu của chúng tôi Dựa trên cấu trúc Đ – T và cấu trúc thông tin giúp ích trực tiếp cho việc xác định, phân tích câu một cách cụ thể hơn ở bình diện này Bởi đây là vấn đề

mà ít người chú ý đến khai thác Chúng tôi sẽ đi sâu phân tích các phát ngôn để thấy

rõ được vai trò và chức năng của các thành phần trên

1.2 Câu và phát ngôn

Trong lịch sử ngôn ngữ, đặc biệt là những năm cuối thế kỉ XX, ngôn ngữ học

đã có nhiều chuyển biến tích cực đáng chú ý là câu Từ đó đến nay, câu đã được điều chỉnh để phù hợp với thời đại, ngày càng xuất hiện nhiều trường phái, khuynh hướng nghiên cứu về câu trên nhiều phương diện khác nhau để cho chúng ta một

định nghĩa đầy đủ nhất: “Câu là đơn vị ngôn ngữ không có sẵn, dùng để biểu thị sự

tình, được tạo nên từ các đơn vị nhỏ hơn theo những quy tắc ngữ pháp nhất định, có dấu hiệu hình thức riêng, được sử dụng trong giao tiếp nhằm thực hiện một hành động nói” [1, tr.93]

Dưới ảnh hưởng của học thuyết ngữ pháp chức năng thì câu cần được quan tâm tren cả ba bình diện Bên cạnh đó khi xem xét ngôn ngữ trên ba bình diện: ngữ pháp – ngữ nghĩa – ngữ dụng sẽ đem đến những điều mới mẻ về ý nghĩa câu Điều

đó dẫn tới bên cạnh khái niệm về câu cũng xuất hiện thuật ngữ về phát ngôn

Câu và phát ngôn không phải là hai đơn vị ngôn ngữ khác nhau mà cùng một cấp độ nhưng được nhìn nhận ở hai khía cạnh khác nhau Câu không phải là sự phân bậc giữa âm vị và hình vị, từ với câu mà câu được cấu tạo từ sự kết hợp các đơn vị nhỏ hơn còn phát ngôn thì hình thành từ hoạt động hành chức của ngôn ngữ Câu thiên về hình thức mang tính trừu tượng khó hiểu, khái quát còn phát ngôn tồn nhiều trong hoạt động giao tiếp là sự hiện thực hóa của câu giúp người tiếp nhận dễ dàng hiểu hơn Phát ngôn mang nội dung ý nghĩa cụ thể, muốn hiểu được phát ngôn cần trả lời câu hỏi: Phát ngôn nói cho ai? Nói trong hoàn cảnh nói ra? Nhằm mục đích gì? Phát ngôn luôn thể hiện một nội dung và mục đích rõ ràng với lời nói trực tiếp hoặc gián tiếp, ngoài nghĩa tường minh (nghĩa đen) phát ngôn còn mang nghĩa hàm ẩn (nghĩa bóng) Trong phát ngôn có sự phân bố nội dung tương thích với từng

Trang 26

tình huống giao tiếp cụ thể Câu là một cấu trúc trừu tượng được mô hình hóa theo một quy tắc ngữ pháp nhất định vì vậy số lượng ngôn ngữ trong câu là hữu hạn mà phát ngôn lại là vô hạn

Như vậy, câu và phát ngôn có mối quan hệ mật thiết với nhau Câu là nền móng tạo thành phát ngôn, phát ngôn là sự biểu hiện, sự hiện thực hóa của câu, hay phát ngôn là câu trong hoàn cảnh giao tiếp Với khóa luận này, khái niệm và thuật ngữ phát ngôn có tư cách là sự biểu hiện cụ thể của câu trong các hoạt động giao tiếp

