LỜI CAM ĐOAN Khóa luận khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố là kết quả nghiên cứu của riêng mình tôi và có sự tham khỏa ý kiến của những người đi trư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Người hướng dẫn khoa học
TS Lê Thị Thùy Vinh
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai khóa luận, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô tổ bộ môn Ngôn ngữ, các thầy cô khoa Ngữ văn, gia đình và bạn bè sinh viên, đặc biệt là sự giúp đỡ của giáo viên trực tiếp hướng dẫn TS Lê Thị Thùy Vinh Chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Do thời gian tìm hiểu có hạn và cũng
là lần đầu tiên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, trong khóa luận chắc chắn còn rất nhiều điểm hạn chế Chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của các thầy cô và bạn bè để khóa luận có thể hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Hà Thị Duyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người trong phóng sự
của Ngô Tất Tố là kết quả nghiên cứu của riêng mình tôi và có sự tham khỏa
ý kiến của những người đi trước và dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn
Khóa luận không sao chép từ một công trình có sẵn nào
Kết quả nghiên cứu ít nhiều có những đóng góp nhất định của
các tác giả
Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2018
Tác giả khóa luận
Hà Thị Duyên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA 7
1.1 Khái niệm trường nghĩa 7
1.2 Phân loại 8
1.2.1 Trường nghĩa dọc 8
1.2.1.1 Trường biểu vật 9
1.2.1.2 Trường biểu niệm 10
1.2.2 Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính) 12
1.2.3 Trường liên tưởng 13
1.3 Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương 15
1.3.1 Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương 16
1.3.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương 16
1.3.3 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương 17
1.4 Phóng sự 18
1.5 Phong cách ngôn ngữ phóng sự của Ngô Tất Tố 20
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
Trang 6CHƯƠNG 2: TRƯỜNG TỪ VỰNG NGỮ NGHĨA CHỈ NGƯỜI TRONG PHÓNG
SỰ CỦA NGÔ TẤT TỐ 25
2.1 Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ ngoại hình của con người trong phóng sự của Ngô Tất Tố 25
2.1.1 Kết quả thống kê 25
2.1.2 Một số trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ ngoại hình 26
2.1.2.1 Trường từ vựng chỉ đặc điểm đôi mắt 26
2.1.2.2 Trường từ vựng chỉ đặc điểm về dáng người 28
2.1.2.3 Trường từ vựng chỉ đặc điểm đôi tay 29
2.1.2.4 Từ ngữ miêu tả đặc điểm của khuôn mặt 31
2.1.2.5 Trường từ vựng chỉ trang phục 33
2.2 Trường từ vựng chỉ phẩm chất của người trong phóng sự của Ngô Tất Tố 34
2.2.1 Kết quả thống kê 34
2.2.2 Một số trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ phẩm chất 35
2.2.2.1 Trường từ vựng chỉ đặc điểm giọng nói 35
2.2.2.2 Trường từ vựng chỉ đặc điểm tâm trạng 37
2.2.2.3 Trường từ vựng chỉ đặc điểm tính cách 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 46
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DẪN LIỆU
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trường nghĩa là một trong những lí thuyết quan trọng của ngôn ngữ học Nghiên cứu trường nghĩa sẽ giúp phát hiện những mối quan hệ ngữ nghĩa của
hệ thống từ vựng bởi các từ ngữ không tồn tại một cách rời rạc mà chúng đều
có quan hệ nhất định với nhau về một phạm vi ngữ nghĩa nào đó Việc tìm hiểu các trường nghĩa không chỉ phản ánh mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các đơn vị từ vựng trong một hệ thống ngôn ngữ, mà còn góp phần tìm hiểu nội dung tác phẩm cũng như tìm hiểu phong cách của tác giả qua cách họ sử dụng các trường từ vựng - ngữ nghĩa trong các tác phẩm
Ngôn ngữ là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học Không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học Ngôn ngữ là yếu
tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm,
nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của người đọc với tác
phẩm Cũng chính vì thế, M.Gorki đã từng viết: “Yếu tố đầu tiên của văn học
là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và – cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống – là chất liệu của văn học” Ngôn ngữ vừa là chất liệu
tạo nên tác phẩm vừa là phương tiện để qua nó người đọc cảm nhận được cái hay, vẻ đẹp của tác phẩm đó Có lẽ do đó phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp ngữ - văn đang được đề cao như hiện nay Các lí thuyết ngôn ngữ trong đó có lí thuyết về trường nghĩa càng được quan tâm ứng dụng vào nghiên cứu tác phẩm, góp phần giải mã tín hiệu ngôn ngữ ở một dạng đặc biệt – ngôn ngữ nghệ thuật Nghiên cứu lí thuyết về trường nghĩa trong quan hệ với phân tích tác phẩm văn học cũng nằm trong xu hướng chung đó
1.2 Ngô Tất Tố là một nhà nho lão thành, thấm sâu nền văn hóa cũ, từng mang lều chõng đi thi, từng đỗ đạt Ngô Tất Tố là đại diện tiêu biểu cho những thay đổi của một lớp người trí thức trong giai đoạn giao thời, sự dung
Trang 8hòa tương thích giữa nền văn hóa mới và cũ Những trang viết của ông sâu sắc, đầy trăn trở và xúc động đã tập trung phản ánh sinh hoạt của người nông dân và cảnh ngộ của họ trước Cách mạng Tuy thành công trên nhiều thể loại nhưng trước hết Ngô Tất Tố là một nhà phóng sự với những đóng góp nổi bật về thể loại này
