1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trường nghĩa động vật, thực vật trong ca dao việt nam

59 458 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 733,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tìm hiểu trường từ vựng - ngữ nghĩa và vận dụng những lí thuyết về trường nghĩa trong lĩnh vực văn học giúp chúng ta thấy rõ quan hệ giữa các từ ngữ, tính hệ thống của từ vựng nói r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ THỦY

TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT,

THỰC VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Hà Nội - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ THỦY

TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT,

THỰC VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THỊ THÙY VINH

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu

sắc nhất cô giáo TS Lê Thị Thùy Vinh – người hướng dẫn khoa học: đã tận

tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô cùng các bạn sinh viên để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Trường nghĩa động

vật, thực vật trong ca dao Việt Nam” này là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của bản

thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Thị Thùy Vinh – Giảng viên

Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Đề tài và nội dung khóa luận là trung thực chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 17 tháng 05 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Thủy

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả khảo sát trường nghĩa thực vật 16

Bảng 2.2 Tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm của nhóm côn trùng trong ca dao Việt Nam 17

Bảng 2.3 Thống kê, miêu tả hệ thống 21 biến thể (160 lần) từ ngữ biểu thị các động vật thủy sinh khác và tần số xuất hiện trong ca dao 18

Bảng 2.4 Bảng thống kê, miêu tả hệ thống xuất hiện của nhóm thú nuôi 19

Bảng 2.5 Bảng thống kê, miêu tả hệ thống xuất hiện của nhóm thú hoang 19

Bảng 2.6 Bảng kết qủa khảo sát của trường nghĩa thực vật 32

Bảng 2.7 Bảng thống kê các loài cây có tần số xuất hiện cao nhất 33

Bảng 2.8 Bảng thống kê những loài hoa có tần số xuất hiện cao nhất 33

Bảng 2.9 Bảng thống kê các loài lá có tần số xuất hiện cao nhất 34

Bảng 2.10 Bảng thống kê các loài củ/quả có tần số xuất hiện cao nhất 34

Bảng 2.11 Bảng thống kê các loài thực vật có tần số xuất hiện nhiều nhất 35

Bảng 2.12 Bảng thống kê các từ chỉ các dạng thức của thực vật nói chung 35

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 6

1.1 Lí thuyết về trường nghĩa 6

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa 6

1.1.2 Phân loại trường nghĩa 7

1.1.2.1 Trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật) 7

1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm) 9

1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) 10

1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng) 11

1.1.3 Ngữ nghĩa của trường nghĩa 12

1.2 Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương 13

1.2.1 Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương 13

1.2.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương 14

1.2.3 Trường tuyến tính (trường nghĩa ngang) và ngôn ngữ văn chương 15

1.2.4 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương 15

Chương 2 KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT VÀ THỰC VẬT TRONG CA DAO VIỆT NAM 16

2.1 Trường nghĩa động vật trong ca dao Việt Nam 16

2.1.1 Kết quả thống kê 16

2.1.1.1 Tiêu chí phân loại 16

Trang 7

2.1.1.2 Kết quả khảo sát 16

2.1.2 Phân loại 17

2.1.2.1 Tiểu trường nghĩa nhóm côn trùng (155/1338 -11.6%) 17

2.1.2.2 Tiểu trường nghĩa nhóm cá và động vật thủy sinh (332/ 1338- 24.81%) 17

2.1.2.3 Tiểu trường nghĩa nhóm chim (312/1338 – 23.32% ) 18

2.1.2.4 Tiểu trường nghĩa nhóm thú (429/1338 – 32.06% ) 19

2.1.2.5 Các loài vật huyền thoại (110/ 1338 –8.22% ) 20

2.1.3 Nhận xét và biểu hiện của động vật 20

2.1.3.1 Nhận xét 20

2.1.3.2 Biểu hiện của động vật qua một số biểu tượng trong ca dao 21

2.2 Trường nghĩa thực vật trong ca dao Việt Nam 30

2.2.1 Kết quả thống kê 30

2.2.1.1 Tiêu chí phân loại 31

2.2.1.2 Kết quả khảo sát phân loại 32

2.2.2 Nhận xét và biểu hiện của thực vật 32

2.2.2.1 Nhận xét 32

2.2.3.2 Biểu hiện của thực vật qua một số biểu tượng trong ca dao 36

KẾT LUẬN 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, các từ không tồn tại một cách

rời rạc mà chúng đều có quan hệ nhất định với nhau về một phạm vi ngữ nghĩa nào

đó Mỗi một tập hợp những từ có quan hệ về nghĩa như vậy tạo nên một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là “trường từ vựng”, “trường từ vựng ngữ nghĩa” hay

“trường nghĩa” Trường từ vựng – ngữ nghĩa là một trong những nội dung quan trọng của ngữ nghĩa học Do đó, nó đã nhận được sự quan tâm đặc biệt, rộng rãi của nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới trong đó có Việt Nam Việc tìm hiểu trường từ vựng - ngữ nghĩa và vận dụng những lí thuyết về trường nghĩa trong lĩnh vực văn học giúp chúng ta thấy rõ quan hệ giữa các từ ngữ, tính hệ thống của từ vựng nói riêng và ngôn ngữ nói chung Đồng thời việc xác lập trường nghĩa và phân tích trường nghĩa là cơ sở để đánh giá, cảm thụ các tác phẩm văn học và tránh được những nhận xét, đánh giá chung chung, không có căn cứ