1.3 Tiểu kết

Trên thế giới, nhắc đến vị từ có khá nhiều công trình nghiên cứu về vị từ, tuy còn tồn tại nhiều quan niệm, cách lí giải khác nhau về vị từ nhưng các nhà nghiên cứu thống nhất cho rằng vị từ là cái trung tâm, cốt lõi làm nên sự tình Ở Việt Nam, thuật ngữ này được hiểu theo hai khuynh hướng, một là coi vị từ là một phạm trù từ loại, hai là coi vị từ là một phạm trù chức năng Đề cập tới khuynh hướng này có rất nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa có công trình nào đi sâu một cách hệ thống

về vị từ trao nhận

Hơn nữa, một vấn đề mà trong ngôn ngữ nói chung và câu nói riêng đều được xem xét trên cả ba bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Tuy nhiên, giữa các bình diện này còn có sự khác nhau về vị trí, vai trò, chức năng nhưng có mối liên hệ khá khăng khít với nhau Chúng được thể hiện trước hết qua đơn vị câu Bên cạnh khái niệm về câu, còn có sự xuất hiện khái niệm về phát ngôn – đơn vị cùng cấp độ Nếu câu mang ý nghĩa khái quát, trìu tượng thì phát ngôn được lấp đầy bằng các yếu tố từ vựng là đơn vị mang tính cụ thể, chi tiết Tuy nhiên, giữa câu và phát ngôn lại có mối liện hệ mật thiết, bổ sung cho nhau, câu là tiền đề cho phát ngôn, phát ngôn chính là sự cụ thể hóa của câu

Trang 27

Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ VỊ TỪ TRAO NHẬN VÀ PHÁT NGÔN CÓ VỊ TỪ TRAO NHẬN TRONG TIẾNG VIỆT

2.1 Khái quát về vị từ trao nhận

2.1.1 Khái niệm

Đã có nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh vị từ trao nhận nhưng chưa có một công trình nghiên cứu vị từ nào đi chuyên sâu và có hệ thống như:

- Thứ nhất, Nguyễn Kim Thản với công trình Động từ trong tiếng Việt, có

nhắc tới động từ phát nhận và tiếp tục phân chia thành hai tiểu loại: động từ ban phát (thường đòi hỏi hai danh từ đi kèm biểu thị đối tượng được nhắc tới trong hoạt động) và động từ tiếp nhận (nhận từ ai đó cái gì) Lúc này tác giả chỉ mới quan tâm đến động từ chứ chưa thực sự quan tâm đến các loại từ khác

- Thứ hai, Trần Văn Thư với Luận văn thạc sĩ Ngữ văn “Vị từ ngữ trị ba

trong tiếng Việt” cũng đồng tình với quan điểm của Nguyễn Kim Thản, nhắc đến vị

từ ban phát và vị từ tiếp nhận

- Thứ ba, người có nghiên cứu sâu sắc về một nhóm vị từ liên quan đến khóa

luận của chúng tôi là công trình “Cấu trúc nghĩa biểu hiện của nhóm vị từ

trao/tặng”(trong tiếng Việt và tiếng Anh) Chuyên luận này tập trung nghiên cứu

cấu trúc nghĩa thể hiện trong nhóm từ trao/tặng (thuộc nhóm vị từ trao) mà chưa đề cập tới nhóm vị từ nhận Chính những quan điểm trên là tiền đề để chúng tôi tiếp tục kế thừa triển khai và đưa ra khái niệm về vị từ trao nhận như sau:

VTTN là những vị từ mang ý nghĩa “chuyển giao cái của mình cho người

khác” (trao) và nhận từ người khác, nơi khác chuyển giao đến” (nhận) Trong đó tỉ

lệ vị từ “trao” xuất hiện nhiều hơn so vói vị từ” nhận” chiếm hơn 90% trong tổng số hơn 500 phát ngôn chúng tôi đã khảo sát Điều đó cho thấy vị từ trao nhận là vị từ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống

Trang 28

+ Vị từ trao nhận biểu thị sự tình thay đổi không gian, thời gian theo tiến trình giao tiếp Ví dụ:

(1) Ông đã nhìn thấy con gái của ông sau tết đã đem cái thắt lưng và cái yếm

còn mới nguyên dạm bán để lấy tiền đóng họ cho nhà bà Vinh Lý (1,

(2) Bác Trương Việt nộp có ba đồng một suất sưu thôi mà (4, tr.328)