Trong thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố đã bắt nguồn từ thực tế, bám sát diễn biến của hiện thực trong xã hội, phóng sự của Ngô Tất Tố không chỉ giới thiệu cho bạn đọc sự thật của cuộc sống mà còn thể hiện tầm hiểu biết sâu rộng về nguồn gốc, về lai lịch của các vấn đề được miêu tả và quan trọng hơn nữa là người đọc, người đọc còn cảm nhận rõ rệt chính kiến lúc thì mềm dẻo, khi thì rất mực kiên định, của chính tác giả trước sự đời Phóng sự của Ngô Tất Tố là một phần trong toàn cảnh của tấm gương phản chiếu xã hội, đã cô đúc nhiều bài học thiết thực và sinh động về tâm huyết, về nội dung và nghệ thuật sáng tác phóng sự, là bài học sáng giá và góp phần quyết định thành công cho các thế hệ sau
Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về các phóng sự của Ngô Tất
Tố Tuy nhiên, xem xét những phóng sự của Ngô Tất Tố từ lí thuyết trường nghĩa thì chưa có tác giả nào xem xét một cách hệ thống Với những lí do nêu
trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu Khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố nhằm tìm hiểu về hệ thống
trường tự vựng chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố
2 Lịch sử vấn đề
Ngô Tất Tố là một trong số ít những cây bút mà ngay từ những tác phẩm đầu tay đã được sự chú ý và quan tâm của độc giả cũng như sự quan tâm của các nhà văn và giới phê bình văn học trên thế giới Đã có 250 công trình của các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà giáo và bạn đọc đi sâu vào khám phá cuộc đời, sự nghiệp, phong cách sáng tác và các phương diện khác nhau trong
Trang 9thế giới nghệ thuật Trong số các đề tài đó đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về phóng sự của Ngô Tất Tố Tất cả các nghiên cứu đều tập trung đánh giá cao
về văn tài của ông trên mọi phương diện sáng tác Tuy nhiên mỗi tác giả chỉ thường chỉ nghiên cứu một vấn đề nhất định chưa có một công trình nào đi sâu vào tìm hiểu về trường nghĩa ngữ nghĩa đã làm nên thành công cho thể loại phóng sự
Vấn đề về trường nghĩa đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới quan tâm từ rất sớm, chúng ta có thể kể đến các tác giản như: F.De.Sausure, J.Trier… Các tác giả này đã đưa ra các quan niệm, các khía cạnh khác nhau về trường nghĩa xuất phát từ những góc nhìn riêng của mình
Ở Việt Nam cũng có không ít nhà ngôn ngữ học quan tâm đến vấn đề nghiên cứu trường nghĩa từ vựng Tiêu biểu nhất là Giáo sư Đỗ Hữu Châu, Phó giáo sư Đỗ Việt Hùng Các tác giả đã cụ thể hóa trường từ vựng - ngữ nghĩa bằng cứ liệu tiếng Việt trong các giáo trình Trong đó, Đỗ Hữu Châu là người đi đầu trong việc đưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trừ ngôn ngữ liên quan đến trường nghĩa Ông đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa Tuy nhiên các tác giả mới chỉ nghiên cứu một số hệ thống thuộc cấp độ từ vựng Những vấn đề về trường từ vựng ngữ nghĩa trong tác phẩm văn chương vẫn chưa được quan tâm và tìm hiểu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trường từ vựng ngữ nghĩa thuộc các phạm trù khác nhau như: chỉ người, động vật, thực vật… và xem xét các hoạt động của các trường nghĩa trong các quan hệ giao tiếp khác nhau như: xã hội, văn hóa, lịch sử… Nghiên cứu về trường nghĩa trong các tác phẩm của một hay nhiều tác giả cụ thể cũng có thể là sự quan tâm của sinh viên trong việc nghiên cứu đề tài của các khóa luận tốt nghiệp Vì vậy, khảo sát hoạt động của các trường từ ngữ trong các tác phẩm văn chương là vấn đề còn rất mới mẻ Nghiên cứu vấn
Trang 10đề này mới chỉ có một số công trình của sinh viên trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2 như: Trường nghĩa ẩm thực trong tác phẩm của Thạch Lam và Vũ
Bằng (K33), Thành ngữ chỉ trường nghĩa ăn trong tiếng Việt (K32), Trường nghĩa thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8 (K33), Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người phụ nữ trong sáng tác của Nam Cao (K36) Tuy nhiên chưa
có đề tài nào nghiên cứu về trường nghĩa trong tác phẩm của Ngô Tất Tố - một tác giả lớn của trào lưu văn học hiện thực phê phán Do đó qua việc tìm hiểu, tra cứu, chúng tôi thấy được tính chất của vấn đề nghiên cứu và quyết
định đề tài: Khảo sát trường tự vựng ngữ nghĩa chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố Chúng tôi mong muốn thực hiện đề tài này để tìm ra những
nét phong phú linh hoạt trong cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn tài hoa này
và mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc chiếm lĩnh một tác giả có tầm quan trọng đối với văn học nước nhà
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người trong các phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố, khóa luận nhằm hướng tới làm rõ lí thuyết về trường nghĩa nói chung và trường nghĩa trong tác phẩm văn chương nói riêng Bên cạnh đó, khóa luận cũng hướng tới giúp người đọc thấy được sự đa đạng, phong phú trong việc sử dụng từ ngữ của Ngô Tất Tố; mở rộng, trau dồi thêm vốn từ ngữ khi tiếp cận với các tác phẩm văn học cũng như trong đời sống
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Ở đề tài này chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và tìm hiểu và nghiên cứu:
Xây dựng cơ sở lí luận cho việc tìm hiểu trường nghĩa từ vựng chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố
Khảo sát trường nghĩa từ vựng chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố
Trang 11 Phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng từ ngữ trong sáng tác của Ngô Tất
Tố
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tương nghiên cứu của khóa luận là các phóng sự của Ngô Tất Tố Khóa luận chủ yếu tập trung khai thác toàn bộ các từ ngữ chỉ người trong các phóng sự của nhà văn Ngô Tất Tố
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi chỉ tìm hiểu các phóng sự :Việc làng, Lều
chõng của Ngô Tất Tố
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau
5.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tiến hành tập hợp và nghiên cứu tài liệu có liên quan tới trường nghĩa từ vựng chỉ người trong các phóng sự của Ngô Tất Tố nhằm tổng quan vấn đề nghiên cứu và xây dựng khung lí thuyết cho đề tài nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê
-Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ học
-Thủ pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu
6 Đóng góp của khóa luận
6.1 Về lí luận
Kế thừa những thành tựu về trường nghĩa ,đề tài làm rõ mặt lí thuyết về trường nghĩa trong phóng sự Qua đó hoàn thiện về cơ sở lí thuyết về trường nghĩa
6.2 Về thực tiễn
Trang 12+ Kết quả của việc nghiên cứu khóa luận giúp ích cho việc học tập và giảng dạy về ngôn ngữ
+ Có thể vận dụng kết quả nghiên cứu vào trong quá trình giảng dạy từ ngữ trong các tác phẩm văn học, đặc biệt là trong các sáng tác của Ngô Tất Tố
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phục lục, Nội dung khóa luận gồm hai
chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lí thuyết về trường từ vựng – ngữ nghĩa
Chương 2: Trường từ vựng ngữ nghĩa chỉ người trong phóng sự của Ngô Tất Tố
Trang 13NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT
VỀ TRƯỜNG TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA 1.1 Khái niệm trường nghĩa
Trong hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ, các từ không hề tồn tại một cách rời rạc mà chúng đều có quan hệ nhất định với nhau về phạm vi ngữ nghĩa nào đó Những từ có quan hệ về nghĩa như vậy tạo nên một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là “trường từ vựng”, “trường từ vựng ngữ nghĩa” hay “trường nghĩa”
Ví dụ: Khi nói đến người, người ta nghĩ ngay đến già, trẻ, nam, nữ, trẻ con, xinh, xấu, cao, gầy, béo…
Trường từ vựng là một lĩnh vực nghiên cứu từ vựng xuất hiện từ những năm 30 của thế kỉ XX Ở Việt Nam người áp dụng lí thuyết trường vào nghiên cứu từ vựng tiếng Việt là tác giả Đỗ Hữu Châu Để định nghĩa về
trường từ vựng, ông cho rằng: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ
vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” Theo tác giả
Nguyễn Thiện Giáp quan niệm “Trường nghĩa là phạm vi những đơn vị từ
vựng có quan hệ lẫn nhau về nghĩa”; còn “Trường từ vựng của một trường
nghĩa là tập hợp những từ ngữ có những đơn vị từ vựng cơ sở cùng thuộc trường nghĩa này” Ngoài những khái niện trên ta còn thấy rất nhiều khái
niệm về trường nghĩa “Trường nghĩa là trường từ vựng ngữ nghĩa, là tập hợp
của nhiều từ ngữ cũng như nhiều nhóm từ nghĩa khác nhau cùng biểu thị một phạm vi hiện thực nào đó mà khi nói đến từ ngữ này ta nhớ đến, nghĩ đến những từ ngữ khác trên cơ sở chúng cùng thuộc về một phạm vi hiện thực”
Ví dụ: Trắng, trắng tinh, trắng toát, trắng như tuyết…hay đỏ, đỏ rực, đỏ au, đỏ
đô, đo đỏ…
Trang 14Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trường nghĩa Nhưng chúng
ta có thể quy nó vào hai khuynh hướng chủ yếu:
Khuynh hướng thứ nhất: quan niệm trường nghĩa là toàn bộ các khái niệm mà các từ trong ngôn ngữ biểu hiện Đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là L.Weisgerber và J.Trier
Khuynh hướng thứ hai: Cố gắng xây dựng lại lí thuyết về trường nghĩa trên cơ sở các tiêu chí ngôn ngữ học Trường nghĩa không phải là phạm vi của bất kì một khái niệm nào mà nó là của tất cả các từ ngữ có quan hệ lẫn nhau
về ý nghĩa mà đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là Ipsen Theo giáo sư
Đỗ Hữu Châu “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa”
Như vậy để có thể tìm ra được một khái niệm đầy đủ về trường nghĩa vấn
là vấn đề được đặt ra với rất nhiều nhà nghiên cứu Nhưng để phục vụ cho các công trình nghiên cứu khác nhau các nhà nghiên cứu đã thống nhất khái niệm
về trường nghĩa sau: “Trường nghĩa là tập hợp của những từ có ít nhất một
nét chung về nghĩa”
1.2 Phân loại
Dựa vào hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc và quan hệ ngang, Đỗ Hữu Châu đã chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại trường nghĩa khác nhau: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm (hai trường nghĩa dựa vào quan hệ dọc); trường nghĩa tuyến tính (dựa vào quan hệ ngang)
và trường nghĩa liên tưởng (dựa vào sự kết hợp giữa quan hệ dọc và quan hệ ngang)
1.2.1 Trường nghĩa dọc
Để phân biệt các kiểu quan hệ ngữ nghĩa trong trường từ vựng các nhà nghiên cứu trường nói đến các nhóm trường từ vựng ngữ nghĩa: trường biểu vật, trường biểu niệm, trường liên tưởng và trường tuyến tính Các kiểu
Trang 15trường nghĩa được biểu thị trên trục dọc là trường biểu vật và trường biểu niệm
1.2.1.1 Trường biểu vật
Trường biểu vật là tập hợp những từ đồng nhất về ý nghĩa biểu vật Cần căn cứ vào đó để đưa ra các ý nghĩa biểu vật và các từ trường biểu vật thích hợp với nó, chúng ta chọn các danh từ làm gốc