1.2.Ca dao không chỉ phản ánh những tâm tư tình cảm của con người mà còn

là bức tranh sinh động của đời sống mà nó còn mang đậm nét văn hóa của Việt Nam Ca dao Việt Nam là viên ngọc quý trong kho tàng văn học Việt Nam Với ngôn ngữ tinh tế, sống động, duyên dáng, giàu hình tượng và đầy chất thơ, ca dao đi vào lòng người, được người người thuộc nhớ, trau chuốt và truyền miệng từ thế hệ

này sang thế hệ khác

Kho tàng ca dao Việt Nam thật phong phú, đặc sắc, mang một giá trị lớn về trí tuệ, tình cảm và hình thức nghệ thuật Tìm hiểu, nghiên cứu, học thuộc ca dao luôn là niềm say mê của nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam

Ca dao Việt Nam đã được nghiên cứu và tìm hiểu từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tìm hiểu từ góc độ ngôn ngữ vẫn là một cách nghiên cứu có giá trị tin cậy Trong khóa luận này, chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu về trường nghĩa động vật, thực vật trong ca dao Việt Nam qua đó thấy được nghệ thuật sử dụng ngôn từ của quần chúng nhân dân đồng thời thấy được khả năng độc đáo của ngôn ngữ tiếng Việt khi đi vào tác phẩm văn chương

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Trường nghĩa là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Bùi Minh Toán Khi tìm hiểu đề tài, chúng tôi nhận thấy nhiều trường từ vựng – ngữ nghĩa thuộc các phạm trù chỉ người, động vật, thực vật và xem xét sự hoạt động của trường nghĩa trong các môi trường khác nhau: lịch sử, xã hội, văn hóa Một số tác giả còn đối sánh trường nghĩa trong tiếng Việt với các trường nghĩa tương ứng trong các ngôn ngữ khác, nhưng họ chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ chứ chưa đi vào tác phẩm cụ thể Do đó, việc khảo sát hoạt động của trường nghĩa trong các tác phẩm là vấn đề còn mới mẻ Riêng về từ ngữ động vật, thực vật đã có một số công trình nghiên cứu như:

Luận án tiến sĩ Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt (2016) của

tác giả Trịnh Viết Toàn đã miêu tả, khảo sát đặc điểm của hình thức biểu hiện, cách ứng xử với môi trường xã hội và tự nhiên, giá trị biểu trưng của thế giới thực vật trong ca dao, tác giả rút ra: “ca dao của người Việt rất phong phú, phản ánh một các sinh động nhiều mặt của đời sống xã hội; tư tưởng, tình cảm và lối thẩm mỹ của người Việt Nghiên cứu thế giới thực vật trong ca dao, luận án đã cho thấy một thế giới “văn minh thực vật” được hình thành và kết tinh trong quá trình người Việt xây dựng và phát triển cuộc sống của cộng đồng mình Thông qua ca dao và thế giới thực vật trong ca dao, người Việt đã gửi gắm những tâm tư, tình cảm, những lối ứng

xử và các quan hệ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội một cách độc dáo, phù hợp với tư duy truyền thống của người Việt Tất cả góp phần tạo nên bản sắc Việt, một bản sắc mang đậm dấu ấn văn hóa thực vật”

Luận án tiến sĩ Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt (Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2010) của Đỗ Thị Hòa đã miêu tả, khảo sát đặc điểm của

hình thức biểu hiện, cách ứng xử với môi trường xã hội và tự nhiên, giá trị biểu trưng của thế giới động vật trong ca dao, tác giả rút ra: “Hình ảnh của các loài động vật được phản ánh vào ca dao là một cách thức quan trọng để người Việt tự ý thức, khám phá và biểu hiện chính mình trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội Thế giới muôn màu muôn vẻ của các loài vật, không chỉ là các hình thái hiện hữu sinh

Trang 10

động và đa dạng của tự nhiên mà còn là tính đa diện, đa chiều, phức tạp của thế giớ nhân sinh”

Luận án Tri thức dân gian về ứng xử với môi trường tự nhiên trong đời sống vật chất người Việt vùng U Minh Thượng (Viện Nghiên cứu văn hóa, 2009) của

Nguyễn Diệp Mai đã làm nổi bật được nét đặc thù trong lối ăn, ở, mặc và đi lại thích ứng với môi trường tự nhiên rừng U Minh Thượng của cư dân bản xứ Tác giả

đã mô tả, phân tích kỹ lưỡng những kinh nghiệm khai thác động vật, thực vật theo loài, theo mùa và cách thức chế biến các sản phẩm đó thành thực phẩm phục vụ đời sống hằng ngày của người là bản địa

Luận án phó tiến sĩ Đặc điểm trường từ vựng – ngữ nghĩa tên gọi động vật

(trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga, 1996) của tác giả Nguyễn Thúy Khanh Tác giả đã rút ra kết luận: “Để định danh động vật, tiếng Việt chủ yếu sử dụng các tên gọi thuần Việt Số lượng tên gọi vay mượn không đáng kể và chủ yếu

là vay mượn chữ Hán Cấu trúc ngữ nghĩa của tên gọi động vật trong tiếng Việt và tiếng Nga đựơc tổ chức theo nguyên tắc trường Cả hai trường từ vựng – ngữ nghĩa đều có xu hướng ưa dùng cách chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ Ở cả hai dân tộc chỉ

có một số động vật được sử dụng với biểu trưng như nhau, còn đại đa số động vật mang biểu trưng khác nhau ”

Ngoài ra, có một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Một vài nhận xét về thành ngữ so sánh có tên gọi động vật tiếng Việt của tác giả Nguyễn Thúy Khanh, Ngôn ngữ, số 3, năm 1994

Các luận án đã nêu bật được giá trị của “thế giới động vật”, “thế giới thực vật” trong đời sống văn hóa Việt Nam, nêu ra những bài học về giá trị truyền thống, đây cũng là một trong những cơ sở để chúng tôi tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận

Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, khóa luận sẽ tập trung làm nổi bật trường nghĩa động vật, thực vật và giá trị của chúng