Ở ví dụ trên phát ngôn diễn tả một sự tình với vị từ trung tâm là nộp chỉ đặc điểm tính chất của tính {-Động}, nghĩa là bác Trương Việt chỉ hành động có ba

đồng một suất sưu, tức chỉ phải nộp ba đồng, không hơn, không kém và không thay

đổi bất kì trường hợp nào

Khi xem xét đặc trưng này trên VTTN chúng tôi nhận thấy VTTN mang đặc trưng của tính {+ Động}, trước hết các vị từ trao nhận biểu thị sự vận động, biến đổi

trong phát ngôn chỉ mức độ tăng tiến: bỗng, chợt, vội, đặt, thong thả…

(3) Bà lão láng giềng nghe tin chị Dậu về vội đem cái Tửu sang trả (6, tr.178)

Trang 29

Thứ hai, các vị từ trao nhận mang đặc trưng {+Động} Các VTTN dễ dàng kết

hợp với các từ chỉ di chuyển có hướng như: ra, vào, lên, xuống, sang…Ví dụ:

(4) Gần trưa, hắn viết gần được ba tờ, Vân Hạc lại quăng sang cho một cục

giấy nữa (6, tr.303)

Thứ ba, trong quá trình hiện thực hóa phát ngôn các VTTN có thể kết hợp phụ

từ chỉ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ, thôi, đi nào…Ví dụ:

(5) Xin U đừng đem bán con đi (6, tr.82)

Đồng thời, khi nói đến đặc trưng { Động} thì cũng liên quan đến đặc trưng { Tác đông} Bởi một sự tình có tính { Tác động} thì sẽ có tính động và ngược lại một sự tình chưa chắc có tính động Vị từ trao nhận mang tính { Tác động} tức

là nó làm thay đổi tư cách pháp nhân của người nói và người nghe, giằng buộc người nghe phải thực hiện một hành động nào đó Cụ thể là nó làm thay đổi vị trí, hình dáng, đặc điểm tính chất củ đối tượng Ví dụ:

(6) Oanh đưa những bức thư cho Thứ (1, tr.709)

Trong ví dụ trên, vật thể là những bức thư bị tác động bởi vị từ đưa của chủ thể Oanh và làm chúng thay đổi vị trí đến đích là Thứ

2.1.2.2 Đặc trưng { Chủ ý}

Đặc trưng này cũng dựa trên nội dung ý nghĩa của vị từ Trong đó, chủ thể hành động hành động một cách có chủ ý chứ không phải do bị sai khiến, bộc phát hay ngẫu nhiên Là đặc trưng tiêu biểu cho côn người, phân biệt với hành động của động vật khác, gắn liền với ý thức, trách nhiệm khi mà thực hiện một hành động nào

đó Biểu thị hành động cho phép, đồng tình hoặc phản đối mà chính chủ thể có chủ

ý thực hiện hành động Vì vậy, vị từ trao nhận mang đặc trưng { Chủ ý}

Vị từ mang đặc trưng { Chủ ý} phải đảm bảo là một hành động có chủ ý Ví

dụ:

(7) Dung đem cho Nhâm một âu cơm và con cá mắm (19, tr.310)

Trong ví dụ trên, vị từ trung tâm là đem, cùng với ba diễn tố lần lượt là: Dung,

Nhâm và một âu cơm và con cá mắm, cụ thể Dung ở đây mang nét nghĩa {+

Người}

Trang 30

Vị từ mang đặc trưng { Chủ ý} phải là có ý chí và ý thức của con người đều được sắp đặt, tính toán cụ thể Do vậy nó có thể kết hợp với các vị từ tình thái nhưng mang tính{ Chủ ý} Qua khảo sát ngữ liệu chúng tôi đưa ra ví dụ cơ bản

như: cố, gắng, định, toan,…:

(8) Mợ Ấm muốn tỏ sự cảm ơn kín đáo đãi bõ già một miếng trầu kèm

miếng cau tươi mềm (8, tr.88)