Ví dụ: Từ “tay” sẽ có các trường biểu vật như sau:
- Bộ phận của tay: bàn tay, cổ tay, khuỷu tay, móng tay, cánh tay, đốt tay
- Đặc điểm ngoại hình của tay: dùi đục, búp măng, mỏng
- Hoạt động của tay: cào, bê, cấu, véo, viết, vẽ, đan, cắp, tát, ghì
Số lượng các từ ngữ nằm trong trường biểu vật rất nhiều Bất cứ một danh từ nào trong các trường lớn cũng có thể tự mình lập thành một trường nhỏ có số lượng từ ngữ phong phú Tuy nhiên trong các trường biểu vật cũng
có một điều đáng chú ý:
- So sánh giữa các trường lớn với nhau hay các trường nhỏ trong một trường lớn chúng ta dễ nhận thấy sự khác nhau về số lượng từ ngữ và cách tổ chức Nếu so sánh trường cùng một tên gọi trong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác biệt giữa các trường càng rõ ràng hơn nữa
- Khi phân biệt các trường cần chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến
từ Không phải một từ khi đã ở trường này thì không thể ở trường kia được vì
nó có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm ở trong các trường biểu vật khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó
- Do chỗ có các từ đi vào nhiều trường cho nên các trường từ vựng có thể xảy
ra trường hợp “thẩm thấu” và “giao thoa” vào nhau Hai trường biểu vật giao thoa vào nhau khi có một số từ của trường này có thể cũng nằm trong trường kia
Trang 16Ví dụ: Chúng ta nói hai trường “người” và “thực vật” độc lập với nhau cao hơn là hai trường “người” và “động vật” (một số từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể của trường “người”, một số hoạt động của người đều dùng chung cho động vật, trong khi đó, các từ của trường thực vật như lá, hoa, quả ít dùng cho người)
- Quan hệ giữa các từ ngữ đối với một trường biểu vật không giống nhau Có những từ gắn chặt với trường nhưng cũng có những từ gắn bó lỏng lẻo hơn
Có những từ điển hình cho trường nghĩa được gọi là các từ hướng tâm, có những từ điển hình cho trường được gọi là các từ ngữ hướng biên Từ hướng tâm gắn rất chặt với trường làm thành cốt lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường Những từ hướng biên gắn bó với nhau long lẻo hơn và mối lúc càng đi ra xa khỏi lõi, liên hệ với nhau trong trường ngày càng
mờ nhạt đi Các từ hướng tâm là các từ chỉ có ở trường này mà không có ở trường khác Từ hướng biên là những từ xuất hiện ở cả hai trường
1.2.1.2 Trường biểu niệm
Để tập hợp các từ về một trường biểu niệm cần căn cứ vào khuôn nét nghĩa chung Và để phân biệt các trường biểu niệm dựa vào các ý nghĩa biểu niệm của từ Một trường biểu niệm là tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm Cũng như các trường biểu vật, các trường biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nhỏ và cũng có những miền với các mật độ khác nhau
Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể đi vào nhiều trường nghĩa khác nhau Qua đó ta có thể thấy nó cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể giao thoa với nhau, thẩm thấu vào nhau
và cũng có các lõi trung tâm với các từ điển hình với các lớp từ chung quanh
ở lớp kế cận trung tâm
Các ý nghĩa biểu vật tuy có nguồn gốc ở các khái niệm nhưng không đồng nhất với khái niệm, cho nên các trường biểu niệm cũng không đồng nhất
Trang 17với các khái niệm, không phải là những sự kiện tư duy thuần túy mà nó chính
là những sự kiện của ngôn ngữ
Ví dụ: Trường biểu vật (vật thể nhân tạo)(phục vụ sinh hoạt)
- Dụng cụ để đặt: bàn, ghế, kệ…
- Dụng cụ để chứa: lọ, vại, mủng, thúng, hòm, vali…
- Dụng cụ để che phủ: khăn, màn, mủng, chiếu
- Dụng cụ để che thân, mặc: áo, quần, khăn, khố, ủng, giày, dép…
Ngoài việc chia nhỏ các trường biểu niệm lớn, thì có thể phân chia các trường nhỏ thành nhóm Khi nói về hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm chúng
ta đề cập đến các từ điển hình cho một cấu trúc biểu niệm Các từ điển hình tạo thành cái lõi, thành những trung tâm của các trường biểu niệm, nhờ nó mà
sự tồn tại của một trường biểu niệm mới được khẳng định Cũng chính nhờ sự đối chiếu với chúng mà chúng ta có thể biết được một từ có bao nhiêu nghĩa biểu niệm khác nhau Sự phân biệt các trường biểu vật và trường biểu niệm như trên dựa vào sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong các từ Tuy nhiên hai trường nghĩa biểu vật và biểu niệm có liên hệ với nhau: Nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong các cấu trúc biểu niệm làm tiêu đề lớn thì tập hợp của nó là các trường vật Khi phân lập các trường biểu niệm ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, xong khi phân nhỏ nó ra có một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật
Ví dụ: Để phân nhỏ trường (hoạt động)(tác động đến X)(làm X rời chỗ), chúng ta phải dùng đến các nét nghĩa biểu vật như (người)(động vật)(phương tiện vận tải)(nước) để phân biệt với các từ ngữ như vác, khiêng, đẩy… với tải, chở… với cuốn…
Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập thành các trường Nhưng cũng chính nhờ sự phân lập mà chúng ta hiểu được ý nghĩa của từ một cách sâu sắc Không những vậy mà chúng ta còn phát hiện ra những quy tắc chi
Trang 18phối sự hoạt động của từ trong lịch sử hình thành và trong hoạt động chức năng của nó
1.2.2 Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính)
Trường nghĩa ngang là tập hợp tất cả các từ ngữ có khả năng kết hợp với một từ ngữ nào đó được lấy làm gốc lập thành những chuỗi tuyến tính (có thể