Trang 11

trong ca dao của người Việt Đây là một việc làm rất cần thiết để làm rõ trường từ vựng – ngữ nghĩa động vật, thực vật nhưng đây là một vấn đề còn bỏ ngỏ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ các trường nghĩa động vật, thực vật trong ca dao Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Ứng với nội dung nêu trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Khảo sát các vấn đề lý thuyết có liên quan

- Khảo sát trường từ ngữ chỉ động vật, thực vật trong ca dao Việt Nam

- Bước đầu phân tính, đánh giá hiệu quả sử dụng và nhận xét sự vận động của trường nghĩa chỉ động vật, thực vật trong ca dao Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là trường nghĩa động vật và thực vật trong ca dao Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Ở khóa luận này, chúng tôi sử dụng cuốn Ca dao Việt Nam do Bích Hằng

(tuyển chọn), Nhà xuất bản Hồng Đức (2015) làm ngữ liệu để nghiên cứu và tìm hiểu

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê: thống kê những từ ngữ chỉ động vật, thực vật trong giới hạn nghiên cứu

Trang 12

- Phương pháp miêu tả: phương pháp này dùng để phân tích đặc điểm của các trường nghĩa động vật, thực vật trong ca dao, từ đó rút ra tính hệ thống ngữ nghĩa trong trường nghĩa và giá trị của những bài ca dao

- Thủ pháp so sánh, đối chiếu: thủ pháp này xem xét tần số xuất hiện giữa các trường nghĩa cụ thể cũng như những từ ngữ trong các trường nghĩa đó

- Thủ pháp phân tích: thủ pháp này dùng để phân tích các đặc điểm của trường nghĩa về động vật, thực vật, từ đó rút ra được tính hệ thống ngữ nghĩa trong trường nghĩa và biểu hiện của chúng qua một số biểu tượng trong ca dao

Bước 3: Viết khóa luận

6 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận có cấu trúc 2 chương

• Chương 1: Cơ sở lí thuyết

• Chương 2: Khảo sát trường nghĩa động vật và thực vật trong ca dao Việt Nam

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lí thuyết về trường nghĩa

Lí thuyết về trường nghĩa đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra vào những thập kỉ 20 và 30 của thế kỉ XX Ở Việt Nam lí thuyết về trường nghĩa mới được đề cập đến trong vài chục năm gần đây nhưng đã phát triển mạnh

Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa, là cách gọi tắt của trường từ vựng – ngữ nghĩa Từ khi ra đời đến nay lí thuyết này đã được vận dụng vào nghiên cứu nhiều kiểu trường nghĩa khác nhau

Kiểu trường nghĩa được nghiên cứu nhiều nhất là: “nhóm từ vựng – ngữ nghĩa” Đó là kiểu trường nghĩa được xác lập dựa trên từ khái quát biểu thị các khái niệm chung nhất, trung hòa và trừu tượng nhất

Ví dụ: Trường nghĩa thực vật, trường nghĩa động vật, trường nghĩa thời gian, trường nghĩa không gian

Tiếp đến là kiểu trường nghĩa được xác lập theo một khái niệm chung nhất cho

tất cả các từ của nhóm: nhóm các từ ngữ chỉ sự di chuyển trong không gian, nhóm các từ ngữ chỉ trạng thái của con người Những kết cấu ngữ nghĩa của những từ đa

nghĩa cũng được gọi là trừơng nghĩa và được nghiên cứu dựa trên lí thuyết về trường nghĩa, bởi lẽ giữa các nghĩa khác nhau của một từ đa nghĩa bao giờ cũng có một yếu tố chung, tạo nên trung tâm ngữ nghĩa để thu hút các từ có quan hệ với nó

Ví dụ: Trường nghĩa của từ tay, trường nghĩa của từ chân, từ tai, từ mắt

1.1.1 Khái niệm trường nghĩa

Lí thuyết trường nghĩa ra đời vào mấy chục năm gần đây Tư tưởng cơ bản của

lí thuyết này là khảo sát từ vựng một cách có hệ thống Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa Nhưng có thể quy vào hai khuynh hướng chủ yếu: Khuynh hướng thứ nhất quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện Đại diện cho khuynh hướng này là L.Weisgerber

và J.Trier

Trang 14

Khuynh hướng thứ hai cố gắng xây dựng lí thuyết trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải phạm vi các khái niệm nào đó nữa

mà là phạm vi tất cả các từ có quan hệ lẫn nhau về nghĩa Đại biểu là Ispen

Kiểu trường nghĩa phổ biến nhất là nhóm từ vựng – ngữ nghĩa Giáo sư Đỗ Hữu Châu là người có nhiều nghiên cứu về trường nghĩa Theo ông “những quan hệ

về ngữ nghĩa giữa các từ sẽ hiện ra khi đạt được các từ nói chung vào nhưng hệ thống con thích hợp” Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thê hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng”

Trong Từ vựng – ngữ nghĩa Tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa” Đó là những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa

1.1.2 Phân loại trường nghĩa

Với các trường nghĩa, chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường

F.de Saussure trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương” đã chỉ ra hai dạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (hay quan hệ tộc tuyến, quan hệ hệ hình)

Theo đó, trường nghĩa được chia thành: trường nghĩa ngang (hay còn gọi là trường tuyến tính), trường nghĩa dọc (gồm hai trường: trường biểu vật và trường biểu niệm) và một trường có quan hệ chi phối cả hai trường trên, đó là trường liên tưởng

1.1.2 1 Trường nghĩa biểu vật (trường biểu vật)

Trường biểu vật là tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm gốc Các danh từ này phải có tính khái

quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, động vật, thực

Trang 15

vật, vật thể Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý

nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường biểu vật nào đó khi xét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên

Ví dụ: Trường biểu vật (người):

- Người nói chung:

+ Xét về giới: đàn ông, đàn bà, nam, nữ

+ Xét về tuổi tác: trẻ em, thanh niên

- Bộ phận con người: đầu, mình, chân, tay

- Hoạt động của con người:

+ Hoạt động của trí tuệ: nghĩ, suy, suy nghĩ

+ Hoạt động của các giác quan để cảm giác: nhìn, trông

+ Hoạt động của con người tác động đến đối tượng: túm, nắm, húc + Hoạt đông dời chỗ: đi, chạy, nhảy

+ Hoạt động thay đổi tư thế: đứng, ngồi, cúi

- Trạng thái của con người:

+ Trạng thái sinh lí: ốm yếu, khỏe mạnh

+ Trạng thái trí tuệ: minh mẫn, mụ mị

+ Trạng thái nội tâm: buồn, vui, giận dữ

Các trường biểu vật khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức các đơn vị, miền phân bố Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật nên một từ có thê nằm trong nhiều trường khác nhau, từ đó dẫn đến hiện tượng “thẩm thấu”, “giao thoa” giữa các trường Hai trường biểu vật “giao thoa” với nhau khi một hoặc một số từ của trường này nằm trong trường kia Số lượng các từ chung của hai từ càng ít thì tính độc lập của chúng càng cao

Ví dụ: Chúng ta có hai trường “người” và “thực vật” độc lập đối với nhau cao hơn là hai trường “người” và “động vật” (hầu hết các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể của trường “người”, một số hoạt động của người đều dùng chung cho động vật, trong khi đó, các từ của trường thực vật như cành, rễ, ngọn, ít dùng cho người)

Trang 16

Trong một trường biểu vật, quan hệ của các từ ngữ đối với trường là không giống nhau Có những từ gắn rất chặt với trường (những từ ngữ điển hình), có những từ ngữ gắn bó lỏng lẻo hơn Căn cứ vào tính chất quan hệ giữa từ ngữ với trường, chúng ta nói các trường biểu vật có một cái “lõi” trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghiã của trường gồm các từ ngữ điển hình cho nó

Ngoài cái lõi của trường là các lớp từ khác mỗi lúc một đi xa ra khỏi lõi, liên

hệ với trường mờ nhạt đi

1.1.2.2 Trường nghĩa biểu niệm (trường biểu niệm)

Trường biểu niệm là một tập hợp từ có chung một cấu trúc biểu niệm

Trang 17

các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thê “giao thoa” với nhau, “thẩm thấu” vào nhau và cũng có “lõi” trung tâm với các từ điển hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi

Các ý nghĩa biểu niệm tuy có nguồn gốc ở các khái niệm nhưng không đồng nhất với khái niệm, cho nên các trường nghĩa biểu niệm cũng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm, không phải là những sự kiện tư duy thuần túy mà là những

sự kiện ngôn ngữ

Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được trường Nhưng cũng chính nhờ các trường, nhờ sự định vị được từng từ một trong trường thích hợp mà chúng

ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ

1.1.2.3 Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang)

Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp tất cả các từ có thể kết hợp với một từ ngữ nào đó lấy làm gốc lập thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được một cách bình thường đối với người sử dụng ngôn ngữ

Ví dụ: Trường nghĩa tuyến tính của từ xanh là : đậm, thẫm, non, biếc lá, cây, nước biển, bầu trời Trường nghĩa tuyến tính của từ đi là: nhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng ra, vào, lên, xuống chợ, làm, học

Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản Bằng việc phân tích, ý nghĩa của chúng, ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó Cùng với các trường nghĩa dọc, trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện những đặc điểm nội tại và những đặc điểm

hoạt động của từ Chẳng hạn: trường nghĩa tuyến tính của từ xanh sẽ rộng hơn trường nghĩa tuyến tính của từ xanh xao, chúng ta chỉ có thê nói: da xanh xao mà không thể nói: lá xanh xao, cây xanh xao ; trong khi vẫn có thể nói: lá xanh, cây xanh, da xanh

Trang 18

Có rất nhiều từ đi với một từ trung tâm nào đó lập thành trường nghĩa tuyến tính của nó Tuy nhiên quan hệ giữa các từ lập thành trường nghĩa tuyến tính có mức độ chặt, lỏng lẻo khác nhau

1.1.2.4 Trường nghĩa liên tưởng (trường liên tưởng)

Sự phân lập ra các trường biểu vật và biểu niệm như trên là cần thiết để tìm hiểu những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp, phát hiện những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của từ Nhưng đó mới chỉ là sự phân tích “cấu trúc bề mặt” của ngôn ngữ, trong ngôn ngữ còn có “cấu trúc bề sâu” Đó là lí do để xác lập trường liên tưởng

Nhà ngôn ngữ Pháp Ch.Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên

tưởng Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng như từ bò

của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra do liên tưởng: 1 Bò cái, bò mộng, bê, sừng 2 Sự cày bừa, cái cày 3 Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong lối so sánh, trong các thành ngữ Pháp (dẫn theo 3)

Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định bằng từ các

ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm

Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ nằm cùng trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm Song, trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và cá nhân

Ví dụ: Nhắc tới chiến tranh người ta liên tưởng tới: bom đạn, cái chết Hoặc đối với người Việt Nam màu đỏ thường gợi sự may mắn, sự ấm nóng

Các trường liên tưởng thường không ổn định nên ít tác dụng phát hiện những quan hệ về cấu trúc ngữ nghiã của từ và từ vựng nhưng nó có hiệu lực lớn trong giải thích việc dùng từ, nhất là các từ trong tác phẩm văn học Có nhiều trường hợp phải dùng đến trường liên tưởng thì một chuỗi kết hợp bất thường, mơ hồ về nghĩa trong tác phẩm văn học mới được làm rõ