Đối với ví dụ (8), vị từ trao là đãi với ba diễn tố: Mợ Ấm, bõ già, miếng trầu

tươi kết hợp với tình thái từ tỏ cho thấy hành động cho của Mợ Ấm là có dự định từ

trước, có ý định và mong muốn người nhận đáp ứng

Phát ngôn mang tính{ Chủ ý} còn thể hiện ở người được hưởng kết quả có mục đích từ người có chủ ý Trong Tiếng Việt, người hưởng lợi ích từ hành động đó biểu thị qua các từ như: cho/hộ/giúp/vì/giùm đặt trước danh ngữ chỉ nhân vật đóng vai này Có thể hiểu những từ này bao hàm ý định giúp đỡ ai đó, làm giúp cho ai đó

vì họ không làm được và nếu làm hộ sẽ hưởng lợi ích chính đáng Ví dụ:

(9) Chị Dậu bưng bát nước lá dành lá duối cho anh Dậu uống (6, tr.150)

Ở ví dụ trên, người hưởng lợi anh Dậu, hưởng quyền lợi của việc mang nước

lá dành lá duối

Vị từ mang tính { Chủ ý} có khả năng kết hợp với câu cầu khiến với vai trò

là bổ ngữ chỉ nội dung cầu khiến Tức là người ta có thể sai khiến hay yêu cầu người nào đó làm một việc mà có chủ ý, sự việc ấy chủ thể có thể thực hiện được

Ví dụ:

(10) Và tôi muốn dâng cho ông Mới cái chức nghệ sĩ (6, tr.514)

Ví dụ (10) cũng tương tự như vậy, vị từ trao ở đây là dâng, với các diễn tố đi kèm tôi, ông Mới và cái chức nghệ sĩ kết hợp với vị từ sai khiến là muốn thể hiện

chủ ý của chủ thể

Như vậy, qua việc khảo sát ngữu liệu chúng tôi nhận thấy VTTN mang cả đặc trưng về { Chủ ý} và { Động} theo quan điểm của S.C.Dik Đây là cơ sở quan trọng trong quá trình hiện thực hóa cấu trúc ngữ nghĩa ở bình diện dụng học

Trang 31

DT1 – VTTT – DT2 – DT3

Vị từ trao gồm ba thành tố và đều là các danh từ hoặc tính từ đảm nhiệm chức năng Trong đó DT1: chủ thể, đứng đầu câu; DT2: vai đối thể, sau là VTTT và DT3: thường cuối câu là người tiếp nhận Đồng thời, VTTN đòi hỏi phải có hai danh từ là thể hiện hoạt động chuyển tới ai đó Phải đảm bảo trong đó có một danh

từ biểu thị đối tượng phải thay đổi về chủ sở hữu (DT3) và một danh từ phải thể hiện đối tượng tiếp nhận (chuyển sang chủ sở hữu mới –DT2) Thường thì danh từ biểu thị biểu thị đối tượng thứ nhất (DT2) đứng trước danh từ biểu thị đối tượng thứ

hai (DT3) Đồng thời nhóm vị từ này luôn đòi hỏi các quan hệ từ như: cho, của,…

đi kèm bổ sung ý nghĩa cho câu thêm hoàn chỉnh

Vị từ ban phát gồm 2 dạng chính: là phổ biến và không phổ biến điểm phân

biệt của hai trường hợp này ở chố: nếu như ở dạng phổ biến bao gồm bốn diễn tố:

DT1, VT, DT2, DT3, tức tôi trao cho ai đó cái gì và trường hợp còn lại là tôi nhận

từ ai đó cái gì Chính là một quá trình có hai chiều ngược lại với nhau

- Phổ biến: là những vị từ trong cấu trúc nghĩa đòi hỏi ba diễn tố và mang bản

chất của một vị từ trao Bao gồm các từ như: đưa, trao, tặng biếu, cung cấp,

chuyển, giao, nhượng, thí, gửi, viện trợ, cấp, ban, trao trả, sẻ, cho, đóng, giúi, nhường, xuống chỉ, đãi, chia, thưởng, hưởng, kính, trả, mang, đặt, để, trả, bỏ, bán, mang, trả, gói, giao, đóng,đem…Ví dụ:

(11) Và Ba trao lại việc chợ búa ăn tiêu cho Nhượng (1, tr.241)

Trang 32

(12) Tôi biếu anh một quả chanh (10, tr.490)