là câu, cụm từ) chấp nhận được trong ngôn ngữ
Ví dụ: Trường nghĩa của từ đi là người, voi, chậm, nhanh, tập tễnh, thoăn thoắt, học, chợ, làm, buôn
Các từ trong trường tuyến tính là các từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các ngôn bản Khi phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dụng ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của quan hệ đó Cùng với trường nghĩa dọc, trường biểu niệm, trường biểu vật các trường tuyến tính cũng góp phần không nhỏ làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng và phát hiện những đặc điểm nội tại và những hoạt động của từ ngữ
- Các từ trong trường nghĩa ngang là sự khái quát những nét nghĩa trong nghĩa biểu vật của từ
- Có rất nhiều từ ngữ đi cùng một từ trung tâm nào đó lập thành trường nghĩa ngang của nó Tuy nhiên quan hệ giữa các quan hệ giữa các từ trong trường nghĩa có mức độ (chặt, lỏng) khác nhau
Trang 19Đối với việc sử dụng ngôn ngữ, việc xác định được trường tuyến tính có
ý nghĩa rất to lớn, bởi vì xác lập được trường tuyến tính, ta có thể biết trước, đoán trước được khả năng xuất hiện của các từ trong đoạn
+ Trường nghĩa đặc trưng cho từng thứ tiếng
+ Trường nghĩa được gọi theo tên của phạm vi hiện thực
Hiện thực khách quan là một thực tế rộng lớn nhưng thông qua tư duy của từng dân tộc mà chia ra thành nhiều mảng, mỗi mảng bao gồm nhiều sự vật, sự việc, hiện tượng
+ Trường nghĩa thể hiện hai nội dung: hiện thực khách quan mà thứ tiếng đó phản ánh; nội dung văn hóa của từng dân tộc
Để sử dụng được từ ngữ của một thứ tiếng, ta phải tích lũy trau dồi kiến thức về văn hóa đất nước, con người, dân tộc… của thứ tiếng đó
1.2.3 Trường liên tưởng
Việc phân loại các trường từ biểu vật, biểu niệm như trên là vấn đề cần thiết để có thể tìm hiểu các cấu trúc ngữ pháp và các đặc điểm hoạt động của
từ Nhưng việc phân loại các trường từ chỉ là sự phân tích “cấu trúc bề mặt” của ngôn ngữ Ngôn ngữ ngoài “cấu trúc bề mặt” còn có “cấu trúc bề sâu” đó
là lí do để xác lập trường liên tưởng của ngôn ngữ
Liên tưởng là một trong những hoạt động tâm lí thông thường của con
người Theo các nhà tâm lí tâm lí học: “Liên tưởng là mối quan hệ giữa các
hiện tượng tâm lí, trong đó có sự tích cực hóa của một biểu tượng này kéo theo sự xuất hiện một hay nhiều các biểu tượng khác có liên quan” Thuyết
liên tưởng coi sự liên tưởng là nguyên tắc quan trọng của sự hình thành trí nhớ và tất cả các hiện tượng tâm lí
Trong văn học liên tưởng là tạo ra các mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau, nhằm nhận ra một ý nghĩa mới mẻ nào đó
Trang 20Liên tưởng bao giờ cũng dựa trên mối quan hệ cụ thể hoặc đôi khi nó trở nên mơ hồ giữa các sự vật, hiện tượng Dựa trên mối quan hệ ấy, người ta có thể chia liên tưởng thành bốn loại: Liên tưởng tương đồng, liên tưởng tương cận, liên tưởng nhân quả và liên tưởng đối lập
- Liên tưởng tương cận là có sự vật này nghĩ đến sự vật khác gắn với nó
- Liên tưởng tương đồng là thấy cái này nghĩ đến cái tương đồng với nó
- Liên tưởng nhân quả là thấy kết quả mà nghĩ đến nguyên nhân, thấy việc làm hôm nay nghĩ đến kết quả ngày mai
- Liên tưởng đối lập là đưa ra những sự vật hiện tượng trái ngược nhau
Qua đó, có thể thấy liên tưởng làm cho hình tượng nghệ thuật đó có thêm chiều sâu ý nghĩa tăng lên bội phần những ấn tượng cũng như những cảm xúc ở người đọc Có thể nói, liên tưởng là một thao tác của tư duy sáng tạo, nó vừa thuộc ý thức, vừa thuộc về tiềm thức mà thao tác chủ đạo của nó
là sự liên kết mĩ cảm của chủ thể khi cảm nhận và thể hiện một đối tượng Không có liên tưởng, nghệ thuật chỉ là một sự sao chép hiện thực một cách máy móc, vụng về, khô cứng và nhạt nhẽo Nhà ngôn ngữ học người Pháp Ch.Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng Theo ông một từ ngữ cũng có thể là một trung tâm của trường liên tưởng
Ví dụ: như từ bò của tiếng Pháp có thể gợi ra do liên tưởng nhiều ý nghĩa khác nhau
- Chỉ loại động vật ăn cỏ : cái bò mộng, bê
- Chỉ hoạt động : bò, sự cày bừa
- Chỉ những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong lối so sánh, trong các thành ngữ Pháp
Từ những phân tích trên có thể thấy : Trường liên tưởng là phạm vi hoạt động của liên tưởng, là giới hạn thẩm mĩ của chủ thể sáng tạo Khi những liên tưởng của một chủ thể nhất định nối kết với nhau theo một cách thức nào đó
Trang 21nó sẽ tạo thành một chỉnh thể, khi đó trường liên tưởng sẽ được hình thành Trường liên tường của một chủ thể sáng tạo được quy định bởi vốn sống, vốn văn hóa và những phản ứng mỹ cảm của chủ thể ấy bởi vốn sống, kỉ niệm, cá tính và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ ảnh hưởng rất lớn và nó là nguồn nguyên liệu chính để tạo ra trường liên tưởng Bên cạnh đó ta có thể thấy trường liên tưởng của một số tác giả còn chịu ảnh hưởng từ yếu tố dân tộc và thời đại
Ví dụ: Khi nhắc tới chiến tranh người ta liên tưởng tới: bom đạn, sụt lở, cái chết, rốc két…
Trong sáng tác trường liên tưởng có hai xu hướng bộc lộ chính:
-Thứ nhất: Trong việc nghệ sĩ cảm nhận và thể hiện những hình ảnh trực quan của đời sống hiện tại Cách này trường liên tưởng sẽ sử dụng các bút pháp nghệ thuật khác nhau mà tiêu biểu là so sánh và ẩn dụ
- Thứ hai: Được biểu hiện qua việc tổ chức văn bản Đó có thể là mạch cảm xúc, ý tưởng, cách tạo dựng thế giới hình tượng trong tác phẩm