Trang 19

1.1.3 Ngữ nghĩa của trường nghĩa

Ngữ nghĩa của trường nghĩa, trước hết là ngữ nghĩa chung, khái quát của các

từ trong trường Đó là sự thống nhất, hòa hợp giữa ngôn ngữ, hiện thực khách quan

và tư duy phản ánh quá trình đồng hóa thực tiễn vào trong ngữ nghĩa của trường nghĩa

Ở phần trên, chúng tôi đã phân loại trường nghĩa dựa vào các nghĩa khái quát, các quan hệ dọc, ngang của trường Qua khảo sát các trường nghĩa tôi thấy rằng nghĩa của các từ trung tâm đều chi phối nghĩa của các từ thành viên Điều này đúng với nguyên tắc về cách tổ chức nội bộ trường rằng từ trung tâm phải thể hiện những đặc tính phổ quát của trường, là tâm điểm để tập hợp các từ vào một trường Xem xét về ngữ nghĩa của từ trung tâm, ta thấy nó là một hệ thống được tạo nên bởi các nghĩa khá nhau có quan hệ chặt chẽ Nói chính xác hơn đó là tập hợp các nghĩa vị thuộc những cấu trúc nhất định quy định vị trí của từ trong trường, làm

cơ sở cho hoạt động tạo nghĩa, hoạt động thông báo của từ trong lời nói

Trong hệ thống ngữ vị đó lại có một nghĩa hạt nhân chi phối nghĩa của từ trung tâm và chi phối cả các từ cùng trường của nó Dựa vào nghĩa hạt nhân sẽ biết

từ được xét thuộc về trường nghĩa nào, biết chiều chuyển nghĩa của nó và chuyển nghĩa của cả trường chứa nó Các từ trong một trường vì thế mà đẳng cấu về nghiã hạt nhân – đặc hữu Vậy, ngữ nghĩa của trường nghĩa thực chất là cấu trúc nghĩa vị

và đặc điểm ngữ pháp đặc hữu của trường, tất cả đều do từ trung tâm, điển hình do trường đại diện Do đó, từ đây trở đi, chúng tôi quan niệm: ngữ nghĩa của trường nghĩa chính là ngữ nghĩa của từ trung tâm, điển hình trong trường

Bên cạnh nghĩa chung, ngữ nghĩa của trường nghĩa còn được xét ở quan hệ ngữ nghĩa trong một trường, tức là sự phân hóa nó thành những tiểu trường và những nhóm nhỏ hơn theo kiểu quan hệ bậc 1, bậc 2, bậc 3 khi phân tích cấu trúc

Sự phân chia ấy sẽ tạo ra những tiểu trường đồng cấp và biệt loại với những tiểu trường khác Việc xem xét cấu trúc ngữ nghĩa trong nội bộ trường như vậy sẽ định

vị được các từ trong trường và xác định tương đối đầy đủ ý nghĩa từng từ trong trường

Trang 20

1.2 Mối quan hệ giữa trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương

1.2.1 Trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương

Từ ngữ có thể chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ và hoán dụ Có nhận xét như sau: các từ trong một trường biểu vật thường là kéo nhau chuyển nghĩa theo một hướng nhất định

Nếu các từ chuyển theo ẩn dụ thì thường xảy ra sự chuyển trường biểu vật, có nghĩa là các từ thuộc trường biểu vật này kéo theo nhau chuyển sang trường biểu vật khác tạo nên hiện tượng được gọi là cộng hưởng ngữ nghĩa

Ví dụ: Từ lửa chuyển sang tình cảm, trạng thái tâm lý thì kéo theo các từ hừng hực, vực, bốc, nhen nhóm, đốt, tàn cùng chuyển sang trường đó (nhen nhóm một

tình yêu)

Trong văn chương, các từ ngữ trong một câu văn, một đoạn văn thường kéo nhau theo một trường để tạo ra sự phù hợp về trường nghĩa biểu vật Có thể nói tới hình ảnh chủ đạo (tức ẩn dụ, hoán dụ) của đoạn văn, câu văn (hay của một tác phẩm), hình ảnh chủ đạo thuộc trường biểu vật nào thì kéo theo các từ khác cùng trường với nó:

“Không đâu, gió nén từ tám hường đang bung ra Một cơn bão đang đến Lao vào Nam Lào, con thuyền Việt Nam hóa chiến tranh của Nich Xơn đã lao vào trung tâm một cơn bão lớn Bão nổi ở Cha Kia, La Tương Bão quật sang đỉnh cao 500 xoáy vụn tiểu đoàn 39 Bão dập xuống đồn 456 xẻ nát tiểu đoàn 3 và cuốn sạch chỉ huy lữ đoàn 4 Bão xoáy lốc trên ngọn 550 vùi luôn tất cả những khẩu pháo hạng nặng cùng với lữ đoàn số 147 Bão dồn gió thép về bản Đông”

(Báo Quân đội nhân dân, ngày 9/4/1971)

Hình ảnh chủ đạo là bão táp kéo theo các từ gió, nén, hướng trung tâm, nổi, quật, dồn, cuốn, lốc

Hình ảnh chủ đạo có khi được nói rõ ra, có khi đựơc hiểu ngầm qua các từ cùng trường trong đoạn văn

Mặt khác, với văn chương, sáng tạo trong hình ảnh ngôn ngữ thường là sáng tạo cục bộ, bắt nguồn từ nguyên mẫu đã có từ trước, nguyên mẫu được chứa trong