- Không phổ biến là những vị từ mang ý nghĩa khác nhưng trong phát ngôn nó được sử dụng như một vị từ trao trong tiếng Việt Bao gồm: quăng, mời, vứt, dúi,

ném, mừng tuổi, sang sổ, xỉa, quẳng, xỉa, nhét, chìa Ví dụ:

(13) Mẹ tôi cũng không quen dúi cho tôi một hào để ăn quà (11, Tr.289)

Thường khi đưa cho ai đó tiền người ta thường dùng qua các từ đưa, cho nhưng trong ví dụ trên lại tác giả sử dụng từ dúi với dụng ý nghệ thuật thể hiện

hành động nhanh, gấp gáp cho kịp việc gì đó: chủ thể (mẹ tôi), vật thể (một hào để

ăn quà), người nhận (tôi)

b Vị từ nhận (VTN)

Với nghĩa là nhận từ ai đó cái gì hay tiếp nhận từ nơi khác đến, biểu thị cho quá trình tiếp nhận vật gì đó từ chủ sở hữu cũ thực hiện hành động Mô hình:

DT1 – VTTT – DT2 (của) DT3 Khi bàn luận đến nhóm vị từ này có khá nhiều ý kiến khác nhau Xét về thực

tế thì các vị từ này có khả năng sử dụng độc lập không cần thiêt phải có quan hệ từ

đi kèm giống như nhóm vị từ ban phát Nhóm này lại được chia thành:

- Bao gồm các dạng phổ biến: vay, lĩnh, nhận, mua, cướp, đòi, mượn, đoạt,

thu, đón, cầm, Ví dụ:

(14) Thứ đã nhận được thư trả lời từ vợ (3, Tr.714)

(15) Dường như thương mẹ bị quở, cái Tý vội vàng đón lấy rá cơm (6, tr.99)

- Dạng không phổ biến: với các từ như: ngoặm, đỡ, đớp, giằng, bốc…Ví dụ:

(16) Cô bậu tay đỡ lấy cái túi thơ của cụ Nghè Móm (11, tr.62)

2.1.4 Các thủ pháp xác định diễn tố của vị từ trao nhận

Vị từ là khả năng kết hợp của từng đơn vị ngôn ngữ khác để tạo thành giá trị chung cũng như có khả năng tự mình làm vị ngữ hay làm hạt nhân ngữ nghĩa của một vị từ biểu thị nội dung của hiện thực phản ánh trong câu Đây là các thủ pháp

mà chúng tôi sử dụng để xác định các diễn tố của vị từ trao nhận

2.1.4.1 Đặt câu hỏi

Trang 33

Trên thực tế, khi xác định các thành tố trong một vị từ, về nguyên tắc phải tuân thủ theo đặc điểm cấu trúc (hình thức) và ngữ nghĩa (nội dung) Tuy nhiên, do hai mặt này có mói quan hệ chặt chẽ và mỗi thành tố này lại đảm nhiệm một chức năng nào đó trong cấu trúc nên sẽ trả lời cho một câu hỏi cụ thể được đề ra Chính

vì vậy thủ pháp đặt câu hỏi là thủ pháp được sử dụng phổ biến

Đặt câu hỏi là thủ pháp hiểu theo cách đơn giản là dựa vào vị từ trung tâm để đặt câu hỏi Câu trả lời nằm ở các diễn tố của vị từ: Ví dụ:

(17) Kha đưa cho tôi cái lồng chim (1, tr.189)

Xét ví dụ trên, ta thấy VTTN là cho chúng ta đặt câu hỏi cho các diễn tố để

thấy rõ:

- Người trao? => Diễn tố 1, vai chủ thể: Kha

- Vật trao nhận? => Diễn tố 2 là đối thể: cái lồng chim

- Người nhận? => Diễn tố 3 là vai tiếp thể: tôi

Còn đưa là thời gian diễn ra hành động đưa

Theo lí thuyết diễn trị của L Tesnière coi vị từ là cái đỉnh của câu có thể mô hình qua sơ đồ sau:

cái lồng chim

người nhận?