Như vậy, có thể thấy được liên tưởng là một năng lực thiết yếu trong tư duy sáng tạo nghệ thuật, nó góp phần quan trọng tạo nên nét riêng của người nghệ sĩ Liên tưởng xuất hiện chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thời đại, vốn sống, dân tộc, cá tính…để rồi liên tưởng chi phối cách thức xây dựng hình tượng nhân vật, cách tổ chức văn bản nghệ thuật
1.3 Trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương
Ngày nay mối quan hệ giữa gần gũi giữa ngôn ngữ học và văn chương là điều khá tự nhiên Và trường nghĩa và ngôn ngữ văn chương cũng có mối quan hệ mật thiết với nhau được thể hiện trong các mối quan hệ giữa: trường biểu vật và ngôn ngữ văn chương, trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương, trường liên tưởng trong ngôn ngữ văn chương
Trang 221.3.1 Trường nghĩa biểu vật và ngôn ngữ văn chương
Từ ngữ Việt Nam rất đa dạng và phong phú, từ ngữ có thể chuyển nghĩa theo hình thức ẩn dụ và hoán dụ Các từ trong trường biểu vật thường chuyển nghĩa theo một nghĩa nhất định Nếu chuyển theo ẩn dụ thì thường xảy ra sự chuyển trường biểu vật, có nghĩa là các từ biểu vật thuộc trường này kéo theo
sự biểu vật của trường khác
Ví dụ: Từ “lửa” khi chuyển sang trường “tình cảm trạng thái tâm lí” thì sẽ kéo theo các từ ngữ: nhen nhóm, tàn, kéo, bốc, rực, hừng hực… sẽ cùng chuyển sang trường nghĩa đó
Trường lửa cũng có thể chuyển sang trường chỉ các “cuộc đấu tranh xã hội” thì kéo theo các từ ngữ: lửa đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh vẫn còn âm ỉ, không thể dập tắt được…sẽ chuyển nghĩa cũng sang trường nghĩa đó
Tuy nhiên khi sử dụng trường nghĩa nếu trường nghĩa được sử dụng đúng với trường nghĩa của chúng thì tác dụng gợi hình ảnh của nó sẽ kém đi hoặc không có bởi có sự trung hòa về ngữ cảnh sử dụng Khi từ ngữ chuyển trường thì ngoài cái riêng của những từ ngữ nó mang theo cả những ấn tượng liên tưởng của trường nghĩa cũ Trong văn chương những từ trong một câu văn, đoạn văn thường kéo nhau theo cùng một trường để tạo ra sự phù hợp về trường nghĩa biểu vật
1.3.2 Trường biểu niệm và ngôn ngữ văn chương
Khi phản ánh một vấn đề hiện thực nào đó vào tác phẩm, người viết cần trình bày và khắc họa nó bằng ngôn ngữ của bản thân mình Tại một chỗ tác phẩm chỉ có thể phản ánh một phương diện của thực tế cuộc sống mà thôi Để làm nổi bật cái đồng nhất đó từ ngữ của tác giả khi diễn đạt vấn đề cần phải chứa một cái gì đó chung, phù hợp với nhau tạo nên hiện tượng gọi là cộng hưởng ngữ nghĩa giữa các từ Và sự cộng hưởng này dựa trên nét nghĩa vốn
Trang 23có trong các từ, nói khác đi nó dựa trên những nét nghĩa chung cho một trường biểu niệm Sự cộng hường ý nghĩa này chỉ xảy ra với từ ngữ Nó chi phối cả cấu trúc ngữ pháp, cả ngữ âm và cả tiết tấu Khi viết người viết thường phối hợp tất cả các yếu tố ngôn ngữ lại với nhau để tạo nên sự phù hợp về nội dung và hình thức cho tác phẩm
1.3.3 Trường liên tưởng và ngôn ngữ văn chương
Trường nghĩa liên tưởng có vai trò rất to lớn trong việc giải thích ý nghĩa của từ và việc dùng từ, nhất là khi sử dụng từ ngữ trong các văn bản Trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm luôn có một sức gợi từ quá khứ, cho đến hiện tại
và tương lai Quá khứ luôn là một nguồn động lực, là sức mạnh để những con người hôm nay sống và chiến đấu chống kẻ thù xâm lược Sự liên tưởng trong thơ ông cho chúng ta được quay trở về với quá khứ và ngợi ca những truyền thống tốt đẹp và hào khí của dân tộc ta Liên tưởng đến tương lai, nhà thơ đã đưa chúng ta có thêm những hình dung về một ngày khi bạn bè các nước đến thăm Việt Nam, nhân dân và con cháu ta rất nồng nhiệt chào đón họ Trường liên tưởng có tác dụng đi giải thích những hiện tượng sáo ngữ và sự lựa chọn
từ ngữ nào đấy để nói hay viết Trong văn học hiện đại Việt Nam, từ mưa làm
ta luôn luôn liên tưởng tới những đêm buồn, cô đơn Từ li biệt thường gợi ra những từ cũng là các cảm xúc như bến đò, sông nước….thậm chí ngay cả khi cuộc chia li, chia tay không diễn ra bên bờ sông bến nước mà vẫn:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song;
Thuyền về nước lại sầu trăm ngả,
Củi một cành khô lạc mấy dòng
(Tràng Giang)
Cho nên sự gắn bó với cuộc đời, với thời đại đang sống và không phải chỉ của các nhà văn mà cả những người làm văn học và giảng dạy văn học,
Trang 24không chỉ để thường xuyên đổi mới tư tưởng, vốn sống, tình cảm mà còn để đổi mới ngôn ngữ của bản thân
1.4 Phóng sự
Phóng sự ra đời là kết quả của sự chi phối rất nhiều yếu tố của đời sống
xã hội văn hóa Việt Nam những năm 1930-1945 Đầu thập kỉ 30 của thế kỉ
XX, sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam đã
có những biến đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực Xã hội bức xúc lúc bấy giờ
đã trở thành đề tài cho văn học mổ xẻ nhưng không phải thể loại văn học báo chí nào cũng có thể truyền tải được những thông tin mới đó chân thực và chính xác nhất Và phóng sự “ một thể loại văn học - báo chí đặc biệt, ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt đó”
Có rất nhiều các khái niệm khác nhau vầ thể loại phóng sự và thường tập trung ở hai xu hướng chính
Xu hướng thứ nhất: Cho rằng phóng sự là kể lại câu chuyện có thật một cách ngắn gọn, chính xác, các chi tiết trong phóng sự tập trung đi trả lời cho các câu hỏi: Cái gì? Có liên quan và ảnh hưởng đến ai? Xảy ra như thế nào?