Trang 21

các ẩn dụ, hoán dụ truyền thống Điều này giải thích tính truyền thống và tính sáng tạo trong các hình ảnh văn chương Bên cạnh đó, tác động của trường biểu vật còn thể hiện ở cái gọi là các lực hướng tâm và li tâm của trường Theo Hansprerber, nguồn gốc chủ yếu của sáng tạo văn học và chuyển nghĩa là các lực cảm xúc Do

đó, ở mỗi cá nhân cũng có phạm vi tư tưởng riêng, những ám ảnh riêng, gây ra những lực cảm xúc riêng ở từng người Chúng tác động theo hai hướng: một mặt chúng “bành trướng” ra lấn vào các phạm vi tư tưởng và từ ngữ khác và hút về phía mình những từ ngữ thuộc về những lĩnh vực khác

Ví dụ: Trước đây 28 năm, phạm vi tư tưởng trung tâm của nước ta là chiến

đấu, chúng ta thấy những từ ngữ thuộc trường quân sự, lấn sang các trường khác: Mặt trận văn hóa, kinh tế, chiến dịch trừ sâu lấn sang cả tình yêu: tấn công, bao vây

1.2.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương

Khi phản ánh một hiện tượng nào đó vào tác phẩm, người viết “khắc họa” nó bằng ngôn ngữ của mình Đối với một đoạn thơ thường chứa đựng một cái gì đồng nhất về nghĩa xuất phát từ các phương diện của hiện thực, tạo nên hiện tượng được gọi là sự cộng hưởng ngữ nghĩa các từ Sự cộng hưởng ngữ nghĩa này dựa trên nét nghĩa chung cho một trường (hay một nhóm từ ngữ trong một trường) biểu niệm Trở lại với đoạn văn viết về chiến thắng Nam Lào 1971 đã dẫn ở trên, ngoài

sự thống nhất về trường biểu vật gió bão, các từ còn thống nhất về nét nghĩa “cường

độ mạnh”: bão, nén, nổi, lao, quật cả đến đối tượng tức nạn nhân của cơn bão và

của các vận động mạnh mẽ, cũng là những sự vật to khỏe; tiểu đoàn, lữ đoàn những khẩu pháo hạng nặng Việc sử dụng những tổng hợp từ ngữ như trên đã tạo

ra hình ảnh về quân sự với những “sức mạnh” của một “cơn bão lớn” Sự cộng hưởng về ngữ nghĩa không chỉ xảy ra đối với các từ ngữ mà nó còn có thê chi phối cấu trúc ngữ pháp, cả ngữ âm, tiết tấu Do đó, người viết thường phối hợp tất cả các yếu tố, các phương diện ngôn ngữ để tạo ra sự toàn bích về hình thức cho tác phẩm của mình

Trang 22

1.2.3 Trường tuyến tính (trường nghĩa ngang) và ngôn ngữ văn chương

Trong ngôn ngữ văn chương, có những trường nghĩa ngang vượt ngoài chuẩn mực Đây là những sáng tạo của các nhà văn, nhà thơ trong cách dùng từ ngữ Những kết hợp bất thường này có thể được chấp nhận rộng rãi, trở thành những kết

hợp bình thường Suối, bờ trong ngôn ngữ thơ có thể kết hợp với tóc thành suối tóc với vai thành bờ vai Chúng chưa thành thành tố của trường nghĩa ngang của hai

từ tóc và vai trong khi như vậy đã đi vào trường nghĩa ngang bình thường của tóc: tóc mây

1.2.4 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương

Trường liên tưởng có hiệu lực lớn, giải thích sự dùng từ, nhất là sự dùng từ trong các tác phẩm văn học, giải thích những hiện tượng sáo ngữ, sự ưa thích lựa chọn những từ nào đấy để nói hay viết, sự né tránh hoặc kiêng kị những từ nhất định

Không nói đến những sự sai biệt về cuộc đời, về tư tưởng, về các chi tiết thực

tế, về hiện tượng Chỉ riêng diện mạo ngôn ngữ cũng đủ làm chúng ta không lẫn được một tác phẩm văn học của thời đại khác Một hiện tượng đã từng sáng tác có hiệu quả trong thời kỳ trước thường gặp khó khăn trong các sáng tác thời kỳ sau, đặc biệt là các thời kỳ đã xuất hiện những thay đổi rất căn bản trong xã hội Đó không chỉ vì người đó mang đó đã mang quá nặng những “nghiệp chướng” của thời đại mình mà còn vì ngôn ngữ của mình đã bị ràng buộc quá sâu nặng với các trường liên tưởng cũ

Do đó, mỗi người nghệ sĩ phải gắn bó với cuộc sống với thời đại Để không chỉ thường xuyên đổi mới tư tưởng, vốn sống, tình cảm mà còn để thường xuyên cải tạo, đổi mới ngôn ngữ của mình

Ở chương này chúng tôi đã tổng hợp các vấn đề lí thuyết về trường nghĩa, các loại trường nghĩa rồi vận dụng lí thuyết về trường nghĩa để xác định và phân lập các

từ ngữ thuộc trường nghĩa động vật, thực vật trong hệ thống ca dao Việt Nam Những hiểu biết và trình bày ở trên sẽ được vận dụng khi chúng tôi tiến hành phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng và nhận xét về hoạt động của trường trong phạm vi khảo sát

Trang 23

Chương 2 KHẢO SÁT TRƯỜNG NGHĨA ĐỘNG VẬT VÀ THỰC VẬT

TRONG CA DAO VIỆT NAM 2.1 Trường nghĩa động vật trong ca dao Việt Nam

2.1.1 Kết quả thống kê

Động vật là một nhóm sinh vật đa bào, nhân chuẩn, được phân loại là giới Động vật trong hệ thống phân loại 5 giới Cơ thể của chúng lớn lên khi phát triển Hầu hết động vật có khả năng di chuyển một cách tự nhiên và độc lập