tôi

Trang 34

Các quan hệ từ có thể là quan hệ giữa các từ và các thành phần trong câu Chúng giúp biểu hiện các quan hệ ngữ pháp giữa các từ hay cụ thể là thể hiện ý nghĩa quan hệ Do tính chất của nó mà tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà hình thành nên các quan hệ từ khác nhau biểu thị quan hệ giữa các khái niệm Chúng ta có thể xác định qua một số tiểu loại sau:

a Quan hệ từ cho

Đây là trường hợp mà xuất hiện nhiều trong vị từ trao nhận cụ thể là trong vị từ

trao Tuy nhiên, những VTT không điển dạng thì sự xuất hiện quan hệ từ cho là rất

quan trọng vì nó đóng vai trò là tiếp thể/đắc lợi thể: vai nghĩa đặc trưng của VTTN Ví dụ:

(18) Tôi cho anh một cái lọ bằng san hô do tay tôi chạm trổ (3, tr.148)

(19) Cai lệ quẳng cho chị Dậu cái lược bí và cái gương vuông (6, tr.161)

Trong ví dụ (18) bản thân nó mang nghĩa là cho nên kết hợp với vai tiếp thể

anh càng nhấn mạnh nghĩa Còn trong ví dụ (19) còn lại quẳng vốn là vị từ dời

chuyển nhưng dược dùng như một VTTN, vốn mang nghĩa là di chuyển tới một địa

điểm khác nhưng quan hệ từ cho đi kèm lại gia tăng ý nghĩa phát nhận

b Quan hệ từ của

Cùng nằm trong VTTN thì vị từ nhận về mặt ngữ pháp giống như vị từ ban nhưng điểm khác biệt là đi kèm hư từ Nếu như hư từ cho thể hiện vị từ ban phát thì

hư từ đánh dấu cho vị từ nhận Ví dụ:

(20) Hàng năm nhân dân làng ấy sưu thuế nộp cho Thám, mệnh lệnh theo

của Thám (6, tr.445)

(21) Tôi nhất định đem tiền đến cho người lái xe kia để chuộc tội lỗi của

mình (17, tr.50)

c Quan hệ ra/vào/lên/xuống

Đây là tiểu loại mà tần suất xuất hiện khá ít thường thì xuất hiện nhiều hơn

cả trong VT dời chuyển nhưng ở đây lại giữa vai trò như một VTTN Chúng thường biểu thị đích hướng đến một đối tượng cụ thể.Ví dụ:

(22) Hắn rút ví tiền đếm năm đồng đưa vào tay Bính (17, tr.366)

Trang 35

Trong ví dụ (22) là một trường hợp đặc biệt, là trường hợp giao thoa giữa vị từ trao

nhận và vị từ dời chuyển Bởi lẽ, nếu xét về bản chất là hành động mà hắn đưa tiền sang

cho Bính là vị từ dời chuyển Nhưng trong hoàn cảnh này thì phát ngôn này cũng vẫn

được coi là VTTN vì cũng đáp ứng đầy đủ các thành phần bắt buộc: VTTT và diễn tố

2.1.4.3 Bổ sung

Là thêm hay bổ sung một tham thể trong cấu trúc ngữ nghĩa để xem xét ý nghĩa của tham thể trong từng trường hợp Đây là trường hợp ngược lại với thủ pháp lược, được chia thành hai trường hợp Cụ thể:

Trường hợp 1: thêm các tham tố vào cấu trúc câu đã trọn vẹn trong phát

ngôn Nếu như sự bổ sung này làm thay đổi cấu trúc ngữ nghĩa thì là diễn tố và ngược lại sẽ là chu tố Ví dụ:

(23a) Nàng dúi cho một mẩu giấy (8, tr.257)

Xét ví dụ (22a) ta thấy đây là một câu có đầy đủ bốn thành tố, dúi kết hợp với

ba tham thể là nàng, mẩu giấy Đây chính là vị từ hai diễn tố kh thêm một yếu tố

nữa ta sẽ có phát ngôn:

(23b) Nàng dúi cho một mẩu giấy từ tay Hà (8, tr.257)