Và tại sao lại xảy ra như vậy?
Xu hướng thứ hai: Cho rằng phóng sự là một thể loại báo chí phản ánh một sự vật, sự việc đang diễn ra trong hiện thực khách quan Có liên quan đến hoạt động, số phận của một hay nhiều người bằng phương pháp miêu tả hay tường thuật, kết hợp với cái tôi trần thuật
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Phóng sự, một thể loại kí, là
trung tâm giữa văn học và báo chí” Phóng sự khác với thông tấn ở chỗ nó không chỉ đưa thông tin mà còn có chức năng dựng lại hiện trường cho mọi người quan sát, phán xét Do đó ta có thể thấy phóng sự nghiêng hẳn về phía
tự sự, miêu tả, tái hiện sự thật theo những nội dung tự sự thường không dựa vào một cốt truyện hoàn chỉnh Các nhà văn, nhà báo viết phóng sự lúc bấy
Trang 25giờ đã nhận ra rằng cần phải viết một cách thẳng thắn, chính xác hơn về diễn biến, hoạt động phức tạp của xã hội mà họ đã và đang sống Cần phải xem xét tại sao sự việc đó lại xảy ra điều đó chỉ có thể thể hiện bằng thể loại phóng sự Phóng sự đến với Việt Nam khá muộn, tuy nhiên khi đến Việt Nam không phải nó được tiếp cận một cách đồng nhất mà nó được tiếp nhận dưới nhiều hình thức khác nhau, tạo ra nhiều ý kiến về quan điểm về đặc trưng thể loại không giống nhau
Vũ Trọng Phụng ông vua phóng sự đất Bắc luôn coi trọng tính chất hiện thực của phóng sự Nhưng cái hiện thực đó phải do chính nhà văn thể nghiệm Phải tìm tòi, phải hóa thân và nó để cảm nhận mọi gác độ cuộc sống và mô tả lại một cách sinh động, chân thực giúp người đọc cảm thấy như mình đang chứng kiến sự kiện từ đầu đến cuối Và Ngô Tất Tố đã vận dụng một cách triệt để, chính vì vậy những trang phóng sự của ông luôn giàu cảm xúc đối với
hiện thực, những điều mà ông đã từng mắt thấy tai nghe Phóng sự Việc làng
của Ngô Tất Tố đã đề cập đến những cuộc đời nhở bé bất hạnh của những người nông dân quanh năm bị gánh nặng hủ tục đè nặng lên vai, chết mòn vì những thứ lệ làng oái oăm, man rợ Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan cho rằng:
“Phóng sự của Ngô Tất Tố làn cho người ta thấy những cảnh khổ não, nhọc
nhằn, những tai nạn khủng khiếp, những việc thương tâm gây lên bởi miệng
ăn, phơi bày ra như ở trước mắt”
Đặc điểm của phóng sự: Phản ánh sự thật, sử dụng bút pháp miêu tả tường thuật kết hợp nghị luận, vai trò cái tôi trần thuật, sử dụng bút pháp sinh động, linh hoạt gần với văn học
Các dạng phóng sự:
+ Phóng sự sự kiện: Phản ánh những sự kiện, bán sát vào quá trình phát triển của sự kiện để phản ánh, đáp ứng được tính chân dung thời sự
Trang 26+ Phóng sự vấn đề: Phản ánh tất cả các vấn đề mới nảy sinh mang tính thời
sự, thu hút được sự quan tâm của người đọc
+ Phóng sự chân dung: Viết về cá nhân hoặc nhóm người tiêu biểu, đây là loại phóng sự phổ biến nhất hiện nay Phản ánh chân dung cá nhân phải gắn liền với bối cảnh, hoàn cảnh điển hình của nhân vật bộc lộ tính cách, hiệu quả ấn tượng nhất
Mục đích của phóng sự là cung cấp cho người đọc những tri thức phong phú, đầy đủ và chính xác để họ có thể nhận thức, đánh giá đúng người và việc
mà họ đang quan tâm, theo dõi Việc sử dụng một phương tiện biểu đạt của văn học như các biệm pháp từ ngữ, ngôn ngữ hình ảnh hướng vào thế giới bên trong của nhân vật khiến cho phóng sự vốn từ báo chí có thể trở thành văn học
Qua đó ta có thể khẳng định, cách hiểu thể loại phóng có sự khác nhau dẫn đến nhiều định nghĩa về phóng sự không hoàn toàn giống nhau song đều gặp nhau ở những điểm chung, cơ bản về chức năng thể loại: Mô tả người thật, việc thật, có tính chất thời sự, xã hội theo một quá trình vân động khách quan
1.5 Phong cách ngôn ngữ phóng sự của Ngô Tất Tố
Tìm hiểu phong cách là một việc cần phải làm để xác định vai trò vị trí của một tác giả trong lịch sử văn học dân tộc, bởi một nhà văn lớn không phải
là một nhà văn không có phong cách của riêng mình Trong giai đoạn văn học Việt Nam hiện đại 1930-1945, Ngô Tất Tố là một nhà văn có tầm ảnh hưởng không nhỏ trên thi đàn văn học, ông để lại một sự nghiệp thơ văn khá đồ sộ
với nhiều thể loại từ tiểu thuyết đến phóng sự (Tắt đèn, Lều chõng,Việc làng,