Hầu hết các ngành động vật được biết đến nhiều nhất đã xuất hiện hóa thạch vào thời kỳ Bùng nổ kỷ Cambri, khoảng 542 triệu năm trước Động vật được chia thành nhiều nhóm nhỏ, một vài trong số đó là động vật có xương sống (chim, động vật có vú, lưỡng cư, bò sát, cá); động vật thân mềm (trai, hàu, bạch tuộc, mực, và ốc sên); động vật Chân khớp (cuốn chiếu, rết, côn trùng, nhện, bọ cạp, tôm hùm, tôm); giun đốt (giun đất, đỉa); bọt biển và sứa (dẫn theo 13)

Dựa trên cơ sở phân loại và tiếp thu kế thừa áp dụng vào phân loại động vật trong ca dao Việt Nam chúng tôi dựa vào những tiêu chí sau:

2.1.1.1 Tiêu chí phân loại

- Đặc điểm môi trường sống

- Đặc điểm cấu tạo cơ thể

- Đặc điểm tiếng kêu

Chim Thú Con vật huyền

thoại

Tổng

Số lần xuất hiện của tất cả các trường từ ngữ biểu thị thế giới động vật trong “

Cá dao Việt Nam” là 1338 lần trong 3097 bài

Trang 24

2.1.2 Phân loại

2.1.2.1 Tiểu trường nghĩa nhóm côn trùng (155/1338 -11.6%)

Bảng 2.2 Tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm của nhóm côn trùng trong ca dao

Tần số xuất hiện

Tỷ

lệ (%)

Biến thể

Tần số xuất hiện

Tỷ lệ (%)

bướm 30 19.35 gián 8 5.16 Cào

cào 7 4.52 Tằm 36 23.22 rận 6 3.87 Kiến 6 3.87 Nhện 14 9.03 Ruồi 6 3.87 Tò vò 2.58

dế 6 3.87 Chuồn

chuồn 8 5.16

Châu chấu 2 1.29

Ong 9 5.81 giun 2 1.29 Chấy 2 1.29

Muỗi 3 1.94 Đom đóm 1 0.65 ve 5 3.22

2.1.2.2 Tiểu trường nghĩa nhóm cá và động vật thủy sinh (332/ 1338- 24.81%)

Tổng số có 32 biến thể từ ngữ biểu thị thế giới loài cá

Trong đó, biến thê “cá” xuất hiện với tần số 97; Các biến thể “ cá bống” 15;

“cá mè” 9; “cá rô” 11

Có 2 biến thể cá xuất hiện 4 lần : “cá bơn” (thờn bơn); cá giếc;

Có 6 biến thể xuất hiện 2 lần như: “cá cấn”, “cá mòi”, “cá vàng”

Còn lại 21 biến thể xuất hiện 1 lần như: “cá bạc”, “cá chuồn”, “cá đối”, “cá hồi”

Trang 25

Bảng 2.3 Thống kê, miêu tả hệ thống 21 biến thể (160 lần) từ ngữ biểu thị các

động vật thủy sinh khác và tần số xuất hiện trong ca dao

Tôm, tép 36 22.5 cà cuống 4 3.75 Chạch, lươn 17 10.63 Trai 6 3.75

2.1.2.3 Tiểu trường nghĩa nhóm chim (312/1338 – 23.32% )

Thống kê 39 biến thể từ ngữ thuộc trường nghĩa “Chim chóc” Trong đó, biến thể “chim” xuất hiện với tần số 78, biến thể “chim én” 8; “chim cò” 85; “vạc” 8;

“quạ” 16; “chim nhạn” 19; “chim sáo” 8;

Có 3 biến thể xuất hiện 7 lần như: “chim công”; “chim cú”; “chim cuốc”

Có 2 biến thể xuất hiện 6 lần như: “chim chích”; “chim hạc”

Có 2biến thể xuất hiện 5 lần như: “chim quyên”; “chim nông”

Có 2 biến thể xuất hiện 4 lần như: “chim diều hâu”; “chim chào mào”

Có 2 biến thể xuất hiện 3 lần như: “chim ri”; “chim chích chòe”

Có 10 biến thể xuất hiện 2 lần như: “chim hạc”; “chim chìa vôi”

Có 12 biến thể xuất hiện 1 lần như: “chim sẻ”; “chim diệc”

Trang 26

2.1.2.4 Tiểu trường nghĩa nhóm thú (429/1338 – 32.06% )

Tập hợp các đơn vị từ ngữ thuộc nhóm này có thể phân chia thành hai tiểu nhóm: các từ ngữ thuộc trường nghĩa “gia súc”(thú nuôi) và các từ ngữ thuộc trường nghĩa “thú hoang”

Trang 27

2.1.2.5 Các loài vật huyền thoại( 110/ 1338 –8.22% )

Qua quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy không nên xếp các yếu tố “rồng”,

“lân”, vào bốn nhóm côn trùng, cá và động vật thủy sinh, chim, thú Con rồng, con lân, con li là những con vật mang tính huyền thoại Những con vật này được con người tưởng tượng và sáng tạo kết hợp những đặc điểm của nhiều loại vật khác nhau

Trong số những biến thể trên đây, “rồng” (47 lần) là yếu tố xuất hiện với tần

số cao nhất mang tính đa dạng và phong phú có tính biểu trưng cao

Những biến thể khác xuất hiện với tần số thấp, hướng nghĩa không rõ ràng, hạn hẹp hơn so với “rồng” như:

Biến thể “phượng” xuất hiện 39 lần

Biến thể “loan” xuất hiện 14 lần

Biến thể “phụng” xuất hiện 4 lần

Biến thể “long” xuất hiện 3 lần

Biến thể “lân” xuất hiện 2 lần

Biến thể “qui” xuất hiện 1 lần

2.1.3 Nhận xét và biểu hiện của động vật

Thứ hai, trong nhóm trường nghĩa Côn trùng và Thú các từ biểu thị các loài vật quen thuộc và gần gũi với con người xuất hiện với tần số cao hơn các nhóm trường nghĩa khác, có khả năng gợi nhớ, nâng cao hiểu biết về nền văn hóa của nước ta sâu sắc hơn Quy luật này cũng thể hiện trong các nhóm còn lại nhưng không rõ ràng bằng nhóm này Như vậy, có một mối quan hệ chặt chẽ giữa tính hiện

Trang 28

thực, quen thuộc, thực tế của các trường nghĩa trong các nhóm được thể hiện trong

Ca dao Việt Nam

Thứ ba, so với 4 nhóm chính Côn trùng, Cá và động vật thủy sinh, Chim, Thú các con vật huyền thoại xuất hiện với tần số thấp hơn, để lại những dấu ấn mờ nhạt trong ca dao Nhóm trường nghĩa được phản ánh trong ca dao nó không gần gũi và quen thuộc với đời sống vật chất và tinh thần người Việt

Thứ tư, trong nhóm Chim thì các loài chim nuôi lại có tần số xuất hiện ít hơn các loài chim sống trong rừng, tự nhiên, ngược lại, trong nhóm Thú thì thú nuôi có tần suất xuất hiện nhiều hơn các loài vật hoang dã

2.1.3.2 Biểu hiện của động vật qua một số biểu tượng trong ca dao

Trường nghĩa động vật trong ca dao được sử dụng phong phú và đa dạng và có giá trị biểu trưng rõ rệt:

2.1.3.2.1 Côn trùng

- Chấy, rận là động vật kí sinh rất nhỏ, không cánh sống ký sinh bằng máu của bạn Chấy rận dễ lây lan trên cơ thể hoặc quần áo và gây viêm da gọi là bệnh chấy rận Đây là hai loài côn trùng kí sinh trên cơ thể người và động vật, có hại, bẩn Những con vật này xuất hiện trong ca dao thường gắn với hình ảnh những người cô gái, những người phụ nữ luộm thuộm, bẩn thỉu Chúng xuất hiện với những hình ảnh thực, nhưng chúng mang sắc thái đặc trưng của chúng, qua hình ảnh

đó để nói về con người

“Cô gái Sơn Tây, yếm thủng tày dần

Răng đen hạt nhót, chân đi cù lèo

Tóc rễ tre chải lược bờ cào,

Xù xì da cóc, hắc lào tứ tung

Trên đầu chấy rận như sung ” (tr.393)

- Con kiến vốn là tên gọi của một loài côn trùng thuộc bộ cánh màng, lưng eo,

cánh không phát triển, thường sống theo bầy đàn Hình ảnh con kiến trong ca dao rất gần gũi, nó thường biểu hiện cho những thân phận nhỏ bé, những con người

Trang 29

thấp cổ bé họng, cuộc sống quẩn quanh tù túng, bế tắc Con vật này xuất hiện trong các bài ca dao để làm nổi bật nên những con người lao động khổ cực:

“Cái kiến mày đậu cành đào

Leo phải cành cộc, leo vào leo ra

Cái kiến mày đậu cành đa

Leo phải cành cộc, leo ra leo vào.”(tr.64)

Hay qua các con vật này con người đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu nhất là trong việc dự báo thời tiết:

“Kiến đen tha trứng lên cao

Thế nào cũng có mưa rào rất to.”(tr.377)

- Con ong, con bướm là thường xuất hiện trong những bài ca dao tình duyên Ong và bướm mang hình ảnh ẩn dụ cho người con trai, qua đó thể hiện tình cảm của người con trai dành cho người con gái:

“Ngày ngày tháng tháng trôi qua,

Gió với trăng là bạn, bướm với hoa là tình.”(tr.136)

Chuyện tình cảm nam nữ thể hiện trong ca dao rất đặc biệt, giá trị biểu trưng cuả ong, bướm trong ca dao đã thể hiện được niềm say mê, đắm đuối đến quên lãng mọi điều, mặt khác đó là tính phù du dễ đến và dễ đi của tình yêu và mong muốn tìm đến hạnh phúc:

“Chiều chiều bóng bổ ra nương

Ong say vì mật, bướm sầu vì hoa.”(tr.48)

Trên rừng khắp hết thức cây

Hoa đâu bướm đấy sóng bầy có đôi.”(tr.158)

- Con Tằm là ấu trùng của loài bướm tằm đã được thuần hóa Nó là loài côn trùng sinh tơ có giá trị kinh tế quan trọng Tằm ăn lá dâu tằm trắng, nhưng nó cũng có thể

ăn lá của bất kỳ cây nào thuộc chi dâu tằm Nó hoàn toàn phụ thuộc vào con người

và không có mặt trong tự nhiên hoang dã

Ngày đăng: 30/08/2018, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập I, Nxb Đại học Sư Phạm, Hà Nội Khác
2. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
3. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
4. Đỗ Thị Hòa (2010), Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt, Luận án tiến sĩ văn học chuyên ngành Văn học dân gian, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
5. Nguyễn Bích Hằng (2015), Ca dao Việt Nam, Nxb Hồng Đức Khác
6. Vũ Thùy Linh (2014), Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao, Khóa luận tốt nghệp, Chuyên ngành ngôn ngữ học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 Khác
7. Trịnh Viết Toàn (2016) , Thế giới thực vật trong ca dao cổ truyền người Việt, Luận án tiến sĩ văn học chuyên ngành Văn học dân gian, Học viện khoa học Xã hội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w