Lúc này, câu trên trở thành vị từ vị từ ba tham thể: nàng, mẩu giấy và tay Hà

Sự có mặt của tham thể thứ ba tay Hà là vai đích đã làm thay đổi cấu trúc câu, từ vị

từ hai diễn tố thành vị từ ba diễn tố

Trường hợp 2: thêm vào cấu trúc đã bị tỉnh lược (hay khuyết thiếu thành

phần) mục đích chính là lấp đầy khoảng trống ấy Ví dụ:

(24a) (Chị nói với mấy người cùng xóm) Liên đưa một đôi khuyên vàng cô mới

đánh ở trên tỉnh (10, tr.199)

Ví dụ trên biểu thị vai nghĩa là chủ thể Liên thực hiện hành động đưa đôi khuyên tai Dựa vào hoàn cảnh trên có thể thêm vào các yếu tố sau:

(24b) (Chị nói với mấy người cùng xóm) Liên đưa một đôi khuyên vàng cô

mới đánh ở trên tỉnh cho chị X (10, tr.199)

Khi thêm yếu tố này vào thì phát ngôn mang nghĩa hoàn chỉnh: Liên – đưa – đôi khuyên tai vàng – cho chị X

Trang 36

2.1.4.4 Cải biến

Là một thủ pháp thay đổi vị trí của các yếu tố trong cấu trúc vốn có của câu

đã cho thành một cấu trúc khác Xuất phát điểm từ của ngôn ngữ hình tuyến Tức là các tín hiệu ngôn ngữ phải sắp xếp theo trật tự lần lượt, kế tiếp nhau trong chuỗi lời nói chứ không thể nào cùng xuất hiện một lúc Từ đó, dẫn đến một hệ quả trong tiếng Việt không chỉ bản thân các tín hiệu ngôn ngữ, theo trật tự sử dụng là phương

thức ngữ pháp quan trọng Bao gồm:

a1 Cải biến hình thức

Là mô hình cải biến chỉ thay đổi về hình thức chứ không thay đổi nội dung, trật tự các phần sẽ bị tráo đổi cho nhau nhưng vẫn làm sao vẫn giữ nguyên được ý nghĩa ban đầu Đây là kiểu biến đổi thuần túy theo vị trí của các cụm từ/cụm từ được thay đổi kéo theo sự thay đổi về ngữ pháp và ngữ nghĩa trong câu Ví dụ:

(25) Hôm nay bà đem cho chúng tôi một dúm đậu đen.(1, tr.807)

Trong ví dụ trên, xét thấy VTPN đem kết hợp với ba diễn tố: bà (chủ thể),

một dúm đậu đen (đối thể), chúng tôi (tiếp thể) và có thêm thành phần phụ: trạng

ngữ: hôm nay Mặc dù chúng có sự sắp xếp theo đúng trật tự thông thường nhưng

có thể thay đổi vị trí các diễn tố ta sẽ có những dạng sau:

- Hôm nay, bà đem cho chúng tôi một dúm đậu đen

- Hôm nay, một dúm đậu đen, bà đem cho chúng tôi

- Một dúm đậu đen, hôm nay, bà đem cho chúng tôi

- Bà đem cho chúng tôi, một dúm đậu đen, hôm nay

Sự cải biến trên chỉ mang tính hình thức, các diễn tố này chỉ có sự thay đổi về

vị trí chứ không hề thêm bớt từ ngữ nào cho nên nó chỉ làm thay đổi chức vụ cú pháp còn vai nghĩa vẫn giữ nguyên

a2 Cải biến nửa hình thức

Kiểu cải biến này cho phép thêm vào câu trúc thêm vào cấu trúc ban đầu những từ ngữ khác là sự biến hóa, cải biến nguyên nhân và cải biến danh hóa, nguyên nhân và bị động

Trang 37

Đối với các phát ngôn chứa vị từ trao nhận, có sự cải biến cấu trúc chủ động thành bị động như sau:

- Bổ sung vào trước đó một động từ trước hoặc sau vị từ chủ động các từ “

được” (là hành động mà người nói cho là may, được) hoặc bị (với dụng ý mà người

nói cho là không có lợi, rủi ro)