Tập án cái đình) Ông là một cây bút xuất sắc, tiêu biểu và trung thành với
phương pháp sáng tác hiện thực phê phán, tự sự nghiêm túc, tự trọng của một nhà nho đầy lương tâm, ông đã bóc trần và phơi bày những mâu thuẫn cơ bản
Trang 27của chế độ thực dân phong kiến đương thời Trong sự nghiệp sáng tác của mình, từ văn học đến báo chí ông đều chĩa mũi nhọn trực tiếp vào bọn thực dân cướp nước và hệ thống quan lại theo đuôi thực dân sách nhiễu, bòn rút của nhân dân
Trong thể loại phóng sự, Ngô Tất Tố đã chứng tỏ mình là nhà văn hiện thực có tầm cỡ lớn Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những hiểu biết sâu sắc về làng quê Việt Nam với học vấn của một trí thức nho học có tâm huyết nhiệt tình đấu tranh cho công lí, lẽ phải và công bằng của xã hội đã tạo cho ngòi bút của Ngô Tất Tố có những nét riêng biệt Phóng sự báo chí của Ngô Tất tố đã góp phần không nhỏ trong việc tạo ra những nét riêng và khẳng định vị trí và thành công của ông trên văn đàn Việt Nam Việc khám phá những đặc điểm phóng sự của Ngô Tất Tố đem lại cho ta những điều bổ ích và lí thú về luân lí
và thực tế nghiên cứu của văn học
Với Ngô Tất Tố một tác phẩm phóng sự đích thực phải phanh phui được những căn bệnh trầm kha của xã hội, những bất công ngang trái đã đẩy nhân dân ta đến bước đường cùng và bóc trần những thủ đoạn đê tiện, bẩn thỉu của
chế độ phong kiến Ngô Tất Tố cho rằng: “Làm phóng sự là phải mạnh dạn tố
cáo những cái xấu xa, vạch ra những cái thoái hóa và lạc hậu của xã hội”
Ngô Tất Tố không chỉ dám nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ mà nhà văn còn trung thực với những điều mà mình nói ra Là một cây bút có tính chiến đấu xuất sắc trong văn học Việt Nam, Ngô Tất Tố đã thể hiện rõ lập trường tư tưởng và quan niệm sáng tác của mình
Những năm 1930-1945 xã hội Việt Nam có những chuyển biến mạnh
mẽ, đây là thời kì phát triển của thể loại phóng sự Ngô Tất Tố là một đại diện tiêu biểu đã lăn xả vào các sự kiện trắc ẩn ở thành thị và sau lũy tre làng với những số phận đầy thương cảm Để viết nên trang phóng sự bằng tâm huyết của mình, Ngô Tất Tố đã phát phát hiện ra những vấn đề đang nổi lên như
Trang 28những cái gai nhức nhối do những âm mưu của phong trào phục cổ của Pháp gây ra ở nông thôn Việt Nam lúc bấy giờ
Tất cả những đồi bại, âm mưu ở làng quê đã được ông đem ra phơi bày dưới ánh sáng của công lí Khi viết về nông thôn, ông không lí tưởng hóa cuộc sống ở nông thôn lao động và cũng không miệt thị, khinh bỉ quần chúng nhân dân những người mà ông trân trọng, thương yêu và gần gũi với họ Qua
đó chúng ta có thể thấy Ngô Tất Tố đã có một lối đi riêng cho mình, không giống với bất kì một lối mòn nào Con đường mới ấy chứa đầy những nét mới
mẻ tạo nên nét đặc sắc độc đáo của những thiên phóng sự và nó góp phần khẳng định vị trí xứng đáng của Ngô Tất Tố trong văn đàn Việt Nam
Các phóng sự của Ngô Tất tố phê phán mạnh mẽ phong trào phục cổ của bọn thực dân phong kiến, tất cả vấn đề đều xoay quanh cuộc sống Ngòi bút của ông là ngòi bút của người đương thời có sự quan sát, lắng nghe và lựa chọn những sự kiện tiêu biểu để khai thác và phân tích Ông nhìn được sự khổ cực của nhân dân Song ông lại có một cái nhìn đầy thương cảm với số phận của họ và ông trân trọng chứ không miệt thị họ Hơn thế ông còn luôn tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc, sự vươn lên của số phận của những người nông dân bất hạnh Trong các tập phóng sự của mình các phong tục tập quán truyền thông nhuốm màu của sự cổ hủ đã bóp nghẹt và cướp đi cuộc sống bình an và ấm no của con người như : Tang ma, giỗ chạp, vào ngôi, khao làng, phạt vạ… Phóng sự của Ngô Tất Tố có tác động sâu sắc tới quần chúng nhân dân Các thiên phóng sự của ông đều thể hiện sự hiểu biết uyên thâm và các phong tục tập quán ở những làng quê nông thôn Việt Nam thời bấy giờ và điều đó càng khẳng định ông là nhà văn hóa lỗi lạc
Các thiên phóng sự của ông không chỉ chứa đựng những nội dung có giá trị hiện thực sâu sắc mà còn thể hiện một tài năng độc đáo và một bản lĩnh nghệ thuật Chính những nội dung về giá trị hiện thực xã hội và đặc sắc nghệ