- Chuyển danh từ chỉ đối thể hoặc tiếp thể lên vị trí danh từ chỉ chủ thể, đồng thời chuyển danh từ chỉ chủ thế xuống vị trí giữa bị /được với động từ.Ví dụ:

(26a) Ông Phán dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư (3, tr.372)

(26b) Nó được ông Phán dúi vào tay một cái giấy bạc năm đồng gấp tư.(3,

tr.372)

Hai ví dụ trên ta thấy sự thay đổi hoàn toàn về cấu trúc ngữ pháp Như vậy,

nếu coi bị/được là động từ thực thụ thì cần coi nó là chủ thể cú pháp và ngữ nghĩa

và nó là cấu trúc chủ động Nếu nhìn vào ví dụ trên ta thấy ở ví dụ 26b đã có sự cải

biến bằng việc thêm vào trước từ đó một từ là được Ông Phán chỉ chủ thể ngữ nghĩa còn một cái giấy bạc năm đồng gấp tư chỉ chủ thể ngữ nghĩa (trong quan hệ với dúi) còn nó là tiếp thể Thể hiện qua sơ đồ trên:

(26a) Ông Phán dúi (cho) vào tay nó một cái giấy bạc

Trang 38

biến như vậy giúp nhận diện rõ hơn hai vai nghĩa và diễn tố trong phát ngôn có VTTN một cách cụ thể hơn

2.2 Khái quát về phát ngôn có vị từ trao nhận

- Khi hiện thực hóa trong phát ngôn, VTTN đóng vai trò là nòng cốt trong câu đơn.Ví dụ:

biếu phân

phát

cho chúng tôi mối đứa vài cái kẹo

còn nhiều phải vứt đi vì không

ăn được

(17, tr.147)

Trang 39

Qua việc phân tích những ví dụ trên ta thấy khả năng hiện thực hóa của VTTN trong phát ngôn thể hiện khá đa dạng ở nhiều vị trí khấc nhau đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau

2.2.2 Cấu trúc ngữ pháp

Phát ngôn chứa VTTN là phát ngôn có một yếu tố trung tâm và xoay quanh vị

từ đó là các diễn tố đảm nhiệm vai nghĩa nhất định mang chức năng làm rõ nội dung

sự tình Trong quá trình hiện thực hóa phát ngôn thì ngoài chức năng đảm nhiệm chủ ngữ và hai bổ ngữ trong câu đối với vị trí thông thường của ba diễn tố thì chúng còn đảm nhiệm chức năng cú pháp như: bổ ngữ, trạng ngữ, đề ngữ VTTN sẽ biểu thị nội dung sự tình và được hiện thực hóa trong vai trò vị từ trung tâm của vị ngữ Chủ yếu sự hiện thực hóa của phát ngôn chứ VTTN thể hiện ở câu đơn và câu ghép

2.2.2.1 Câu đơn

Câu đơn là một loại câu được sử dụng phổ biến trong văn chương và cuộc sống hàng ngày Xét về mặt lí thuyết câu đơn phải đảm bảo cấu trúc C – V nòng cốt nhưng khi xem xét nó là VTTN cần có những yếu tố bắt buộc: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ một, bổ ngữ hai Các chức năng cú pháp gắn với chức năng nhất định và sắp

xếp theo cấu trúc cú pháp cơ sở của phát ngôn chứa VTTN như sau:

Trang 40

Trong phát ngôn chứa VTTN, theo đúng lí thuyết thì cần có một vị từ và ba diễn tố theo trật tự thông thường: DT1 – VTTT – DT2 – DT3, tương ứng với chức năng cú pháp lần lượt là: CN – VN – BN1 – BN2, tuy nhiên trong nhiều trường hợp phụ thuộc vào mục đích sử dụng và ngữ cảnh mà dẫn tới sự thay đổi trật tự các diễn

thành tố đã bị thay đổi, cụ thể DT2 đảo lên DT1 và ở vị trí đó DT2 làm trạng ngữ

biếu ông Tản

Đà

một số tiền lớn hơn thế

(10, tr.138)

Ngày đăng: 30/08/2018, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w